Tải bản đầy đủ

LÀM THẾ nào để làm tốt CÔNG tác CHĂM sóc, NUÔI DƯỠNG CHO TRẺ 5, 6 TUỔI được tốt hơn

LÀM THẾ NÀO ĐỂ LÀM TỐT CÔNG TÁC CHĂM SÓC,
NUÔI DƯỠNG CHO TRẺ 5 -6 TUỔI ĐƯỢC TỐT HƠN!
I. PHẦN MỞ ĐẦU
I. 1. Lý do chọn đề tài:
Thực hiện nhiệm vụ của bộ giáo dục và đào tạo, ngành học mầm non đã đưa nội
dung giáo dục dinh dưỡng sức khỏe, vào chương trình chăm sóc giáo dục ở nhà trẻ
và mẫu giáo. Là một việc làm rất cần thiết như vậy sẽ tạo ra một sự liên thông về
giáo dục dinh dưỡng. Mặt khác ở độ tuổi mẫu giáo rất nhạy cảm và mau chóng tiếp
thu những điều được dạy bảo. Tiến hành cho trẻ sẽ góp phần quan trọng trong chiến
lược con người có sự : Hiểu biết về đầy đủ các vấn đề dinh dưỡng và sức khỏe
Dinh dưỡng là một vấn đề rộng lớn và đa ngành vì vậy nó đòi hỏi sự kết hợp hỗ
trợ lẫn nhau. Để thực hiện nhiệm vụ năm 1995 – 2000 và chiến lược về quốc gia
dinh dưỡng năm 2001 – 2010 và chiến lược chống suy dinh dưỡng cho trẻ em năm
2012 – 2015 bằng các hành động tuyên truyền chính sách nghỉ sản 6 tháng. Đồng
thời thành lập bệnh viện chăm sóc bà mẹ trẻ em…..
Bên cạnh đó giáo dục ở trường mầm non, thì giáo dục thể chất cho trẻ phải là
nhiệm vụ hàng đầu và quan trọng, vì sức khỏe là vốn quý giá nhất và có ý nghĩa
sống còn đối với con người, đặc biệt đối với trẻ mẫu giáo. Ở lứa tuổi này cơ thể đang
ở trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện dần vì còn non nớt, yếu dễ bị
lệch lạc và mất cân đối. Do đó trẻ chỉ phát triển tốt nếu như được chăm sóc các chất
dinh dưỡng một cách hợp lý.

Cho nên giáo dục thể chất cho trẻ ở trường mầm non có thể thông qua nhiều
biện pháp khác nhau như: Tổ chức cho trẻ vận động mọi lúc mọi nơi phù hợp với
chế độ nghỉ ngơi hợp lý, ăn uống đầy đủ chất ….như vậy một trong những biện pháp
phát triển thể chất và tổ chức bữa ăn cho trẻ đòi hỏi phải có khoa học vì cơ thể trẻ
đang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện dần, do đó cần năng lượng để xây
dựng. Năng lượng đó lại do thức ăn cung cấp vì thế thức ăn chỉ phát huy hết vai trò
của mình đối với cơ thể khi phù hợp với thể trạng và từng lứa tuổi khác nhau. Ở
trường mầm non trẻ thường được ăn hai bữa đó là bữa ăn trưa và bữa ăn xế, trong đó
bữa ăn trưa là bữa chính và quan trọng nhất. Thông qua bữa ăn trưa, trẻ được bù đắp
những năng lượng đã tiêu hao và cung cấp năng lượng mới để tham gia vào các hoạt
động mới, vì vậy việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ là một trong những nhiệm vụ quan
trọng.
Từ đó trên thực tế việc chăm sóc nuôi dưỡng cho trẻ ở trường mầm non vẫn còn
nhiều vấn đề cần quan tâm. Đặc biệt là đối với các khu vực nông thôn, các vùng cao,
vùng dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa, ở đây điều kiện cơ sở vật chất và nhận thức
phụ huynh, còn hạn hẹp về kiến thức dinh dưỡng, mới chú ý đến làm sao cho trẻ ăn
hết khẩu phần của mình chứ chưa chú ý đến việc tổ chức cho trẻ ăn ngon miệng và

1


làm sao để trẻ có tâm lý thoải mái khi ăn và đủ chất dinh dưỡng, chính vì lý do trên
mà tôi đã mạnh dạn chọn đề tài:
“ Làm thế nào để làm tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng cho trẻ 5- 6 tuổi được tốt
hơn” Để làm bài sáng kiến kinh nghiệm của mình. Bản thân tôi mong muốn cùng
các bạn đồng nghiệp và các bậc phụ huynh cùng các ban nghành lựa chọn tìm ra
phương pháp, biện pháp để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ ngày một nâng cao
chất lượng tốt hơn hãy tất cả: “ Vì trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”
I. 2. Mục tiêu nhiệm vụ của đề tài:
* Mục tiêu: Nghiên cứu đề tài này là để tìm cách vận dụng phương pháp: Chăm
sóc nuôi dưỡng và giáo dục, áp dụng vào các bữa ăn hàng ngày, nhằm phát hiện và
phục hồi sức khỏe cho trẻ
Tuyên truyền những kiến thức và kinh nghiệm về chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em có
khoa học phù hợp và dễ hiểu để góp một phần nhỏ cùng với toàn dân, nhằm hạ tỷ lệ
trẻ phát triển có nguy cơ: thấp còi nhẹ cân xuống phần trăm thấp nhất
* Nhiệm vụ của đề tài: Tìm hiểu về thực trạng vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng trẻ
em 5- 6 tuổi ở trường mầm non và những nguyên nhân phát triển thấp còi nhẹ cân ở
từng đối tượng trẻ
- Theo dõi cân đo, khám kiểm tra sức khỏe và đánh giá kết quả chăm sóc nuôi
dưỡng Tổng hợp các nguyên nhân tìm ra các phương pháp phù hợp, để có biện pháp


khắc phục chăm sóc nuôi dưỡng theo từng trẻ, từng quý và rút ra kinh nghiệm
I. 3. Đối tượng nghiên cứu
Là những trẻ em 5 – 6 tuổi, đang học tại trường Mẫu Giáo ... với tổng số trẻ là:
49 cháu của lớp lá: 3, bán trú tại trường tôi đang tập trung nghiên cứu
- Tôi chọn đề tài này và theo dõi trẻ từ ngày 3 tháng 9 năm 2013 đến nay
I. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Do thời gian và năng lực có hạn, đề tài này chỉ nghiên cứu và đưa ra “một số
phương pháp và hình thức tổ chức nhằm khắc phục về cách chăm sóc dinh dưỡng
sức khỏe để trẻ chuẩn bị bước vào lớp 1”:
* Biết xây dựng thực đơn hàng ngày, tháng cho trẻ
* Biết cách chăm sóc trẻ khi biếng ăn, khi ốm
* Các chất dinh dưỡng có tỷ lệ cân đối và ăn đầy đủ
* Biết những điều cơ bản về an toàn thực phẩm
* Theo dõi sức khỏe trẻ bằng biểu đồ tăng trưởng
* Cho trẻ ăn đều bữa trong ngày và đều trong tháng
*Ăn chín uống sôi, vệ sinh trước và sau khi ăn

2


* Ăn ở, mặc, nguồn nước sạch sẽ, đúng theo mùa
* Giáo dục trẻ các thói quen vệ sinh trong khi ăn uống
I. 5.

Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu lý luận
-Một số nguyên tắc và đặc thù trong việc chăm sóc dinh dưỡng
* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Những nguyên nhân dẫn đến trẻ suy dinh dưỡng
- Điều kiện để thực hiện

- Đặc điểm môi trường và điều kiện kinh tế của phụ huynh có ảnh hưởng tới
việc chăm sóc dinh dưỡng của trẻ
* Phương pháp tổng hợp: cho trẻ ăn đủ và cân đối chất dinh dưỡng để chuẩn bị
vào lớp 1.
- Một số nguyên tắc vệ sinh dinh dưỡng.
- Nội dung tuyên truyền phụ huynh.
- Biết những điều cơ bản về an toàn thực phẩm.
* Phương pháp xây dựng khẩu phần và thực đơn cho trẻ.

II. PHẦN NỘI DUNG:
II. 1. Cơ sở lý luận:
-Từ ngàn xưa, con người đã biết mối quan hệ giữa ăn uống và sức khỏe sự vận
động và trao đổi chất. Hyporcat( 460 – 377 TCN) đã đánh giá cao vai trò của sự ăn
uống đối với sức khỏe và bệnh tật con người, nhất là đối với trẻ mầm non. Ông cho
rằng. Cơ thể khi còn trẻ cần nhiều nhiệt hơn khi về già vì vậy trẻ còn bé cần được ăn
nhiều hơn. Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng: chế độ ăn chỉ tốt khi có một lối sống hợp

-Hội nghị Y tế Thế giới họp tại Alma Alta năm 1987 đã định nghĩa chăm sóc
sức khỏe ban đầu là: Chăm sóc tại nhà, tại phường, tại xã, tại cộng đồng, nơi người
dân sinh sống và lớn lên, trước hết do tự người dân chăm sóc sức khỏe cho chính
mình. Mục đích của công tác này, với phương châm là: Đảm bảo quyền lợi sức khỏe
cho mọi người, kỹ thuật đơn giản, thích nghi với giá trị kinh tế, chủ động phòng
bệnh là chính, phát hiện sớm để điều trị kịp thời, tham gia cùng cộng đồng trong việc
chăm sóc sức khỏe đến từng người dân.
- Danh y việt nam: Tuệ Tĩnh ( Thế kỷ XIV) đã từng nói “ thức ăn là thuốc,
thuốc là thức ăn nếu con người ta bị ốm hoặc suy dinh dưỡng mà không ăn” là sẽ bị
cạn kiệt năng lượng thì nó không còn tồn tại cuộc sống, nên khoa học dinh dưỡng
cũng cho chúng ta biết: Thức ăn các chất dinh dưỡng là một nguồn nguyên vật liệu

3


xây dựng cơ thể. Các vật liệu này thường xuyên trao đổi chất và thay thế thông qua
quá trình hấp thụ và chuyển hóa các chất trong cơ thể, ngược lại khi cơ thể không
được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng sẽ không phát triển bình thường và từ đó
là nguyên nhân gây ra bệnh tật như: suy dinh dưỡng, còi xương, thiếu máu do thiếu
sắt và các bệnh khác, thậm chí dẫn đến tử vong.
Theo nghiên cứu của viện dinh dưỡng thì ăn uống có sự ảnh hưởng rất lớn đến
sức khỏe, trẻ được nuôi dưỡng tốt ăn uống đầy đủ chất thì da dẻ hồng hào, thịt chắc
nịch và cân nặng, chiều cao đảm bảo nếu ăn uống không điều độ sẽ ảnh hưởng đến
sự tiêu hóa, nếu ta cho trẻ ăn uống không khoa học, không điều độ về giờ giấc không
hợp lý, thì thường gây ra rối loạn tiêu hóa và trẻ có thể mắc một số chứng bệnh như:
tiêu chảy, còi xương, khô mắt do thiếu Vita minA…
Ở việt nam chính phủ cũng đã có sự quan tâm đúng mức đối với vấn đề này,
ngày 22/ 2/ 2010 thủ tướng chính phủ đã phê duyệt chiến lược quốc gia dinh dưỡng
giai đoạn 2001 – 2010 và chiến lược chống suy dinh dưỡng ở trẻ 2012 – 2015 mà
mục tiêu nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng của nhân dân các gia đình, trước hết
là trẻ em và các bà mẹ được nuôi dưỡng, cải thiện hơn về chất lượng, đảm bảo an
toàn vệ sinh thực phẩm. Hạn chế các vấn đề về ảnh hưởng đến sức khỏe có liên
quan tới dinh dưỡng, cụ thể giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em
Như vậy vấn đề ăn uống đối với trẻ mầm non đã được quan tâm từ rất sớm.
Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ quan tâm đến sự ăn uống sức khỏe và bệnh tật của trẻ.
Đồng thời có tác giả cũng cho rằng: Để có cơ thể phát triển tốt, tránh được bệnh tật
thì cần phải đảm bảo một chế độ ăn uống khoa học, hợp lý và vệ sinh, nhưng chưa
có một tác giả nào đề cập đến hiệu quả tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ
Mãi đến năm 1967 trong cuốn “ Cán bộ giữ vườn trẻ và nhóm trẻ nhỏ của
vườn trẻ mẫu giáo” tác giả: M.Đ.Côvryghina mới đưa ra một số vấn đề cần lưu ý khi
tổ chức bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non như: cho ăn tùy thích thú, không được bắt
buộc trẻ ăn như thế dạ dày mới tiết dịch mạnh: giữa các bữa ăn không bao giờ cho
ăn bánh kẹo ngọt, ăn không đúng lúc sẽ làm giảm khẩu vị, làm ức chế trung tâm điều
khiển ăn uống và làm phá hoại chế độ ăn đúng đắn. Ngoài ra thực đơn có hình thức
đẹp, mùi vị hấp dẫn sẽ gây cảm giác thèm ăn trong các bữa
khẩu phần của trẻ thì phải cho ăn cùng một lúc
Tình hình dinh dưỡng của trẻ em nước ta nói chung còn kém do nhiều nguyên
nhân, vấn đề thiếu ăn thu nhập kém là nguyên nhân quan trọng của thiếu dinh
dưỡng, song tình trạng thiếu hiểu biết về dinh dưỡng trẻ em, của nhân dân cũng rất
phổ biến và là nguyên nhân làm tăng tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng. Để đảm bảo sức
khỏe cho người mẹ và trẻ em chúng ta cần chú ý cải thiện tình trạng dinh dưỡng. Vì
vậy cải thiện nó phải là một hoạt động lồng ghép, vừa chú ý sản xuất tạo nguồn thực
phẩm bổ sung( V.A.C) vừa cải thiện chăm sóc y tế ( tiêm chủng, ORS chống tiêu
chảy) vừa giáo dục nâng cao trình độ hiểu biết về dinh dưỡng của nhân dân

4


Ở nước ta việc nghiên cứu vấn đề tổ chức bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non
mới được quan tâm mấy năm gần đây trong công trình nghiên cứu “ Khảo sát khẩu
phần ăn trưa và bữa phụ” của tác giả: Lê Thị Khánh Hòa ( 1983) có đưa ra khảo sát
phần ăn trưa năng lượng của trẻ ở trường mầm non. Kết quả nghiên cứu cho thấy
tình hình cung cấp năng lượng cho trẻ ở trường mầm non còn thấp so với tiêu chuẩn:
Tỷ lệ các chất sinh năng lượng chưa cân đối, chưa hợp lý, trong đó lượng Gluxit quá
cao, còn lượng Lypit thì qua thấp. Đồng thời tác giả cũng chỉ ra một nguyên nhân
dẫn đến tình hình như: bếp ăn mới được hình thành, cơ sở vật chất thiếu thốn, có
nhiều quan niệm coi nhẹ việc nuôi dưỡng nên các hình thức tổ chức còn nghèo nàn.
Từ đó tác giả đưa ra các giải pháp: trang bị đầy đủ cơ sở vật chất ở các trường mầm
non để đảm bảo việc tổ chức ăn cho trẻ, đào tạo đội ngũ cô nuôi có trình độ hiểu biết
về dinh dưỡng, xuất phát từ tình hình thực tế trong chương trình kế hoach quốc gia
về dinh dưỡng ( 1995- 2000) Thủ Tướng Chính Phủ đã phê duyệt tại quyết định số
576 TTg ngày 16/ 09/ 1995 và chiến lược chống suy dinh dưỡng cho trẻ em năm
2012- 2015: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo là: triển khai chương trình giáo dục dinh
dưỡng ở các cấp từ mẫu giáo đến đại học và phổ cập kiến thức dinh dưỡng cho toàn
dân
Khi công trình nghiên cứu: Điều tra tình trạng dinh dưỡng của trẻ ở một số
trường phía bắc” của tác giả : Nguyễn Thị Ngọc Trâm ( 1989) và “ tình hình cung
cấp các dưỡng chất cơ bản ở trường mẫu giáo” của tác giả Võ Thị Cúc ( 1992) cũng
cho thấy việc cung cấp dưỡng chất cơ bản như: Gluxit – Lipit, của ta hiện nay còn
thấp. Chúng ta mới cung cấp được khoảng 85% nhu cầu cần thiết, tối thiểu năng
lượng cho trẻ và năng lượng đó chủ yếu là do Gluxit mang lại, mặt khác hai tác giả
cùng nhấn mạnh việc nâng cao hơn nữa về kiến thức khoa học dinh dưỡng đối với
các cơ sở nuôi dạy trẻ, tránh tình trạng cho ăn theo kinh nghiệm hoặc tổ chức dinh
dưỡng thiếu lý luận toàn diện và kém hiệu quả. Đồng thời nhà trường và gia đình
cần có sự hiểu biết chăt chẽ, đúng đắn về mối quan hệ giữa nuôi và dạy giữa sức
khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần,
như vậy các công trình nghiên cứu về vấn
đề này không nhiều chủ yếu là điều tra đánh giá và tổng kết về tình hình dinh dưỡng,
khẩu phần ăn chứ chưa đi sâu vào vấn đề cung cấp đúng và đủ các nhóm dinh dưỡng
cho trẻ
Từ đó, do tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu và nhu cầu thực tiễn nên đáp
ứng chất dinh dưỡng cho trẻ 5- 6 tuổi nói riêng và các cháu ở độ tuổi mầm non nói
chung là rất cần thiết.
II.2.Thực trạng:
a. Thuận lợi, khó khăn:
* Thuận lợi: Được sự quan tâm giúp đỡ của chính quyền địa phương và sự
lãnh đạo sát sao của nhà trường, cùng phòng giáo dục đào tạo Huyện ...đã tạo điều
kiện tập huấn và cung cấp trang thiết bị tài liệu hướng dẫn thực hiện chăm sóc nuôi
dưỡng giáo dục, vệ sinh an toàn thực phẩm tuyệt đối cho trẻ.

5


-Nhà trường có một đội ngũ giáo viên chuẩn về trình độ, luôn giúp đỡ nhau
tạo mọi điều kiện cho học hỏi kinh nghiệm và luôn có ý thức, nhiệt tình trách nhiệm
cao trong công tác
-Đồng thời được sự ủng hộ của các bậc phụ huynh, đã tin tưởng gửi con vào
bán trú cả ngày, để đưa nhà trường ngày một càng vững mạnh hơn về tinh thần, cũng
như cơ sở vật chất.
-Địa điểm trường chính nằm trên trục đường liên xã, thuận lợi cho việc đưa
đón trẻ có đầy đủ hệ thống phát thanh nhằm tuyên truyền tới các bậc phụ huynh về
việc giáo dục, chăm sóc nuôi dưỡng
* Khó khăn: Trường mầm non ...nằm cách trung tâm huyện hơn 20 cây số, có
một số dân điều kiện kinh tế khó khăn, nên việc quan tâm chăm sóc con chưa chu
đáo còn hạn hẹp. Trẻ ăn không đủ chất không điều độ, thường xuyên xẩy ra chế độ
bữa ăn của trẻ còn phụ thuộc vào thu nhập của bố mẹ. Bên cạnh đó có một số gia
đình khá giả hơn thì lại cưng chiều con quá cho ăn uống vặt nhiều, tùy ý thích của
trẻ, không có khoa học nên từ đó sinh ra biếng ăn, chế độ sinh hoạt thất thường, dẫn
đến trẻ thiếu chất hay mệt mỏi gây ra bệnh tật, còi xương, thiếu máu do thiếu sắt và
các bệnh tật khác. Đồng thời cơ sở vật chất của nhà trường còn khó khăn chưa đủ để
phục vụ cho bán trú. Giáo viên còn hạn hẹp về kinh nghiệm nuôi dưỡng, nên khẩu
phần ăn của trẻ chưa đúng khoa học chưa cân đối chưa đủ lượng so với yêu cầu, giá
cả thị trường tăng cao từ đó có ảnh hưởng tới việc bán trú trên lớp. Thậm chí những
ngày trời mưa kéo dài trẻ nghỉ học ở nhà đã giảm cân ăn ít đi, trưa không ngủ nói
chuyện, kết hợp khí hậu lạnh kéo dài trẻ rất dễ bị ốm. Mặc dù chính phủ đã đưa ra
quyết định triển khai chương trình phòng chống suy dinh dưỡng, nhưng sự hiểu biết
của nhân dân về chăm sóc nuôi dưỡng còn thiếu khoa học, thậm chí ăn no trong
ngày 2 bữa trưa và tối, bữa sáng nhịn, ăn còn thiếu chất dinh dưỡng, nên có một số
gia đình chế độ nuôi dưỡng con cái chưa phù hợp
b. Thành công, hạn chế:
* Thành công: Sau khi nắm cụ thể số liệu trẻ phát triển thấp còi, nhẹ cân ở
lớp: lá 3 qua 2 định kỳ khám sức khỏe đầu năm của tháng 9 năm 2013, tôi đã kết hợp
cùng phụ huynh đưa ra phương pháp thống nhất cách chăm sóc nuôi dưỡng theo một
chế độ nhất định: ngủ đủ giấc, ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng và chế độ ăn phù hợp
với khả năng hấp thu của từng độ tuổi cơ thể trẻ, ăn đúng giờ.Thường xuyên chế
biến thay đổi các móm ăn trong tuần và theo mùa, đồng thời cần chú ý bổ sung các
loại quả chín, uống sữa đúng giờ, thường động viên trẻ ăn rau xanh, củ, quả… ăn
canh và uống đủ lượng nước trong ngày, bữa ăn hàng ngày luôn tạo không khí vui

6


vẻ, thì trẻ sẽ thích ăn và da dẻ trẻ hồng hào

Hình ảnh nhóm cung cấp các chất Vitamin, chất khoáng…

Bên cạnh đó trẻ cần được sống trong môi trường sạch sẽ, ấm về mùa đông,
thoáng mát về mùa hè, qua những điều kiện trên hàng ngày tôi quan sát lớp những
bữa ăn, dần dần trẻ đã ăn hết khẩu phần và tốc độ ăn nhanh, mạnh hơn, có nhiều
cháu ăn hết bát thứ hai còn ăn thêm một bát canh. Bên cạnh đó có một số trẻ tỏ ra
hào hứng và vui vẻ ăn nhiều trong bữa ăn như cháu: Dương việt Văn, Nguyễn Trần
Trường Phụng, Hoàng Thanh Minh Trí, Phạm Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Thanh
Tuyền, Nguyễn Thị Trà My, Lê Quang Huy, Bùi Đặng Anh Tú….những trẻ này tăng
cân rất nhanh, thường được cô bầu ra làm nhóm trưởng có trách nhiệm chia cơm cho
các bạn trong bàn ăn, khi bắt đầu ăn trẻ ăn rất nhanh ăn xong còn nói với các bạn
rằng “ tớ là một vô địch ăn nhanh, ăn nhiều. ăn khỏe” Từ đó tôi theo dõi từng cá
nhân đến tháng 2 năm 2014 hiệu quả trên trẻ đã tăng lên, hầu như số trẻ trong lớp lá:
3 bán trú có cháu tăng từ: 1kg đến 2- 3kg. Song có cháu còi nhất như: Hoàng Thị
Phương Thảo từ ngày đầu mới ra lớp cân được: 12kg cao: 95cm, mà cho đến đầu
tháng 1 năm 2014 tôi cân được: 13kg8 cao: 99cm, cho nên phần trăm trẻ phát triển
thấp còi đã giảm rõ rệt so với ngày đầu. Bên cạnh đó có cháu tăng cân mạnh nhất là:
Phạm Thị Phương Thảo đầu năm 15kg tháng 1 năm 2014, lên 18 kg…, còn lại số
lượng cháu tăng bình thường từ 1kg đến 2kg. Từ kết quả trên có được chúng ta đã
nhìn thấy số trẻ bán trú trường: ...nói chung và mẫu giáo 5 - 6 tuổi nói riêng, đó là
bước đầu thành công ở lớp mẫu giáo : lá 3 mà tôi đang tận tình giáo dục day dỗ và
chăm sóc theo dõi. Chính vì vậy chúng ta nên duy trì cho trẻ một chế độ ăn và ngủ,
sinh hoạt phải đúng khoa học thì mới phát triển mọi mặt cân bằng và khỏe mạnh
* Hạn chế: Con người là một thể sống nhưng sự sống không thể có được nếu
con người không ăn và uống. Đối với trẻ em người ta đã nghiên cứu và thấy rằng:
nếu thiếu năng lượng và protein thì trẻ sẽ bị mắc bệnh suy dinh dưỡng, thiếu vitamin
B, sẽ bị bệnh tê phù, thiếu sắt dẫn đến bệnh thiếu máu, và một số bệnh khác do dinh
dưỡng không hợp lý gây ra. Từ đó có một số phụ huynh mua quà vặt cho con ăn
7


không có nhãn mác nguồn gốc xuất xứ, hạn sử dụng, phẩm màu rất độc hại, kẹo
bánh, nước uống, sữa.. đã quá hạn sử dụng, trẻ ăn vào dẫn đến ngộ độc, đầy bụng,
đau bụng, chán ăn cơm, Đồng thời các thực phẩm như thịt, cá… chế biến các món
thực đơn không hấp dẫn, không lôi cuốn mà làm cho trẻ chán ăn hơn, sẽ dẫn đến
bệnh tật cho nên chúng ta phải tạo ra một môi trường sinh hoạt hợp lý và khoa học
c. Mặt mạnh, mặt yếu:
* Mặt mạnh: Hầu như đến thời điểm bây giờ phần đa số trẻ trong lớp đã quen
với môi trường hoạt động học và chơi, ăn và ngủ, kết hợp nhà trường thường xuyên
thay đổi thực đơn hàng ngày nên da dẻ trẻ hồng hào khỏe mạnh tăng cân rất nhanh,
so với ban đầu mới ra lớp và phụ huynh rất tin tưởng gửi con vào trường bán trú cả
ngày vì cô giáo cũng như người mẹ hiền thứ hai của trẻ, đồng thời chính quyền địa
phương, cùng hội cha mẹ phụ huynh học sinh cũng rất sát sao, quan tâm, tạo điều
kiện đến từng bữa ăn của trẻ nên giảm bớt đi phần nào trọng trách mà chúng tôi đang
gánh vác, từ đó kết hợp với cơ sở y tế trạm xá, y tế học đường, thường xuyên khám
kiểm tra sức khỏe theo định kỳ, nhằm cung cấp những thông tin cho giáo viên và
phụ huynh kịp thời về tình trạng sức khoẻ trẻ từng quý, được ăn đủ chất nên phát
triển tốt về mọi mặt và cân bằng về thể lực.
* Mặt yếu: Mặc dù trẻ học ở trường bán trú được thay đổi liên tục về chế độ
ăn hàng ngày và ngủ đủ giấc, nhưng bên cạnh đó còn có một số cháu thành thói quen
hay ăn chậm như: Gia Hân, Nghĩa, bữa ăn kéo dài cả tiếng đồng hồ rất vất vả cho
giáo viên chủ nhiệm, nhưng chúng tôi vẫn cố gắng động viên trẻ ăn hết khẩu phần.
Song cũng do phụ huynh ở nhà quá chiều chuộng nên ăn uống không đúng giờ,
không ngủ trưa, đi chơi nắng, ăn quà vặt nhiều, đặc biệt sau những ngày nghỉ lại ra
lớp rất lười ăn, từ đó sẽ đảo lộn chế độ sinh hoạt của trẻ, ảnh hưởng tới sức khỏe.
Cho nên cứ vào thời tiết mùa đông gió lạnh trẻ rất dễ bị ốm
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động :
* Các nguyên nhân: Sau khi nắm được số liệu suy dinh dưỡng ở từng trẻ,
phát triển thấp còi, phần lớn là do chế độ sinh hoạt ở nhà nên giáo viên phải thực sự
nhiệt tình, dốc hết tâm huyết để nghiên cứu đến đặc điểm tâm sinh lý của cá nhân
đặc biệt là những cháu thấp còi, khám chữa mắc bệnh sâu răng, nhiễm khuẩn, chúng
tôi đã gặp gỡ phụ huynh để trao đổi về tính hình sức khỏe của trẻ từ lúc sơ sinh, cho
đến nay
* Tôi lập bảng tổng hợp các nguyên nhân dẫn đến trẻ phát triển suy dinh
dưỡng
STT
1

Nguyên nhân

Tổng số trẻ
phát triển nhẹ
cân

Do trẻ bị đẻ non

01

8

Tổng số trẻ
phát triển
thấp còi
04

Tên lớp
Lá 3


2

Do cung cấp thiếu chất dinh
dưỡng, chưa cân đối khẩu
phần ăn

3

Do hấp thụ kém vì mắc bệnh
nhiễm khuẩn

01

Lá: 3

4

Do trẻ bị tật bẩm sinh

01

Lá: 3

5

Do trẻ chăm sóc thiếu vệ
sinh như nguồn nước ăn uống
bẩn

01

Lá: 3

Tổng

08

Lá 3

04

04

Lá 3

* Các yếu tố tác động tác động:
- Yếu tố khách quan: Nhiều công trình nghiên cứu đã khảng định sự tương
quan hợp lý giữa prôtein, lipit, gluxít nên tỷ lệ 1: 1 : 5, Lại các tác giả cho rằng tỷ lệ
1: 1: 4, có nghĩa là trong khẩu phần ăn: prôtêin chiếm 1 phần thì ly pít cũng chiếm 1
phần và Glucô chiếm 4 phần. Cho đến nay trong khẩu phần ăn vẫn chưa hoàn toàn
thống nhất cân đối về năng lượng. Nên bữa ăn của trẻ ở gia đình chưa phù hợp khoa
học, cũng có ảnh hưởng đến việc chăm sóc và nuôi dưỡng ở trường mầm non đạt
hiệu quả chưa cao. Bên cạnh đó thời gian nhà trường mở bán trú còn ít nên sự hiểu
biết của giáo viên về cách chăm sóc và nuôi dưỡng còn nhiều hạn chế và chưa khắc
phục được những khó khăn về cơ sở vật chất, tất cả những yếu tố trên có ảnh hưởng
một phần, về việc bán trú của trẻ
- Yếu tố chủ quan: Đồng thời có những trẻ ở nhà ăn rất nhiều cơm với thịt,
gia đình cứ ngỡ đó là ăn no và đủ chất dinh dưỡng, trong khi trẻ không ăn các loại
rau và các loại quả chín. Bên cạnh đó các bậc phụ huynh chưa nhìn thấy tầm quan
trọng của sự thiếu chất, trong các bữa ăn của trẻ bị thiếu rau củ quả nên trong một
ngày, phải ăn đủ 4 nhóm dinh dưỡng. Đồng thời có một số trẻ rất ít uống nước để bổ
sung cho lượng nước đã tiêu hao trong một ngày nên cô giáo và gia đình phải thường
xuyên, theo dõi nhắc nhỡ trẻ ăn uống đầy đủ, để bổ sung năng lượng cho cơ thể,
chống lại được bệnh tật.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra:
* Hiện nay khoa học về dinh dưỡng đã xác định được nhu cầu về năng lượng
của con người. Nhu cầu năng lượng của con người khác nhau và phụ thuộc vào
nhiều yếu tố. Song con người muốn sống và làm việc thì cần phải cung cấp năng
lượng
- Nguồn năng lượng đầu tiên của muôn loài: là nguồn năng lượng mặt trời.
Năng lượng mặt trời tới quả đất là dạng năng lượng bức xạ. Thực vật sử dụng năng
9


lượng này là nhờ quá trình quang hợp, chuyển năng lượng bức xạ sang năng lượng
hóa học
Con người không thể sử dụng trực tiếp hình thái năng lượng này mà nguồn
cung cấp chính cho con người là thức ăn. Năng lượng vào cơ thể chủ yếu dưới dạng
hóa năng, hầu hết thức ăn đều chứa các chất dinh dưỡng. Chỉ có ba chất: protein,
lipit, gluxit cung cấp năng lượng, giá trị năng lượng cho mỗi loại thức ăn phụ thuộc
vào hàm lượng của các chất dinh dưỡng.
Tất cả chúng ta đã thấy rõ tầm quan trọng của việc ăn uống , đây là nhu cầu
hàng ngày một nhu cầu cấp bách, bức thiết không thể không có, không chỉ là để giải
quyết chống lại cảm giác đói. Mà là để cung cấp năng lượng cho cơ thể hoạt động,
ngoài ra thức ăn còn cung cấp a xít amin, vitamin, chất khoáng những chất cần thiết
cho sự phát triển, duy trì các tế bào, tổ chức ….vì trong cơ thể luôn có hai quá trình
đồng hóa và dị hóa tức là quá trình tiêu hóa và hấp thụ chất có từ thức ăn để xây
dựng các tế bào của cơ thể và để hoạt động
Cho nên thiếu hoặc thừa các chất dinh dưỡng nói trên đều có thể gây ra bệnh
tật và ảnh hưởng bất lợi cho sức khỏe. Nhờ có sự phát triển của khoa học dinh
dưỡng, nhiều loại bệnh đã từng một thời có mối nguy hiểm với tính mạng của con
người như bệnh: scocbut do thiếu vitamin C, thủy đậu, bệnh tê phù do thiếu
vitaminB, bệnh pellagro do thiếu nia xin, hỏng mắt do thiếu vitaminA, đần độn do
thiếu iot, suy dinh dưỡng do thiếu protein- năng lượng …. Những bệnh này nay đã
đẩy lùi vào quá khứ. Nhưng chúng ta cũng phải biết rằng tình trạng dinh dưỡng tốt
của mọi người và mọi đứa trẻ phụ thuộc vào khẩu phần dinh dưỡng thích hợp, được
chăm sóc sức khỏe đầy đủ có môi trường sống hợp vệ sinh, còn phụ thuộc vào kiến
thức khoa học có thói quen tập quán ăn uống của địa phương và gia đình, cơ cấu bữa
ăn cho phù hợp với lứa tuổi, nhằm giúp cho con người phát triển khỏe mạnh và toàn
diện
- Nếu chế độ ăn của trẻ thiếu về lượng và không cân đối về chất, sẽ bị giảm
cân nặng, thiếu máu giảm khả năng hoạt động, tăng khả năng mắc bệnh, bệnh tật sẽ
nhiều hơn, nặng hơn và kéo dài hơn, ngược lại ăn quá nhiều ăn không cân đối hoặc
cơ thể ốm yếu, khả năng tiêu hóa hấp thu, sử dụng các chất dinh dưỡng không tốt sẽ
dẫn đến rối loạn các chức phận, thay đổi các chỉ số hóa sinh diễn ra các biễu hiện
lâm sàng về bệnh suy dinh dưỡng và các bệnh không lây truyền như bệnh cao huyết
áp, tim mạch, đái đường, và một số loại ung thư.
Cho nên trẻ mẫu giáo cơ thể đang phát triển mạnh, nhu cầu dinh dưỡng rất
lớn, nếu ăn uống thiếu trẻ sẽ là đối tượng đầu tiên chịu hậu quả của các căn bệnh đã
nêu trên. Ở nước ta vấn đề thiếu dinh dưỡng hiện nay vẫn còn là vấn đề nghiêm
trọng như các vùng có kinh tế nghèo có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh
đó căn bệnh béo phì có xu hướng tăng ở một số đô thị lớn như: Hà Nội, Thành Phố
Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành phố khác.

10


Đồng thời vệ sinh an toàn thực phẩm giữ vị trí rất quan trọng đối với sức khỏe
của con người, vừa thừa kế các tập quán tốt của từng dân tộc, vừa tiếp thu nhanh các
tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao sức lao động và phòng chống bệnh tật.
Mặc dù cho đến nay đã có khá nhiều về tiến bộ khoa học kỹ thuật trong công tác bảo
vệ và an toàn vệ sinh thực phẩm, cũng như biện pháp về quản lý giáo dục như ban
hành luật, điều lệ và thanh tra giám sát vệ sinh thực phẩm và thức ăn kém chất lượng
vẫn chiếm tỷ lệ cao ở nhiều nước.
Theo báo cáo của tổ chức Y tế Thế giới về đánh giá các chương trình hành
động bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm ( VSATTP) trên toàn cầu đã xác
định được một nguyên nhân chính gây tử vong cho trẻ em là các bệnh đường ruột,
trong đó bệnh phổ biến nhất là tiêu chảy và cũng nhận thấy nguyên nhân gây ra các
bệnh trên là do thực phẩm đã bị nhiễm khuẩn. Tại mỹ có 12,6 triệu người bị ngộ độc
thức ăn trong năm tức là cứ 18 người thì có một người bị mắc bệnh. Ở Ca nada trên
2 triệu người bị ngộ độc trong năm, tức là trong 11 người dân có một người mắc
bệnh. Trong những trường hợp bị ngộ độc trên thì có đến 85% là do bị nhiễm khuẩn
thức ăn
Theo thống kê của Bộ Y tế nước ta, trong 10 nguyên nhân chủ yếu gây tử
vong ở Việt Nam thì nguyên nhân do vi sinh vật gây bệnh đường ruột đứng hàng thứ
2. Mặt khác, tình hình chất lượng vệ sinh thực phẩm trong những năm gần đây
không ổn định, số các mẫu lương thực, thực phẩm không đạt yêu cầu vệ sinh vẫn
chiếm tỷ lệ cao. Sự ô nhiễm do các chất độc hại, sự giảm chất lượng của sản phẩm
trong quá trình gieo trồng, thu hoạch, dự trử, bảo quản, chế biến và phân phối lưu
thông gây tổn hại rất lớn. Ngoài yếu tố chính về sinh vật, lượng lương thực, thực
phẩm bị ô nhiễm, độc hại ngày càng tăng do sự sử dụng không đúng thuốc trừ sâu,
diệt cỏ, phân bón trong nông nghiệp, các loại thuốc tăng trọng trong quá trình chăn
nuôi động vật, độc tố vi nấm trong quá trình bảo quản, nhất là đối với: gạo, lạc,
vừng, đậu…các kim loại nặng như đồng, chì trong quá trình sản xuất đồ hộp, sữa,
rau và quả…hoặc sử dụng gian dối các chất phụ gia, phẩm màu trong quá trình chế
biến bánh kẹo, đồ uống, thực phẩm….từ những nét đặc trưng trên vấn đề bảo vệ thực
phẩm và vệ sinh an toàn, kiểm tra chất lượng đề phòng ngộ độc thực phẩm có ý
nghĩa thực tế rất quan trọng trong chương trình phát triển kinh tế và xã hội, bảo vệ
môi trường sống của các nước đang phát triển.
II. 3. Giải pháp, biện pháp:
* Giải pháp: Dinh dưỡng là một vấn đề rộng lớn và đa ngành vì vậy nó đòi
hỏi sự kết hợp hỗ trợ lẫn nhau của mọi ngành, mọi cấp các cơ chế hợp tác liên
ngành, sự tham gia của cộng đồng trong mọi lĩnh vực nhằm cải thiện, tình trạng dinh
dưỡng là vấn đề trên hết cần thiết nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi
người.
- Thực đơn là khẩu phần tính thành lượng thực phẩm chế biến dạng các món
ăn sau khi sắp xếp thành bảng món ăn từng bữa hàng ngày hàng tuần. Cho trẻ ăn
theo thực đơn nhằm chủ động trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch ăn uống
11


trong thời gian trẻ ở trường mẫu giáo, nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng các chất
dinh dưỡng trong khẩu phần ăn, trên cơ sở sử dụng những thực phẩm, có chất lượng
giá thành hạ nhưng đảm bảo an toàn thực phẩm ở địa phương, thường xuyên thay
đổi cách chế biến, để tạo ra các món ăn đa dạng phong phú, giúp trẻ ăn ngon miệng,
ăn hết khẩu phần và phù hợp với từng vùng, từng mùa . Đối với bếp ăn thuận lợi cho
việc tiếp phẩm và phù hợp vệ sinh
- Mấy năm gần đây chính phủ đã quyết định cho ủy ban chăm sóc bà mẹ trẻ
em và chiến lược chống suy dinh dưỡng cho trẻ năm 2012 – 2015 bằng các hành
động tuyên truyền chính sách như: bà mẹ sinh con được nghỉ sản 6 tháng – truyền
thông đại chúng tới các bậc phụ huynh, nhân dân, vùng sâu, vùng xa hiểu và thành
lập bệnh viện chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em. Đồng thời phối hợp bộ y tế các ban
nghàng có liên quan để triển khai chương trình quốc gia phòng chống suy dinh
dưỡng thực hiện mục tiêu chương trình nêu cao khẩu hiệu( Vì sức khỏe trẻ em).
Riêng bậc mầm non những năm gần đây được sự quan tâm của đảng và nhà nước
nên việc giáo dục chăm sóc dinh dưỡng đã có những bước tiến bộ đáng kể, nhằm
góp phần nâng cao chất lượng chuyên đề dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm
cho trẻ trên toàn quốc gia.
-Thực đơn cần đảm bảo chất dinh dưỡng, bữa ăn chính phải có các thức ăn
giàu chất protein:
Nhu cầu protein của một cá thể là lượng protein tối thiểu trong thức ăn, cân
bằng các tiêu hao nitơ của cơ thể của một đối tượng, có trạng thái cân bằng năng
lượng và hoạt động thể lực vừa phải. Tổ chức Y tế Thế giới( OMS) và tổ chức nông
nghiệp Thực phẩm( FAO) đã xem xét lại các kết quả nghiên cứu về cân bằng nitơ và
đi đến kết luận là nhu cầu protein, của người trưởng thành được coi là an toàn( tính
theo lượng protein của sữa bò, trứng trong mỗi ngày, được tính theo công thức sau:
Nhu cầu an toàn theo protein chuẩn
NHU CẦU THỰC TẾ: =

x 100
Chỉ số chất lượng protein thực tế

12


Nhóm thực phẩm cung cấp chất đạm

Ví dụ: cơm phải có thịt, cá, trứng + rau xanh
Đồng thời phù hợp lựa chọn thực phẩm dễ dàng và trẻ dễ ăn. Trong thời gian
sử dụng một tuần phải đủ loại thực phẩm nên bố trí trong ngày các loại khác nhau
Ví dụ: Bữa ăn chính : Cơm + thịt gà + canh rau thịt
Bữa xế: ăn chè đậu xanh
-Chính vì vậy tôi lập bảng thực đơn theo mùa hè sắp tới:
Thứ

Bữa chính

Cơm

Thứ
2
Thịt gà
xào đậu
ve
Canh rau
thịt

Bữa ăn phụ

Sữa đậu
nành+
bánh gatô

Thứ
3

Cá rim cà
chua
Canh rau
riêu cá

Bánh mỳ
+ nước
cam

Thứ
4

Tôm rim
Canh bầu
tôm

Chè đậu
xanh

Thứ

Thứ

5

6

Thịt bò
xào bí
xanh

Trứng
chưng cà
chua

Canh rau
thịt

Canh bí đỏ
nấu thịt

Xôi+
chuối

Bánh bao
+ đu đủ

- Chúng ta cần hiểu rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của dinh dưỡng liên quan
đến sức khỏe bệnh tật của trẻ, từ đó cô giáo xác định trách nhiệm trong công tác
13


chăm sóc dinh dưỡng, cần biết nhu cầu theo từng độ tuổi phải hiểu một khẩu phần ăn
như thế nào là đầy đủ và hợp lý
-Biết giá trị dinh dưỡng của các thực phẩm thông thường sẵn có ở địa phương
-Biết nguyên tắc xây dựng thực đơn, khẩu phần ăn, nguyên tắc thay thế các
loại thực phẩm để đảm bảo một khẩu phần đủ chất và cân đối
-Biết cách chăm sóc khi trẻ biếng ăn, quan tâm đến những trẻ yếu, động viên
trẻ ăn hết khẩu phần
-Biết những điều cơ bản về an toàn thực phẩm, biết cách mua chọn bảo quản
và chế biến hợp khẩu vị cho trẻ
-Thường xuyên theo dõi sức khỏe cho trẻ bằng biểu đồ tăng trưởng và hiểu
được ý nghĩa mục đích của việc theo dõi sức khỏe
-Giáo viên thường xuyên trao đổi thông báo với các bậc cha mẹ về tình hình
ăn uống sức khỏe của trẻ ở trường, kết hợp tuyên truyền về kiến thức dinh dưỡng
* Biện pháp:
- Chăm sóc ăn uống, vệ sinh thân thể sạch sẽ hợp lý
- Phòng học nhà ở đảm bảo vệ sinh phù hợp theo khí hậu từng mùa
- Cho trẻ mặc ấm về mùa đông, mát về mùa hè
- Thực phẩm phải đảm bảo chất dinh dưỡng vệ sinh an toàn không gây độc hại
- Nấu chín thức ăn, không ăn tái, hồng đào…
- Tránh tích lũy thức ăn đã nấu chín
- Tránh trộn thức ăn sống với thức ăn chín
- Rửa sạch hoa quả và rau
- Dùng nguồn nước sạch
- Rửa tay bằng xà phòng trước khi vào bếp - khi ăn hoặc sau khi đi vệ sinh
không cho trẻ chơi với động vật…
- Giữ cho bề mặt làm thức ăn được sạch sẽ - rác rưởi phải đậy kín và đổ nhanh
vào nơi quy định
- Bảo vệ thức ăn khỏi xâm nhập của côn trùng và các súc vật khác
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
* Mục tiêu của giải pháp: Mục tiêu đầu tiên của vệ sinh an toàn thực phẩm là
đảm bảo cho người ăn tránh bị ngộ độc do ăn phải thức ăn bị ô nhiễm hoặc có chất
độc. Các bệnh do thực phẩm gây ra không chỉ là các bệnh cấp tính do ngộ độc thức
ăn, mà còn là các bệnh mãn tính do nhiễm và tích lũy các chất độc từ môi trường bên
ngoài do tác động của thiên nhiên và con người vào thực phẩm, gây rối loạn chuyển
hóa các chất trong cơ thể, trong đó có bệnh tim mạch và ung thư.
14


Ngộ độc thức ăn thường xảy ra đột ngột, một hoặc nhiều người bị mắc, có
những triệu chứng của một bệnh cấp tính biểu hiện bằng nôn mửa, tiêu chảy, kèm
theo các triệu chứng khác tùy thuộc đặc điểm của từng loại ngộ độc.
Khi ngộ độc thức ăn do vi khuẩn thường chiếm tỷ lệ cao và các thực phẩm có
nhiều đạm như thịt, cá, sữa thuộc loại thức ăn dễ gây bệnh. Ngoài ra ngộ độc thức ăn
còn phụ thuộc vào thời tiết thường xảy ra vào mùa nóng bức từ tháng 5 đến tháng 10
hoặc thể hiện tùy theo khu vực địa lý, phong tục tập quán, điều kiện thức ăn của từng
nơi như miền núi ăn phải nấm, hoặc rau quả độc, vùng biển ăn phải hải sản độc.
Hiện nay các nhà khoa học thường chia ngộ độc thức ăn theo 4 nguyên nhân chính
như sau:
* Ngộ độc thức ăn do nhiễm vi sinh vật và độc tố của vi sinh vật
* Ngộ độc do bản thân thức ăn có sẵn chất độc
* Ngộ độc do thức ăn bị biến chất
* Ngộ độc thức ăn bị ô nhiễm các chất độc hóa học, hóa chất bảo vệ thực vật,
kim loại nặng, các hóa chất phụ gia thực phẩm.
Cho nên thường xảy ra do thiếu rót trong công tác kiểm tra vệ sinh thực phẩm,
các nguyên liệu dùng trong chế biến thực phẩm, do sơ suất trong vệ sinh và kỹ thuật
nấu nướng, vệ sinh dịch vụ ăn uống và kiểm tra chất lượng thành phẩm….
* Mục tiêu của biện pháp:
- Trong dinh dưỡng trẻ em, vấn đề vệ sinh có vai trò quan trọng tới hiệu quả
bữa ăn, do đó ta cần phải đảm bảo các khâu vệ sinh sau:
- Đảm bảo vệ sinh ăn uống nhằm giúp cơ thể chống lại các bệnh tật gây nên
bởi các nguyên nhân ăn uống bao gồm:
+ Ăn uống đầy đủ hợp lý và sạch sẽ
+ Các chất dinh dưỡng có tỷ lệ cân đối
+ Ăn điều độ ăn đều bữa trong ngày và đều các bữa trong tháng
+ Các dụng cụ dùng để nấu phải sạch sẽ, dụng cụ chia thức ăn luộc sôi
+ Cho trẻ ăn đúng giờ. Thức ăn cần được nấu chín kĩ, nước uống phải
được đun sôi và rửa tay trước khi ăn sau khi đi vệ sinh, ăn xong súc miệng, uống
nước
- Vệ sinh thực phẩm được tốt trong dây chuyền chế biến món ăn cho trẻ nhà
bếp, cần phải xây dựng theo cấu trúc riêng biệt: Có nghĩa là bếp ăn được xây dựng
theo hệ thống một chiều, thức ăn được đi theo một chiều trong các quá trình chế biến
và không đi ngược trở lại. Thức ăn tươi sống và thức ăn chín không để lẫn nhau
- Bếp nấu phải cao từ 50- 60cm tùy theo đun than hay đun củi

15


- Bếp phải bảo đảm vệ sinh, đủ ánh sáng và gió thoáng mát, nền bếp phải cao
ráo, bằng phẳng lát gạch hoa hoặc nền xi măng để dễ cọ rửa, sân giếng hợp vệ sinh
b. Nội dung và cách thực hiện giải pháp, biện pháp:
* Nội dung cách thực hiện giải pháp: Trang thiết bị cho nhà bếp như: Các
dụng cụ nấu múc, dụng cụ cắt thái, dụng cụ chia thức ăn, các loại cân và dụng cụ
chứa đựng, dụng cụ đựng thức ăn sống và chín phải riêng biệt, cối xay, giã, cắt thái,
thực phẩm phải nằm trên bàn dùng xong phải rửa ngay, phòng chia thức ăn cần có
cửa riêng để đưa thức ăn lên phòng các cháu. Cần có bảng hướng dẫn chia thức ăn
tại phòng để cho tiện lợi và chính xác, phân công nhân viên phục vụ bếp cũng theo
thứ tự một chiều.
Ví dụ: Người chế biến thô: như làm thịt, cá, cua, gà, vò gạo, nhặt, rau,
Người chế biến sạch; như thái, xay, gỡ xương…
Người nấu
Người chia thức ăn chín
( nếu có ít nhân viên thì cũng cần chuẩn bị không để chồng chéo khâu làm
thức ăn sống và chín)
* Nội dung và cách thực hiện biện pháp: phòng ăn của trẻ, bếp quét dọn rác
hàng ngày và đổ vào thùng quy định có nắp đậy, nơi làm thực phẩm phải dọn ngay
sau khi gia công, phải có phương tiện cất và che đậy thức ăn khỏi bị ruồi, nhặng,
gián, chui vào thường xuyên diệt côn trùng tránh ngộ độc cho trẻ, công trình vệ sinh
xây dựng hệ thống tự hoại và tránh xa bếp
c. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp:
* Điều kiện thực hiện giải pháp:
- Vệ sinh nguồn nước sạch sẽ như: nước giếng khơi, nước máy, nước lọc ( Tất
cả các nước phải đun sôi mới cho trẻ uống )
- Vệ sinh thực phẩm: chọn các thực phẩm tươi ngon, đậu lạc không bị mốc,
các loại quả không bị dập nát
- Nhà bếp cần có kho để bảo quản thực phẩm
- Thường xuyên kiểm tra kỹ chất lượng được bảo quản trước khi nấu ăn
- Khi chế biến thực phẩm phải đảm bảo vệ sinh, mua về phải rửa sạch
- Các món ăn và uống đều phải nấu sôi, chín hoàn toàn, không nấu tái, chín
hồng đào
- Khi nếm thức ăn phải dùng thìa đũa riêng và sạch nếm xong nếu còn thừa
không được đổ lại vào nồi
* Điều kiện thực hiện biện pháp: Vệ sinh khi chia thức ăn: bàn để chia cần
lau sạch trước khi chia, tráng nước sôi dụng cụ đựng thức ăn
16


- Người chia thức ăn rửa sạch tay, đeo khẩu trang, không nói chuyện trong khi
chia
- Thức ăn chia xong phải đậy kín hoặc để vào chạn tránh ruồi bụi
- Người nhận thức ăn phải qua cửa quy định, không vào phòng chia
- Vệ sinh nhân viên nhà bếp: không có mầm bệnh, cần khám sức khỏe theo
định kỳ thường xuyên, giữ vệ sinh sạch sẽ, đầu tóc, quần áo, không sơn móng tay và
không để móng tay dài luôn rửa tay trong quá trình chế biến món ăn
- Vệ sinh cô chăm sóc trẻ khi ăn uống: rửa sạch tay, mặt cho cô và trẻ, dụng cụ
ăn uống phải tráng nước sôi, chia thức ăn phải đeo khẩu trang, tạp giề trong khi trẻ
ăn cô cần tránh những nhược điểm như: không thổi vào bát thức ăn của trẻ, không
cho trẻ ăn chung thìa, bát, không ăn thừa của trẻ khác. Sau khi ăn xong rửa tay lau
miệng, uống nước, cô vệ sinh ngay bàn ăn nền nhà
- Phòng chống côn trùng và các loại gặm nhấm, rác phải quét gom lại đổ vào
thùng để xa nơi nấu và chia thức ăn, diệt các loại côn trùng, và phòng tránh ngộ độc
cho trẻ
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp:
* Mối quan hệ giữa các giải pháp:
- Dinh dưỡng là nhu cầu sống hàng ngày của con người, trẻ em rất cần dinh
dưỡng để phát triển thể lực và trí lực, người lớn cần dinh dưỡng để duy trì sự sống,
hay nói cách khác dinh dưỡng quyết định sự tồn tại và phát triển của cơ thể vì thế
cần phải biết phối hợp các loại thực phẩm trong một bữa ăn, một khẩu phần ăn để
chúng bổ sung lẫn nhau. Mặt khác trong quá trình làm sạch thực phẩm và chế biến,
các chất dinh dưỡng có trong thức ăn bị hao hụt, mất mát đi nhiều, do đó chúng ta
cần hạn chế sự hao hụt này. Trên thực tế, thức ăn có bổ đến mấy nhưng nếu không
bảo quản tốt mà bị hư hỏng, thì lại càng có hại cho cơ thể hơn.
Cho nên những lời khuyên ăn uống hợp lý, bao gồm nhu cầu dinh dưỡng của
cơ thể, giá trị dinh dưỡng của từng loại thức ăn, cách tổ chức một bữa ăn hợp lý.
- Nên tổ nuôi dưỡng, phải xây dựng và điều chỉnh khẩu phần thực đơn hàng
ngày cho phù hợp theo mùa thời tiết, khẩu vị của trẻ và mức đóng góp của phụ
huynh
- Thủ quỹ, thủ kho: xuất nhập thực phẩm và tiền hàng ngày thu và thanh toán,
kiểm kê kho, quỹ hàng tháng…
- Tiếp phẩm: mua thực phẩm hàng ngày theo thực đơn
- Nấu ăn: tuần tự theo các bước để đảm bảo yêu cầu vệ sinh thực phẩm
- Nấu món ăn cho bữa phụ sau khi hoàn thành bữa ăn chính không nấu sớm sẽ
làm giảm chất lượng bữa ăn
- Điều tra khẩu phần ăn
17


- Giám sát dinh dưỡng cung cấp các dữ liệu cần thiết
- Cô cho trẻ làm quen với một số thực phẩm thông thường sẵn có ở địa
phương, nhất là thực phẩm trẻ thường được ăn, cho trẻ biết một số đặc điểm chính
của thực phẩm, giá trị dinh dưỡng của chúng từ các loại thực phẩm đó
- Cô cho trẻ biết con người cần được ăn uống để sống làm việc học tập và vui
chơi
- Cho trẻ biết ăn đầy đủ chất: ăn nhiều loại thực phẩm, ăn hết suất, không kén
chọn thức ăn
* Mối quan hệ giữa các biện pháp:
- Dinh dưỡng là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến tình
cảm, lý trí của con người nhằm làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành động để đi
đến tự giác chăm lo vấn đề ăn uống và sức khỏe của cá nhân, tập thể và cộng đồng.
Cũng vì thế trong các biện pháp chăm sóc sức khỏe ban đầucủa tuyên ngôn Alma
Alta, vấn đề giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe được dưa lên hàng đầu từ đó:
- Cô hiểu rõ ý nghĩa tầm quan trọng của dinh dưỡng liên quan đến sức khỏe,
bệnh tật của trẻ. xác định trách nhiệm trong công tác chăm sóc về dinh dưỡng
- Cô biết nhu cầu dinh dưỡng của trẻ phù hợp theo từng độ tuổi, hiểu một
khẩu phần ăn như thế nào là đầy đủ và hợp lý
- Giáo dục trẻ có thói quen vệ sinh tốt và văn minh trong khi ăn uống.
- Tích cực lồng ghép, trong các tiết học, các hoạt động
- Tuyên truyền các kiến thức về chăm sóc dinh dưỡng, sâu rộng đến các đối
tượng đang sinh sống trên địa bàn
- Mời phụ huynh dự các hội thi nhà trường tổ chức: “ người đầu bếp giỏi”
“nuôi con khỏe”
- Tổ chức hội thi gia đình và dinh dưỡng có cô học sinh và phụ huynh tham
gia
- Tổ chức cho giáo viên về cuộc thi dinh dưỡng trên mạng
- Tổ chức tọa đàm nội dung về: Phương pháp nuôi dạy và chăm sóc sức khỏe
cho trẻ
- Nhờ các cấp lãnh đạo chính quyền, đoàn thể: là những người có quyền
quyết định, hỗ trợ cho công tác chăm sóc, giáo dục dinh dưỡng trẻ tiến hành được tốt
hơn
e. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên
cứu:
- Tôi đã nghiên cứu đề tài này, từ ngày 3 tháng 9 năm 2013 và cũng là nghiên
cứu chính lớp lá 3 tôi chủ nhiệm có tổng số học sinh: 49 cháu. Mặc dù kết quả đạt
18


chưa được cao tuyệt đối, có số cháu phát triển nhanh trong một thời gian qua là: 34,
đạt: 69,38% : phát triển bình thường: 14, đạt: 28,57% : số cháu phát triển chậm có
nguy cơ suy dinh dưỡng: 1, đat: 2%. Những kết quả còn thấp không được như mong
muốn, nhưng bản thân tôi sẽ cố gắng và tìm mọi biện pháp để chăm sóc trẻ được
khỏe mạnh đồng đều, thông minh học giỏi, lớn lên góp phần phát triển xã hội
II. 4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên
cứu:
Qua một thời gian nghiên cứu khá dài tôi đã thu được kết quả về vấn đề
chăm sóc nuôi dưỡng và sức khỏe, trẻ 5 -6 tuổi nhằm tìm ra phương pháp, để
cung cấp cho trẻ đầy đủ các chất và tuyên truyền một số kiến thức cơ bản tới
các bậc phụ huynh, từ tháng 9 năm học 2013 đến tháng 2 năm học 2014 đạt
được kết quả như sau:
Trước khi thực hiện

Số trẻ
suy
dinh
dưỡng
nhẹ
cân
8

Số trẻ
suy
Đ
dinh
Đạt
dưỡng
%
thấp
còi
1
6%

Sau khi thực hiện

Số trẻ
Số trẻ
suy
Đ phát
Đ
dinh
Đạt triển
Đạt
dưỡng
% bình
%
nhẹ
thường
cân
4

8
,1%

37

Số trẻ
Số trẻ
D suy
Đ phát
Đ
Đạt dinh
Đạt
% dưỡng Đạt triển
% bình
%
%thấp
thường
còi

7
6%

0
0%

%

1

2
%

48

III. KẾT LUẬN VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ
III.1. Kết luận:
- Từ thực tiễn chăm sóc trẻ trên lớp, tôi đã rút ra cho mình những bài học bổ
ích giúp cho nhiều kinh nghiệm hơn khi chăm sóc dinh dưỡng qua từng đối tượng
trẻ. Điều quan trọng đầu tiên đối với trẻ là chuẩn bị tri thức về dinh dưỡng cô giáo
phải là người mẹ hiền thứ hai và là người bạn, kết hợp với việc tạo bầu tâm lý, và
các lời nói thủ thuật động viên trẻ trong khi ăn. Say mê không chưa đủ mà đòi hỏi tổ
chức bữa ăn cho trẻ, phải phát huy hết khả năng của mình để dẫn dắt gợi mở vui vẻ
trẻ ăn được nhiều.
- Thực hiện đề tài này cá nhân tôi xoay quanh nội dung chăm sóc dinh dưỡng,
vậy làm sao cho trẻ tự giác và có ý thức được trong khi ăn uống và nhận ra rằng con
người muốn sống được là chủ yếu nhờ vào nguồn thức ăn và nước uống nói chung,

19

9
8%


nhưng vấn đề tôi muốn đề cập đến ở trên là các chất dinh dưỡng có trong nguồn thức
ăn đó. Tôi đã áp dụng phương pháp này vào các bữa ăn thực tiễn của trẻ trên lớp
mình, nghiên cứu về trí tuệ, tình cảm, sự phát triển về khả năng và nhu cầu cơ thể
của từng trẻ, tất cả những gì áp dụng đối với trẻ đều phù hợp, các loại thực phẩm trẻ
thường được ăn ở tại địa phương mình phong phú, gần gủi và đảm bảo vệ sinh. đã
đạt kết quả cao. Bên cạnh đó tuyên truyền tới các bậc phụ huynh học sinh đảm bảo
chất dinh dưỡng cho trẻ để có thân hình khỏe mạnh chuẩn bị cho một tương lai mới,
con người có ích cho xã hội, tiến bộ sáng tạo và năng động.
III. 2. Kiến nghị:
- Tham mưu bổ sung ý kiến nâng cao cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động
bán trú của trẻ.
- Lên kế hoạch thực đơn hàng ngày, tháng, tuyên truyền kết hợp giữa gia đình
và nhà trường.
- Đưa giáo dục dinh dưỡng lồng ghép vào các hoạt động và các môn học khác.
- Trong quá trình, giao và nhận thực phẩm phải đảm bảo an toàn vệ sinh
- Cô nhà bếp, cô chăm sóc trẻ phải khám sức khỏe theo định kỳ
- Nguồn nước, nhà bếp, sân giếng vệ sinh sạch sẽ
- Quan tâm đến cơ thể sự hấp thu của từng trẻ(có thể ủ bệnh chuẩn bị ốm, lười
ăn….)
- Tổ chức các buổi tọa đàm, các cuộc thi về chủ đề dinh dưỡng.
- Để cho trẻ có những bữa ăn ngon miệng và ăn nhiều, yêu cầu thường xuyên
phải thay đổi thực đơn, kiên trì không nóng vội trước những kết quả nhẹ cân, thấp
còi của trẻ mà tập trung bằng cả tấm lòng nhiệt tình, sự say mê yêu nghề của mình
với vốn kiến thức đã được học đem đến cho trẻ những gì cần thiết nhất, phải tích luỹ
kinh nghiệm học hỏi đồng nghiệp, tham khảo tài liệu, tất cả sẽ đem lại thành công và
đạt kết quả cao
- Trên đây là những kinh nghiệm thực tế qua các giờ các bữa ăn trên lớp
tôi. Ngoài ra nó còn là những kết quả sau quá trình đào sâu nghiên cứu dinh
dưỡng của trẻ. Mong muốn lớn nhất của tôi làm sao để mỗi trẻ được đảm bảo
chất dinh dưỡng mạnh khỏe, vui chơi và thấm sâu vào tâm hồn trong sáng của
trẻ những cảm xúc, ở đó có sự sáng tạo đã được bắt nguồn, nảy nở.
Trân trọng cảm ơn những đóng góp của hội đồng giáo viên và cán bộ
nghành

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×