Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu hiệu quả sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn đạo đức lớp 3

I. Phần mở đầu:
I.1. Lí do chọn đề tài.
Trong sự nghiệp đổi mới về giáo dục và đào tạo thì đổi mới về phương pháp
dạy học có một vị trí đặc biệt quan trọng. Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế
giới chỉ ra rằng : Đổi mới về phương pháp sẽ đem lại bộ mặt mới, sức sống mới
cho giáo dục trong xã hội hiện đại. Hơn nữa ở các bậc học càng thấp, vai trò của
phương pháp càng quan trọng. Đặc biệt bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ
thống giáo dục quốc dân, do đó đổi mới phương pháp dạy học càng cấp thiết hơn.
Phong trào đổi mới về phương pháp dạy học từ nhiều năm qua với những tư tưởng
chủ đạo : “lấy hoạt động của người học làm trung tâm”, “tích cực hoá hoạt động
của người học”… Tất cả những tư tưởng này là: “phương pháp dạy học cần hướng
vào việc tổ chức cho người học học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác,
tích cực và sáng tạo, thực hiện độc lập hoặc giao lưu”.
Lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp cho mỗi bài học là hoạt động sáng tạo
và thường xuyên của giáo viên. Cùng một nội dung như nhau nhưng học sinh học
tập có hứng thú, tích cực hay không lại phần lớn phụ thuộc vào phương pháp dạy
học của người thầy. Một trong những cách để phát huy hứng thú, tích cực, chủ
động của học sinh đó là việc tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm.
Môn Đạo đức ở Tiểu học là môn học đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục
cơ sở ban đầu của những phẩm chất đạo đức cho học sinh, góp phần tích cực vào
sự hình thành ở học sinh ý thức, thái độ đạo đức, từ đó định hướng cho các em

thực hiện hành vi đạo đức. Nội dung của môn Đạo Đức ở Tiểu học là các chuẩn
mực hành vi đạo đức, được thể hiện qua các bài đạo đức. Để giới thiệu được cho
học sinh nội dung của môn Đạo đức đòi hỏi phải vận dụng nhiều phương pháp dạy
học thích hợp, trong đó phương pháp thảo luận nhóm giữ một vị trí quan trọng.
Học sinh lớp 3 đã được hình thành kinh nghiệm đạo đức qua tiếp thu các chuẩn
mực hành vi đạo đức ở các lớp 1 và 2. Học sinh lớp 3 kinh nghiệm học tập cũng
phong phú hơn, các em đã hình thành ý thức tổ chức kỉ luật, tính tự giác cao hơn.
Chính vì vậy vai trò của phương pháp thảo luận nhóm trong việc hình thành kinh
nghiệm đạo đức cho các em càng nổi bật rõ hơn. Vai trò của phương pháp thảo
luận nhóm là không thể phủ nhận trong việc dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học.
Song trên thực tế còn nhiều giáo viên Tiểu học chưa nhận thức đầy đủ về phương
pháp dạy học này. Nhiều giáo viên còn lúng túng trong vận dụng hoặc chưa vận
dụng phương pháp này trong dạy học môn Đạo đức nói chung và môn Đạo đức lớp
3 nói riêng.
Từ những tiền đề lí luận và thực tiễn như đã trình bày, tôi đã lựa chọn đề tài:
“Nghiên cứu hiệu quả sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học
môn Đạo đức lớp 3 ở trường Tiểu học ..., xã ..., huyện ...tỉnh ...”.
I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực trạng của việc sử dụng phương pháp thảo luận
nhóm trong dạy học môn Đạo đức lớp 3. Đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu
1


quả sử dụng phương pháp thảo luận nhón trong dạy học môn Đạo đức lớp 3 trong
nhà trường Tiểu học theo chương trình mới.
Nghiên cứu các vấn đề lý luận có liên quan về phương pháp thảo luận nhóm
trong dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học.
Nghiên cứu thực trạng sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn
Đạo đức ở Tiểu học.
Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp thảo luận
nhóm trong dạy học môn Đạo đức lớp 3.
I.3. Đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu hiệu quả phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn Đạo đức.
Học sinh khối 3 trường Tiểu học ..., xã ..., huyện ..., tỉnh ....
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
Tôi nghiên cứu học sinh và giáo viên trường Tiểu học ..., xã ..., huyện ..., tỉnh ....
I.5. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu lí luận.
Tìm hiểu những vấn đề có liên quan để xây dựng đề tài dựa vào sách, các tạp
chí, tiểu luận, luận văn, … để tìm cơ sở lý luận và các biện pháp phù hợp để giải


quyết các vần đề của đề tài.
Phương pháp điều tra.
Tôi sử dụng phương pháp này nhằm đánh giá hiệu quả, của việc sử dụng phương
pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn Đạo đức lớp 3.
Để đạt được mục đích trên, tôi soạn một hệ thống câu hỏi đóng, mở. Những câu
hỏi này được biên soạn theo yêu cầu sau:
Nội dung câu hỏi phải chính xác, rõ ràng, hướng đến thăm dò ý kiến của giáo
viên và học sinh khối lớp 3, trường tiểu học ....
Hệ thống câu hỏi thống nhất, được sắp xếp theo trình tự nghiên cứu. Trong đó có
những câu hỏi nhằm tìm hiểu nhận thức của giáo viên, những khó khăn và thuận
lợi khi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn Đạo đức lớp 3.
Phương pháp phỏng vấn.
Tiếp xúc, trao đổi, phỏng vấn các giáo viên trực tiếp giảng dạy và học sinh khối
lớp 3 nhằm bổ sung làm rõ thêm vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp quan sát.
Dự giờ một số tiết học môn Đạo đức, quan sát hoạt động của giáo viên và học
sinh trong quá trình thảo luận nhóm nhằm đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu
quả sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn Đạo đức.
Phương pháp thống kê toán học.
Tôi sử dụng phương pháp này nhằm xử lý số liệu và kết quả thu thập được để rút
ra kết luận cho việc nghiên cứu đề tài.
II. Phần nội dung.
II.1. Cơ sở lý luận
* Lịch sử vấn đề nghiên cứu.
2


Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Nguyễn Hữu Hợp biên soạn giáo trình “Phương pháp
dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học dành cho hệ tại chức- từ xa đào tạo giáo viên
Tiểu học đã đưa ra 15 phương pháp dạy học Đạo đức. Trong đó có đề cập tới
phương pháp thảo luận nhóm tương đối tỉ mỉ. Các tác giả đã đưa ra khái niệm, các
bước tiến hành, yêu cầu sư phạm của việc tổ chức thảo luận nhóm…
Thảo luận nhóm đã được một số tác giả đề cập đến nhưng ở Tiểu học và đặc biệt
trong môn Đạo đức ở Tiểu học thì rất ít.
Chỉ có trong “Hỏi đáp về phương pháp dạy học ở Tiểu học” mới đề cập tới vấn
đề tổ chức cho học sinh thảo luận trong giờ học Đạo đức.
Ở đây tác giả đã nói qua về phương pháp thảo luận và khẳng định trong giờ học
Đạo đức có thể tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm, thảo luận tổ, hoặc thảo luận
lớp. Nội dung thảo luận ở đây rất đa dạng, có thể là: thảo luận các vấn đề chính của
bài học, thảo luận phân tích truyện đạo đức, thảo luận xử lí tình huống.
Quyển sách “Đạo đức và phương pháp dạy học đạo đức ở Tiểu học”(tài liệu bồi
dưỡng thường xuyên dành cho giáo viên Tiểu học) đã đưa ra các vấn đề giáo dục
đạo đức trong trường Tiểu học với tầm quan trọng, mục đích, nội dung và nhiệm
vụ của vấn đề này. Trong quyển sách này, các phương pháp dạy học Đạo đức ở
Tiểu học được trình bày là: trực quan, giảng giải, đàm thoại, luyện tập, nêu gương.
Trong tài liệu này đề cập tới việc tổ chức thảo luận nhóm là một hình thức của
phương pháp luyện tập.
Trong tạp chí “Giáo dục Tiểu học”, tác giả Nguyễn Hữu Hợp có bài viết: “Thảo
luận trong dạy học môn Đạo đức”. Tác giả đã đưa ra được tác dụng của thảo luận
nhóm. Tác giả cũng đưa ra được thời điểm, nội dung, cách tiến hành thảo luận
nhóm trong môn Đạo đức. Ngoài ra tác giả còn chỉ ra phương tiện, vật chất cần cho
thảo luận nhóm và một số yêu cầu sư phạm đối với việc tổ chức thảo luận nhóm.
Theo tôi thì phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp giáo viên tổ chức cho
học sinh thảo luận các nội dung dạy học theo nhóm nhỏ để đi đến một ý kiến thống
nhất chung nhằm giải quyết một nhiệm vụ dạy học cụ thể. Thảo luận nhóm mang
đầy đủ đặc điểm của phương pháp tích cực như là hoạt động cơ động, có động cơ
và sự tự nguyện của học sinh trong quá trình được giáo viên hướng dẫn và hỗ trợ.
Như vậy, phương pháp học tập theo nhóm cũng như phương pháp thảo luận
nhóm nói chung thì đã có một số tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu. Phương
pháp thảo luận nhóm ở Tiểu học cũng như phương pháp thảo luận nhóm trong môn
Đạo đức thì rất ít tác giả, tác phẩm nghiên cứu đến. Đặc biệt, thảo luận nhóm trong
dạy học môn Đạo đức lớp 3 thì chưa có tác giả , tác phẩm nào nghiên cứu cụ thể.
* Vị trí, mục tiêu của môn Đạo đức ở tiểu học.
Vị trí của môn Đạo đức ở Tiểu học.
Môn Đạo đức là một môn học gắn bó mật thiết với quá trình giáo dục đạo đức ở
Tiểu học.

3


Việc giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học được thực hiện bằng hai con đường
cơ bản là qua việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp và quá trình dạy học các
môn học khác nhau, trong đó có môn Đạo đức.
Có thể nói, các môn học ở Tiểu học đều có khả năng giáo dục đạo đức. Ví dụ:
qua một bài thơ, truyện kể trong môn Tiếng việt đều chứa đựng những nội dung
giáo dục và nếu chúng được khai thác đúng đắn thì giáo viên có thể giáo dục cho
học sinh những khía cạnh khác nhau của các chuẩn mực hành vi liên quan. Hay
qua việc dạy học môn Toán, có thể giáo dục cho các em những nét tính cách tích
cực như tính cẩn thận, lòng kiên trì, tính chính xác,…
Tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp cũng là một con đường quan trọng trong
việc giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học với những hình thức cụ thể như văn
nghệ, báo tường, tham quan, cắm trại,..
Tuy nhiên, việc giáo dục đạo đức qua môn học khác nhau và qua hoạt động
ngoài giờ lên lớp ở Tiểu học chưa thực sự có tính hệ thống nên hiệu quả giáo dục
còn hạn chế.Vì vậy, cần có một môn học với chức năng chủ yếu là giáo dục đạo
đức cho học sinh Tiểu học một cách hệ thống – đó là môn Đạo đức.
Như vậy, môn Đạo đức có vị trí đặc biệt quan trọng mà không một môn học nào
có thể thay thế được. Bởi lẽ, chức năng của nó là giáo dục đạo đức cho học sinh
Tiểu học với hệ thống chuẩn mực hành vi đạo đức được quy định trong chương
trình môn học này. Cụ thể nó sẽ giúp học sinh là:
Hình thành được ý thức đạo đức (tri thức là niềm tin đạo đức) định hướng giá trị
đạo đức về những chuẩn mực hành vi đạo đức đã được quy định.
Bước đầu có được những xúc cảm, tình cảm đạo đức.
Định hướng được và bước đầu hình thành được những hành vi và thói quen hành
vi đạo đức.
Môn Đạo đức là một trong các con đường cơ bản và là con đường quan trọng
nhất để giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học theo mục tiêu giáo dục toàn diện.
Do đó, nó có mối quan hệ hữu cơ với các môn học khác ở Tiểu học.
Môn Đạo đức giúp cho học sinh có kiến thức, kỹ năng hành vi đạo đức cơ bản
để vận dụng củng cố qua các môn học khác, nhất là các môn có nhiều khả năng
tích hợp nội dung giáo dục đạo đức như Tiếng việt, Tự nhiên - xã hội, Âm nhạc,
Mỹ thuật. Thông qua các môn học đó, học sinh củng cố được kiến thức, kĩ năng
đạo đức, mở rộng, bổ sung cho kiến thức môn Đạo đức càng phong phú, sinh động.
Do đó, khi dạy Đạo đức cần đảm bảo yêu cầu liên môn.
Ngoài ra, môn Đạo đức cung cấp kiến thức, thái độ, kỹ năng để học sinh vận
dụng, thực hành qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Các hoạt động ngoài
giờ lên lớp là những kiến thức dạy học và giáo dục đạo đức sinh động, phù hợp
tâm lý lứa tuổi Tiểu học; đồng thời là môi trường thực hành, luyện tập tốt để củng
cố kiến thức, kỹ năng đạo đức. Do đó, các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là
con đường hấp dẫn học sinh thực hành môn Đạo đức.
4


Môn Đạo đức ở Tiểu học tạo tiền đề và cơ sở cho học sinh tiếp nối môn Giáo
dục công dân ở Trung học cơ sở. Môn Đạo đức ở Tiểu học cung cấp cho học sinh
những chuẩn mực hành vi đạo đức cụ thể như: đi học đúng giờ, giữ gìn trường lớp
sạch đẹp, biết nhận lỗi, xin lỗi… Những chuẩn mực hành vi này được lý giải với
những tri thức sơ đẳng, đơn giản, dễ hiểu cho phù hợp với trình độ nhận thức và
vốn sống của các em. Trên cơ sở tiền đề đó, khi lên Trung học cơ sở với trình độ
nhận thức đã được phát triển cao hơn, vốn sống sẽ phong phú hơn, các em có khả
năng học tiếp môn Giáo dục công dân.
Như vậy, các em sẽ dần dần hình thành được một hệ thống những tri thức đạo
đức ngày càng có tính khái quát cao và ngày càng sâu tính tích luỹ để phục vụ cho
cuộc sống của mình.
Mục tiêu của môn Đạo đức ở Tiểu học.
Mục tiêu của môn Đạo đức ở Tiểu học là giúp học sinh hình thành được các
chuẩn mực hành vi đạo đức trong chính các em về ý thức đạo đức, thái độ đạo đức,
hành vi đạo đức.
Mục tiêu về tri thức.
Học sinh có những hiểu biết cần thiết về các chuẩn mực hành vi cơ bản, phù hợp
lứa tuổi phản ánh các mối quan hệ hằng ngày thường gặp của các em, từ đó bước
đầu các em có niềm tin đạo đức đúng đắn.
Những tri thức này, tuỳ từng bài đạo đức cụ thể, có thể bao gồm:
Yêu cầu các chuẩn mực hành vi.
Sự cần thiết thực hiện chuẩn mực hành vi.
Ý nghĩa: mối quan hệ giữa học sinh và đối tượng có liên quan đến chuẩn mực.
Tác dụng: những lợi ích, điều tốt đẹp cho đối tượng, những người xung quanh, bản
thân học sinh.
Tác hại của việc làm trái chuẩn mực hành vi: những cái ác, điều xấu mang lại cho
đối tượng, những người xung quanh, bản thân học sinh.
Cách thực hiện chuẩn mực đó theo các tình huống có liên quan.
Những việc cần làm.
Những việc cần tránh theo chuẩn mực quy định.
Để đạt được mục tiêu này, cần tổ chức cho học sinh phân tích, đánh giá những
hành vi, làm việc, hiện tượng cụ thể để các em thấy được lợi ích của việc làm
đúng, tốt (hay tác hại của việc làm sai, xấu); nêu các cách xử lí tình huống tương tự
trong cuộc sống rồi lựa chọn cách phù hợp… Từ đó tự học sinh rút ra bài học đạo
đức tương ứng. Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện cho học sinh Tiểu học độc lập hay
trao đổi, hợp tác với bạn để tự rút ra tri thức về bản chất của chuẩn mực hành vi.
Tri thức, niềm tin cần được củng cố, khắc sâu qua việc tổ chức cho các em vận
dụng để giải quyết các bài tập đa dạng, qua việc thực hiện hành vi trong cuộc sống
hằng ngày.
Mục tiêu về thái độ, tình cảm.
5


Học sinh cần hình thành được xúc cảm, thái độ phù hợp liên quan đến các chuẩn
mực hành vi đạo đức và từ đó có tình cảm đạo đức bền vững.
Thái độ, tình cảm đạo đức đóng vai trò quan trọng trong đời sống vì thái độ, tình
cảm đúng đắn được coi là “chất men kích thích” từ bên ngoài nội tâm, giúp con
người vượt qua những khó khăn trở ngại, làm điều thiện, làm cho cuộc sống trở
nên nhân ái hơn, giàu tình người hơn.
Những thái độ, tình cảm này bao gồm:
Tình cảm đối với những đối tượng khác nhau do các bài đạo đức quy định;
Thực hiện hành vi theo chuẩn mực quy định một cách tự giác, tích cực;
Thái độ đồng tình với hành động tích cực, thái độ phê phán đối với hành động
tiêu cực.
Thái độ, tình cảm của học sinh nảy sinh trong quá trình nhận thức các chuẩn mực
hành vi đạo đức(ví dụ, một truyện kể hấp dẫn, sinh động dễ làm cho học sinh có
thái độ đồng tình với hành động tốt, yêu mến nhân vật tích cực trong đó…), hình
thành kỹ năng (các em tỏ thái độ hài lòng khi đánh giá một hiện tượng tích cực
trong thực tế…), thực hiện hành vi đạo đức trong cuộc sống thực tiễn hàng ngày
(học sinh tích cực tham gia công việc, yêu quý, tôn trọng đối tượng mà mình thực
hiện hành vi).
Mục tiêu về kĩ năng - hành vi:
Học sinh cần có những kĩ năng vận dụng bài học đạo đức, lựa chọn và thực hiện
các hành vi phù hợp với các chuẩn mực hành vi quy định, trên cơ sở đó, các em rèn
luyện thói quen tích cực.
Kĩ năng, hành vi được coi là kết quả quan trọng nhất của việc dạy học môn
Đạo đức (nhưng đồng thời cũng là khó khăn nhất) vì đạo đức của con người nói
chung và đạo đức của học sinh Tiểu học nói riêng được đánh giá qua hành động,
việc làm chứ không chỉ qua lời nói.
Những kĩ năng, hành vi này thường bao gồm:
Biết tự nhận xét hành vi của bản thân;
Biết nhận xét, đánh giá hành vi của người khác;
Biết xử lí những tình huống đạo đức tương tự trong cuộc sống;
Biết thực hiện các thao tác, hành động đúng đắn theo mẫu,qua trò chơi, hoạt cảnh;
Biết đánh giá những vấn đề thực tiễn liên quan đến bài học đạo đức.
Thực hiện được những hành vi tích cực trong cuộc sống hằng ngày của mình phù
hợp với các chuẩn mực hành vi.
Việc hình thành kĩ năng được thực hiện qua việc học sinh vận dụng tri thức đạo
đức để liên hệ thực tế, tự đánh giá bản thân, thực hiện trò chơi, điều tra thực tiễn.
Còn hành vi đạo đức và thói quen tích cực có được là nhờ việc các em tự giác thực
hiện những hành động, việc làm phù hợp với bài đạo đức trong cuộc sống thường
nhật của mình qua các mối quan hệ khác nhau.
Ba mục tiêu trên đây của môn Đạo đức có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ
trợ nhau, thống nhất với nhau.
6


Tri thức, niềm tin đạo đức định hướng cho việc thể hiện thái độ, tình cảm đạo
đức đúng đắn và việc hình thành kĩ năng, thực hiện hành vi và thói quen đạo đức
tích cực.
Qua việc hình thành kĩ năng, thực hiện hành vi, học sinh sẽ củng cố, khắc sâu tri
thức đạo đức, đồng thời các em cũng thể hiện, khẳng định thái độ và nảy sinh tình
cảm đạo đức của mình.
Thái độ, tình cảm đạo đức đúng đắn có tác dụng kích thích, làm cho quá trình
nhận thức diễn ra thuận lợi hơn, có hiệu quả hơn (từ đó các em có được tri thức cần
thiết và niềm tin tự giác), thúc đẩy việc hình thành kĩ năng, rèn luyện hành vi và
thói quen đạo đức tích cực.
Sự thống nhất giữa ý thức, thái độ, tình cảm, hành vi và thói quen là đòi hỏi tất
yếu của quá trình dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học. Do đó, trong việc dạy học môn
Đạo đức nói chung và từng bài đạo đức nói riêng, cầm đảm bảo thực hiện được
đồng thời cả ba mục tiêu nói trên. Tránh những hiện tượng như không xác định rõ,
đầy đủ ba mục tiêu khi dạy từng bài đạo đức, coi nhẹ mục tiêu nào đó, do e ngại
nên bỏ qua, không thực hiện mục tiêu kĩ năng hành vi,…
* Phương pháp dạy học môn Đạo đức.
Khái niệm phương pháp dạy học môn Đạo đức.
Theo tác giả Nguyễn Hữu Hợp “Phương pháp dạy học môn Đạo đức là cách
thức, các con đường hoạt động thống nhất giữa giáo viên và học sinh, dưới tác
động chủ đạo của giáo viên với vai trò tự giác, tích cực, độc lập của học sinh, nhằm
đạt được mục đích, các nhiệm vụ của môn học này”.
Như vậy, các phương pháp dạy học môn Đạo đức cần giải quyết các nhiệm vụ
đã nêu là:
Giáo dục ý thức đạo đức.
Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức.
Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức.
Để giải quyết các nhiệm vụ phức tạp đó, giáo viên Tiểu học cần vận dụng một hệ
thống các phương pháp như: Kể chuyện , đàm thoại, thảo luận nhóm, tổ chức trò
chơi, tổ chức làm việc cá nhân, tổ chức điều tra, báo cáo,… Và giải quyết một
nhiệm vụ nào đó, cần sử dụng một số biện pháp cụ thể. Ví dụ, để giúp học sinh
Tiếu học hiểu được những tri thức đạo đức và trên cơ sở đó bước đầu hình thành
niềm tin cho các em (giáo dục ý thức đạo đức), có thể vận dụng các phương pháp
như: kể chuyện, đàm thoại, thảo luận nhóm,…
Dạy học môn Đạo đức xem xét không chỉ dưới góc độ dạy học mà còn dưới góc
độ giáo dục, bởi nó là một con đường giáo dục đạo đức cho học sinh. Vì thế, các
phương pháp dạy học môn Đạo đức phải bao gồm cả phương pháp dạy học, kết
hợp với các phương pháp giáo dục.
Dựa vào những đặc tính cơ bản nói trên, phương pháp dạy học ngày càng được
hoàn thiện phù hợp với sự phát triển của xã hội nói chung và nội dung dạy học nói
riêng. Như vậy phương pháp dạy học là một trong những yếu tố quan trọng nhất
7


của quá trình dạy học. Sau khi đã xác định được mục đích, nội dung thì một quá
trình dạy học có gây hứng thú, tích cực hay không, có biến kiến thức thành thái độ
hành vi trong thực tiễn hay không, tất cả phụ thuộc nhiều vào phương pháp dạy
học. Vì mục đích và nội dung về cơ bản đã được quy định trong sách giáo khoa,
nên trong thực tiễn dạy học, vấn đề phương pháp dạy học là hoạt động sáng tạo, là
mối quan tâm thường xuyên của người thầy.
Phương pháp dạy học môn Đạo đức theo chương trình Tiểu học sau năm 2000
có sự khác biệt so với phương pháp dạy học trước đây, thể hiện ở chỗ:
Dạy học Đạo đức trước đây mang nặng tính áp đặt, thường đưa ra những khuôn
mẫu ứng xử có sẵn, một chiều và thuyết phục học sinh tin rằng cách ứng xử đó là
tốt, là đúng. Còn dạy học Đạo đức theo chương trình mới lại khuyến khích sử dụng
những bức tranh, những tình huống, những câu chuyện với kết cục mở để học sinh
có thể tự phán đoán, liệt kê các cách giải quyết; tự phân tích, so sánh kết quả và tự
tìm ra cách giải quyết phù hợp nhất trong tình huống, hoàn cảnh đó.
Nếu như dạy học Đạo đức trước đây chỉ một cách: Bắt đầu từ phân tích truyện –
đàm thoại – khái quát thành bài học, thì dạy học theo chương trình Tiểu học sau
năm 2000 có thể tiến hành theo nhiều cách: có thể bắt đầu từ phân tích truyện kể,
bức tranh, tình huống với kết cục mở; có thể bắt đầu bằng trò chơi sắm vai; có thể
bắt đầu bằng việc học sinh báo cáo và thảo luận các kết quả điều tra, tìm hiểu vấn
đề trong thực tiễn ở lớp học, nhà trường địa phương có liên quan đến bài học đạo
đức.
Nếu như việc dạy học Đạo đức trước đây chỉ sử dụng phương pháp truyền
thống như: nêu gương, khen thưởng, trách phạt thì dạy học hiện nay ngoài việc sử
dụng các phương pháp truyền thống còn sử dụng các phương pháp dạy học hiện
đại như thảo luận nhóm, đóng vai, trò chơi, điều tra,…
Nếu như dạy học Đạo đức trước đây, học sinh tiếp thu bài học một cách thụ
động, chủ yếu thầy giảng - trò nghe, thì dạy học Đạo đức hiện nay là quá trình học
sinh hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo. Thông qua các hoạt động đó, học sinh
tự chiếm lĩnh và phát hiện tri thức với sự cố vấn, chỉ đạo, giúp đỡ của thầy giáo.
Trong các tiết Đạo đức trước đây, giao tiếp trong lớp học chủ yếu là giữa thầy –
trò, và với tính chất một chiều. Còn dạy học theo tinh thần đổi mới thì giao tiếp trò
– trò lại nổi lên và thông tin mang tính đa chiều.
Phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn Đạo đức.
* Khái niệm phương pháp thảo luận nhóm.
Thảo luận nhóm là phương pháp tổ chức cho học sinh trao đổi với nhau theo
nhóm nhỏ về những vấn đề liên quan đến bài học đạo đức để đưa ra ý kiến chung
của nhóm về giải quyết vấn đề đạo đức nêu ra.
Các nghiên cứu về thảo luận nhóm đã chứng minh rằng, nhờ việc thảo luận
trong nhóm nhỏ:
Kiến thức của học sinh sẽ giảm bớt phần chủ quan, phiến diện, làm tăng thêm
tính khoa học.
8


Qua việc học bạn, hợp tác với bạn mà tri thức của các em trở nên sâu sắc, bền
vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn.
Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên học sinh, đặc biệt là những em nhút nhát,
trở nên bạo dạn hơn; các em học được cách trình bày ý kiến của mình, biết lắng
nghe có phê phán ý kiến của bạn; từ đó giúp trẻ dễ hoà đồng vào cộng đồng nhóm,
tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong học tập và sinh hoạt.
Vì vậy, hiện nay thảo luận nhóm đang được vận dụng rộng rãi vào quá trình dạy
học Tiểu học. Đối với dạy học môn Đạo đức, phương pháp này có thể được tổ chức
cho học sinh ở cả hai tiết.
* Vai trò của các thành viên trong nhóm.
Phương pháp dạy học thảo luận nhóm là một trong những phương pháp dạy học
hình thành ở học sinh khả năng giao tiếp, khả năng hợp tác, khả năng thích ứng và
khả năng độc lập suy nghĩ.
Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều được hoạt động tích cực, không thể ỷ lại
một vài người năng động và nổi trội hơn. Nhóm sẽ tự bầu ra nhóm trưởng nếu cần.
Các thành viên trong nhóm sẽ thay nhau làm nhóm trưởng. Sự lãnh đạo của nhóm
trưởng là rất quan trọng. Nhiệm vụ chính của nhóm trưởng là phát huy tinh thần
trách nhiệm và những sáng kiến của các nhóm viên, nhạy bén phát hiện những nhu
cầu của các nhóm viên để đạt thành những công tác chung. Dưới sự chỉ huy, điều
khiển của nhóm trưởng, các thành viên trong nhóm giúp nhau tìm hiểu vấn đề
trong không khí thi đua với các nhóm khác, kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ
đóng góp vào kết quả chung của cả lớp. Tuy nhiên, ở đây giáo viên cần lưu ý, học
sinh thường coi thảo luận trong nhóm như một tình huống cạnh tranh mà trong đó
họ chiến thắng bằng cách đánh bại ý kiến của người khác, do đó cần khuyến khích
tính hợp tác ở các em trong một nhóm, giữa các nhóm với nhau, thi đua nhưng
không cạnh tranh.
Vì thế, để nhóm có thể hoạt động đúng với yêu cầu thảo luận, giáo viên cần tập
cho học sinh các kĩ năng điều hành của một nhóm trưởng. Đó là các kĩ năng: trình
bày câu hỏi hoặc vấn đề thảo luận một cách rõ ràng, chỉ định người phát biểu, hạn
định thời gian phát biểu của các nhóm viên trong nhóm một cách hợp lí, biết lắng
nghe, biết ghi chép, biết tổng hợp ý kiến … các kĩ năng này không những quyết
định hiệu quả học tập của nhóm mà còn rất có ý nghĩa trong cuộc sống sau này của
học sinh.
Như vậy, phương pháp thảo luận nhóm cho phép các thành viên trong nhóm chia
sẻ các suy nghĩ, băn khoăn, kinh nghiệm, hiểu biết của bản thân, cùng nhau xây
dựng nhận thức, thái độ mới. Bằng cách nói ra những điều mình suy nghĩ, mỗi
người có thể nhận thức rõ trình độ hiểu biết của mình về vấn đề học tập được nêu
ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn
nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ phía giáo viên, thành công của
lớp học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của thành viên. Vì vậy, phương pháp
9


này còn được gọi là phương pháp huy động mọi người cùng tham gia hoặc rút gọn
là phương pháp cùng tham gia.
II.2. Thực trạng.
a. Thuận lợi – khó khăn.
Thuận lợi:
Toàn bộ giáo viên trong trường được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của lãnh
đạo nhà trường. Được tập huấn về Chuẩn kiến thức kĩ năng; Kĩ năng sống... Đa số
các giáo viên có trình độ đào tạo chuẩn và trên chuẩn, yêu nghề, khắc phục mọi
khó khăn, luôn học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thường xuyên
dự giờ thăm lớp để học hỏi kinh nghiệm phục vụ cho dạy – học đạt kết quả như
mong muốn. Không để tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp.
Các em học sinh ngoan, lễ phép, đoàn kết, sống có tinh thần cộng đồng, sách vở
và đồ dùng học tập được cấp, phát tương đối đầy đủ.
Sĩ số học sinh trong lớp rất phù hợp, nên thuận lợi cho việc kèm cặp các em.
Kết quả học tập được nâng cao cũng nhờ sự quan tâm của phụ huynh học sinh.
Các em học sinh lớp 3 rất thích học môn Đạo đức, vì đây là môn học liên quan
đến đời sống thực tế rất nhiều. Các em rất hứng thú với những hoạt động trong bài
học như đóng vai, trò chơi, hoạt cảnh, văn nghệ, quan sát tranh...
Khó khăn:
Trang thiết bị dạy học, cơ sở vật chất của nhà trường chưa thực sự đảm bảo cho
việc học tập của học sinh.
Trong giờ Đạo đức do sử dụng nhiều hoạt động như đóng vai, trò chơi, thảo luận,
hoạt cảnh… nên giáo viên rất ngại vì sợ tốn nhiều thời gian. Vì vậy các em phải
tiếp thu kiến thức một cách thụ động, dẫn đến kết quả học tập môn Đạo đức chưa
cao.
Đời sống kinh tế của gia đình học sinh còn khó khăn, đa phần ảnh hưởng đến
việc học tập của các em.
Học sinh là con em đồng bào dân tộc ÊĐê gia đình làm nương rẫy, bố mẹ bận
làm ăn thường là đi làm từ sáng đến chiều mới về nên không dạy, kiểm tra bài sát
sao việc học ở nhà của các em, đường xá của một số buôn đi lại khó khăn, vất vả.
Một số em tiếp thu bài còn chậm, còn thụ động, chưa có sự cố gắng trong học tập,
còn nhút nhát khi đứng trước tập thể để phát biểu xây dựng bài học.
Với các hoạt động như: Thảo luận nhóm, trình bày kết quả thảo luận của nhóm
mình, trả lời câu hỏi của bạn và đặt câu hỏi cho bạn, …Tất cả đối với các em còn
rất lạ lẫm.
Bên cạnh đó một số cha mẹ học sinh chưa thực sự quan tâm đến con em mình,
còn có cách nghĩ '' trăm sự nhờ nhà trường, nhờ cô giáo chủ nhiệm'' cũng làm ảnh
hưởng đến chất lượng học tập môn Đạo đức.
Hiện nay những trò chơi trên mạng Internet đã ít, nhiều ảnh hưởng đến các em.
Các em đang trong độ tuổi thích bắt chước nhưng chưa phân biệt được hành vi đạo
10


đức tốt, xấu. Chính vì vậy, sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, xã hội
là rất cần thiết để giáo dục các em, giáo dục ngay từ bậc Tiểu học.
b. Thành công – hạn chế.
Thành công:
Học sinh rất hứng thú học tập theo nhóm trong môn Đạo đức, học với không khí
vui tươi, sinh động.
Làm việc theo nhóm nhỏ có thể phát triển được kĩ năng giao tiếp, kĩ năng giải
quyết vấn đề... cho học sinh. Động viên các em học hỏi lẫn nhau, hợp tác cùng
nhau. Giáo viên giúp các em hiểu ra rằng trong cùng một nhóm cần gắn bó với
nhau, quan tâm chia sẻ đến nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Bên cạnh đó còn tập trung
những điểm mạnh của từng cá nhân để bổ sung cho nhau những khiếm khuyết.
Qua quan sát sự làm việc của từng nhóm, giáo viên có thể dựa vào đó để biết
được sức học của từng học sinh, từ đây giáo viên có phương pháp dạy học cho phù
hợp. Đồng thời lựa chọn những em học khá giúp đỡ những em lực học còn yếu.
Hoạt động nhóm tạo cơ hội cho các em có sự bình đẳng, dám thể hiện khả năng
cũng như chính kiến của mình, phát triển ngôn ngữ tiếng việt, giúp những học sinh
chưa tự tin, học trầm có cơ hội cởi mở, giao tiếp với các bạn của mình. Mỗi em
trong tập thể nhóm đều có tinh thần trách nhiệm cao, từ cái được của từng người
tạo nên niềm vui chung của cả nhóm, cả lớp.
Khi làm việc cùng nhau, học sinh có thể đạt được những điều mà các em làm một
mình không thể đạt được. Mỗi thành viên tô một màu sẽ tạo nên một “bức tranh
hoàn chỉnh”.
Ý kiến của từng em đều được trân trọng, có giá trị, xem xét cân nhắc chu đáo từ
đây sẽ nâng cao được niềm tin, các em gần gũi, dân chủ hơn. Do đó sẽ làm tăng sự
tự tin, khắc phục được sự lo lắng, sợ mình bị thất bại. Tình đồng đội được nâng lên
nhờ hiểu nhau, thực hiện tốt quy định của nhóm là bước đầu để sau này lớn lên biết
sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật.
Hạn chế:
Giáo viên không làm chủ được thời gian.
Học sinh ít xem trước bài ở nhà, chuẩn bị nội dung học tập chưa kĩ, nên khi hoạt
động thường tập trung ở một số em hoạt động tích cực, học tốt, những em học yếu
thường ỷ lại. Kết quả của cá nhân dựa trên kết qủa của nhóm sẽ làm cho một số em
cảm thấy chưa thoả mãn, cho là không công bằng. Nếu giáo viên lạm dụng hoạt
động nhóm sẽ gây nhàm chán cho học sinh.
Nhóm trưởng điều hành không tốt, giáo viên theo dõi chưa sát sao, thì có thể một
vài cá nhân nói chuyện riêng, bàn luận vấn đề khác gây ồn ào trong lớp học, làm
mất nhiều thời gian, dẫn đến kết quả học tập chưa như mong muốn. Hoặc những
em học khá đứng ra điều hành, quyết định, kết kuận vấn đề theo kiểu độc đoán, áp
đặt.
Một tiết học Đạo đức với thời lượng là 35 phút thì đây cũng là một trở ngại khi
muốn có một giờ dạy với hoạt động nhóm thành công.
11


Vì vậy, muốn có kết quả học tập theo nhóm trong môn Đạo đức thành công thì
đòi hỏi học sinh phải chuẩn bị bài ở nhà, người giáo viên biết cách tổ chức, phương
pháp tốt, kết hợp nhiều yếu tố như hệ thống câu hỏi, nội dung thảo luận, số lượng
thành viên, lực học trong nhóm, bàn ghế phù hợp, ánh sáng... Nhưng yếu tố quyết
định là ở các em. Hứng thú, tích cực là chưa đủ mà học sinh cần được hướng dẫn
chuẩn bị nội dung thảo luận trước, giải thích rõ trước khi vào bài.
c. Mặt mạnh – mặt yếu.
Mặt mạnh:
Hoạt động nhóm trong môn Đạo đức giúp các em có tinh thần làm việc tập thể,
sự phối hợp chặt chẽ giữa các cá nhân trong nhóm với nhau. Mỗi em có một nhiệm
vụ, hoàn thành công việc được giao là góp phần vào sự thành công của nhóm, của
tập thể lớp. Hiệu quả học tập được nâng cao.
Làm việc theo nhóm giúp học sinh có tinh thần đoàn kết, sống và làm việc với
tinh thần – mình vì mọi người, mọi người vì mình. Vì thế từ ngàn xưa cha ông ta
đã có câu: “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.
Mặt yếu:
Giáo viên tổ chức cho các em học tập theo nhóm sẽ làm cho lớp học thường là
mất trật tự. Ngoài ra có một số em không thích hoạt động nhóm vì muốn thể hiện
kiến thức của riêng mình với cô giáo.
Mỗi hoạt động thường là phải chia nhóm, công việc này cũng mất thời gian. Khi
đánh giá kết quả học tập, giáo viên cần khéo léo kết hợp sự đánh giá của mình với
đánh giá của học sinh.
Cơ sở vật chất còn hạn chế; bàn ghế chưa thực sự phù hợp với học sinh lớp 3.
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động.
100% các em là người đồng bào dân tộc Êđê nên các em chưa thực sự tự tin
trong giao tiếp bằng tiếng việt, một số gia đình kinh tế còn khó khăn, cha mẹ các
em trình độ văn hoá không cao, hơn nữa đi làm về mệt nên chưa thực sự quan tâm
đến việc học của các em mà giao phó lại cho nhà trường, giáo viên chủ nhiệm lớp,
đồng thời chưa kết hợp nhịp nhàng giữa giáo viên và phụ huynh học sinh, giáo
viên chưa đúc kết được phương pháp “thật sự phù hợp” với đối tượng học sinh
đồng bào. Các em còn nhỏ chưa phân định được ranh giới giữa cái tốt, cái xấu, khả
năng tự chủ chưa cao. Các em ít dám bộc lộ cảm xúc cũng như chính kiến của
mình trong giờ học, tiếp thu bài thụ động. Thường coi nhẹ môn Đạo đức, Mĩ thuật,
Tự nhiên - xã hội... vì cho đây là những môn học phụ.
Do nhận thức của thầy, trò và các bậc phụ huynh chưa thấy hết được vị trí, tầm
quan trọng và sự tác động qua lại của môn học, thường xem nhẹ môn Đạo đức. Vì
vậy chưa tạo hứng thú khi học môn học này. Từ những nhận thức như thế sẽ ảnh
hưởng đến những đức tính cần thiết trong việc hình thành nhân cách cho học sinh.
Một số giáo viên trong giờ Đạo đức còn dạy qua loa, học sinh lĩnh hội kiến thức
một cách thụ động, chưa đưa hoạt động nhóm nhiều vào giờ học, thường là để các
12


em tự hoạt động, chưa nhiệt tình nhắc nhở, quan sát, hướng dẫn các em. Vì vậy các
em có thể làm việc khác hoặc chơi.
Vì thế tôi đã dần dần học nói tiếng của đồng bào Êđê, phối hợp với các đồng chí
là trưởng, phó các thôn buôn để tìm hiểu hoàn cảnh gia đình các em, để từ đó đưa
các em gần mình hơn, các em không ngại chia sẻ với giáo viên. Và cũng từ đây tôi
có cơ sở để xếp các em ngồi ở các vị trí mà khi hoạt động nhóm trong giờ Đạo đức,
trong một nhóm có đủ lực học: giỏi, khá, trung bình, yếu và hoàn cảnh gia đình
khác nhau, môi trường sống khác nhau. Để từ đó học sinh có sự đoàn kết, hoà
đồng, học hỏi lẫn nhau. Sự phân công công việc để cho các em trong nhóm tự phân
công và thống nhất với nhau nhưng có sự quan tâm chia sẻ của giáo viên.
Để có một tiết Đạo đức đạt hiệu quả tôi chuẩn bị kĩ lưỡng nội dung bài dạy , tôi
chọn những câu hỏi thực sự phù hợp với lực học của học sinh trường tôi, lớp tôi để
giúp các em lĩnh hội, khám phá kiến thức mới một cách tốt nhất, bên cạnh đó còn
rèn luyện được kĩ năng giao tiếp cho học sinh.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra.
Để phương pháp này hoạt động được hiệu quả tốt tôi đã làm một cuộc điều tra:
Hỏi ý kiến giáo viên về mục tiêu của dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học thì 100%
giáo viên cho rằng là nhằm hình thành nhân cách cho học sinh qua các hành vi đạo
đức. Giáo viên nhận thức tương đối đúng về bản chất của phương pháp thảo luận
nhóm. Số giáo viên quan điểm thảo luận nhóm là hoạt động một chiều của các học
sinh trong nhóm với nhau: diễn ra trước và sau khi giáo viên truyền đạt nội dung
bài học là những quan điểm rất phiến diện, hiểu chưa đúng về bản chất của thảo
luận nhóm. Tuy nhiên số này không nhiều. Phần lớn giáo viên được điều tra đã
nhận thức đúng về bản chất của thảo luận nhóm, đó là cách tổ chức dạy học mà
theo đó học sinh ở các nhóm học tập, trao đổi, thảo luận các nhiệm vụ học tập dưới
sự hướng dẫn của giáo viên. Tuy nhiên, muốn thảo luận nhóm phát huy hết tác
dụng của nó trong thực tiễn dạy học cần nâng cao hiểu biết cho giáo viên về bản
chất của thảo luận nhóm.
Trong quá trình dạy học môn Đạo đức, giáo viên vận dụng phương pháp thảo
luận nhóm theo các mức độ sau:
Thường xuyên:
68.66%
Đôi khi:
31,34%
Chưa sử dụng bao giờ:
0.00%
Giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm trong giờ Đạo đức, là một
phương pháp tổ chức cho các em trao đổi, chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm với nhau
trong nhóm nhỏ về một vấn đề nào đó.
Ví dụ: Khi dạy bài 2: Giữ lời hứa – giáo viên có thể tổ chức cho học sinh thảo
luận các tình huống:
Tình huống 1: Tân hẹn chiều chủ nhật sang nhà Tiến giúp bạn học Toán. Nhưng
khi chuẩn bị đi thì trên ti vi lại chiếu phim rất hay.
Nếu là Tân, em sẽ làm gì? Vì sao?
13


Tình huống 2: Hằng có cuốn truyện mới. Thanh mượn bạn đem về nhà xem và
hứa sẽ giữ gìn cẩn thận. Nhưng về nhà Thanh sơ ý để em bé làm rách truyện.
Theo em, Thanh nên làm gì? Vì sao?
Phương pháp thảo luận nhóm giúp cho kiến thức của học sinh sẽ giảm bớt phần
chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học. Kiến thức trở nên sâu
sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do học sinh được giao lưu, học hỏi giữa
các thành viên trong nhóm. Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên học sinh, đặc biệt
là những học sinh nhút nhát, trở nên bạo dạn hơn, các em học được cách trình bày
ý kiến của mình, biết lắng nghe có phê phán ý kiến của bạn. Từ đó giúp trẻ dễ hoà
nhập vào tập thể nhóm, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong học tập và sinh
hoạt.
Tổ chức cho các em thảo luận nhóm là phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác
của học sinh, phải có sự tham gia làm việc của các thành viên, cùng nhau giải
quyết nhiệm vụ học tập với tinh thần đồng đội cao, kết quả học tập của nhóm là kết
quả của cá nhân mình. Qua quá trình trao đổi, tranh luận bài học các em có thể nắm
bài trên lớp, sáng tạo thông qua sự tư duy của mỗi em. Ngoài ra còn kích thích các
em tìm kiếm kiến thức có liên quan đến vấn đề đang tranh luận. Từ đây các em thu
lượm những kiến thức cho chính các em.
Trong những buổi họp phụ huynh tôi thường nói với cha mẹ các em rằng: Không
nên coi nhẹ môn học nào, bởi vì mỗi môn học sẽ cho các em một kiến thức nhất
định về môi trường, xã hội, hình thành nhân cách của các em. Dần dần các em biết
tự bảo vệ mình, sống chan hoà với mọi người, biết quan tâm đến những người
xung quanh. Từ sự thay đổi của các em trong sinh hoạt, học tập, thói quen phần
nào phụ huynh sẽ hiểu ra và ý thức được việc học tập của con em mình cũng như
không coi môn Đạo đức là môn phụ.
Học sinh có học tốt môn Đạo đức ở Tiểu học thì các em mới có tiền đề để học tốt
các môn khác ở bậc cao hơn như môn Giáo dục công dân ở bậc THCS...
II.3. Giải pháp, biện pháp:
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.
Đổi mới phương pháp dạy học “Lấy người học làm trung tâm” thực sự là yêu cầu
cấp thiết, nó đã và đang là một nhiệm vụ trọng tâm ở tất cả các cơ sở giáo dục, các
cấp học, bậc học trong cả nước nói chung và đặc biệt là bậc Tiểu học nói riêng. Vì
ở cấp Tiểu học, học sinh nắm vững kiến thức khoa học sơ giản, kĩ năng sống... sẽ
là nền móng vững chắc cho các cấp học tiếp theo và là khâu quan trọng đặc biệt
đầu tiên cho việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao. Ý thức được tầm quan
trọng này, là một giáo viên Tiểu học bản thân tôi luôn trăn trở, học hỏi, tìm tòi các
phương pháp giảng dạy giúp học sinh không chỉ nắm vững được kiến thức mà còn
có kĩ năng vận dụng kiến thức ấy vào thực tế cuộc sống hàng ngày.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
* Quy trình tổ chức dạy học theo nhóm.
14


Tuỳ vào từng nội dung của từng tiết học, bài học mà giáo viên chọn các phương án
sao cho phù hợp. Trong hoạt động nhóm có ba nhân tố tác động với nhau, đó là:
Giáo viên – Học sinh – Đối tượng học tập (nội dung học tập cụ thể của từng bài
học). Trong quy trình tổ chức dạy học theo nhóm cần làm rõ mối liên hệ của ba
nhân tố này và sự vận động của chúng trong các bước dạy học. Quy trình dạy học
theo nhóm trong môn Đạo đức có thể bao gồm các bước cơ bản sau:
Bước 1: Thành lập nhóm – có thể chia nhóm như sau:
Nhóm đôi (hai em ngồi cạnh nhau thành một nhóm).
Tình bạn (học sinh chọn những bạn mình thích để ngồi với nhau).
Theo sở thích ( học sinh cùng sở thích ngồi với nhau).
Theo hành vi ứng xử (học sinh nghịch ngợm ngồi với học sinh ít nói).
Đếm theo thứ tự (học sinh lần lượt đếm số từ 1 đến 6, những em nào cùng số thì
ngồi cùng một nhóm).
Chia ngẫu nhiên ( giáo viên cho học sinh chơi trò kết bạn. Giáo viên hô kết bạn,
kết bạn – học sinh hô kết mấy, kết mấy – giáo viên hô kết 6 – 6 học sinh kết thành
một nhóm)...
Giáo viên nêu vấn đề hoặc tình huống có vấn đề - nhiệm vụ cần giải quyết, xử lý
của nhóm; học sinh là người tổ chức nhóm, tiếp nhận vấn đề, giải quyết nhiệm vụ
của nhóm ( nhận xét, phát hiện vấn đề).
Qua khảo sát, thử nghiệm các học sinh lớp 3 trong toàn trường tôi thấy số lượng
các thành viên trong nhóm chỉ từ 2 đến 6 em là đạt hiệu quả nhất. Vì nếu nhóm có
nhiều em thì dẫn tới các kĩ năng như diễn đạt, sự phối hợp với nhau, phát biểu ý
kiến, chia sẻ thông tin, quản lí sẽ khó có thể đạt được.
Bước 2: Làm việc trong nhóm để thực hiện nhiệm vụ. Ở hoạt động này, giáo viên
là người điều khiển (khích lệ học sinh làm việc, nêu câu hỏi gợi ý, điều chỉnh khi
hoạt động của học sinh chệch hướng), học sinh cùng hợp tác giải quyết vấn đề
được đưa ra ( nêu giả thuyết, tự bảo vệ giả thuyết, thảo luận, ghi chép...).
Trước khi vào thảo luận, giáo viên xác định xem học sinh trong lớp đã nắm rõ nội
dung bài tập chưa (giải thích chung nếu có nhiều em chưa hiểu, có thể giải thích
riêng nếu chỉ vài cá nhân chưa hiểu).
Giáo viên quan sát điều chỉnh chỗ ngồi, nhắc nhở, hỗ trợ khi nhóm cần. Giáo viên
không dừng lại lâu ở một nhóm nào. Đảm bảo em nào cũng được tham gia thảo
luận, được lắng nghe và tôn trọng, tránh tranh cãi căng thẳng. Tạo thêm công việc
cho cá nhân hoặc nhóm khi học sinh đã làm bài tập xong trước, trong khi chờ các
nhóm khác.
Bước 3: Báo cáo kết quả làm việc trong nhóm dưới nhiều hình thức làm việc.
Ví dụ: nhóm 1 báo cáo kết quả, nhóm khác bổ sung. Không nhất thiết nhóm nào
cũng trình bày mà chỉ trình bày ý kiến, quan điểm khác với nhóm trước.
Hoặc báo cáo kết quả bằng phiếu, trình bày trên bảng lớp để cả lớp cùng phân tích
và đi đến kết luận. Báo cáo theo hình thức sắm vai – các nhóm lần lượt báo cáo sau
15


đó giáo viên tổng kết lại. Học sinh có thể biểu diễn kết quả của nhóm mình bằng
hình tượng, đóng kịch hay hình vẽ.
Ở bước này giáo viên là người tổ chức các nhóm báo cáo kết quả, ghi lại điểm
nhất trí, điểm chưa nhất trí; tổ chức thảo luận để đi đến nhất trí chung. Học sinh cử
đại diện nhóm trình bày kết quả; bổ sung ý kiến; ghi lại các ý kiến phản hồi.
Bước 4: Tóm tắt, tổng kết vấn đề; đưa ra nhận xét đánh giá. Giáo viên đóng vai trò
trọng tài, người kiểm tra. Học sinh tự sửa sai và rút kinh nghiệm cho bản thân.
Trong quá trình hoạt động nhóm, học sinh tham gia tích cực vào quá trình học
tập, các em được học qua quá trình tiếp thu mang tính chủ quan có liên quan tới
kinh nghiệm (từ cuộc sống, từ các bài học trước...), tác động qua lại (học sinh chia
sẻ kinh nghiệm với các học sinh khác và học từ các học sinh khác), tự đánh giá
(học sinh có sự so sánh với kết luận, rút kinh nghiệm), giao tiếp (học sinh cần diễn
đạt chia sẻ những gì các em đã học và học như thế nào).
Vì vậy trong các bước cần lưu ý tới các bước 1,2 và 3 bởi đây là những bước chủ
yếu học sinh tự làm việc theo nhóm. Trong từng trường hợp cụ thể, bước 1 và 2
học sinh làm việc trong nhóm còn bước 3 là thống nhất ý kiến giữa các nhóm. Đây
cũng là bước giúp học sinh nắm được toàn bộ vấn đề sâu sắc hơn. Ở bước 4, học
sinh có điều kiện đánh giá, tự sửa sai và rút ra được những bài học, những kinh
nghiệm cho bản thân.
* Tổ chức hoạt động nhóm.
Giai đoạn 1: Trước khi dạy.
Đây là giai đoạn chuẩn bị, xây dựng kế hoạch (thiết kế nội dung dạy học theo
nhóm). Để xây dựng kế hoạch dạy học giáo viên cần phân tích bài học cụ thể và
đặc trưng người học. Như vậy, giáo viên căn cứ vào nhiệm vụ của giờ học mà thiết
kế các nhiệm vụ học tập cụ thể và các hoạt động để học sinh tiến hành giải quyết
đồng thời thiết kế các yêu cầu học tập cụ thể cho mỗi nhóm, lựa chọn các hình thức
phù hợp để kiểm tra mức độ hiểu, kĩ năng thực hành, hành vi thái độ cần hình
thành ở học sinh.
Động lực thúc đẩy là nhân tố quan trọng trong quá trình học tập của học sinh nói
chung và trong hoạt động nhóm nói riêng. Vì vậy, khi đưa ra các bài tập, nhiệm vụ
cho các học sinh thực hiện trong nhóm, giáo viên cần phải làm sao để kích thích
cho các em mà không vượt quá khả năng của chúng. Các bài tập cũng cần dựa trên
mức độ tiếp thu và nhu cầu của học sinh. Các bài tập đưa ra phải hấp dẫn, kích
thích học sinh tự tìm hiểu các ý tưởng, tự khám phá để hiểu sâu hơn.
Cũng cần chuẩn bị phương tiện, dụng cụ cho học sinh hoạt động khi tổ chức dạy
học theo nhóm như các phiếu giao việc, phiếu học tập, giấy tờ ghi chép...
Giáo viên yêu cầu các em xem bài học và chuẩn bị nội dung phát biểu. Hướng dẫn
thảo luận, phân chia thời gian hợp lí. Giải đáp thắc mắc trước khi vào bài.
Ví dụ: Dạy bài : Kính yêu Bác Hồ.
Giáo viên chuẩn bị các bài thơ, bài hát, truyện, tranh ảnh về tình cảm giữa Bác Hồ
với thiếu nhi.
16


Giai đoạn 2: Trong giờ dạy.
Tổ chức dạy học theo nhóm tạo cơ hội để học sinh có thể làm việc tích cực với
các bạn khác, chia sẻ và thảo luận công việc; tạo cơ hội cho các em suy nghĩ và
học tập ở một mức cao hơn, sâu hơn. Để đạt được điều này giáo viên thay vì nói
với học sinh những gì các em nên biết và nên nhớ thì cho học sinh tự khám phá
những tri thức cần tiếp thu qua các nhiệm vụ hoặc bài tập giao cho nhóm, khuyến
khích hỗ trợ và hướng dẫn học sinh quy nghĩ.
17


Phương pháp sư phạm tương tác khẳng định vai trò của người học là “người thợ
chính trong phương pháp học” thể hiện sự hứng thú, sự tham gia tích cực liên tục,
có trách nhiệm trong suốt quá trình học tập. Trong hoạt động nhóm, học sinh cần
phải có được ba yếu tố này. Để nhóm hoạt động có hiệu quả, cần lập kế hoạch giải
quyết nhiệm vụ được giao, xây dựng một tiến trình làm việc một cách cụ thể.
Khi tổ chức dạy học theo nhóm vẫn gặp những học sinh không tham gia hoặc tham
gia không tích cực, giáo viên tìm cách đưa em đó vào hoạt động chung của nhóm.
Nguyên nhân của hiện tượng này có thể là do nhút nhát, chán nản, thiếu kiến thức,
có thói quen bị động, năng lực ngôn ngữ hạn chế... Để khắc phục cần tạo cho các
em thói quen nói trước mọi người, tạo mối quan hệ tin tưởng vào sự ủng hộ của
bạn bè, thầy cô, khen ngợi động viên kịp thời, khen ngợi đúng năng lực sở trường
của các em.
Khi học sinh tiến hành làm việc giáo viên giám sát các nhóm, hỗ trợ, can thiệp kịp
thời để mang lại hiệu quả. Giáo viên không nên làm việc riêng trong khi học sinh
thảo luận, bao quát toàn bộ lớp học. Lắng nghe các em thảo luận trong nhóm, từ đó
giáo viên có thể phát hiện những khả năng đặc biệt của từng em.
Ví dụ: Dạy bài – Kính yêu Bác Hồ.
Giáo viên chia học sinh thành các nhóm và giao nhiệm vụ cho các nhóm quan sát
các bức ảnh mà giáo viên đã chuẩn bị, tìm hiểu nội dung và đặt tên cho từng ảnh.
Các nhóm thảo luận.
Giáo viên yêu cầu đại diện mỗi nhóm lên giới thiệu về một ảnh. Cả lớp trao đổi.
Giáo viên kết luận.

Giai đoạn 3: Sau khi dạy.
Thu nhận thông tin phản hồi từ học sinh (ý kiến phản hồi của học sinh là rất quan
trọng, giáo viên phải đánh giá được đúng, sai và kịp thời bổ sung rồi mới kết luận
18


phần tranh luận), kiểm tra đánh giá hoạt động học của học sinh, rút kinh nghiệm
cho những lần sau.
* Kiểm tra đánh giá.
Việc kiểm tra đánh giá sau một hoạt động thảo luận nhóm đó là một vấn đề hết
sức quan trọng. Nó đảm bảo tính toàn diện trong lĩnh vực thực hiện của học sinh.
Tôi đưa ra việc kiểm tra đánh giá như sau:
Đại diện nhóm trình bày kết quả.
Giáo viên hỏi: nhóm nào có ý kiến khác?
Các nhóm khác trình bày.
Giáo viên dùng cụm từ “có thế như thế này sẽ hợp lí hơn” để kết luận, rút ra nội
dung chính cần ghi nhớ của hoạt động này.
Tạo điều kiện cho học sinh được đánh giá lẫn nhau, tự đánh giá bản thân để kiểm
tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện, hành vi của học sinh.
Giáo viên đánh giá việc thực hiện của học sinh qua phiếu, qua tập thể và qua việc
giám sát của chính mình.
c. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp.
Qua nội dung và cách thức thực hiện tôi nhận thấy để đạt được kết quả như ý
muốn giáo viên cần:
Tổ chức các nhóm phù hợp, tạo ra không khí thoải mái, thân thiện và tin cậy
nhưng nghiêm túc trong nhóm, có như thế các em mới phát biểu một cách tự nhiên;
tránh hiện tượng nhóm quá ít hoặc quá đông, hiện tượng căng thẳng, giả tạo hay
đùa cợt khi thảo luận.
Học lực, khả năng của các nhóm là tương đương nhau, tạo ra sự đồng đều giữa
các nhóm; tránh hiện tượng không cân sức giữa các nhóm.
Vấn đề thảo luận phải thiết thực, gần gũi và được các em quan tâm; câu hỏi thảo
luận phải vừa sức với học sinh (nếu câu hỏi khó thì phải chia nhỏ thành những câu
hỏi nhỏ có tính gợi ý ); tránh đưa ra hành vi, tình huống xa lạ hay câu hỏi quá đơn
giản, quá khó đối với học sinh.
Cấn tạo điều kiện cho học sinh tự do bày tỏ ý kiến của mình, cần động viên kịp
thời bằng lời khen để tạo sự phấn khởi và tạo không khí thi đua lành mạnh giữa các
nhóm và giữa các em trong nhóm với nhau.
Giáo viên sắp xếp chỗ ngồi, sao cho các em tham gia thảo luận đều có thể nhìn
thấy nhau. Học sinh tham gia hoạt động phải có thái độ làm việc nghiêm túc, tích
cực. Rèn cho các em tính tự giác khi học ở nhà, khi không có giáo viên bên cạnh.
Có học ở nhà tốt thì lên lớp các em mới hiểu bài nhanh, tiết học trở nên nhẹ nhàng.
Các em có ý thức học tốt ở bậc Tiểu học thì sẽ có nền để học tốt khi lên bậc Trung
học cơ sở và Phổ thông trung học. Vì thế mới có câu “Cái tháp cao nào cũng xây từ
mặt đất”.
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp.
Giáo dục các em trong bài học, giờ học là thế nhưng để các em hình thành được
thói quen và hành vi như kiến thức đã lĩnh hội thì không thể có được trong một
19


sớm, một chiều mà phải có thời gian và sự kết hợp nhịp nhàng giữa giáo viên, học
sinh, gia đình, nhà trường và xã hội. Khi các em có hứng thú học tập thì chất lượng
dạy – học sẽ được nâng cao.
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.
Hiệu quả do thảo luận nhóm mang lại góp phần tích cực hình thành và phát triển
các phẩm chất và năng lực sau đây của học sinh:
Làm cho lớp tranh luận hào hứng, sôi nổi
Làm cho học sinh tiếp thu bài nhanh hơn
Làm cho học sinh hứng thú với môn học hơn
Phát huy tính tích cực, độc lập của học sinh
Hình thành năng lực giải quyết vấn đề
Tất cả các tác dụng trên đạt: 67.75%
Bên cạnh đó còn nâng cao năng lực tự học của học sinh, giúp học sinh có ý thức
tìm tòi, phát hiện nhằm giúp cho các em hiểu sâu hơn, nhớ lâu và vận dụng tốt bài
học vào thực tiễn. Tinh thần hợp tác nhóm của học sinh trong giờ học Đạo đức là.
Rất hứng thú hợp tác
90,32%
Hợp tác bình thường
6.67%
Ít khi hợp tác
3.01%
Không thích hợp tác
0.00%
Tôi đánh giá cao hiệu quả của phương pháp thảo luận nhóm trong môn Đạo đức
đem lại. Hiệu quả của nó không chỉ tác động đến những phẩm chất tốt đẹp vốn có
của học sinh trước yêu cầu của sự nghiệp giáo dục, mà còn tác động tới những
năng lực cơ bản của người lao động mới: năng động, sáng tạo, hợp tác...Đó chính
là những tiền đề cần thiết để đưa phương pháp dạy học này vào trong thực tiễn dạy
học ở trường Tiểu học.
II.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên
cứu.
Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong môn Đạo đức lớp 3, tôi thấy khả
năng sử dụng phương pháp thảo luận nhóm một cách thích hợp cho từng bài học là
có thể nâng cao được hiệu quả dạy học môn này. Giúp học sinh biến tri thức đạo
đức thành hoạt động thực tiễn có liên quan mật thiết với cuộc sống của trẻ ở hiện
tại và tương lai, phù hợp với chuẩn mực hành vi đã được học. Học sinh hứng thú
với công việc mà giáo viên giao cho trong mỗi tiết học, có ý thức hoàn thành công
việc được giao. Học sinh thực hiện phần công việc của mình một cách tự giác, tích
cực và có sáng tạo hơn. Tiết học trở nên “Học mà vui, vui mà học”. Giáo dục đạo
đức, nhân cách của con người rất quan trọng, như Bác Hồ đã nói “Hiền dữ đâu
phải là tính nết, phần nhiều do giáo dục mà nên”.
Kết quả học tập môn Đạo đức của lớp tôi có rất nhiều thay đổi. Kết quả là 100%
các em hoàn thành. Trong đó những em hoàn thành tốt ngày một tăng. Kết quả so
sánh như sau:
20


Kết quả của năm học 2012 - 2013
Xếp loại
Tỉ lệ %
Hoàn thành tốt (A+) 12 %
Hoàn thành
(A) 88 %
Chưa hoàn thành (B) 0

Kết quả học kì I năm học 2013 - 2014
Xếp loại
Tỉ lệ %
Hoàn thành tốt (A+) 17,24 %
Hoàn thành
(A) 82,76 %
Chưa hoàn thành (B) 0

Kết quả thực nghiệm cho thấy việc sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, trong
dạy học môn Đạo dức lớp 3 không những không cản trở, làm phương hại đến kết
quả dạy học môn Đạo đức mà còn nâng cao chất lượng dạy học môn này nói chung
và củng cố khơi sâu ý thức, thái độ đạo đức, hình thành và rèn luyện hành vi đạo
đức ở học sinh nói riêng. Kết quả cho thấy về tri thức, thái độ đạo đức của học sinh
được củng cố, nắm vững hơn, hành vi đạo đức được rèn nhiều hơn. Việc làm của
các em có nhiều thiết thực, hiệu quả hơn. Những việc làm đó có “bàn tay sư phạm”
điều khiển, định hướng.
Với kết quả trên đây đã chứng minh tính đúng đắn của giả thiết khoa học mà đề
tài đặt ra. Việc vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào quá trình dạy học tại
lớp đã có tác dụng rõ rệt trong suốt quá trình phát huy tính tích cực và góp phần
nâng cao chất lượng kết quả học tập môn Đạo đức lớp 3 ở trường Tiếu học. Qua đó
tôi có thể khẳng định tính khả thi của việc vận dụng phương pháp thảo luận nhóm
phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả học tập trong dạy học môn Đạo đức lớp 3 ở Tiểu
học.
III. Phần kết luận, kiến nghị.
III.1. Kết luận:
Qua nghiên cứu lí luận và thực tế giảng dạy, tôi rút ra kết luận như sau:
Phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh là vấn đề nhiều nhà giáo dục nghiên
cứu và tìm cách thực hiện. Các nghị quyết của Đảng về giáo dục đều nhấn mạnh
đổi mới nội dung, phương pháp dạy học theo hướng này. Để phát huy cao tính tích
cực, tự giác, tính chủ động của người học ngày càng nghiên cứu sâu về nội dung,
bản chất của dạy học. Đây là kiểu dạy học có hiệu quả cao, phát huy tính tích cực
chủ động của người học, gắn liền giữa lí luận và thực tiễn.
Phương pháp thảo luận nhóm là một phương pháp đặc biệt trong hệ phương pháp
tích cực. Qua việc nâng cao hiệu quả phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học
môn Đạo đức lớp 3 đã phát huy được tác dụng. Tuy nhiên, việc vận dụng này đòi
hỏi người giáo viên phải có năng lực, vận dụng những thuận lợi và khắc phục
những khó khăn khi tổ chức hoạt động.
Đối với giáo viên Tiểu học việc áp dụng một vài biện pháp, nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng phương pháp thảo luận nhóm phù hợp với từng tiết học. Bài học trong
chương trình môn Đạo đức lớp 3 đã đòi hỏi người giáo viên cần phải nhận thức
đúng về nó trong dạy môn Đạo đức một cách hiệu quả còn nhiều bầt cập đối với
tình hình dạy và học hiện nay. Ít nhiều giáo viên còn bị chi phối trong việc thực
21


hiện chương trình giảng dạy. Điều quan trọng hơn cả là môn Đạo đức hiện nay ở
Tiểu học chưa được coi trọng.
Kết quả qua thực nghiệm sư phạm cho thấy học sinh lớp tôi học tập theo phương
pháp hoạt động nhóm đã có sự củng cố về tri thức, thái độ, hành vi đạo đức của các
chuẩn mực hành vi đạo đức. Hơn nữa, các em được mở rộng hiểu biết về cuộc
sống xung quanh, tập vận dụng những tri thức đạo đức vào giải quyết các vấn đề
cuộc sống. Các em đã biết liên hệ bài học đạo đức với thực tiễn cuộc sống, phần
nào các em đã biết trình bày một vấn đề và xử lý các tình huống đạo đức của cuộc
sống. Chính vì lẽ đó tôi khẳng định tác dụng của thực nghiệm sư phạm có hiệu quả
về việc vận dụng một vài biện pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng phương
pháp thảo luận nhóm là có tính khả thi.
III.2. Kiến nghị:
* Về công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên:
Các trường Tiểu học cần tổ chức thường xuyên các đợt bồi dưỡng giáo viên theo
định kì, nhằm trang bị cho giáo viên những vấn đề liên quan đến việc vận dụng các
biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả của phương pháp thảo luận nhóm trong
dạy học môn Đạo đức lớp 3.
* Về công tác quản lí chỉ đạo:
Phải có sự chỉ đạo sâu sát việc dạy học của giáo viên và phải có nhận thức đúng
đắn về vị trí của việc dạy học mộn Đạo đức. Tránh tình trạng coi môn Đạo đức là
môn phụ, không cần thiết, ít đầu tư mà chỉ dạy qua loa, chiếu lệ, thậm chí còn bỏ
tiết. Khuyến khích phong trào thi đua giáo viên nghiên cứu và viết sáng kiến kinh
nghiệm dạy học trong môn Đạo đức ở Tiểu học.
Tăng cường cơ sở vật chất, nhất là phương tiện dạy học, trang thiết bị phục vụ
cho giảng dạy.
* Đối với giáo viên:
Thường xuyên tự bồi dưỡng và nâng cao trình độ sư phạm cho bản thân. Trong
đó, cần bồi dưỡng về cơ sở lí luận và thực tiễn của phương pháp thảo luận nhóm,
từ đó vận dụng vào quá trình dạy học có hiệu quả hơn.
Mạnh dạn vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào quá trình dạy học môn
Đạo đức ở Tiểu học một cách thích hợp, từng bước khắc phục khó khăn của bản
thân. Tránh tình trạng coi nhẹ môn Đạo đức dẫn đến việc dạy học chưa đạt hiệu
quả trong môn học này.
Hình thành kĩ năng thích hợp cho các em bằng các biện pháp sáng tạo, linh hoạt,
các hình thức phong phú, thích hợp để tạo cho không khí tiết học sinh động mang
tính giáo dục cao.
Sáng kiến kinh nghiệm của tôi, mặc dù đã đạt được hiệu quả nhất định trong thực
tế giảng dạy. Tuy nhiên không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Tôi rất mong sự
góp ý nhiệt tâm của các cấp lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp, để sáng kiến được áp
dụng ngày càng hiệu quả hơn.
Tôi xin cảm ơn.
22


23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×