Tải bản đầy đủ

Một số hoạt động dạy trẻ 5 6 tuổi làm quen với toán

Phần I: Mở đầu
I.1. Lý do chọn đề tài
Tuổi Mầm Non là lứa tuổi rất cần sự quan tâm đặc biệt của cha, mẹ và cô
giáo, ở giai đoạn này, những mối quan hệ, có những sự vật, hiện tượng xảy ra
xung quanh trẻ đều có tác động rất lớn đến bản thân trẻ.Vì vậy cha, mẹ và cô
giáo đều mong muốn dạy trẻ những điều hay, lẽ phải, những thói quen tốt và
những hành vi có đạo đức để hình thành nhân cách cho trẻ sau này. Là một
giáo viên Mầm Non, tôi nhận thấy việc giáo dục trẻ ngoài việc hướng dẫn cho
trẻ vui chơi, cho ăn, cho ngủ, giáo dục trẻ trở thành những đứa trẻ lễ phép
ngoan ngoãn thôi chưa đủ, mà nhiệm vụ của người giáo viên Mầm non phải
trang bị cho trẻ những kiến thức ban đầu thông qua các hoạt động và qua các
môn học như làm quen với môi trường xung quanh, làm quen với tạo hình,
môn văn học, chữ cái, thể dục, âm nhạc, làm quen với toán sơ đẳng thông qua
các môn học trẻ được học mà chơi chơi mà học. Từ đó dần dần hình thành lên
nhân cách của trẻ và cũng từ đó trẻ được tiếp cận với những kiến thức từ đơn
giản đến phức tạp, từ dễ đến khó. Thông qua các môn học giúp cho trẻ phát
triển một cách toàn diện về mọi mặt như: Đức, Trí, Lao, Thể, Mỹ. Giúp trẻ có
một hành trang vững vàng, một tâm thế tự tin để bước vào lớp một.
Chính vì thế Chủ tịnh Hồ chí Minh muôn vàn kính yêu của chúng ta, lúc
sinh thời người đã nói “Non sông Việt nam có được vẻ vang hay không, dân
tộc việt nam có được sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính

là nhờ vào việc học tập của các cháu”. Vì trẻ em là những Mầm non tương lai
của đất nước, Đất nước có giàu mạnh, phồn vinh hay không là nhờ vào thế hệ
trẻ. Chính vì vậy phải chăm sóc giáo dục trẻ thật tốt ngay từ khi trẻ còn ở độ
tuổi Mầm non. Người giáo viên Mầm non trong các hoạt động giáo dục trẻ ở
trường Mầm non. Hoạt động vui chơi là trong những hoạt động chủ đạo, song
hoạt động học tập được thể hiện qua các giờ hoạt động chung có chủ đích đó
là hoạt động cung cấp chủ yếu có hệ thống kiến thức cần trang bị cho trẻ.
Vậy tổ chức các tiết học như thế nào để trẻ lĩnh hội các kiến thức một cách
đơn giản nhưng hiệu quả nhất là đối với môn “Làm quen với toán” Đây là
môn học đòi hỏi độ chính xác cao. Muốn làm tốt được việc này trước hết đòi
hỏi người giáo viên phải có tâm huyết với nghề, say sưa suy nghĩ tìm tòi, chu
đáo tỉ mỷ, sáng tạo hướng dẫn trẻ tham gia các hoạt động một cách có khoa
học để trẻ bước đầu nắm bắt, hình thành những kỹ năng học tập đối với môn
làm quen với biểu tượng toán sơ đẳng. Đối với môn học này người giáo viên
cần phải đầu tư thời gian, công sức một cách công phu, khoa học để chuận bị
đồ dùng cho tiết mới mong tiết học đạt được hiệu quả cao và khả năng tiếp thu
kiến thức của trẻ sẽ đạt được ở mức độ cao nhất trong quá trình tham gia các
hoạt động của trẻ. Xuất phát từ nhận thức của trẻ từ trực quan sinh động, đến
tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng xung quanh trở về thực tiễn. Thông
qua môn học giúp trẻ nhận thức tốt hơn về thế giới xung quanh. Từ đó hình
thành hệ thống hóa kiến thức một cách chính xác, khoa học. Nhận thức về
toán học có liên quan mật thiết với quá trình phát triển toàn diện của trẻ, thông
1


qua toán học sớm hình thành ở trẻ khả năng tìm tòi, quan sát, khám phá, so
sánh, phân tích, tổng hợp các sự vật hiện tượng khách quan. Trên cơ sở đó bổ
sung thêm vốn ngôn ngữ và góp phần tích cực vào việc phát triển trí tuệ và thể
chất cho trẻ.
I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
Việc dạy cho trẻ nắm bắt chắc các kiến thức trong hoạt động làm quen với
biểu tượng toán sơ đẳng, không những giúp cho trẻ học bộ môn toán sau này
dễ dàng hơn mà còn giúp cho trẻ tiếp thu kiến thức của các môn học khác một
cách nhanh nhạy và chính xác hơn.
Dạy trẻ nhận biết phân biệt về biểu tượng toán là dạy trẻ cách làm quen và
hình thành cho trẻ các biểu tượng về tập hợp, số lượng, phép đếm, tách gộp,
so sánh,…trong đó yêu cầu các nội dung này là trẻ phải biết đếm, so sánh,
cộng, trừ nhận xét được thứ tự trong phạm vi 10. Nhận biết mối quan hệ về số
lượng trong phạm vi 10, nhận biết các chữ số từ 1-10, biết thực hiện một số
phép biến đổi đơn giản như thêm bớt, tạo nhóm, chia nhóm đồ vật có số lượng


trong phạm vi 10 ra 2 phần, biết gắn chữ số và đọc chữ số ứng với số nhóm đã
chia, biết đặt phép tính cộng, trừ số lượng trong phạm vi 10, biết ứng dụng
thời gian, không gian…
Đây là một trong những nội dung chính nằm trong nội dung của việc dạy
cho trẻ làm quen với biểu tượng toán phương pháp đổi mới. Vì số lượng bài
chiếm nhiều thời gian so với nội dung về các hình, các khối, định hướng trong
không gian, phép đo, mà để dạy trẻ được những nội dung này và nắm bắt kiến
thức được một cách có hệ thống và chính xác, đòi hỏi người giáo viên phải có
sự đổi mới trong phương pháp dạy trẻ theo hướng tích cực hóa hoạt động lấy
trẻ làm trung tâm, trẻ tự mình khám phá nhận xét phán đoán về những vấn đề
có liên quan đến các môn học. Chính vì vậy để nâng cao chất lượng cho trẻ
làm quen với biểu tượng toán sơ đẳng. Tôi mạnh dạn nghiên cứu thực nghiệm
và viết đề tài “biện pháp sử dụng đồ dùng, đồ chơi trực quan hấp dẫn cho trẻ
5- 6 tuổi trong hoạt động làm quen với toán”
I.3. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài này thể hiện sự quan tâm thiết thực với trẻ em tôn trọng quyền của
trẻ được sống và phát triển, quyền học tập hình thành tiếp thu nền giáo dục
tiến bộ, được hưởng nền văn hóa của dân tộc mình. Trên cơ sở tiếp thu và vận
dụng những thành tựu niên ngành, thì đề tài này góp phần làm sáng tỏ đúng
đắn các vấn đề lý luận và học tập vui chơi của trẻ với phương châm “Học mà
chơi, chơi mà học” trong trường Mầm Non làm phong phú hơn về cách hiểu
và cách nhìn của trẻ hiện nay trong giáo dục Mầm non mới.
Đề tài dựa vào quan điểm giáo dục trẻ em phát triển toàn diện việc đưa
chương trình chăm sóc giáo dục trẻ phải dựa trên tâm lý của trẻ để rút ra một
số phương pháp. Khám phá mọi biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ làm
quen với toán giúp trẻ tìm tòi vấn đề xung quanh trẻ trong các hoạt động và
học tập, nhất là môn làm quen với toán. Hoạt động của bộ môn toán và đặc
điểm tâm sinh lý của trẻ để xây dựng những trò chơi học tập nhằm phản ánh
2


nội dung cơ bản của tiết học toán góp một phần nhỏ vào đổi mới phương pháp
dạy học, nhằm nâng cao hiệu quả cho tiết học toán, giờ học sôi nổi say mê
không mệt mỏi.
Nhằm tìm ra những “Biện pháp sử dụng đồ dùng, đồ chơi trực quan
hấp dẫn cho trẻ hoạt động” để tìm ra hướng dẫn giải quyết tốt nhất hình
thành những biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ 5- 6 tuổi một cách chính xác
và bền vững, khắc phục phần lớn những khó khăn chung đồng thời phát huy
cao nhất được tính tích cực của trẻ.
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Trong phạm vi khả năng và trách nhiệm của mình. Tôi vận dụng vấn đề mà
bài viết này đề cập đến chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ 5-6 tuổi ở chính
đơn vị tôi đang công tác.
Thời gian xây dựng và viết đề tài ngày 02 tháng 11 năm 2013 đến ngày 14
tháng 01 năm 2014.
-Hoàn thành đề tài ngày 14 tháng 01 năm 2014.
-Địa diểm: Trường Mẫu giáo Hoa Huệ - Đối tượng: 5- 6 tuổi.
I.5. Phương pháp nghiên cứu:
-Nghiên cứu lý luận.
-Phương pháp quan sát.
-Phương pháp thực nghiệm.
-Phương pháp dùng lời.
-Phương pháp trực quan hình ảnh.

Phần II : Nội dung.
II.1. Cơ sở lí luận:
Toán học là một môn khoa học cần có độ chính xác cao. Do trẻ ở độ tuổi
mẫu giáo chưa có một biểu tượng khoa học nào. Nên nhiệm vụ của giáo viên
là phải hình thành cho trẻ các biểu tượng toán học, cung cấp những kĩ năng cơ
bản nhất để trẻ có thể vận dụng vào trong thực tế. Để có sự phát triển và
hướng tới một nền giáo dục toàn diện như Bác Hồ đã từng nói.
“Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”
Ngay từ nhỏ trẻ đã được tiếp xúc với cha, mẹ, bà, . … Và các sự vật hiện
tượng đến nhật thức xung quanh. Tất cả những cái trẻ nhìn thấy đều ảnh
hưởng đến nhận thức của trẻ, dần dần trẻ có được những khái niệm đơn giản
nhất về thế giới xung quanh có nhu cầu muốn tìm tòi, khám phá về tính chất,
đặc điểm ở sự vật hiện tượng, tập hợp các số lượng, hình dạng, màu sắc, kính
thước, vị trí, sắp xếp của chúng trong không gian…
VD: Khi chơi với đồ vật trẻ muốn biết tại sao vật này lại lăn được nhưng vật
kia lại lăn không được, hình dạng, kính thước và chất lượng của chúng khác
nhau như thế nào? Hoặc trẻ muốn biết từng nhóm đồ vật có bao nhiêu vật và
cách so sánh các nhóm với nhau. Trẻ muốn biết nhóm này có số lượng nhiều
hay ít hơn nhóm kia. Bắt đầu trẻ đã muốn làm thế nào để cho hai nhóm được
3


bằng nhau. Từ đó trong tư duy của trẻ đã nảy sinh khái niệm thêm, bớt một
cách đơn giản nhất về phép cộng, trừ của về phương pháp đổi mới. Xuất phát
từ nhu cầu đó mà việc cho trẻ làm quen với biểu tượng toán sơ đẳng là nhu
cầu cần thiết. Nhưng thực chất chương trình toán học trong trường Mầm Non
hiện nay chỉ cho phép dạy trẻ làm quen với một số khái niệm về toán đơn
giản, cộng, trừ trong phạm vi 10 theo chương trình giáo dục mầm non mới,
mới thực hiện, từ trước tới giờ chưa được phép dạy trẻ cọng, trừ chỉ dạy trẻ
nắm vững chữ số từ 1-10. Vì vậy nảy sinh vấn đề là làm thế nào để dạy trẻ
những khái niệm về toán học mang tính chất trừu tượng nhưng lại phải phù
hợp với khả năng nhận thức của trẻ mẫu giáo. Song khó khăn lớn nhất của trẻ
mẫu giáo là làm quen với một số khái niệm toán học đó là khả năng lĩnh hội
tri thức của trẻ còn non nớt, nhưng nay đã cho trẻ làm quen với khái niệm về
tổ hợp, phép đếm, số lượng, hình dạng, kích thước, định hướng trong không
gian bằng các định nghĩa chính xác mà phải dựa trên tâm lý của trẻ về khái
niệm toán học sơ đẳng, để có phương pháp giảng dạy cụ thể, phù hợp với đặc
điểm nhận thức của trẻ có thể lĩnh hội được một cách ấn tượng và sâu sắc
nhất, hình thành những kiến thức ban đầu về toán học cho trẻ. Vì thế là một
giáo viên giảng dạy lâu năm, nên tôi rút ra kinh nghiệm phải dạy trẻ mọi lúc,
mọi nơi, liên hệ trong thực tế, lấy chỉ dẫn từ các ngón tay, các bạn với nhau,
khi ăn đếm số bạn, số chén, thìa, khi nên nằm ngủ đếm chăn, gối trước khi
ngủ… để trẻ hiểu thêm, nhớ lâu phải sáng tạo thế nào để phù hiợp với chương
trình mầm non mới.
II.2.Thực trạng:
a. Thuận lợi - Khó khăn:
+Thuận lợi:
Năm học 2013- 2014 được sự phân công của ban giám hiệu nhà trường
tôi chủ nhiệm một lớp 5 - 6 tuổi năm nay bắt đầu thực hiện chương trình mới,
nên giáo viên còn lúng túng, với sỉ số học sinh là 50 trẻ. Độ tuổi đồng đều
cũng là một thuận lợi cho việc truyền thụ kiến thức cho trẻ. 100% trẻ sống ở
vùng nông thôn là con em nông dân, các cháu đều rất ngoan và ham học, lớp
học lại được xây dựng ở khu trung tâm, cha mẹ học sinh cũng biết được nhu
cầu của con em mình ở độ tuổi 5 - 6 tuổi rất cần được học bộ môn làm quen
với toán và hiểu tầm quan trọng của việc toàn dân đưa trẻ đến trường.
Là lớp 5 - 6 tuổi nên rất được nhà trường trong việc mua sắm đồ dùng
phục vụ bộ môn toán. Đặc biệt ngành giáo dục đã nhiều năm chỉ đạo chuyên
đề, hơn nữa nhà trường năm nay cũng thường đề cập về bộ môn toán nên đã
đánh giá được sự học tập của trẻ có kết quả cao.
+Khó khăn:
Đầu năm học 2013 - 2014 có khoảng 50% các cháu yêu thích bộ môn
toán như các cháu đã biết xác định cao. thấp, màu sắc, số lượng, hơn, kém,
khối lượng, kích thước nhận biết được khá tốt. Còn lại 35% trung bình 10%
cháu yếu kém chưa xác định được bộ môn toán, không phân biệt được các
hình, các khối, số lượng đó là những cháu nhà ở cách xa trường bố mẹ chưa
4


cho đi học lớp 3-4 tuổi, các cháu 100% con em nông thôn ít được quan tâm,
chăm sóc, bồi dưỡng của bố mẹ và khả năng hiểu biết của trẻ còn hạn chế, nên
còn nhút nhát chưa biết cách cầm bút, cách ngồi và nhận biết về toán còn kém
chưa xác định được hình dạng, hình khối, màu sắc, số lượng, chia nhóm, xếp
tương ứng…
b. Thành công – hạn chế:
+ Thành công:
Là một giáo viên được học tập và nắm vững chuyên môn với tấm lòng
yêu nghề, mến trẻ, nhiệt tình, tích cực trong công việc nghiên cứu các phương
pháp tôi luôn học hỏi đồng nghiệp, những giáo viên đã có nhiều thành tích
trong công tác. Tôi đã nghiên cứu và làm đồ dùng, đồ chơi học liệu cho trẻ
học tập được tốt hơn, hiểu được mục đích yêu cầu, tầm quan trọng tính cấp
thiết và khả năng của bộ môn toán đối với trẻ Mẫu giáo, nên tôi đã cố gắng
tìm ra những biện pháp tốt nhất, phù hợp nhất với đặc điểm của địa phương và
của lớp mình để đạt được kết quả cao trong việc học và dạy trẻ. Vì vậy trường
Mẫu giáo Hoa Huệ rất chú trọng với việc dạy và học của cô và trẻ, nhà trường
đã giúp đỡ tạo điều kiện cho giáo viên được tham gia dự giờ các lớp chuyên
đề, thao giảng về toán học ở trong và ngoài trường. Để đạt được những
phương pháp, và cách dạy chương trình mới, nhà trường chúng tôi đã lên kế
hoạch cụ thể cho từng tiết học và có tài liệu cho cô tham khảo để dạy tốt, giúp
trẻ ngoan, học tốt.
Về cơ sở vật chất đã được nhà trường quan tâm đáp ứng nhu cầu đồ
dùng, đồ chơi. Đảm bảo 2 cháu ngồi một bàn, mỗi cháu ngồi một ghế.
+ Hạn chế:
Tuy vậy, một số đồ dùng phục vụ môn toán cũng như môn học khác còn
nhiều hạn chế theo chủ điểm, chủ đề nên việc học tập của các cháu chưa được
đảm bảo.
c. Mặt mạnh – mặt yếu:
+Mặt mạnh:
Là đầu năm học chúng tôi đã vận động được toàn dân đưa trẻ đến trường,
và đã phổ cập được trẻ 5-6 tuổi 100% đến lớp học, tuy là xã ở xa nhất huyện,
điều kiện của dân còn gặp nhiều khó khăn, có thôn ở xa đến chục cây số,
đường xá đi lại còn gặp nhiều khó khăn nhất là về mùa mưa các cháu phải
nghỉ học, vì cơ sở vật chất còn thiếu thốn nhiều. Vì vậy các cháu ở thôn xa
trung tâm phải mượn hội trường của thôn để học, nhưng các cháu ham học,
phụ huynh cũng chịu khó cho con đi học, tùy trời mưa to quá.
+Mặt yếu:
Vào đầu năm học một số cháu chưa được học lớp 3- 4 tuổi nên còn nhút
nhát chưa biết cách cầm bút, cách ngồi và nhận biết về toán còn kém chưa xác
định được hình dạng, hình khối, màu sắc, số lượng, chia nhóm, xếp tương
ứng…mà đối vơi chương trình mầm non mới bắt buộc trẻ phải nắm vững chữ
số từ 1-6, biết xếp số tương ứng 1-1 phù hợp với độ tuổi, nên giáo viên khó
5


khăn trong tiết dạy đó, vì vậy phải dạy mọi lúc, mọi nơi bằng các hình thức,
sáng tạo khác.
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động:
Vào đầu năm học một số phụ huynh chưa hiểu chỉ mong con, em mình
học là phải biết cộng, trừ nhiều số là được, giáo viên phải trực tiếp gặp hướng
dẫn để phụ huynh hiểu về phương pháp học của trẻ.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra:
Nhà trường quan tâm đến việc học tập của các cháu, mỗi tháng đều lên
kế hoạch chương trình cụ thể, chi tiết, đầy đủ đảm bảo dạy và học theo chủ đề,
chủ điểm của phòng, của trường đề ra. Là một giáo viên được học tập và nắm
vững chuyên môn với đặc điểm của địa phương và của lớp mình để đạt được
kết quả cao trong việc học và dạy trẻ đúng với chương trình mầm non mới. Vì
vậy trường Mẫu giáo Hoa Huệ rất chú trọng với việc dạy và học của cô và trẻ,
nhà trường đã giúp đỡ tạo điều kiện cho giáo viên được tham gia dự giờ các
lớp chuyên đề, thao giảng, thi giáo viên giỏi cấp trường. Để đạt được những
phương pháp, và cách dạy chương trình mới, nhà trường chúng tôi đã lên kế
hoạch cụ thể cho từng tiết học và có tài liệu cho cô tham khảo để dạy tốt, giúp
trẻ ngoan, học tốt. Yêu nghề, mến trẻ, nhiệt tình, tích cực trong công việc
nghiên cứu và sáng tạo tôi luôn học hỏi đồng nghiệp, những giáo viên đã có
nhiều thành tích trong công tác. Tôi đã nghiên cứu và làm đồ dùng, đồ chơi
học liệu cho trẻ học tập được tốt hơn, hiểu được mục đích yêu cầu, tầm quan
trọng tính cấp thiết và khả năng của bộ môn toán đối với trẻ Mẫu giáo, nên tôi
đã cố gắng tìm ra những phương pháp tốt nhất, phù hợp nhất đối với chương
trình mầm non mới.
II.3. Giải pháp, biện pháp:
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
Như chúng ta đã biết, nội dung dạy trẻ các biểu tượng về toán được phân
bố đồng đều trong chương trình giảng dạy trẻ ở Mẫu giáo. Theo nguyên tắc từ
dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Đối với trực quan để dạy trẻ làm quen
với biểu tượng toán cũng cần nhiều về số lượng và yêu cầu đồ dùng trực quan
của từng tiết cũng khác nhau và phức tạp dần lên. Yêu cầu dạy biểu tượng
toán cho trẻ cần có đồ dùng trực quan chuẩn, chính xác. Tuy nhiên trong quá
trình tổ chức, hướng dẫn trẻ Giáo viên thường hay mắc phải một số nhược
điểm sau.
+Đồ dùng trực quan cô tự tạo một số, đôi lúc chưa đủ dẫn đến việc luyện
tập ít, nên tiết học buồn tẻ không đem lại kết qủa như mong muốn.
+Giáo viên nói nhiều, cách truyền đạt chưa lưu loát, không phát huy được
tính tích cực của trẻ khi tham gia các hoạt động.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
Do đặc điểm tâm lý của trẻ rất hiếu động, thích khám phá, tò mò, nên trẻ
không thể chỉ ngồi nhìn và nghe cô giáo giảng bài hoặc nói nhiều. Chính vì vậy

6


nếu không có đồ dùng trực quan, không cho trẻ thao tác thực hành trên đồ dùng,
đồ chơi đối tượng nhận biết thì trẻ dễ bị phân tán chú ý, mức độ hứng thú không
cao, trí thức lĩnh hội được không sâu, và hay bị quên.
Một trong những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức của trẻ đó là
đặc điểm riêng của trường Mẫu giáo Hoa Huệ là trường có địa bàn rộng, chỉ có
khu trung tâm là được phân theo độ tuổi, được 3 lớp lớn và 2 lớp nhở, 1 lớp
mầm còn lại phải nhờ nhà Hội trường của thôn để học, nên phải học chung 3 độ
tuổi với nhau một lớp. Trường năm nay mới bắt đầu thực hiện chương trình
mới, nên phần dạy và học của cô và trẻ còn hơi lúng túng. Vì thế giáo viên phải
đi học hỏi nhiều trường bạn nên cũng vất vả, với điều kiện kinh tế của dân đang
còn gặp nhiều khó khăn, nên ở trường Mẫu giáo Hoa Huệ do tôi chủ nhiệm một
lớp 5-6 tuổi có một số gia đình ở cách trường hơn 8 cây số đường đất khó đi
nên các cháu chưa qua lớp Mẫu giáo bé, Mẫu giáo nhỡ mà học luôn chương
trình Mẫu giáo lớn. Trẻ gặp nhiều khó khăn, khi gặp phải một vấn đề phức tạp
mà không có sự chuẩn bị dần từ những vấn đề đơn giản. Chính vì thế, khi vào
tiết học làm quen với toán, phần tập hợp số lượng và phép đếm. Cho nên phần
lớn trẻ không biết xếp tương ứng 1-1 đặt số lượng tương ứng bị nhầm, đếm hay
bị nhảy cóc khi thực hiện một số phép biến đổi, còn lúng túng nói sai kết quả.
Hay nhầm lẫn chưa phân biệt được định hướng trong không gian hoặc bị nhầm
lẫn.
Vì thế, giáo viên phải quan tâm nhiệt tình với trẻ. Một phần nhỏ bé được bố
mẹ, người thân dạy trước chương trình nên trẻ đếm, nhận biết số, tính toán
nhanh nhưng khi thực hiện trên đồ vật xếp tương ứng 1 - 1 trẻ bị lúng túng
trong giờ học không tập trung có biểu hiện phân tán không muốn học. Qua khảo
sát trên 50 cháu 5 - 6 tuổi ở trung tâm tôi rút ra một số vấn đề sau.
Tổng số học Số lượng trẻ hào hứng
Số lượng trẻ không hứng thú
sinh
học
50 cháu
76%
24%
Từ những vấn đề trên việc tìm ra biện pháp tốt nhất để hình thành những
biểu tượng toán sơ đẳng cho trẻ 5 - 6 tuổi một cách chính xác, bền vững, khắc
phục được những khó khăn của địa phương, phát huy được tính tích cực của trẻ
là thiết thực là cấp bách và cũng là điều quan trọng trong thực tế hiện nay.
Các biện pháp sử dụng đồ dùng, đồ chơi trực quan hấp dẫn trong hoạt
động làm quen với biểu tượng toán cho trẻ 5 - 6 tuổi.
Với trẻ 5 - 6 tuổi việc làm quen với biểu tượng toán là hoạt động cần thiết,
không những tạo cho trẻ có được tính nhanh nhẹn, thông minh, hoạt bát, sáng
tạo trong khi trẻ thực hiện hoạt động ở trên lớp cũng như các hoạt động khác
mà còn góp phần phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ Mẫu giáo. Bên cạnh đó
còn giúp trẻ có tâm thế vững vàng trước khi bước vào lớp 1. Muốn trẻ hào hứng
tham gia và yêu thích học môn toán thì phải xây dựng nề nếp thói quen tốt trong
học tập cho trẻ, như cách ngồi học đúng tư thế, cách trả lời câu hỏi của cô, cách
giơ thẻ số, tô, viết chữ số và cách sử dụng đồ dùng trực quan khi tham gia các
7


hoạt động như thế nào? Cách thực hiện các bước trong hoạt động làm quen với
toán ra sao? Phải phân nhóm số trẻ có khả năng nhận biết nhanh, chậm, bình
thường, để tiện theo dõi và có kế hoạch cụ thể để bồi dưỡng đồng thời kết hợp
với phụ huynh học sinh để giáo dục trẻ. Trong quá trình giảng dạy thực nghiệm
tôi đã tìm ra một số phương pháp đơn giản nhưng hợp lý và phù hợp với trẻ.
Xuất phát từ đặc điểm nhận thức của trẻ về biểu tượng toán mang nặng
cảm tính nên tôi đã sử dụng thủ thuật gây hứng thú cho trẻ ngay từ tiết đầu tiên,
nhằm tạo cho trẻ một tâm trạng vui vẻ, phấn khởi hơn gợi tính tò mò ham hiểu
biết của trẻ.
c. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp:
Tôi sử dụng mô hình, sa bàn hoặc một câu chuyện, bài thơ một trò chơi để
dắt trẻ tham gia vào hoạt động làm quen với biểu tượng toán.
VD: chủ điểm “Trường mầm non”
Ôn số lượng 3- 4 - nhận biết số 3- 4 và ôn nhận biết, phân biệt các hình: Vuông,
chữ nhật, tam giác. Giờ luyện tập tôi cho trẻ tập cầm bút vẽ, tô màu chấm tròn,
chữ số và hình, rồi đố trẻ số 3 tương ứng với mấy que tính, và tương ứng được
với hình gì? Cho trẻ thực hành cầm phấn nối và trả lời (với 3 que tính và hình
tam giác). Thế số 4 ứng với mấy que tính và hình gì? Cho trẻ so sánh hình
vuông, hình chữ nhật luôn. (với 4 que tính và hình vuông, hình chữ nhật) Tôi
chọn chủ điểm “Trường mầm non” Tôi đã dùng mô hình xếp ngôi nhà hoặc Lớp
Mẫu giáo của bé xếp hình vuông, hình chữ nhật phía dưới, hình tam giác phía
trên làm mái nhà, rồi hỏi mái nhà hình gì? Dưới mái nhà hình gì? Để trẻ nắm
vững hình và chữ số đã học.

4

3

3

3
4

VD: Chủ điểm “Gia đình”.
Ôn số lượng trong phạm vi 5- nhận biết số 5.
+Tôi treo tranh về gia đình: gia đình đông con là 3 con trở lên, còn gia đình ít
con là 1- 2 con để trẻ đếm số lượng người trong gia đình mình và giáo dục trẻ
biết vâng lời, quan tâm, yêu thương giúp đỡ tới người thân trong gia đình.
+Đồ dùng gia đình xếp ở giá đồ chơi để trẻ có thể luyện đếm.
Tôi chọn chủ điểm “Gia đình” Luyện tập cho trẻ xếp đồ dùng tương ứng với
số người trong gia đình mình...(cho lớp đọc thơ “cái bát xinh, xinh” ) và giáo
dục trẻ.

8


VD: “Cho trẻ xác định vị trí được các phía trên, phía dưới, phía trước, phía
sau”. Trước tiên vào lớp cô cho hát và vận động theo tay của mình, cô nói cái
đầu phía trên thì đưa tay lên phía trên, cái bụng phía trước đưa tay ra trước, cái
lưng phía sau đưa tay ra phía sau, còn cái gì đi dép phía nào? (và cô nói ngược
lại như cô nói phía trên, trẻ đưa tay lên và trả lời phía trên...) để trẻ hiểu nhanh
và nhớ được mãi, tiếp cô cho chơi búp bê. Cô nói búp bê đội mũ phía nào?, phía
dưới đi gì?, hỏi lớp búp bê mang cặp đi học phía nào?, còn búp bê ôm bó hoa
phía nào?.
Tiếp cho con mèo, gà, trâu, đổi nhau và hỏi con gì phía trước, con gì phía
sau, cho ôn luyện giữa các cháu với nhau...

VD: Trò chơi “Chiếc túi kỳ lạ”Tuy nhiên các trò chơi không lặp đi lặp lại ở
cùng một tiết học, sẽ dẫn đến trẻ bị nhàm chán, không hứng thú tham gia các
hoạt động. Yêu cầu các trò chơi phải được nâng dần lên qua mỗi lần chơi thì
mới phát huy tính sáng tạo, tích cực của trẻ, chính vì vậy tôi đã nghiên cứu, xác
định nội dung bài dạy để chọn trò chơi cho phù hợp, tùy từng trò chơi mà tôi đã
tổ chức cho trẻ theo lớp, tổ, nhóm, cá nhân và tập thể.
-Trong hoạt động làm quen với biểu tượng toán tôi thường sử dụng trò chơi
học tập, và lựa chọn trong nhiều trò chơi học tập để áp dụng với từng bài cho
phù hợp.
+Như cho trẻ bỏ tay vào túi lấy ra không nhìn và trả lời đó là chữ số mấy
thay cảm giác sờ bằng tay. Hoặc lấy hình và trả lời đó là hình gì?

1 2

3

4
9

5


VD: Trò chơi “Về đúng nhà”
-Tôi sử dụng trong phần ôn luyện cho tập hợp số lượng, phép đếm.
-Hình dạng chữ số tôi thường sử dụng cho tiết học nhận biết và ôn luyện chữ
số.
-Qua việc sử dụng trò chơi trong các giờ làm quen với biểu tượng toán, tiết
học trở nên sôi nổi, trẻ được tham gia hoạt động toàn diện, tinh thần thoải mái
nên cơ thể không bị mệt mỏi và căng thẳng. Điều này đã tạo cho trẻ hứng thú
hăng say trong quá trình tham gia các hoạt động học tập.
+Nếu trong tiết học làm quen, cho trẻ phát âm chữ số tạo dáng giống chữ số
mình đang học, cho xếp hoặc nặn chữ số đó, rồi cho chơi xếp chữ số tương ứng
với số lượng theo yêu cầu của cô và theo yêu cầu tiết học.
+Tiết luyện tập cho lớp ngồi hình chữ u học đến chữ số mấy cho chơi chữ số
đó như học chữ số 6 cho 6 cháu lên cầm từ số 1- 6 hát khi có hiệu lệnh của cô,
cháu cầm chữ số về đúng với số nhà có chấm tròn và trả lời là nhà số mấy, mấy
chấm tròn. Để trẻ phát triển tư duy, sáng tạo trong tiết học hơn tôi đố trẻ cô
muốn có 6 ngón tay mà tay cô mới có 4, vậy lớp mình phải thêm vào bao nhiêu
nữa để đủ 6 nhỉ? (lớp thêm vào 2 ngón tay) hoặc 6 ngón tay cô bớt đi mấy để
còn lại 3? (bớt 3)
-Thêm bớt tạo nhóm và cách chia số lượng 6 ra 2 phần, cô giơ lên 3 ngón tay
hỏi trẻ muốn có 6 ngón tay cô phải thêm vào mấy, nếu cô chia phần thứ nhất 4,
phần còn lại là mấy?
*Động vật dưới nước học số lượng 7, cho trẻ đếm 6, cô nói muốn có 7 thêm
mấy? Chữ số 7 có mấy nét? Cho trẻ đưa tay viết trên không, cô cho trẻ xếp số
lượng 7, tìm số 7 gắn vào, cho trẻ xếp số 7 làm 2 nhóm, cô hỏi trẻ một nhóm có
3, nhóm còn lại mấy? Nhóm có 2 nhóm còn lại mấy?(Tiếp cho trẻ xếp ngược
lại)
-Cho trẻ dùng vở (Bé làm quen với toán) như ở dưới tranh.

VD: “ Nhận biết phân biệt khối trụ, khối vuông, khối chữ nhật” Tôi chọn chủ
điểm an toàn giao thông. Tôi đã dùng mô hình các phương tiện giao thông được
xếp theo các hình, các khối sau: +Hôm nay cô và các con sẽ cùng khám phá tìm
hiểu nhé ( Cô và trẻ vào bài )
-Xếp tàu hỏa các toa tàu xếp bằng các khối chữ nhật, đường ray xếp bằng các
hình vuông, hình chữ nhật.
-Hàng rào xung quanh làm bến xe xếp bằng khối vuông.
10


-Cổng ra, vào bến xếp bằng khối trụ.
-Nhà giữ xe xếp bằng khối chữ nhật, khối tam giác, khối vuông.
-Thuyền buồm, ca nô xếp bằng hình vuông, chữ nhật, tam giác.
-Khi ngồi trên ô, tô có nô đùa không? Ngồi xe máy phải đội gì?
-Ngồi trên thuyền phải mang gì? Ngồi thế nào?
-Nếu đi bộ ta đi thế nào? Muốn qua đường phải thế nào?
Khi gợi mở cho trẻ vào chủ điểm, vào bài, giáo viên nói. Hôm nay cô cùng
các con sẽ đi thăm một nơi rất đẹp đó là một công viên. Khi đi đến trước mô
hình cô hỏi trẻ: Chúng mình đang được đến thăm nơi nào vậy nhỉ? Mô hình
công viên có những gì đặc biệt không? Nói đến công viên có rất nhiều chổ như
vườn hoa, ao cá, bấp bênh, cầu trượt... Khi đi qua đường trẻ nêu được là “khi
qua đường thấy rất nhiều xe ô tô, xe máy, xe được xếp bằng những khối chữ
nhật, khối vuông, khi đi qua bến xe hàng rào xếp bằng những, khối vuông, cổng
bến xe xếp bằng khối trụ đó là những khối đã học rồi ạ”. Cô nhắc lại và nhấn
mạnh yêu cầu, để trẻ hiểu kỹ hơn về đặc điểm của từng khối đó.
Nhưng đối với bài làm quen với biểu tượng về số lượng tôi cũng gợi ý dẫn
dắt trẻ đưa trực quan ra bằng bài thơ.
VD: Bài số 8 (tiết 1) chủ điểm thế giới động vật. Tôi đọc câu đố
“Con gì đuôi ngắn tai dài.
Mắt hồng lông mượt,
Có tài nhảy nhanh” (câu đố nói về con gì?)
Hoặc
“Con gì mỏ bẹt màu vàng,
Hai chân ngắn có màng,
Bước đi lạch bạch” (câu đố nói về con gì?)
Trẻ trả lời: Tôi đã chuẩn bị đồ dùng trực quan của mình và của trẻ giống
nhau là 2 nhóm: thỏ và vịt có số lượng là 8 Tôi nói: Vậy chúng mình cùng nhau
xếp tương ứng thỏ và vịt ra để tạo nhóm mới. Cho trẻ xếp lên bàn cô quan sát
xem trẻ xếp tương ứng 1-1 vừa có đúng không, vừa xếp vừa đếm. (Cho trẻ tìm
gắn số tương ứng với số lượng)

Việc gây hứng thú ngay từ đầu tiên tiết học, bằng đồ dùng trực quan không
những tạo được sự chú ý cho trẻ ngay từ đầu, mà còn tạo cho trẻ một tâm lý
thoải mái để trẻ dễ dàng tiếp thu nội dung trọng tâm của tiết học.
Xuất phát từ nhận thức của trẻ 5 - 6 tuổi là tư duy trực quan hình tượng
nhưng do một số trẻ chưa học qua chương trình Mẫu giáo bé và Mẫu giáo nhỡ.
11


Nên trong quá trình dạy tôi thường kết hợp giữa vật thật, tranh ảnh và mô hình
với nhau.
Đồ dùng trực quan phải đủ, đẹp, hấp dẫn, phù hợp với từng tiết học, đúng chủ
điểm, chủ đề của chương trình trẻ phải có đồ dùng trực quan như cô để thao tác
và sử dụng cùng một lúc với cô nhịp nhàng.
Thao tác cô đưa ra trực quan phải rõ ràng, dứt khoát để trẻ không lúng túng
khi làm theo cô.
Cô hướng dẫn trẻ sử dụng đồ dùng trực quan trong quá trình học phải đúng
lúc.
Khi trẻ sử dụng các đồ dùng thành thạo tôi động viên khuyến khích trẻ. Nếu
trẻ còn lúng túng chưa thành thạo trẻ sẽ được hướng dẫn tỉ mỉ và sẽ được sửa
luôn nếu sai sót.
Đối với đồ dùng trực quan có nhược điểm riêng biệt, đặc biệt tôi sử dụng
câu đố để đưa trực quan ra.
VD: Khối vuông, khối chữ nhật và khối cầu tôi dùng câu đố để trẻ đoán.
Khối gì xinh xắn
Sáu mặt hình vuông.
Bé hãy đoán xem.
Khối gì thể nhỉ? ( Khối vuông)
Khối gì cũng giống hình vuông.
Nhưng cạnh hai ngắn, hai dài.
Cô đố lớp mình đoán xem
Cũng là sáu cạnh nói xem khối gì? (khối chữ nhật)
Hay:
Khối gì tròn lắm.
Không xếp chồng được đâu.
Không đứng yên được lâu.
Động vào lăn long lóc.. (khối cầu)
Để liên kết các nội dung trong một tiết học được liên hoàn và chuyển sang
nội dung mới một cách linh hoạt, đưa trực quan ra một cách hợp lý, nếu không
có hợp tác thường hay các câu hỏi bị lặp đi, lặp lại nhàm chán, tôi thường sử
dụng các câu chuyện sáng tạo.
VD: Tôi nói tôi muốn xây nhà bằng viên gạch. Vậy viên gạch là khối gì? Tôi
muốn dùng ống nước yến làm cột. Vậy ống nước yến là khối gì?...
Khi đưa nội dung tích hợp của các môn học khác, vào hoạt động làm quen
với biểu tượng toán bằng câu hỏi nhẹ nhàng, hợp lý điều đó đã phát huy được
tính tích cực cao nhất ở trẻ, khi tham gia các hoạt động.
VD: Để khắc sâu kiến thức về khối cầu, khối trụ, khối vuông, khối chữ nhật
tôi đặt câu hỏi?
Bạn nào thích chơi khối cầu và khối trụ?
Bạn nào thích chơi khối vuông và khối chữ nhật?
Trẻ tự trả lời, tôi sẽ phân thành các nhóm.
+Nhóm thích chơi khối cầu, khối trụ về nhóm nặn khối cầu, khối trụ.
12


+Nhóm thích chơi khối vuông, khối chữ nhật về nhóm cắt hình bằng giấy màu
tương ứng để dán các khối. Điều này trẻ rất hào hứng thi đua, khi cùng nhau
tham gia vào các hoạt động.
Với việc lựa chọn và sử dụng đồ dùng trực quan hợp lý, hấp dẫn trẻ, tôi đã
sáng tạo ra các tình huống liên tục trong suốt quá trình trẻ tham gia các hoạt
động “Làm quen với biểu tượng toán” giúp trẻ tiếp thu kiến thức một cách
chính xác, sâu sắc và bền vững.
Trò chơi là một trong những trực quan vô cùng quan trọng trong hoạt động
làm quen với biểu tượng toán, trẻ được “Học mà chơi - chơi mà học”. Là một
đặc điểm của trẻ Mẫu giáo thông qua các hình thức chơi, trẻ sẽ nhận nhiệm vụ
học một cách tự nhiên, nhẹ nhàng không căng thẳng, không gò ép. Trẻ hào hứng
chơi khi trong trò chơi xuất hiện những trực quan hấp dẫn, bất ngờ.
VD: Trò chơi “Chiếc túi kỳ Lạ” Tuy nhiên các trò chơi không lặp đi lặp lại ở
cùng một tiết học, sẽ dẫn đến trẻ bị nhàm chán, không hứng thú tham gia các
hoạt động.
Nhưng sau các tiết học tôi lại cho lớp ôn lại ở tiết cuối (tiết học ôn) để trẻ
nắm vững các hình, các khối, các chữ số, cách đo, biết định vị được các phía
của mình, và biết thời gian, không gian trong công việc của mình...
VD: Tiết làm quen với toán số 9 (tiết 1) cho trẻ so sánh số 6 và số 9 để trẻ
không nhầm lẫn, dễ phân biệt mọi lúc, mọi nơi. Trong tiết tạo nhóm số lượng
trong chủ điểm động vật tôi cho trẻ đọc (Gà mẹ đếm con)
“Cục cục gà mẹ đếm,
Một hai ba và nhiều,
Đàn gà gà con vừa nở,
Chẳng biết là bao nhiêu,
Có hạt nắng bé xíu,
Vừa rơi trên nền nhà,
Thế là cả đàn gà,
Ùa lên tranh nhau nhặt”
Trẻ đọc xong thì cô nói vậy lớp mình đếm cho cô xem có bao nhiêu con gà
nào? Cô gắn lên bảng và cho trẻ đọc thầm, các hình ảnh sinh động làm hứng thú
với trẻ từ đó gây được sự chú ý với trẻ hơn...

d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp:
Môi trường cũng là một yếu tố trực quan trực tiếp, tác động hằng ngày đến
trẻ.
Chính vì vậy việc xây dựng cảnh quan môi trường xung quanh trường, lớp.
Tôi đặc biệt quan tâm.
13


Trang trí, sắp xếp lớp học, phòng học hài hòa hợp lý sẽ tạo được sự chú ý, sẽ
hấp dẫn lôi cuốn trẻ vào giờ học theo giai đoạn, theo chủ điểm, chủ đề, theo nội
dung từng bài.
Tùy vào nội dung của từng bài để đồ dùng trực quan xung quanh lớp, giá đồ
chơi, tranh treo tường cho hợp lý để trẻ luyện tập cũng như liên hệ thực tế.
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, tìm tòi, triển khai các thủ thuật sử dụng trực
quan, các yếu tố nêu trên vào các hoạt động cho trẻ làm quen với biểu tượng
toán sơ đẳng.
Tôi đã thu được kết quả rất khả quan như sau:
*Kết quả của trẻ:
+Thái độ: Trẻ hứng thú hoạt động chung cả lớp.
-Trẻ hăng hái giơ tay phát biểu ý kiến.
-Trẻ có nề nếp, thói quen học tập tốt và trật tự.
+Về cảm xúc tình cảm: Trẻ hào hứng tiếp nhận kiến thức một cách thoải mái
thông qua các hoạt động nhóm, tập thể...
*Về ý trí:
-Trẻ tập trung vào nội dung cô hướng dẫn.
-Thời gian nhận thức vấn đề tốt hơn.
+Kết quả cụ thể:
-Trẻ hào hứng học tập, tập trung chú ý: 100%.
-Trẻ mạnh dạn hồn nhiên: 100%.
-Trẻ trả lời đúng câu hỏi của cô là 92%.
*Kết quả của cô giáo:
Cô giáo đã tạo được môi trường học tập và vui chơi cho trẻ trong và ngoài
lớp có khoa học.
Bổ sung được nhiều đồ dùng, đồ chơi cho tiết dạy.
Giờ dạy “Cho trẻ làm quen với biểu tượng toán” Tôi đã được Ban giám hiệu
nhà trường cùng đồng nghiệp đánh giá xếp loại tiết dạy giỏi, đồ dùng trực quan,
kiến thức sáng tạo, nên học sinh tiếp thu bài nhanh.
Qua quá trình học tập và giảng dạy, nghiên cứu của đề tài tôi nhận thấy trẻ
em ngay từ khi mới sinh ra như một tờ giấy trắng chưa hình thành các biểu
tượng về toán ban đầu của trẻ. Vì thế, người lớn nói chung và các cô Mẫu giáo
nói riêng là trực tiếp tác động đến trẻ nhằm dần dần hình thành cho trẻ những
biểu tượng ban đầu về cuộc sống. Trẻ 5- 6 tuổi vốn hiểu biết còn ít, vì vậy
những biểu tượng về toán ban đầu cho trẻ chỉ là dạng sơ khai mới mẻ. Vì thế để
hình thành được biểu tượng về toán trẻ cần dựa vào vốn tích lũy của bản thân
vốn ngôn ngữ nhất định để diễn đạt trong việc hướng dẫn trẻ làm quen với toán,
giáo viên đóng vai trò rất quan trọng trong việc hướng dẫn trẻ nhận thức các
biểu tượng sơ đẳng về toán làm tăng thêm vốn hiểu biết cho trẻ.
Vì vậy, muốn đạt được kết quả cao trong hoạt động làm quen với biểu tượng
toán. Trước khi lên lớp tôi soạn bài đầy đủ, nắm chắc phương pháp lên lớp theo
14


đúng trình tự loại tiết để giảng dạy và đan xen với một số hoạt động để trẻ nắm
chắc các nội dung bài học.
Tôi luôn phải tìm tòi, học hỏi nội dung, mọi hoàn cảnh của địa phương để
phát triển và nâng cao chuyên môn, linh động trong quá trình tìm tòi, sáng tạo
để dạy học.
Khi có những thay đổi trong chuyên đề tôi đã kịp thời áp dụng ngay và xin
ý kiến nhà trường tạo điều kiện cho tôi về tài liệu nghiên cứu.
Trong khi luyện tập cần phải động viên, khuyến khích trẻ kịp thời để tạo cho
trẻ hứng thú học hơn. Từ những đồ dùng, đồ chơi làm ra cô giáo phải tạo môi
trường cho trẻ được tiếp xúc, tạo tình huống cho trẻ hoạt động, bằng mọi cách
cho trẻ được trải nghiệm hòa mình vào các đồ dùng, đồ chơi mà trẻ được làm
quen.
Thường xuyên đánh giá hiệu quả đồ dùng trực quan các bài dạy để thay đổi,
tình huống mới gây sự bất ngờ chú ý của trẻ.
Điều cần thiết nhất là cần phải biết phối kết hợp chặc chẽ với phụ huynh
làm tốt công tác tuyên truyền các bậc cha mẹ để nhận được sự giúp đỡ đồng
tình, từ đó con em mình mới ngày càng tiến bộ và có một lòng khao khát thích
học, không những môn “Làm quen với toán” mà còn có ích cho những môn
khác nữa.
Tôi luôn luôn quan tâm tìm tòi, học hỏi và rút ra nhiều kinh nghiệm cho
mình hơn.
II.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
nghiện cứu:
*Qua thực hiện một số biện pháp trên kết quả đạt được như sau:
-Bản thân được trau dồi kiến thức, kỹ năng, nghệ thuật dạy trẻ.
-Phụ huynh tín nhiệm, tin yêu.
*Với trẻ có tiến bộ rõ rệt trong từng tiết học.
+Trẻ có kỹ năng nhận biết, phân biệt, xếp tương ứng, phân nhóm, so sánh,
xếp chữ số ứng với số lượng đồ vật của từng tiết học, và hiểu biết rộng về tự
nhiên cũng như về hội.
+Đặc biệt trong đợt thao giảng và thi giáo viên giỏi của trường các cô ở phân
hiệu cũng đến trường chính đều mượn lớp dạy thao giảng, được đồng nghiệp
đánh giá là lớp đạt kết quả tốt, có ý thức học tập tốt trong trường.
+Kết quả cụ thể:
-Trẻ hào hứng học tập, tập trung chú ý: 100%.
-Trẻ mạnh dạn hồn nhiên: 100%.
-Trẻ trả lời đúng câu hỏi của cô là 92%.
*Đối với phụ huynh:
-Các bậc phụ huynh đã nhận thức rõ được tầm quan trong của việc học làm
quen với toán, tạo điều kiện cùng công tác với cô để trẻ học đạt kết quả cao.
*Về giáo viên thực sự yêu nghề mến trẻ, có năng lực sự phạm, nắm chắc
chuyên môn.
-Có sự hiểu biết về kỹ năng dạy trẻ làm quen với toán.
15


-Có sự sáng tạo trong mỗi tiết dạy, luôn có sự đổi mới trong phương pháp dạy
trẻ.
-Thương xuyên rèn luyện bản thân, kỹ năng dạy, thao tác, rèn luyện giọng
nói.
-Đồ dùng dạy phong phú, sáng tạo, hấp dần với trẻ.
-Làm tốt công tác tuyên truyền với các bậc phụ huynh.
-Luôn tạo môi trường học mà chơi, chơi mà học.
-Chú ý rèn trẻ ít nói, chậm hiểu có phương pháp hướng dẫn cụ thể.
-Động viên kịp thời và giúp trẻ thường xuyên tập luyện.
-Tạo điều kiện tốt để trẻ có khả năng tư duy, phát triển tốt.
*Trên đây là kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
nghiện cứu để nâng cao chất lương cho trẻ 5-6 tuổi làm quen với toán, để nâng
cao kỹ năng so sánh, phân nhóm, xếp tương ứng số lượng đồ vật, xếp chữ số
ứng với từng nhóm và trả lời được một nhóm có mấy, chữ số mấy.
Phần III: Kết luận – Kiến nghị
III.1. Kết luận:
Từ những kết quả nghiên cứu, trên cơ sở tôi rút ra kết luận sau.
Việc hình thành biểu tượng về toán sơ đẳng cho trẻ 5- 6 tuổi là một trọng
tâm và những nội dung lớn của chương trình giáo dục cho trẻ Mẫu giáo. Nhằm
phát triển trí tuệ các mặt khác, mà phát triển nhân cách toàn diện, góp phần
quan trọng vào việc cho trẻ học toán ở phổ thông.
Việc làm này không chỉ có ý nghĩa lớn lao đối với các nhà nghiên cứu mà
đối với các trường Mầm non, mà phải đặc biệt là những giáo viên Mầm non cần
nắm vững những nội dung chương trình và thường xuyên sáng tạo, mở rộng nội
dung chương trình nhằm giúp trẻ phát triển tư duy ham học hơn.
Ngoài việc cung cấp cho trẻ những kiến thức, kỹ năng mới mà còn phải
thường xuyên tổ chức cho trẻ luyện tập bằng các biện pháp phù hợp nhằm ôn
luyện. Củng cố làm quen và nâng cao chất lượng các biểu tượng như: so sánh,
nhận biết, xác định vị trí các phía, không gian, thời gian rồi về các hình, các
khối cho trẻ.
Tôi xây dựng hệ thống tổ chức trò chơi học tập. Củng cố làm quen những
kiến thức mới, mà kết quả thu được phù hợp với giả thuyết khoa học.
Trong quá trình nghiên cứu thực trạng, tôi nhận thấy sự hiểu biết của trẻ
còn nghèo nàn, hạn chế.
Nguyên nhân hoàn toàn không phụ thuộc vào trẻ. Không phải là do trẻ
không có khả năng lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng cơ bản và mở rộng về nội
dung toán học sơ đẳng nói chung, mà do chúng ta chưa giúp trẻ ghi nhớ sâu sắc
và mở rộng, tìm tòi những biểu tượng toán học sơ đẳng đó.
Chính vì vậy, công việc nghiên cứu tìm tòi những biện pháp dạy học có
hiệu quả để hỗ trợ phương pháp hình thành biểu tượng về hình khối nói riêng và
biểu tượng toán học nói chung rất là cần thiết và luôn đòi hỏi mỗi giáo viên phải
16


tâm huyết với nghề, với trẻ, phải luôn tìm tòi, khám phá cái mới để truyền đạt
cho trẻ.
III.2. Kiến nghị:
-Tạo điều kiện cho giáo viên tham gia, học hỏi dự giờ những tiết dạy mẫu,
dạy giỏi để nâng cao trình độ, chuyên môn của mình.
-Kết hợp với phụ huynh để có biện pháp giáo dục trẻ một cách tốt nhất ở gia
đình và nhà trường.
-Bản thân là một giáo viên tôi sẽ luôn cố gắng và cố gắng hơn nữa làm thêm
đồ dùng đồ chơi, tạo mọi điều kiện để trẻ tiếp thu bài được tốt hơn.
Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi đưa ra còn nhiều hạn chế xin được
các cấp lãnh đạo bổ sung và công nhận kinh nghiệm bộ môn làm quen với Toán.
Chúng tôi là những giáo viên vùng sâu vùng xa đời sống giáo viên còn gặp
nhiều khó khăn, như giá cả so với thị trường cao hơn trung tâm, đường đi lại xa,
nắm bắt thông tin còn chậm vì vậy trong chương trình giáo dục mầm non mới.
Việc áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy còn gặp nhiều khó khăn. Kính
đề nghị cấp trên quan tâm đầu tư máy vi tính cho các lớp để GV và HS có điều
kiện học tập và áp dụng công nghệ thông tin trong việc dạy và học.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cấp lãnh đạo!
EaTân ngày 14 tháng 01 năm 2014
Người viết:
Võ Thị Kim Quy
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỘNG KHOA HỌC
-Cấp cơ
sở: ..........................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
17


................................................................................................................................
.....
-Cấp huyện:
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
Số trang

MỤC LỤC

18


1

Phần I: Phần mở đầu
I.1. Lý do chọn đề tài

2

3
4
5
6

8
14
15
16
17

I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
I.3. Đối tượng nghiên cứu:
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
I.5. Phương pháp nghiên cứu:

Phần II : Nội dung.
II.1. Cơ sở lí luận:
II.2. Thực trạng:
a.Thuận lợi- khó khăn:
b. Thành công – hạn chế:
c. Mặt mạnh-mặt yếu:
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động:
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt
ra:
II.3. Giải pháp, biện pháp:
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
c. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp:
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp:
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đè nghiên
cứu:
II.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của
vấn đề nghiện cứu:
Phần III: Kết luận – Kiến nghị
III.1. Kết luận:
III.2. Kiến nghị:

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×