Tải bản đầy đủ

MỘT số PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ MẠCH lạc CHO TRẺ dân tộc THIỂU số 5 6 TUỔI

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ MẠCH
LẠC CHO TRẺ DÂN TỘC THIỂU SỐ 5-6 TUỔI
I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 Lý do chon đề tài.
V.I.Lênin từng khẳng định

“ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người”
Bởi ngôn ngữ là công cụ của tư duy, là chìa khóa để nhận thức, để chiếm
lĩnh kho tàng kiến thức của cuộc sống. Vì thế việc rèn luyện ngôn ngữ mạch cho
trẻ là hết sức quan trọng và phải được bắt đầu từ rất sớm. Cho nên phát triển
ngôn ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục mầm
non. Ngôn ngữ giữ vai trò quyết định sự phát triển của tâm lý trẻ em. Bên cạnh
đó ngôn ngữ còn là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện bao gồm sự
phát triển về đạo đức, tư duy, nhận thức và các chuẩn mực hành vi văn hoá. Ở lứa
tuổi mầm non trể rất nhậy cảm với nghệ thuật ngôn ngữ, đặc biệt là trẻ 3-4 tuổi
đây là giai đoạn phát cảm ngôn ngữ nên dân gian ta thường nói:
“ Trẻ lên ba cả nhà học nói”
Tuy nhiên ngôn ngữ của trẻ có thể phát triển không tốt do ảnh hưởng của
đặc điểm tâm sinh lý hay môi trường ngôn ngữ không tốt xung quanh trẻ và
phương pháp giáo dục không đúng cách.Vậy phải làm gì để phát triển ngôn ngữ
cho trẻ ? Đó là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển giáo dục

mầm non.
Nhưng trên thực tế trong quá trình chăm sóc giáo trẻ thì tôi nhận thấy trẻ ở
các lớp mẫu giáo nói chung và trẻ mẫu giáo lớp tôi chủ nhiệm nói riêng ( trẻ dân
tộc thiểu số ) thì nhược điểm ngôn ngữ còn tồn tại rất nhiều như: Vốn từ nghèo
nàn, kinh nghiệm sống hạn chế khả năng sắp xếp câu không tốt, nói ngọng.....
không hiểu nghĩa của từ.
1


VD:
Uống nước thì trẻ lại nói là “ Ăn nước”
“Vẽ tranh” thì trẻ lại nói là “ viết tranh”;
“ Con quạ” trẻ phát âm “ con quả”
“Tập tô chữ” thì trẻ lại nói là “ vẽ chữ”
“Núi voi” trẻ phát âm là “ Núi phoi”
“Ghế ngồi” trẻ phát âm là “ hế ồi”
....... Rất nhiều mà tôi không thể nêu hết ra được. Với nối trăn trở trên thì
việc tìm ra những biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo
là rất cần thiết. Chính vì vậy mà tôi chọn để tài nghiện cứu này.
I.2 Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu.
Nghiên cứu lý luận và phương pháp triển ngôn ngữ về các yếu tố ảnh
hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi tại lớp học
tôi đang chủ nhiệm. Để nhằm tìm ra một số biện pháp, giải pháp khắc phục vấn
đề nêu trên và để phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.
I.3 Đối tượng nghiên cứu.
Căn cứ vào yêu cầu của đề tài tôi chọn đối tượng nghiên cứu là trẻ mẫu
giáo lớp lá 1( trẻ dân tộc thiểu số) thuộc đơn vị trường MG ...
I.4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu.
Trọng phạm vi khả năng và trách nhiệm của mình, tôi nghiên cứu những
nguyên nhân ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 5-6 tuổi, và áp dụng
bài viết này vào thực tế giảng dạy trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mẫu
giáo lớn.
I.5 Phương pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu lý luận : Các loại sách về phát triển ngôn ngữ, chương trình
chăm sóc giáo dục trẻ 5-6 tuổi.

2


- Quan sát và đàm thoại: Quan sát, đàm thoại thực tế việc sử dụng ngôn


ngữ của trẻ trước và sau khi được áp dụng các bài tập của cô đề ra.
- Thực nghiệm khoa học: Áp dụng các giải pháp để xác định mức độ tiến
bộ về kỹ năng sử dụng ngôn ngữ của trẻ.
II.NỘI DỤNG
2.1 Cơ sở lí luận.
- Phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ là gì? Phát triển ngôn ngữ mạch lạc
cho trẻ chính là phát triển khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ, khả năng trình bày có
logic, trình tự, chính xác, đúng ngữ pháp và có hình ảnh một nội dung nhất định.
- Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ được hình thành và phát triển mạnh nhất
trong lứa tuổi mầm non. Sự phát triển đó luôn nằm trong mỗi quan hệ chặt chẽ
với sự phát triển tâm lý trẻ.
- Theo các nhà tâm sinh lý học sự phát triển của não và hoạt động của cơ
quan phát âm có mỗi quan hệ tương hố chặt chẽ. Sự chậm trễ trong việc phát
triển ngôn ngữ có ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển toàn diện của trẻ. Vì
vậy phải thực hiện tốt công tác phát triển ngôn ngữ cho trẻ sớm, đúng lúc và đặc
biệt là đúng lứa tuổi. Môi trường ngôn ngữ là điều kiện không thể thiếu và có
ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển ngôn ngữ trẻ.
- Trẻ 5 tuổi đã nắm được hệ thống ngữ âm nhưng ta vấn bắt ngặp một số
hiện tượng nói lắp, nói ngọng hay thay thế âm khó bằng âm dễ. Ở giai đoạn này
trẻ có khả năng sử dụng giọng nói biểu cảm, trẻ 5-6 tuổi có thể sử dụng được
khoảng 3000 đến 4000 từ, và nói được các câu đơn khác nhau, khoảng 20% câu
ghép, danh từ 32.47 %, động từ 30.29 %, đại từ 9.94 % ....( số liệu này theo
nghiên cứu của tác giả Lưu Thị Lan 1992/1994). Trọng giai đoạn này có sự tiến
bộ vượt bậc và có khả năng sử dụng ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ thành thạo
Nhược điểm do tâm sinh lý
- Cơ chế phát âm chưa tốt
3


- Do tri giác chưa tinh tế, chú ý kém
-Khả năng ghi nhớ hạn chế
Nhược điểm do công tác giáo dục kém:
- Do ảnh hưởng của môi trường ngôn ngữ xung quanh, sống trong môi
trường giao tiếp nghèo nàn, ít cơ hội tiếp xúc nói chuyện với người khác.....
-Vì vậy môi trường ngôn ngữ xung quanh trẻ và phương pháp giáo dục có
tác dụng quyết định đến sự phát triển ngôn ngữ trẻ.
II.2 Thực trạng.
a. Thuận lợi – khó khăn.
Thuận lợi:
- Lớp học của tôi nằm ở trung tâm nên việc huy động trẻ đến lớp được
thuận lợi, trẻ đi học đều. đa số trẻ trong lớp đều đã được học qua lớp mẫu giáo
nhỡ nên về nề nếp, kỹ năng học tập khá tốt
- Luôn được sự quan tâm động viên khích lệ của Ban Giám Hiệu nhà
trường.
- Được sự quan tâm giúp đỡ của tổ chuyên môn luôn nhiệt tình thăm lớp
dự giờ góp ý rút kinh nghiệm cho giờ dạy và đánh giá cho những biện pháp của
tôi đưa ra trong đề tài.
Khó khăn:
- Trường học vừa mới tách, cơ sở vật chất còn thiếu thốn. Học sinh trong
lớp đông, phòng học lại trật trội rất khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động
cho trẻ.
- Trên 85 % trẻ là người dân tộc thiểu số tày – nùng, còn có một số trẻ nói
tiếng việt còn gặp nhiều khó khăn. Bố mẹ ít quan tâm đến con cái.
- 50% khẳ năng chú ý, ghi nhớ không ổn định nên chưa nắm bắt được khối
lượng bài học, trật tự các từ trong câu cho nên trẻ bỏ bớt từ khi nói.

4


- Đa phần trẻ trong lớp pháp âm sai do ảnh hưởng của ngôn ngữ của gia
đình và những người xung quanh
Bảng thông kê số liệu học sinh lớp lá 1
Tổng số

Nữ
21

Nam
23

Chính sách
h.nghèo Kh.tật

5 tuổi
12

01

Dân tộc
Kinh Tày
nùng
13
31

44
- Cha mẹ các cháu đều làm nghề nông, trình độ văn hoá lại thấp, một số
phụ huynh không biết chữ nên việc quan tâm đến con em còn hạn chế
b. Thành công – hạn chế:
Thành công:
- Trong năm học vừa qua tôi đã tìm hiểu và nghiên cứu đề tài “ Một số
biện pháp mở rộng vốn hiểu biết cho trẻ dân tộc thiểu số vùng sâu thông qua
bộ môn làm quen với môi trường xung quanh” tôi đã áp dụng thực tế và đã
bước đầu đạt được một số thành công nhỏ. Đó chính là tiền đề khiến tôi tự tin
hơn trong việc nghiên cứu và áp dụng đề tài mới này trong quá trình chăm sóc
giáo dục trẻ.
Hạn chế:
- Do mới thực hiện công tác nghiên cứu và viết sáng kiến kinh nghiệm và
áp dụng vào thực tiến cộng thêm cơ sở vật chất nghèo nàn... nên việc tổ chức
thực nghiệm khoa học còn gặp rất nhiều khó khăn.
c. Mặt mạnh – mặt yếu:
Mặt mạnh:
- Bản thân là giáo viên trẻ khỏe nhiệt tình yêu nghề mến trẻ, có trình độ
chuẩn về chuyên môn ( tốt nghiệp CĐSP TW2) nên đã nắm vững các kiến thức,
lý luận phương pháp về giáo dục mầm non và đã được tiếp cận với chương trình
đổi mới nên khá thuận lợi cho công việc nghiêm cứu đề tài này.
5


- Hoàn thành lớp tin học căn bản loại khá. Nên việc sử dụng máy vi tính và
công tác tuy cập mạng internét để cập nhật thông tin, tìm kiếm tài liệu ....được
dễ dàng.
- Có khả năng đọc kể diễn cảm cho trẻ nghe và biết định hướng cho trẻ kể
chuyện sáng tạo có hiệu quả, tạo được môi trường hoạt động ở lớp tương đối
phong phú.
Mặt yếu:
- Bản thân là một giáo viên trẻ đang trong độ tuổi sinh nở nên việc tham
gia các lớp tập huấn chuyên đề chưa được nhiều, chưa có điều kiện tham quan
dự giờ học hỏi kinh nghiệm các trường bạn.
- Chưa thể áp dụng công nghệ thông tin ( bài giảng điện tử) vào các giải
pháp tôi đề ra.
d. Nguyên nhân:
- Cơ sở vật chất nghèo nàn, lớp học chật chội.
- Trẻ trong lớp chủ yếu là trẻ dân tộc thiểu số, đa số trẻ trong lớp chỉ được
học hai năm ( mẫu giáo lớn và nhỡ) chưa qua các lớp học ba độ tuổi
- Trình độ văn hóa của phụ huynh còn thấp chưa nhận thức được tầm quan
trọng của vấn đề.
- Tuyên truyền giữa nhà trường và phụ huynh về việc nuôi dạy chăm sóc
trẻ con rất kém.
e/ Phân tích đánh giá các vẫn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
- Xã Eatam là một xã vùng sâu, văn hóa xã hội phát triển chưa cao do dân
số ở trong xã là người dân tộc chiếm tỷ lệ đông, trình độ dân trí thấp, sự hiểu biết
còn hạn chế thêm vào đó là mức sống của người dân vẫn còn thấp, hộ nghèo vẫn
còn nhiều. Chính vì thế mà bố mẹ trẻ chỉ trú trọng vào việc làm ăn kinh tế còn
việc giáo dục con em còn thiếu sự quan tâm, thường để trẻ phát triển theo hướng
tự do, ít quan tâm đến con trẻ, chỉ khi đến lớp với cô giáo mới được nói tiếng
6


kinh còn khi về nhà các cháu chỉ giao tiếp bằng tiếng địa phương. Đa số các em
chỉ được giáo dục ở một phía nhà trường ( một số phụ huynh thường nói với tôi
là “ đi lớp học được bao nhiêu thì học thôi chứ tôi bận lắm cô giáo ơi ”. Thêm
vào đó là ít có sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường. Vì vậy đa số trẻ ở lớp về
nhận thức, tư duy chưa thật sự được phát triển theo đúng lứa tuổi. đặc biệt là về
mặt ngôn ngữ chưa mạch lac, diễn đạt kém.
Bảng thống kê số liệu thực trạng đầu năm trẻ lớp lá 1: Tổng số : 44 trẻ

Néi dung

SLtrẻ

Tỷ lệ %

Trẻ hứng thú với các hoạt động vui chơi, học tập do cô tổ 25
chức.

56.8

10

22.7

Trẻ chủ động trong giao tiếp Tiếng việt với cô giáo và bạn 35
bè.

45.4

Trẻ hiểu câu hỏi của cô giáo và biết cách phát âm chuẩn, diễn 8
đạt câu đúng ngữ pháp .

18.1

Trẻ hiểu nội dung bài học, thực hiện được các kỹ năng thực 25
hành dưới sự hướng dẫn của cô giáo.

56.8

30

68.1

Trẻ mạnh dạn tự nhiên trong các hoạt động.

Trẻ thích đi học và học tập có nề nếp.
II.3 Giải pháp và biện pháp.
a. Mục tiêu giải pháp biện pháp:

- Nhằm tìm ra các phương pháp và cách thức tổ chức các hoạt động nhận
thức, vui chơi để giúp giáo viên có những định hướng phù hợp trọng công tác
chắm sóc giáo dục trẻ. Sau khi vận dụng sẽ góp đắc lực cho việc phát triển ngôn
ngữ mạch lạc cho trẻ 5 tuổi tại lớp học.
b. Nội dung và cách thức thực hiện các giải pháp, biện pháp.
7


* Nội dung:
1.Lập kế hoạch phát triển vốn từ cho trẻ.
2. Phát triển ngôn ngữ mạch lạc thông qua các trò chơi.
3. Tăng cường dạy trẻ nghe – nói thông qua vật thật và đồ dùng trực quan.
4. Tạo môi trường hoạt động cho trẻ kể, đọc thơ
5. Tạo ra một môi trương có tính kích thích cao.
6. Tuyên truyền kết hợp với phụ huynh.
* Cách thức thực hiện.
1.Lập kế hoạch phát triển vốn từ cho trẻ.
- Phát triển vốn từ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của
trẻ , vốn từ nghèo nàn sẽ ảnh hưởng đến giao tiếp của trẻ.
- Trong biện pháp này giáo viên cần chủ động lập kế hoạch phát triển vốn
từ cho trẻ theo nội dung trẻ quan tâm hoặc chủ điểm. Vốn từ cung cấp cần tăng
dần độ khó, tăng thêm về số lượng.
VD:
Tháng
9

Nội dung vốn từ cung cấp
Măng cụt,sầu riêng, thanh long, thơm, chùm, buồng, nải, mỏng,
cứng, dày, thơm , không thơm, cắt, gọt, băn, chua ,ngọt, cay,

10

đắng.......
Na , măng cụt, cá voi, cá sấu, chim cánh cụt, chim bồ câu, ga
gô... ít hạt, nhiều hạt, sống, chín, hơi xanh, xanh lam, hồng, tím,

11

nâu, rụng, rơi, vãi
Chùm ruột, dưa kim hoàng, gấc, trứng cá, non, già, tươi, héo,

12
01
12

thối, ủng, tim tím, xanh xanh, hồng hông, chua lét, ngọt lịm....
..............
............
...........
8


13
04

............
............
- Sau khi đã lập kế hoạch trên thì tôi sẽ lồng ghép nội dung vốn từ cần

cung cấp và các giờ học, trò chuyện đầu giờ, trong hoạt động vui chơi ( hoạt
động ngoài trời).. mọi lúc mọi nơi khi có thể giao tiếp trò chuyện với trẻ (hình
thức là cô đọc mẫu trẻ đọc theo). Ngoài việc thực hiện trên lớp tôi sẽ phô tô kế
hoạch phát triển vốn từ cho mỗi phụ huynh và kèm theo hướng dẫn thực hiện để
khi về nhà bố mẹ trẻ có thể cung cấp thêm cho trẻ khi có thời gian rảnh rỗi.
2. Phát triển ngôn ngữ mạch lạc thông qua các trò chơi.
- Ngôn ngữ của trẻ có quan hệ mật thiết với các hoạt động của trẻ. Không
thể phát triển ngôn ngữ cho trẻ nếu tách rời trẻ khỏi các hoạt động. Hoạt chủ
đạo của trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ 5 tuổi nói riêng là hoạt động vui chơi.
Chính vì thế mà tôi chọn tổ chức trò chơi là cách phát triển vốn từ, khả năng vận
dụng vốn từ vào việc luyện câu cho trẻ trong nội dung nay được tổ chức thường
xuyên trong lớp học của tôi. Như trò chơi dân gian, trò chơi học tập, trò chơi
sáng tạo…..
VD Trò chơi học tập : chiếc túi kỳ lạ, hoặc cánh cửa thần kỳ.
Cách thức thực hiện như sau:
Cách tổ chức trò chơi:
+ Chuẩn bị : Một chiếc túi hay một chiếc hộp, và các loại đồ chơi xoong,
chảo, bát, thìa…. Các loại rau củ quả…. Các con vật nuôi gà, cho, mèo… ( mỗi
chủ đề giáo dục thì chọn các loại đồ chơi tương ứng VD: chủ điểm phương tiện
giao thông thì chúng ta chọn nhóm đồ chơi bỏ vào trong chiếc túi kỳ lạ là: xe
máy, ô tô, máy bay…..
+ Cách chơi: Cho đồ chơi ( có thể là vật thật như: rau củ quả… ) vào trong
chiếc túi ( không cho trẻ nhìn thấy) sau đó gọi trẻ lên và yêu trẻ thò tay và túi kỳ
lạ dùng cảm giác của bàn tay xờ mó và kết hợp dùng lời nói miêu tả lại món đồ

9


mà mình nắm được và phải đoán được tên của đồ vật trong túi kết hợp đem ra
cho cô giáo cùng các bạn trọng lớp kiểm tra kết quả.
Như vậy qua trò chơi “ chiếc túi kỳ lạ” trong quá trình trẻ xờ mó bằng tay
và phải kết hợp lời nói để miêu tả đồ vật, thì đã kích thích trí tưởng tượng, chú ý
và đặc biệt là kích thích khả năng huy động sắp xếp từ tạo câu của trẻ để diễn
đạt. Qua đó ngôn ngữ của trẻ sẽ được phát triển ( khả năng diễn đạt mạch lạc).
3. Tăng cường dạy trẻ nghe – nói thông qua vật thật và đồ dùng trực
quan.
- Đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo là trực quan hình tượng, trẻ ghi nhớ và
nhớ lại những sự kiện, những ấn tượng mà trẻ đã được trải nghiệm, vì vậy lựa
chọn vật thật và đồ dùng trực quan dạy trẻ phải là những đồ vật gần gũi, có ở địa
phương.
- Việc dạy trẻ thông qua vật thật, vừa giúp trẻ khám phá thế giới xung
quanh, vừa cung cấp vốn từ cho trẻ. Cần biết lựa chọn đối tượng cung cấp gần gũi
với cuộc sống trẻ, kết hợp chuẩn bị vật thật hoặc đồ dùng trực quan để trẻ quan sát,
lựa chọn câu hỏi ngắn gọn, từ dễ đến khó. Khuyến khích trẻ trả lời đủ câu.
Ví dụ: Đề tài : làm quen một số loại rau ( chủ điểm: thế giới thực vật)
- Chọn đối tượng làm quen: Các loại rau có ở địa phương như: rau cải, rau
muống, rau gót, su hào...
- Số lượng làm quen : vừa phải (5- 6loại)
- Phương pháp hướng dẫn: Giáo viên chỉ vào từng loại rau và nói tên.
Ví dụ : Cô chỉ vào “củ cà rốt” cho trẻ nhắc lại “củ cà rốt” mỗi từ như vậy
nhắc lại 2-3 lần. Sau khi trẻ nắm vững từ mới thì dạy trẻ nói cả câu “Đây là củ cà
rốt”. sau đó đưa ra từ mệnh lệnh “để củ cà rốt” vào rổ và đặt lên bàn cho cô”. Khi
trẻ thực hiện đúng yêu cầu của cô giáo có nghĩa là trẻ đã hiểu được nghĩa của từ.
10


- Ngoài ra tôi còn tích cực thu thập các nguyên liệu thiên nhiên và phế liệu
gia đình để dạy trẻ tạo sản phẩm theo chủ để. Đưa sản phẩm của trẻ tạo ra vào các
hoạt động vui chơi, học tập.
4. Tạo môi trường hoạt động cho trẻ kể, đọc thơ
Đọc thơ, kể chuyện sẽ cung cấp cho trẻ những khuôn mẫu về ngôn ngữ
giúp trẻ hiểu được nghĩa của từ có tính trừu tượng.
VD : dũng cảm ( chú dê đen ) hay “hiếu thảo” trong truyện “ ba cô gái”.
- Dạy trẻ kể chuyện theo tranh sẽ giúp trẻ phát triển được ngôn ngữ mạch
lạc rèn luyện khả năng diễn đạt câu. Với hình thức này tôi sẽ tổ chức thực hiện
như sau:
VD: Truyện: Tích chu
Hoạt động 1: cho trẻ làm quen với câu truyện bằng cách cô sẽ kể cho trẻ
nghe 1-2 kết hợp với tranh minh họa hay mô hình câu truyện.
Hoạt động 2: Giúp trẻ nhớ, hiểu nội dung câu truyện tôi sẽ đặt ra một hệ
thống câu hỏi lôgic theo diễn biến của câu truyện, và giải thích các từ khó. Như “
hóa thành chim, gian nan, ..” nhằm giúp trẻ nhớ trình tự câu truyện:
Hệ thống câu hỏi:
Truyện có tên là gi?
Trong truyện có những nhân vật nào?
Tích chu sống với ai?
Bà đối sử với tích chu thế nào?
Lớn lên tích chu thế nào?
Một hôm bà bị làm sao?
Bà gọi tích chu như thế nào?
Bà đã hóa thành con gì?
Tích chu qọi bà như thế nào?
Ai đã xuất hiện để giúp Tích chu?
11


Câu chuyện kết thúc thế nào?..
- Qua việc trả lời câu hỏi trẻ đã rèn được khả năng diễn đạt của mình. Nội
dung này tôi sẽ ôn luyện ở mọi nơi mọi lúc để trẻ có thể nhớ cốt truyện.
Hoạt động 3: Cho trẻ kể chuyện theo tranh: yêu cầu trẻ quan sát tranh
minh họa truyện và kể lại nội dung câu truyện bằng ngôn ngữ của chính mình,
như vậy trẻ vừa rèn được kĩ năng vận dụng sắp xếp câu, khẳ năng ghi nhớ, khẳ
năng diễn đạt ngôn ngữ .... từ đó trẻ sẽ nói mạch lạc hơn.
- Với những bài thơ, đồng giao sẽ góp phần rất lớn trong việc luyện phát
âm chuẩn khả năng diễn cảm, cung cấp thêm vốn từ nghệ thuật ...
VD: Bài đồng giao:

Đi cầu đi quán
Đi cầu đi quán
Đi bán lợn con
Đi mua cái xoong
Đem về đun nấu
Mua quả dưa hấu
Về biếu ông bà
Mua một đàn gà
Về cho ăn thóc
Mau lược chải tóc
Mua kẹp gài dầu
Đi mau về mau
Kẻo trời sắp tối

- Khi trẻ đọc bài đồng giáo trẻ có thêm từ mới: cái xoong; gài; biếu;đun
nấu ..và khi trẻ đọc lặp đi lặp lại sẽ có tác dụng luyện âm, luyện tai ghe rất tốt.
- Với nhưng bài đồng giao, bài thơ tôi sẽ thường xuyên cho trẻ lớp tôi
luyện tập ở mọi lúc mọi nơi với nhiều hình thức khác nhau.
5. Tạo ra một môi trường có tính kích thích.
12


- Trẻ luôn cần kích thích và việc tạo ra cho trẻ cơ hội để trẻ nhận ra bản
chất sáng tạo của mình sẽ có tác dụng kích thích chúng nhiều hơn là một bức
tranh hay một mô hình đồ chơi. Chúng ta có thể giúp trẻ bằng cách tạo nhiều cơ
hội cho trẻ tự khám phá những tài năng còn ẩn giấu trong trẻ.
a. Đọc cho trẻ nghe.
- Với trẻ mẫu giáo thông qua việc việc đọc cho trẻ nghe chúng ta sẽ giúp
trẻ nhận biết những điều điều kỳ diệu mà ngôn ngữ đem lại. VD đọc truyện, thơ
cho trẻ nghe. Không chỉ thế, trẻ cũng sẽ học được rất nhiều về ngữ pháp và ngôn
ngữ. Trong những quyển sách thiếu nhi, từ ngữ luôn được đi kèm với hình ảnh
sinh động, vì thế trẻ sẽ dễ dàng kính thích phát triểu ngôn ngữ của mình.
- Với tác dụng đó thì bản thân tôi luôn cố gắng tận dụng mọi thời gian mọi
lúc, mọi nơi để đọc cho trẻ nghe trong hoạt động chung có mục đích học tập
như: hoạt động lam quen tác phẩm văn học, ngoài ra tôi tận dụng giờ ra chơi, lúc
đón trẻ, hoạt động ngoài trời để đọc thơ và kể truyện cho trẻ nghe…
- Ở lóp học tôi đã kêu gọi phụ huynh đóng góp, sư tầm các cuốn tranh
truyện nhi đồng, từ những cuốn truyện đó tôi thiết kế một góc “ thư viện nhỏ”
dành cho các cháu lúc hoạt động góc, hoạt động chiều những thời gian đó trẻ có
thể vào đó xem tranh ảnh, tranh truyện và qua một thời gian quan sát tôi nhận
thấy trẻ rất thích thú và trẻ đã tập diễn đạt khá rõ ràng khi trẻ tự mình muốn kể
lại câu chuyện theo tranh ảnh trẻ xem được.
b. Dạy trẻ cách mô tả.
- Bằng việc mô tả cho trẻ những gì trẻ đang làm, đang nghe và đang nhìn
thấy, chúng ta sẽ giúp trẻ rất nhiều trong việc phát triển khả năng nói. Chúng ta
tập cho trẻ biết mô tả hình ảnh bằng lời nói và từ đó trẻ sẽ sớm tìm cách làm điều
13


tương tự. Đối với trẻ mẫu giáo lớp tôi thì tôi yêu cầu trẻ hãy miêu tả những thứ
xung quanh lớp học, những đồ vật trong ngôi nhà, lớp của bé. Giáo viên cần viết
ra tên của mỗi đồ vật và gắn lên đồ vật đó ở trong lớp học để khi trẻ đi qua
chúng, trẻ sẽ nhận ra và ghi nhớ từ đó. Ví dụ, viết chữ “con thỏ” lên 1 mẩu giấy
và gắn vào tranh “con thỏ” trẻ trong lớp học.
c. Ca múa nhạc .
- Ca hát luôn hấp dẫn trẻ thơ. Nếu trẻ đã nghe một bài hát từ trước, chúng
sẽ học cách hát lại. Vì vậy bản thân tôi luôn tổ chức cho trẻ nghe hát và dạy cho
trẻ hát các bài hát trong trương trình giáo dục mầm non theo nhiều hình thức
khác nhau: tổ chức trên hoạt động chung có chủ đích, mọi lúc mọi nơi…. Bằng
cách là cô hát cho trẻ nghe, cô dạy cho trẻ hát, cho che nghe băng đĩa.
d. Lặp lại nhiều lần.
Trẻ học qua thực hành vì thế tôi đã tạo thật nhiều cơ hội để trẻ phải nói đi
nói lại cái đó nhiều lần và khi đã quen thuộc trẻ sẽ phát triển ngôn ngũ mạch lạc
hơn. Đó có thể là những bài hát, những bài thơ, câu truyện hay những lời chỉ
dẫn....
6. Tuyên truyền kết hợp với phụ huynh.
- Như chúng ta đã thấy môi trường tiếp xúc của trẻ chủ yếu là gia đình và
nhà trường. Chính vì vậy việc kết hợp giữa gia đình và nhà trường là một biện
pháp không thể thiếu. Phụ huynh chính là nhân tố quan trọng trong việc tạo môi
trường và hố trợ các biện pháp của giáo viên đưa ra để phát triển ngôn ngữ cho
trẻ.
- Trong cuộc họp phụ huynh đầu năm tôi nêu tầm quan trọng của lĩnh vực
phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là thông qua hoạt động: trò truyện thường
xuyên với trẻ, kể chuyện cho trẻ nghe, dạy trẻ cách kể chuyện theo tranh, và phát
14


triển vốn từ theo kế hoạch của cô giáo đề ra. Qua đó phụ huynh thấy được ngôn
ngữ của trẻ phát triển như thế nào và có biện pháp kích thích sự phát triển ngôn
ngữ cho trẻ tại gia đình.
Ví dụ: Cô trao đổi với phụ huynh về những câu chuyện trong lớp cô đã kể cho
trẻ nghe, yêu cầu phụ huynh về nhà động viên cho trẻ kể lại câu chuyện đó hoặc
kích thích trẻ kể các câu chuyện khác. Như vậy ngôn ngữ của trẻ được phát triển
một cách phong phú và đa dạng.
2.4 Kết quả khảo nghiệm và giá trị khoa học:
- Qua quá trình thực hiện bền bỉ, liên tục, trẻ lớp tôi đã có những chuyển
biến rõ rệt,đa phần trẻ trong lớp đã có vốn từ khá, các cháu nói năng mạch lạc,
rõ ràng, mạnh dạn tự tin trong giao tiếp có tiến bộ về mọi mặt so với đầu năm trẻ
đi học.
Bảng thống kê số liệu cuối năm trẻ lớp lá 1: Tổng số : 44 trẻ
Đầu năm
Cuối năm
SL
%
SL
%
56.8 40
90.9
Trẻ hứng thú với các hoạt động vui chơi, học tập do 25
cô tổ chức.
Néi dung

10

22.7 30

68.1

Trẻ chủ động trong giao tiếp Tiếng việt với cô giáo 35
và bạn bè.

45.4 44

100

Trẻ hiểu câu hỏi của cô giáo và biết cách phát âm 8
chuẩn, diễn đạt câu đúng ngữ pháp .

18.1 20

45.4

Trẻ hiểu nội dung bài học, thực hiện được các kỹ 25
năng thực hành dưới sự hướng dẫn của cô giáo.

56.8 43

97.7

30

68.1 44

100

Trẻ mạnh dạn tự nhiên trong các hoạt động.

Trẻ thích đi học và học tập có nề nếp.

- Qua bảng thống kê so sánh ở trên thì chúng ta thấy các cháu ở lớp tôi đã
có những chuyển biến rõ rệt về kỹ năng sử dụng ngôn ngữ.

15


- Điều quan trọng nhất là sau một thời gian các cháu đã biết vận dụng vốn
từ tích luỹ được và sử dụng chúng có hiệu quả.
- Phụ huynh đa số đã hiểu về ý nghĩa của việc phát triển ngôn ngữ mạch
lạc cho trẻ thông qua kế hoạch tuyên truyền cua cô giáo chủ nhiệm.
III.KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ.
III.1. Kết luận.
Tôi nhận thấy việc rèn luyện và phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ là cả
một quá trình liên tục và có hệ thống đỏi hỏi giáo viên phải kiên trì và nỗ lực
khắc phục mọi khó khăn để tìm ra phương tiện, điều kiện cần thiết cho sự phát
triển toàn diện của các cháu. Đặc biệt là phả có sự phối hợp chắt chẽ với phụ
huynh để cùng thực hiện tốt nhiệm vụ quan trong này.
- Phát triển ngôn ngữ cho là một việc làm thiết thực nhất trong chương
trình đổi mới hiện nay, đòi hỏi cô giáo phải có sự sáng tạo linh hoạt khi dạy trẻ,
phải có sự kiên trì rèn luyện giữa cô và trẻ thì sẽ đem lại kết quả cao.
- Cô giáo chính là tấm gương sáng để các cháu noi theo,chính vì vậy mà
bản thân tôi luôn cố gắng rèn luyện tu dưỡng bản thân luôn nói những lời hay ý
đẹp trong môi trường sư phạm, điều này đã góp phần bồi dưỡng thế hệ măng non
của đất nước , thực hiện mục tiêu của ngành đề ra.
III.2. Kiến nghị.
- Để thực hiện tốt việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ Mầm non
trong giai đoạn hiện nay thông qua việc thực hiện các biện pháp trên đã phần nào
đạt được một số kết quả như đã nêu. Bản thân xin có một số đề xuất sau :
- Cần tạo điều kiện cho giáo viên tham quan học tập ở các đơn vị bạn để trao
đổi, học hỏi kinh nghiệm.
- Đầu tư kinh phí mua một số trang thiết bị phục vụ hoạt động âm nhạc như:
Đàn organ, dụng cụ gõ đệm, trang phục biểu diễn .v.v... tranh truyện, tranh ảnh
phong phú
16


- Cung cấp các tiến bộ khoa học kỹ thuật như: Học tập qua băng hình, máy
chiếu, đĩa ghi hình...để cung cấp thêm tư liệu cho giáo viên.
Trên đây là một số phương pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạch cho cho
trẻ mẫu giáo 5 -6 tuổi. Tôi đã áp dụng khá thành công trên trẻ, rất mong được sự
quan tâm hỗ trợ đánh giá và góp ý của Hội đồng khoa học các cấp để đề tài
nghiêm cứu của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi chân thành cảm ơn!

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×