Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp giúp giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng việt cho học sinh dân tộc thiểu số

A- PHẦN MỞ ĐẦU
I - LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cương lĩnh đầu tiên của Đảng khi mới thành lập 1930 đã đề ra chính sách
“Đoàn kết dân tộc trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng và tương trợ lẫn nhau để dành
độc lập và hạnh phúc chung cho các dân tộc”. Chính cương lĩnh của Đảng năm
1951 chi rõ: “Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đêu được bình đẳng về
quyền lợi và nghĩa vụ,… Cải thiện đời sống cho các dân tộc ít người, giúp đỡ họ
tiến bộ về mọi mặt, bảo đảm để họ tham gia chính quyền và dùng tiếng mẹ đẻ
trong việc giáo dục ở các địa phương”.
Việt Nam là một quốc gia dân tộc, đa ngôn ngữ, đa văn hóa, tức ngôn ngữ
chính thức, ngôn ngữ giáo dục, văn hóa tất cả các dân tộc, thành phần của quốc
gia. Cho nên, phổ biến rộng rãi tiếng Việt trong các dân tộc Việt Nam là hết sức
cần thiết. Sự gắn kết của cộng đồng được tạo dựng trên cơ sở sự gắn kết về văn
hóa và ngôn ngữ. Khoảng cách về ngôn ngữ và văn hóa là một ào cản lớn cho
khối đại đoàn kết các dân tộc anh em. Vì vậy thông thạo tiếng nói, chữ viết chung
là cơ sở các cá nhân trong cộng đồng gắn bó và đoàn kết chặt chẽ thành một khối
thống nhất. Xuất phát từ bối cảnh đất nước hiện nay, trên cươ sở đường lối, chủ
trương của Đảng và Nhà nước vè vấn đề ngôn ngữ dân tộc, hơn lúc nào hết dạy
tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số là vô cùng bức thiết và quan trọng.
“ Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh nắm vững các kỹ năng nói,
đọc, viết, tính toán, có những hiểu biết cần thiết về thiên nhiên, xã hội và con

người; có lòng nhân ái, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, yêu quý anh chị em; kính
trọng thầy giáo, cô giáo, lễ phép với người lớn tuổi; giúp đỡ bạn bè, các em nhỏ;
yêu lao động, có kỷ luật; có nếp sống văn hoá; có thói quen rèn luyện thân thể và
giữ gìn vệ sinh; yêu quê hương đất nước, yêu hoà bình.
Giáo dục tiểu học được thực hiện bằng tiếng Việt.
Các dân tộc thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình
cùng với Tiếng Việt để thực hiện giáo dục Tiểu học”.
( Trích điều 3,4 chương I của Luật phổ cập giáo dục Tiểu học 1991)
Ở Tiểu học, tất cả các môn học đều cần thiết nhưng môn Tiếng Việt là một
môn học rất quan trọng. Môn Tiếng Việt góp phần đắc lực thực hiện mục tiêu đào
tạo thế hệ trẻ ở bậc tiểu học theo đặc trưng môn.Việc dạy Tiếng Việt trong nhà

1


trường nhằm tạo cho học sinh năng lực sử dụng Tiếng Việt văn hóa và hiện đại để
suy nghĩ, giao tiếp. Yêu cầu môn Tiếng Việt ở Tiểu học là:
Đặc biệt với học sinh dân tộc thiểu số, việc học tiếng Việt gặp nhiều khó
khăn. Các em nói tiếng của dân tộc mình nhưng khi đi học các em phải học tiếng
Việt. Do ngôn ngữ khác nhau nên việc tiếp thu bài có nhiều hạn chế. Trong thời
gian phụ trách chuyên môn tại trường tiểu học ... điều trăn trở nhất của tôi là làm
sao giúp các em học sinh học tốt môn Tiếng việt Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài:
“ Một số biện pháp giúp giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy Tiếng Việt
cho học sinh dân tộc thiểu số”
Đề tài nhằm phản ánh một số thông tin và chất lượng dạy môn Tiếng Việt
cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường tiểu học. Phân tích những yếu tố có tính
khả thi để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt cho học sinh
dân tộc thiểu số ở trường tiểu học hiện nay.
II- MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
1-Mục tiêu của đề tài
Xác định mục tiêu và nhiệm vụ phát triển giáo dục trong giai đoạn mới về
chiến lược phát triển kinh giáo dục vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số trong
giai đoạn 2012-2020 là tập trung phát triển nhanh giáo dục chất lượng. Bởi vậy
Đề tài này tôi nhằm tìm hiểu thực trạng và một số nguyên nhân về giảng dạy
Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường tiểu học ..., huyện .... Đề xuất
các biện pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy Tiếng Việt cho học sinh dân tộc
thiểu số nhằm thực hiện nhiệm vụ của môn học Tiếng Việt ở bậc tiểu học. Việc
dạy Tiếng việt cho học sinh dân tộc thiểu số rất quan trọng hơn vì các em có học
tốt môn Tiếng Việt thì các em mới học tốt các môn học khác và học tốt các lớp
trên được.


2- Nhiệm vụ của đề tài
Để đề tài: “ Một số biện pháp giúp giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy
Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số” có hiệu quả khi áp dụng nên nhiệm vụ
của đề tài là:
- Tìm hiểu thực trạng chất lượng học Tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu
số trường tiểu học ..., huyện ....
- Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến chất lượng môn Tiếng việt còn thấp ở
trường TH ....
- Từ những kết quả nghiên cứu, phát hiện được những nguyên nhân, những
yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng môn Tiếng Việt của học sinh trường ....
2


- Đề xuất một số biện pháp, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả rèn kỹ năng
đọc và kỹ năng viết cho học sinh tiểu học ... huyện ....
III- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Là phụ trách chuyên môn của một trường Tiểu học vùng đồng bào dân tộc
thiểu số (dân tộc Ê Đê) nên tôi nghiên cứu: “ Một số biện pháp giúp giáo viên
nâng cao chất lượng giảng dạy Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số” với đối
tượng là tất cả các em học sinh từ lớp 1 đến lớp 5 và những thầy cô giáo trực tiếp
giảng dạy tại trường Tiểu học ... huyện ....
IV– GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đề tài này tôi nghiên cứu thực trạng chất lượng giảng dạy Tiếng Việt cho
học sinh dân tộc thiểu số. Những nguyên nhân dẫn dến thực trạng này. Những đề
xuất nâng cao hiệu quả chất lượng Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, cụ
thể là đồng bào dân tộc tại chỗ Ê Đê, của Trường Tiểu học ... nơi tôi đang công
tác.
V - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
* Phương pháp điều tra ( phỏng vấn): Dự giờ, phóng vấn giáo viên chủ nhiệm
nhằm tìm hiểu thực trạng dạy và học môn Tiếng Việt.
* Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Phân tích sản phẩm học tập của học sinh bằng cách kiểm tra, đánh giá học
sinh sau mỗi tiết học
* Phương pháp đọc sách và tài liệu: Đọc tài liệu về phương pháp giảng dạy
Tiếng Việt, các tập chí giáo dục tiểu học. đọc, tìm hiểu về các câu chuyện hay
đoạn văn, đoạn thơ trong chương trình Tiểu học.
* Phương pháp xử lý số liệu
Phân tích định tính và định lượng các kết quả nghiên cứu
- Ngoài ra tôi còn sử dụng các phương pháp bỗ trợ khác như: Quan sát, thực
nghiệm, trò chuyện …

PHẦN NỘI DUNG
I- CƠ SỞ LÝ LUẬN
Tiếng Viết đảm nhận vai trò rất quan trọng. Đó là vai trò của một ngôn ngữ
văn học phát triển toàn diện, được dùng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội.
Mọi văn kiện quốc gia đều bằng tiếng Việt. Nhà trường các cấp, từ phổ
thông đến bậc tiểu học đều dạy và học bằng Tiếng Việt. Tiếng Việt là công cụ
3


giao tiếp hằng ngày. Tất cả các trường tiểu học của Việt Nam đều dạy học trực
tiếp bằng tiếng Việt trong khi không phải tất cả học sinh tiểu học đều biết tiếng
Việt trước tuổi đến trường. Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ nhất đối với học sinh
người dân tộc Kinh, nhưng là ngôn ngữ thứ hai đối với học sinh dân tộc thiểu số.
* Ngôn ngữ học tập của học sinh : Học sinh đến trường và sử dụng Tiếng
Việt là ngôn ngữ học tập. Đối với học sinh Kinh, học tập bằng tiếng Việt là một
lợi hế, vì:
- Trước khi đến trường học đọc và viết, học sinh đã biết nghe – nói tiếng
Việt, đã có vốn tiếng Việt khá phong phú với khoảng 4000 từ và một số mẫu câu
cơ bản;
- Học sinh học bằng tư duy trực tiếp thông qua sự tiếp cận ngôn ngữ tự
nhiên – từ sự sử dụng ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày một cách tự phát đến việc
nắm ngôn ngữ một cách hệ thống qua các bài học, do đó học sinh có tâm lí tự tin
trong học tập;
- Bằng hiểu biết qua nghe – nói, khi học đọc và viết, học sinh có thể dễ
dàng nhận ra mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết; giữa âm thanh và ngữ nghĩa,
ngữ pháp, do đó các em có thể học đọc, học viết dễ dàng;
- Học sinh nhận được những tác động tích cực từ gia đình, cộng đồng, các
phương tiện truyền thông…
* Ngôn ngữ học tập của học sinh dân tộc thiểu số là ngôn ngữ thứ hai. Học
sinh dân tộc thiểu số đến trường, học tập bằng tiếng Việt – một ngôn ngữ mới và
học bằng tiếng Việt. So với học sinh Kinh, học sinh dân tộc thiểu số sử dụng
tiếng Việt – ngôn ngữ học tập một cách khó khăn, vì:
- Học sinh chưa biết hoặc biết rất ít tiếng Việt qua nghe – nói ở lớp mẫu giáo
và lớp chuẩn bị tiếng Việt;
- Học sinh dân tộc thiểu số học Tiếng Việt nói chung bằng tư duy gián tiếp,
thông qua sự tiếp cận áp đặt – từ việc nắm ngôn ngữ có chủ định (qua bài học)
đến việc vận dụng nó trong sinh hoạt hằng ngày; do đó học sinh thường không
thật tự tin. Điều này có thể khắc phục tốt nếu như học sinh dân tộc thiểu số được
học nghe- nói nhiều hơn trước khi vào lớp 1 và tốt hơn nữa là có một giai đoạn
học song ngữ
- Học sinh dân tộc thiểu số không hình thành ngay được mối liên hệ giữa âm
thanh và chữ viết, giữa âm thanh và ngữ nghĩa – ngữ pháp, do đó nếu không có
thêm thời gian luyện tập hoạt động trải nghiệm và thực hành các hoạt động hỗ
4


trợ, học sinh sẽ không nắm được kiến thức và kĩ năng các bài học, dẫn đến chán
học, bỏ học;
- Học sinh ít nhận được tác động từ môi trường gia đình, cộng đồng; hơn
nữa tiếng mẹ đẻ có thể còn cản trở việc học Tiếng Việt. Phương pháp dạy học
ngôn ngữ thứ nhất và thứ hai có những khác biệt. Để dạy ngôn ngữ thứ hai, cần
chú ý đến một số phương pháp như phương pháp trực tiếp (dạy bằng tiếng Việt),
phương pháp gián tiếp (dạy thông qua tiếng mẹ đẻ), phương pháp giao tiếp,
phương pháp trực quan hành động…
- Tất cả các trường tiểu học Việt Nam đều học chung một chương trình, một
bộ SGK các môn học, đều đánh giá kết quả học tập của học sinh trên một chuẩn
thống nhất về kiến thức và kĩ năng; trong khi điều kiện dạy học các vùng miền rất
khác nhau. Vì thế, ở vùng khó khăn, giáo viên và học sinh cần có những hỗ trợ
trong dạy và học để từng bước khắc phục rào cản ngôn ngữ trong học tập các
môn học tiểu học, đạt chuẩn kiến thức và kĩ năng chung.
II- THỰC TRẠNG
Trường Tiểu học ... nằm trên địa bàn buôn ... xã .... Trường nằm xa trung
tâm xã 3 km. 100% học sinh của trường là người dân tộc Ê Đê. Trình độ của đội
ngũ giáo viên không dồng đều. Có nhiều thầy cô đạt trình độ trên chuẩn nhưng
cũng có những thầy cô thuộc diện tuyển thẳng chưa đạt chuẩn nhưng nay đã lớn
tuổi nên không tham gia học các lớp đào tạo tại chức.
1- Thuận lợi – Khó khăn
Trường Tiểu học ... có những thuận lợi trong việc dạy – học Tiếng Việt như
sau:
- Trường nằm trong buôn, xa đường lớn nên yên tâm về an toàn giao thông.
Cơ sở vật chất phòng học, bàn ghế, bảng, tương đối đầy đủ.
- Đồ dùng dạy học được cấp phát, có đủ sách giáo khoa và sách giáo viên,
sách tham khảo phục vụ cho dạy và học.
- Ban giám hiệu trường chỉ đạo chặt chẽ các hoạt động dạy và học trong nhà
trường. Có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác và cùng với giáo viên tìm tòi,
giải quyết những vướng mắc trong giảng dạy, vận động và tuyên truyền được hội
phụ huynh học sinh, cùng tham gia vào công tác giáo dục thông qua hội cha mẹ
học sinh.
- Có đội ngũ giáo viên nhiệt tình tâm huyết với nghề nghiệp, yêu thương học
trò, tận tụy với công việc, luôn gần gũi với học sinh.
- Đa số học sinh đóng trên địa bàn thôn, xã, nên đi học khá thuận lợi.
5


Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi vẫn còn một số khó khăn sau:
- Tổng số học sinh toàn trường là : 256 em, trong đó 100% là học sinh dân
tộc thiểu số.
- Một số ít giáo viên do tuổi cao chưa đạt chuẩn, nên việc tiếp cận cái mới
vào giảng là một quá trình khó khăn.
- Giáo viên quê quán khác nhau, dân tộc khác nhau (Tày, Ê Đê, Kinh ) do
ảnh hưởng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình nên thường có những nhầm lẫn, sai
sót của dân tộc đó. Nhiều giáo viên là người dân tộc tại chỗ nên thường sử dụng
tiếng Ê ê để dạy những phần khó, từ khó dẫn đến các em càng ỉ lại, có gì không
hiểu các em lại hỏi thầy cô bằng tiếng ÊĐê.
2- Thành công– hạn chế
- Ngay từ đầu năm học giáo viên được học tập quy chế về chuyên môn,
thảo luận kỹ về thiết kế bài dạy, chấm điểm, đánh giá xếp loại học sinh theo
thông tư 32.
- Trường Tiểu học ... tổ chức dạy học 8 buổi trên tuần ( tăng buổi) cho học
sinh mà không thu tiền của học sinh để động viên con em đồng bào dân tộc theo
học đầy đủ.
- Được sinh hoạt chuyên đề, sau đó cùng thảo luận rút kinh nghiệm, phát
huy ưu điểm, khắc phục tồn tại. Thông qua việc sinh hoạt động chuyên đề, giáo
viên cùng tháo gỡ được những khó khăn của bản thân về nội dung phương pháp
giảng dạy, đồng thời được học tập đồng nghiệp, vận dụng vào các bài dạy của
mình.
- Giáo viên thường xuyên dự giờ thăm lớp vào các buổi chiều để học hỏi
kinh nghiệm lẫn nhau.
Bên cạnh vẫn còn một số hạn chế sau:
- Một số giáo viên hạn chế về hiểu biết tiếng nói, tâm sinh lý học sinh và
văn hóa, phong tục tập quán của đồng bào địa phương.
- Chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và học sinh dân tộc
chưa được đồng bộ, chưa thu hút. Cụ thể xã ... là vùng dân tộc 100%, nhiều hộ
nghèo nhưng suốt từ năm 1993 đến nay cán bộ giáo viên vẫn phải khu vực 0,3
trong lúc đó ở các trường thuộc địa bàn thị trấn lại được hưởng khu vực 0,4.
Về cha mẹ học sinh: Do trình độ dân trí còn thấp, đời sống kinh tế còn khó
khăn, nặng về tập tục của dân tộc nên chưa quan tâm đến việc học của con em.

6


Học sinh còn ngại khi hỏi thầy cô, khi chưa hiểu bài các em không dám hỏi
thầy cô, về nhà cha mẹ lại không bày vẽ thêm được nên các em càng bị hỗng
kiến thức thêm.
3. Mặt mạnh – mặt yếu
Được Phòng gáo dục quan tâm như giáo viên đã được tập huấn và giảng của
chương trình PEDC đó là cơ sở ban đầu để giáo viên giảng dạy tăng cường Tiếng
việt cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn và học sinh dân tộc. Đồng thời năm học
2013 – 2014 toàn Ngành giáo dục được được tập huấn các MoDul cho giáo viên
để tiếp tục giảng dạy tăng cường Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số.
Học sinh đã được tiếp cận tăng cường Tiếng việt ngay từ khi ở lớp mẫu
giáo, và lớp 1 của chương trình PEDC của những năm trước, và đã tạo cơ hội cho
các em những bước hiểu biết ban đầu, tiếp năm học này Bộ GD&ĐT tổ chức đại
trà tăng cường Tiếng việt cho tất cả học sinh dân tộc thiểu số ở các khối từ lớp 1
đến lớp 5 các em không còn bỡ ngỡ.
Các em đều rất ngoan ngoãn, biết nghe lời thầy cô. Các em đều thật thà,
chất phác, trung thực nghĩ sao nói vậy. Các em rất yêu quý thầy cô giáo luôn cố
gắng làm theo lời thầy cô dạy bảo. Thể lực các em rất tốt, yêu lao động và lao
động giỏi. Các em có lối sống không bị gò bó, khuôn mẫu mà các em sống tự do
phóng khoáng.
Tuy nhiên vẫn có mặt yếu như đa số học sinh là con gia đình không đủ điều
kiện cho con em học tập, phụ huynh ít quan tâm đến việc học tập của con em
mình nên không có sự chuẩn bị đầy đủ về sách vở, đồ dung học tập cho học sinh
khi đến lớp.
- Nội dung chương trình, sách giáo khoa chưa thật phù với đặc điểm nhận
thức và điều kiện học tập của học sinh dân tộc.
- Đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng được mục tiêu nâng cao chất lượng giáo
dục cho học sinh dân tộc.
- Học sinh dân tộc thiểu số có tính tự ái cao vì vậy giáo viên không được
phê bình nặng lời làm tổn thương các em, các em sẽ bỏ học.
4 -Các nguyên nhân các yếu tố tác động
Học sinh dân tộc thiểu số do không giao tiếp với nhau bằng tiếng Việt nên có
những hạn chế trong việc nắm bắt kiến thức mà giáo viên truyền thụ; việc chuyển
đổi sang môi trường nói Tiếng Việt và đồng thời là học tập bằng tiếng Việt làm
học sinh dân tộc gặp khó khăn trong việc nghe giảng, nhà trường cần nắm bắt kịp
7


thời để có kế hoạch cụ thể để giúp học sinh hiểu bài, hoàn thành chương trình
tiểu học.
Học sinh tiểu học chưa có điều kiện tiếp xúc với môi trường, xã hội rộng, sự
giao lưu ngôn ngữ của các em còn hạn chế bởi phạm vi nhỏ ( ảnh hưởng của gia
đình, hàng xóm). Ở nhà các em chỉ nói bằng tiếng mẹ đê nên khi đến lớp các em
không nghe - hiểu hết các từ giáo viên nói ra, hoặc hiểu sai ý của giáo viên thành
ra hiệu quả tiết dạy không đạt yêu cầu.
Vốn từ của các em còn quá nghèo nàn, vì thế khi giáo viên sa vào nói nhiều
cũng làm học sinh không hiểu được, thành ra các em không chú ý đến bài giảng
của giáo viên. Học sinh chưa cảm thụ được nội dung mình đọc, nội dung mình
viết do không hiểu biết đầy đủ các quy tắc chính tả.
- Học sinh là dân tộc Êđê học Tiếng Việt khó khăn hơn rất nhiều so với học
sinh dân tộc khác (từ phát âm, diễn đạt đến viết chữ, bài…) một phần do ở gia
đình hầu như người Êđê không dùng ngôn ngữ phổ thông mà họ giao tiếp theo
tiếng dân tộc mình. Học sinh chỉ nói tiếng phổ thông khi đến trường hoặc mua
bán ngoài chợ. Việc các em đọc không có thanh điệu, viết không có dấu là
chuyện bình thường và rất khó sửa.
Học sinh còn ít luyện đọc, luyện viết ở nhà, về nhà các em thường phải làm
việc giúp đỡ bố mẹ chứ không có điều kiện để học.
Nguyên nhân quan trọng là do giáo viên chưa gần gũi để hiểu được tâm lí
của học sinh thành ra không kịp thời giúp đỡ được các em khi các em chán học
hay gặp phải những khó khăn khác.
Về phía phụ huynh chưa thật sự quan tâm đến việc học ở nhà của con em,
giao phó cho giáo viên giảng dạy. Chưa tạo điều kiện tốt cho con em học tập.
Nhiều bậc phụ huynh cũng chỉ mới học xong cấp Tiểu học nên thiếu hiểu biết về
việc học của con em mình.
Đặc biêt do ảnh hưởng của thói quen phát âm của vùng dân cư, do chưa
được tổ chức luyện đọc, luyện viết bằng phương pháp tốt nên đa số học sinh dân
tộc đọc sai dấu dẫn đến viết sai chính tả và không hiểu được đúng nội dung đoạn
mình đọc.
5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trang mà đề tài đã đặt ra.
Từ thực trạng trên tôi phân tích, đánh giá như sau:
a, Những khó khăn của học sinh dân tộc thiểu số khi học tiếng Việt:
+ Học sinh mới vào lớp 1 không hiểu nhiều ngôn ngữ của giáo viên. Sách
giáo khoa có một số tranh ảnh minh họa học sinh còn thấy lạ, vì vậy học sinh khó
8


tiếp thu tốt nội dung bài. Chương trình, sách giáo khoa thiết kế dựa trên nền tảng
ngôn ngữ tiếng Việt. Học sinh dân tộc thiểu số phải thực hiện cùng một lúc: Học
một ngôn ngữ mới (tiếng Việt), học cách đọc và viết bằng tiếng Việt, học các khái
niệm mới/ kiến thức mới bằng tiếng Việt mà các em chưa hiểu.
+ Học sinh học sinh dân tộc thiểu số khi sinh hoạt ở nhà sử dụng ngôn ngữ mẹ
đẻ rất tự nhiên, ngại sử dụng tiếng Việt. Vốn kiến thức tiếng Việt nghèo nàn nên
các em rất ngại phải giao tiếp, không muốn phát biểu xây dựng bài. Học sinh
người Kinh đã có vốn tiếng Việt đủ để tìm hiểu thế giới xung quanh, các em được
học và sử dụng tiếng Việt trong khoảng 5 năm trước khi tới trường. Còn học sinh
dân tộc thiểu số trước khi đi học các em mới chỉ nắm vững tiếng mẹ đẻ, học tiếng
Việt trên cơ sở kinh nghiệm của tiếng mẹ đẻ. Học sinh người Kinh có nhiều cơ
hội giao tiếp với người lớn ở mọi lúc, mọi nơi, trong và ngoài nhà trường, lĩnh
vực được tiếp cận khi đối thoại rất đa dạng và phong phú. học sinh dân tộc thiểu
số chỉ giao tiếp tiếng Việt duy nhất với thầy, cô giáo qua môi trường lớp học, học
sinh trong lớp thì đông mà lại chỉ có một giáo viên nên cơ hội giao tiếp bằng
tiếng Việt giữa học sinh và giáo viên rất hạn chế. Mặt khác trường tôi 100% học
sinh là con em đồng bào dân tộc nên cơ hội giao luuw tiếng Việt với bạn bè gần
như không có.
b, Những khó khăn của giáo viên người kinh khi dạy học sinh dân tộc thiểu
số học tiếng Việt:
+ Giáo viên (là người kinh) không hiểu ngôn ngữ của học sinh, không hiểu
các phong tục tập quán của học sinh. Đa số giáo viên người Kinh đều không biết
ngôn ngữ dân tộc, nên họ không thể so sánh, đối chiếu, liên hệ khi gặp những
tình huống cần thiết trong dạy học tiếng Việt. Giáo viên chưa thật sự hiểu học
sinh và có biện pháp hổ trợ phù hợp, cách dạy môn Tiếng Việt của giáo viên đứng
lớp chưa đáp ứng nhu cầu, sở thích của học sinh, chưa phát huy được điểm mạnh
của các em.
+ Giáo viên chỉ quan tâm rèn cho học sinh đọc và viết chứ chưa cố gắng
dạy đầy đủ mọi yêu cầu của môn tiếng Việt. Giáo viên cũng chưa thật sự quan
tâm yêu cầu về chương trình đề ra cho từng khối lớp. Khá nhiều giáo viên còn
chưa sử dụng đồ dùng dạy học được cấp về để dạy mà chỉ dạy chay. Theo một xu
hướng tự nhiên, những thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ được học sinh dân tộc
thiểu số đưa vào trong quá trình học tiếng Việt. gây khó khăn cho giáo viên khi
dạy học sinh dân tộc thiểu số khi học tiếng Việt.
9


c, Những khó khăn của giáo viên người dân tộc thiểu số khi dạy học sinh dân
tộc thiểu số học tiếng Việt:
+ Trường tôi nhiều giáo viên là người dân tộc tại chỗ ( Ê Đê), tuy có thuận
lợi về mặt ngôn ngữ giao tiếp nhưng cũng có nhiều khó khăn cho cả giáo viên và
học sinh. Do thói quen nên giáo viên thường dùng tiếng mẹ đẻ để giảng giải
những vấn đề tương đối khó, làm cho học sinh càng nghèo vốn Tiếng Việt hơn.
Hay khi đọc, viết chính tả giáo viên vẫn thường phát âm không thật chuẩn dẫn
đến học sinh đã sai lại càng sai thêm.
+ Những giáo viên là người dân tộc khác như: Tày, nùng… khi dạy Tiếng
Việt cho học sinh dân tộc Ê Đê lại càng khó khăn hơn cho cả giáo viên và học
sinh. Vì vậy chất lượng môn Tiếng Việt của các trường đông học sinh dân tộc
thiểu số thường thấp hơn nhiều so với các trường khác.
III - GIẢI PHÁP – BIỆN PHÁP
1- Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
Căn cứ vào mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm:
“ Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe,
nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa
tuổi. Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của
tư duy.
Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những
hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt
Nam và nước ngoài.
Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong
sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.”
(Mục tiêu môn Tiếng Việt ở trường tiểu học)
Tiếng Việt của chúng ta giàu và đẹp, thể hiện trong lời ăn, tiếng nói hằng
ngày, qua sách vở và qua cả bài viết của các em. Trách nhiệm của giáo viên là
góp phần giữ cho tiếng Việt luôn giữ được vẻ đẹp đó, dẫn dắt học sinh tình yêu,
sự gắn bó tự hào về tiếng Việt, hướng dẫn các em biết sử dụng ngôn ngữ dân tộc
một cách thành thục, chuẩn xác, khéo léo, giữ cho tiếng Việt luôn trong sáng.
Từ thực trạng việc dạy và học Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, từ
mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học, tôi đưa ra mục tiêu của các giải
pháp, biện pháp như sau:
10


Các giải pháp, biện pháp phải cụ thể rõ ràng, dễ hiểu, có hệ thống. Đưa ra
những giải pháp phù hợp với giáo viên và học sinh trường ... nói riêng và các
trường Tiểu học nói chung. Tìm được biện pháp tốt trong giảng dạy của giáo viên
và học tập của học sinh để thực hiện các giải pháp nhằm đưa chất lượng môn
Tiếng Việt ở các trường đông học sinh dân tộc thiểu số ngày càng cao. Nâng cao
chất lượng môn Tiếng Việt của học sinh trường tiểu học ... huyện ... tăng dần
theo kịp với các trường khác trong huyện. Đảm bảo thực hiện đúng yêu cầu, mục
tiêu môn học. Đáp ứng được nhu cầu học môn Tiếng Việt của học sinh dân tộc
thiểu số.
2- Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Việc học môn tiêng Việt của mỗi học sinh là rất quan trọng. Thông thường
học sinh rất thích học môn này vì qua môn học các em được hiểu biết then về
cuộc sống xung quanh. Nhưng thực tế trường tiểu học ... là một trường học sinh
dân tộc thiểu số đang theo học, nên các em không hào hứng với môn tiếng Việt
do bất đồng ngôn ngữ. Dân tộc Ê Đê cũng như các dân tộc khác đều có ngôn ngữ
riêng để sử dụng trong giao tiếp. Do đó việc dạy cho học sinh học dân tộc tiếng
Việt là một vấn đề rất khó. Thông qua các tiết học tiếng Việt giúp học sinh có thể
nghe hiểu một số câu, từ ngữ để giao tiếp với giáo viên, bạn bè, học sinh có tâm
thế sẵn sàng đi học, học các môn học và thực hiện các hoạt động giáo dục. Học
sinh có thể học tập các môn học bằng tiếng Việt hiệu quả, đạt được yêu cầu của
chuẩn kiến thức, kĩ năng chung cho toàn quốc ở các môn học tiểu học. Giúp học
sinh tiếp cận với kiến thức và kĩ năng các môn học thông qua kinh nghiệm mà
các em tích lũy được trước đó theo mức độ từ dễ đến khó; Coi trọng hoạt động
hợp tác giữa học sinh với học sinh, giữa giáo viên với học sinh; Chú ý đến học
sinh, đến cuộc sống và môi trường học tập của các em, tạo điều kiện để học sinh
được học tập theo đặc điểm cá nhân; Thực hiện các phương pháp dạy học khác
nhau, các cách học tập khác nhau; lôi cuốn học sinh tham gia tích cực vào các
hoạt động học tập; sử dụng đồ dùng học tập đa dạng; Tập trung vào sự phát triển
của học sinh vào việc học sinh biểu hiện kết quả học tập như là một phần của quá
trình học tập; coi đánh giá kết quả học tập là nguồn thông tin hữu ích để phản hồi
lại cho việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh; công nhận thành công
trong học tập của học sinh hơn là nhấn mạnh sự thất bại.
Sau đây là nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
a, Giải pháp:
*Với Phân môn học vần ( lớp 1)
11


Với học sinh dân tộc thiểu số thì dạy phát âm là rất quan trọng, phát âm
đúng thì những đọc tiếng, từ, câu , đọc và viết chính tả ở các lớp về sau sẽ dễ
dàng hơn. Nếu các em phát âm không tốt sẽ ảnh hưởng tới đọc, viết; ảnh hưởng
tới chất lượng các môn học khác. Giáo viên là người có vai trò quan trọng trong
dạy âm vần tiếng Việt của các em . Giáo viên cần việc học sinh dân tộc thiểu số
phát âm không đúng là do: Khả năng nhận biết âm thanh ngôn ngữ của học sinh
hạn chế, đặc biệt là những âm, vần, tiếng, từ đọc gần giống nhau. Các em thường
đọc thiếu dấu.
Giáo viên cần phát âm rõ và chuẩn vì học sinh chỉ có thể phát âm lại được khi nó
nghe được một cách chính xác, rõ ràng. Nếu không nghe tốt, học sinh không thể
nhận diện được âm, tiếng, từ, câu để phát âm lại. Tăng cường bài tập luyện âm
những lớp đầu cấp tiểu học.
Tổ chức những trò chơi vận động, khởi động đầu giờ, giữa giờ, trò chơi học
tập .. rèn kĩ năng nghe, hiểu, xử lí thông tin nhanh cho học sinh.
Ví dụ
Học sinh phân biệt các từ có âm vần giống nhau:
Co, cò, có, cọ....
Nghe và nhận diện hai âm, vần gần nhau:
Cái mũ / cái tủ
Nghe và nhận biết các vần có trong tiếng, từ...
lê, xoan, quê, danh, minh
Nghe và ghép đúng các mảnh thẻ từ được cắt rời thành tiếng, từ...
Học sinh chọn thẻ từ đúng ghép thành từ ghép: bình minh

bình minh
ninh

bình

+

min
h
Bềnh
12

mìn
h

?

xinh


Phương pháp rèn luyện học sinh dân tộc thiểu số phát âm
Giáo viên cần phát âm mẫu thật chậm và làm đi làm lại nhiều lần để học
sinh quan sát Hướng dẫn học sinh : cách uốn lưỡi, độ mở của miệng, môi, độ
mạnh của luồng hơi.... Giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại. Chú ý theo dõi
học sinh phát âm và sửa lỗi phát âm cho học sinh; Học sinh trực tiếp quan sát,
nghe và bắt chước cách phát âm của giáo viên.
Phương pháp tổ chức trò chơi học tập
Biện pháp tác động vào phương pháp dạy học. Trò chơi học tập là hình
thức tạo hứng thú cho học tập cho học sinh. Có rất nhiều phương pháp dạy học có
thể kích thích tính cực hoạt động của học sinh. Trong đề tài này tôi xin phép được
trình bày phương pháp trò chơi học tập – phương pháp đặc trưng có ý nghĩa tác
động trực tiếp nhất đến việc hình thành nên hứng thú học tập môn Tiếng Việt của
học sinh.
Trò chơi “động não” – nói đúng đáp tài
Mục đích: - Thi tìm từ chứa tiếng có âm/ vần mới học hoặc ôn tập.
- Luyện phản xạ nhaanh khi tìm từ
- Cách chơi: giáo viên cử đại diện một em lên bốc thăm vần.
- Học sinh chia làm hai nhóm: nhóm 1 nói một từ có vần đã cho. Ngay sau
đó, nhóm 2 phải nói được một từ cũng có vần đó. Cứ thế hai nhóm thi đua nói,
nhóm nào không nói tiếp được hoặc nói trùng với từ đã nói thì thua cuộc.
(Để đảm bảo các đáp án học sinh đưa ra không trùng thì giáo viên có thể
viết nhanh lên bảng các từ học sinh đã nói.)
Ví dụ: Thi tìm từ ngữ chứa tiếng có vần “ai”
Nhóm 1: bài tập  nhóm 2: làng chài
Nhóm 1: cái tai

 nhóm 2: chơi bài

Nhóm 1: bao tải  nhóm 2: mảnh vải
Cứ như thế hai đội phải đối đáp với nhau cho đến khi nào một đội không
tìm ra đươc đáp án (thời gian đếm từ 1 đến 5).
Trò chơi “Vần gì đã biến mất”
Giáo viên chuẩn bị sẵn các thẻ gắn các mẫu vần/ tiếng lên bảng:
HS quan sát trong 5 giây – khoảng 5 vần/tiếng.
Ví dụ:
oang
oat
oăt
anh
oanh
13


Sau đó giáo viên gỡ các thẻ từ này xuống và lại gắn tiếp lên, nhưng xóa đi
một hoặc hai vần. Nhiệm vụ của học sinh là nói tên vần đã biến mất.
Trò chơi: “Ai tinh mắt”
Mục đích: Củng cố biểu tượng các vần đã học. Lưu ý: các vần cần tìm có
hai chữ cái mà sau khi đổi ngược vị trí các con chữ ta lại có được một vần
mới.
Cách chơi: Giáo viên nêu yêu cầu trò chơi: Tìm các cặp vần có sự khác
nhau ở vụ trí các con chữ. Có thể tổ chức cho cả lớp tham gia. Học sinh nào
tìm được một cặp vần đúng với yêu cầu sẽ được thưởng một món quà.
Ví dụ:
ia – ai
ua – au
ui – iu
eo – oe
ao – oa
Sau đó, tùy trình độ học sinh, có thể yêu cầu thêm nhiệm vụ: Tìm từ chứa
tiếng có vần vừa tìm được.
Ví dụ: cây mía – hoa mai, cà chua – rau dền, mùi thơm – tiu nghỉu,
chèo đò – đỏ hoe, chào mào – hoa quả,...
Trò chơi “Ai nhanh hơn” – “Thử tài biến hóa”
Mục đích: Giúp học sinh củng cố các vần đã học, đặc biệt là những vần
được ghép lại từ những con chữ giống nhau.
Cách chơi: Học sinh có nhiệm vụ xếp các chữ cái thành các vần đã học.
Đội nào trong thời gian ngắn nhất tìm được nhiều vần nhất và đúng nhất là đội
thắng cuộc.
Ví dụ: Cho các con chữ i, ê, u, ư, ơ, y,  Vần cần tìm: iu, êu, iêu, yêu,
iu, uê, ưu, ươu
Hoặc cho các mẫu chữ rời như sau:

I

Ô
Ê

M
Ơ
Y
U

Ư

14


GV chuẩn bị các thẻ chữ như trên, GV có thể tổ chức chơi theo hai nhóm hoặc
theo từng cặp học sinh. Hai nhóm hoặc hai học sinh lần lượt chơi bằng cách dịch
chuyển các tấm bìa sao cho ghép lại thành tiếng có nghĩa, sau đó đọc to tiếng ấy
rồi viết ra giấy của mình, nhóm kia tiếp tục tìm tiếng khác rồi đọc to và viết ra
giấy của mình tiếng có nghĩa tìm được. Cứ như vậy cho đến khi nhóm nào không
tìm tiếp được thì dừng lại. Nhóm thắng cuộc sẽ là nhóm tìm được đúng và nhiều
nhất các tiếng có nghĩa.
- Với phân môn Tập làm văn
Trong chương trình Tiếng việt ở cấp Tiểu học, Tập làm văn là phân môn
nhằm rèn luyện cho học sinh cả bốn kĩ năng nghe- nói- đọc- viết tiếng Việt.
Khi dạy Tập Làm Văn giáo viên cần hiểu rõ sự kết hợp giữa các phân môn trong
môn Tiếng Việt như: Tập đọc, chính tả, luyện từ và câu, tập viết. Giáo viên tạo
cho học sinh nhiều cơ hội thực hành. Cần hướng cho các em cách chọn lựa, sử
dụng từ ngữ, hình ảnh diễn đạt dễ hiểu, sinh động đảm bảo đạt hiệu quả cao.
+ Tổ chức các hình thức dạy học như: Học sinh thảo luận nhóm, đóng các
hoạt cảnh, vận dụng các trò chơi trong tiết học. Học sinh được“học mà chơi, chơi
mà học” nên dễ dàng lĩnh hội kiến thức, tích cực, tự giác trong học tập. học sinh
mạnh dạn, tự tin khi nói. Các em dần có khả năng diễn đạt, phát biểu ý kiến, đánh
giá trước đông người một cách lưu loát. Dạy tập làm văn đối với học sinh dân tộc
thiểu số là rất khó nhưng dưới sự chỉ đạo kịp thời, đúng dắn của tôi và sự nổ lực
hết mình của giáo viên nên những giờ học Tập làm văn đã có hiệu quả tốt.

Học sinh đang thảo luận nhóm.
Giáo viên hướng dẫn học sinh
- Với phân môn luyện từ và câu
Tôi trăn trở nhiều khi chỉ đạo giáo viên sao cho dạy phân môn luyện từ và
câu cho học sinh dân tộc thiểu số hiểu bài, dạy phương pháp nào để tránh sự
15


nhàm chán cho học sinh. Hình thức nào để có thể thu hút sự chú ý của tất cả học
sinh trong lớp? Tôi cùng với Hiệu trưởng và các tổ chuyên môn bàn bạc tìm ra
phương pháp, biện pháp giảng dạy phù hợp với học sinh trường mình.
Chúng tôi mạnh dạn thiết kế thêm các trò chơi để cho học sinh hứng thú học
tập Khi dạy Luyện từ và câu giáo viên thiết kế sẵn các trò chơi, học sinh được
“học mà vui, vui mà học” sẽ giúp học sinh tập trung vào bài, hứng thú với bài học
nhờ vậy kết quả học tập sẽ tăng cao.
Trò chơi: chiếc nón kì diệu
Giáo viên quay vòng tròn, mũi tên chỉ vào yêu cầu nào học sinh nêu tên
đúng theo yêu cầu của ô đó. Đại diện các nhóm sẽ lên quay vòng và nêu các từ,
nhóm nào nêu được nhiều từ đúng thì thắng.
Ví dụ: Từ chỉ người: ông cha
Từ chỉ vậy : sông
Từ chỉ hiện tượng : mưa
Từ chỉ khái niệm : cuộc sống

KỸ NĂNG
PHÁT
ÂM,
ĐÁNH VẦNTừ chỉ vật
Từ chỉ
người

từ chỉ hiện tượng

Từ chỉ
khái niệm

Giáo viên tổ chức trò chơi ghép từ, giáo viên đưa các thẻ từ cho học sinh ghép
hoặc nối để tạo thành câu kể : Ai làm gì?

16


Đàn cò trắng

kể chuyện cổ tích

Bà em

Giúp dân gặt lúa

Bộ đội

Bay lượn trên cánh
đồng

* Với phân môn Tập đọc
Tôi trực tiếp dự giờ lớp 2A, 2B, 3A, 3B, 4A, 4B, 5A, 5B Nhìn chung tốc độ đọc
của một số học sinh còn yếu . Các em còn phải vừa đánh vần vừa đọc. Tốc độ
đọc chậm, sai và sót chữ rất nhiều. và lỗi sai nhiều nhất là đọc không có dấu. Tôi
đã tiến hành điều tra một số giáo viên giảng dạy các lớp 2A, 2B, 3A, 3B, 4A, 4B,
5A, 5B tất cả giáo viên cho rằng: trình độ đọc của học sinh là chậm, sai nhiều.
Học sinh đọc sót từ hoặc thêm từ, đọc sai dấu hỏi, ngã, đọc sai âm đầu như tr/ch,
vần iêt / iêc, uôn/ uông…Đa số học đọc bỏ dấu. Các em chưa trả lời được đầy đủ
các câu hỏi trong bài đọc, do đó các em không nắm được ý chính của bài nên các
em thường không thích học đọc.
Tôi trực tiếp chỉ đạo giáo viên chú ý kèm cặp từng học sinh, đảm bảo cho tất
cả các em đều đọc lưu loát, đúng tốc độ quy định. Qua dự giờ tôi góp ý cụ thể về
phương pháp và hình thức dạy đọc cho giáo viên. Đảm bảo cho học sinh đọc từ,
câu, đoạn, và cả bài. Các em đọc phân vai và có thể tập đóng đoạn kịch ngắn để
các em hứng thú hơn với phân môn tập đọc. Từ đó học sinh các lớp đọc tiến bộ rõ
rệt. Chất lượng môn Tiếng việt ngày càng tăng. Qua cuộc thi: Giao lưu Tiếng
Việt. Học sinh trường tôi thể hiện màn tự giới thiệu được ban giám khảo khen
ngợi. Các em không những nói hay mà còn tự tin trước đông người.
*với phân môn chính tả
Tôi trực tiếp dự giờ viết chính tả lớp 2A, 2B, 3A, 3B, 4A, 4B, 5A, 5B, 5C
và trò chuyện với những giáo viên chủ nhiệm lớp. Chúng tôi nhận xét tình hình
viết chính tả ở học sinh: Quá nhiều lỗi chính tả trong bài viết. Lỗi nhiều nhất là
sai dấu, thiếu dấu.
17


Chúng tôi cùng bàn bạc, nghiên cứu tìm những biện pháp phù hợp với đặc
trưng môn học và lựa chọn biện pháp phù hợp với từng bài dạy. Sử dụng đồ dùng
trực quan đúng lúc. Ngoài thiết bị dạy học cấp phát, tùy theo từng bài dạy giáo
viên có thể làm thêm một số đồ dùng khác để phục vụ tiết dạy như củng cố bài
học bằng các trò chơi…
- Đối với học sinh dân tộc thiểu số việc dạy học nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho học sinh đạt chuẩn kiến thức kĩ năng. Việc dạy viết cho các em là vô cùng
quan trọng. Viết đúng thì các em mới thấy được nội dung của bài viết.
- Trong quá trình dạy chính tả, giáo viên thương xuyên dẫn dắt học sinh
chiếm lĩnh các qui tắc chính tả và ghi nhớ để áp dụng vào việc viết chính tả.
Chính giáo viên cần phải nắm vững các quy tắc chính tả thì dạy cho học sinh mới
hiệu quả. Giáo viên cần quan tâm tới việc rèn cho học sinh viết đúng chính tả,
viết đẹp, viết đúng quy trình liền mạch.
Trước khi viết bài giáo viên cho học sinh viết bảng con các chữ thường viết
sai và chữ khó, giáo viên cùng với học sinh nhận xét sữa sai, học sinh đọc lại các
chữ đó. Chú ý các chữ viết hoa trong bài.
Bài tập chính tả là một phần quan trọng cung cấp cho học sinh vấn đề viết
đúng lỗi chính tả, tùy theo lỗi sai sót của học sinh trong bài viết giáo viên chọn
bài tập cho học sinh thực hành, bài còn lại cho các em làm ở nhà.
b, Biện pháp
Có các giải pháp để giúp việc dạy và học tốt hơn càng cần có biện pháp để
thực hiện các biện pháp dó. Viết đúng từ: chính tả được hiểu là phép viết đúng:
đúng quy định và truyền thống chữ viết của mỗi dân tộc
Nắm vững cấu tạo từ tiếng Việt: từ đơn, láy, ghép

TỪ
GẦN ÂM

- Chú tâm: tập trung tâm trí vào việc gì
- Chủ tâm: định bùng, cố ý
- Dày dạn: từng trải, quen gian khổ
- Dày dặn: dày, chắc chắn (trái với mỏng)
- Thoi thóp: hơi thỏ rất yếu khi sắp chết
- Thoi thót: lác đác từng con một vút qua như thoi đưa
- Be bét: nát, hư hỏng, sai nhiều
- Bê bết: lấm láp, dính nhiều vết bùn

Giáo cụ nhìn (giáo cụ trực quan). Giáo cụ nghe (audio). Giáo cụ nghe - nhìn
(video). Phối hợp các loại giáo cụ.
18


Ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các phần mềm dạy tiếng Việt
Tất cả giáo viên trường đều có thể sử dụng máy vi tính. Mỗi tiết dạy có
sử dụng đèn chiếu đều đem lại hiệu quả cao. Tuy nhiên do trường chưa có máy
chiếu nên mỗi lần giáo viên dạy tôi phải liên hệ mượn trường khác rất khó khăn.
Được sự chỉ đạo kịp thời của Phòng Giáo dục, dựa vào thế mạnh của trường có
giáo viên người Ê Đê giỏi về nói và viết tiếng Ê Đê nên trường tôi có mở lớp
tiếng Ê Đê cho học sinh. Nhờ vậy đảm bảo cho các em không quên tiếng mẹ đẻ
nhưng cũng biết thêm nhiều tiếng Việt hơn.
Cần thiết nhất là phải quản lí việc dạy của giáo viên. Mặc dù đã có phương
pháp dạy tốt nhưng giáo viên không nhiệt tình thì không đạt được kết quả như ý
muốn. Giáo viên phải thực hiện đúng chương trình, soạn giảng đầy đủ, ngày công
giờ công đảm bảo. chấm chữa bài thường xuyên cho học sinh.
Giáo viên phải quản lí việc học của học sinh, tổ chức các hoạt động học
tập cho học sinh và kiểm tra đánh giá đúng thông tư 32 quy định.
3. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
Điều kiên để thực hiện các giải pháp, biện pháp trên là:
Ban giám hiệu nhà trường phảu quan tâm, tạo mọi điều kiên cho giáo viên
dạy tốt. Chuyên môn phải bám sát chương trình học đễ kịp yhowif tháo gỡ những
vướng mắc phát sinh trong cả năm học. giáo viên phải nắm vững nội dung
chương trình môn Tiếng Việt lớp mình giảng dạy. Nắm vững nội dung yêu cầu
từng tiết học để chọn phương pháp giảng dạy và chuẩn bị bài (hệ thống câu hỏi)
đầy đủ, chuẩn bị đồ dùng trực quan phục vụ cho bài dạy. Giáo viên cần nắm vững
đối tượng của lớp, khi dạy phải chú ý đối tượng học sinh yếu. Bản thân là một
phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, tôi luôn luôn mẫu mực trong mọi hoàn
cảnh giao tiếp, làm tấm gương sáng cho học sinh học tập và noi theo. Thường
xuyên cố gắng học tập để không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết và nghiệp vụ
sư phạm của mình. Chỉ đạo kịp thời, chính xá mọi quy định của cấp trên.
Học sinh phải chuẩn bị bài trước khi đến lớp. ham thích khám phá và tìm
hiểu, cố gắng học tập và biết tự giác học.
4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp rất chặt chẽ. Có các giải pháp tốt
để áp dụng vào tiết dạy càng cần có các biện pháp thực hiện phù hợp với các giải
pháp đó. Thực hiện không đều giữa giải pháp và biện pháp đều không phát huy
được điểm mạnh của đề tài.
19


Để những giải pháp trên có thể áp dụng được và hiệu quả cao cần có sự
phối hợp hài hòa giữa nhà trường, giáo viên và gia đình :
- Với nhà trường cần tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên tiến hành thực
hiện công tác giảng dạy một cách đầy đủ nhất, quan tâm mua sắm các thiệt bị dạy
học đầy đủ để giáo viên có điều kiện giảng dạy đúng mục tiêu giáo dục.
- Với giáo viên cần có lòng nhiệt tìnhvới nghề nghiệp, yêu nghề mến trẻ,
quan tâm và tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lý từng em để có những kế hoạch dạy
học phù hợp. Thường xuyên liên lạc với các gia đình cha mẹ học sinh để tìm
hiểu, trao đổi về việc học tập của các em, xây dựng mối quan hệ giữa gia đình,
nhà trường và xã hội.
- Với gia đình học sinh cần quan tâm chăm sóc đến học sinh, tạo điều kiện
cho các em tham gia học tập đều đặn.
5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.
Nghiên cứu đề tài “ Một số biện pháp giúp giáo viên nâng cao chất lượng
giảng dạy Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số” giúp giáo viên trường tôi
có phương pháp dạy tốt hơn đưa chất lượng môn Tiếng Việt ngày càng cao. Các
em đọc thông, viết thạo, vốn từ ngày càng nhiều. Các em nói tiếng Việt này càng
lưu loát. Tiếp thu bài cũng nhanh hơn trước và đặc biệt hơn các em thường sử
dụng tiếng Việt thay cho tiếng mẹ đẻ ở nhà. Còn đến lớp các em không dùng
tiếng mẹ đẻ khi chơi với nhau mà chỉ dùng tiếng Việt cả trong và ngoài lớp học.
Trong quá trình điều tra ở các lớp ( từ lớp 1 đến lớp 5) môn Tiếng việt tôi
nhận thấy:
Kết quả môn Tiếng Việt tăng rõ rệt. Học sinh rất thích học giờ Tiếng Việt.
Khi tôi kiểm tra lần lượt ở các lớp này, học sinh các lớp này rất hào hứng. Các em
mạnh dạn nêu ý kiến của mình. Khi chưa hiểu bài các em mạnh dạn hỏi lại thầy
cô giáo. Đề tài: “ Một số biện pháp giúp giáo viên nâng cao chất lượng giảng
dạy Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số” phù hợp với điều kiện thực hiện
nhiệm vụ của trường. Áp dụng được cho tất cả khối lớp trong toàn trường và có
thể áp dụng cho các trường có phần lớn là học sinh dân tộc thiểu số.
IV. KẾT QUẢ THU ĐƯỢC QUA KHẢO NGHIỆM, GIÁ TRỊ KHOA HỌC
CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
Qua thời gian thực hiện nhiệm vụ Phụ trách chuyên môn của trường Tiểu
học ... tương đối dài, tôi luôn nhức nhối vì chất lượng học sinh trường tôi luôn
yếu nhất huyện. Kết quả đạt được tính đến thời điểm tháng 1 học kì II năm học
2013- 2014, so với trước khi thực hiện:
20


- Trường TH ... năm học 2012-2013, khi tôi chưa áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm vào dạy học:
Tiếng Việt
Tổng số học sinh
- Giỏi
- Khá
- Trung bình
- Yếu

Tổng số
254
8
56
152
38

Lớp 1
76
8
22
17
29

Lớp 2
65

Lớp
Lớp 3
48

Lớp 4
38

Lớp 5
27

12
47
6

10
37
1

11
25
2

1
26

*Qua khảo sát chất lượng đầu năm học 2013-2014 khi bắt đầu thử
nghiệm thực hiện đề tài Kết quả đạt được như sau:

Tiếng Việt
Tổng số học sinh
- Giỏi
- Khá
- Trung bình
- Yếu

Tổng số
256
5
42
173
36

Lớp 1
53
4
8
30
11

Lớp 2
64
1
9
45
9

Lớp
Lớp 3
57

Lớp 4
44

Lớp 5
38

7
37
13

13
28
3

5
33

Sau thời gian áp dụng trên tất cả các khối lớp biện pháp trên tôi thấy Trường
TH ... có tiến bộ đáng kể, cụ thể với sĩ số học sinh cuối học kỳ I năm học 20132014 đạt kết quả như sau:
Tiếng Việt
Tổng số học sinh
- Giỏi
- Khá
- Trung bình
- Yếu

Tổng số
255
10
61
171
17

Lớp 1
52
9
9
26
8

Lớp 2
64
1
14
45
4

Lớp
Lớp 3
57
2
11
41
3

Lớp 4
44

Lớp 5
38

16
26
2

5
33

Theo kết quả thống kê ở trên cho ta thấy việc áp dụng những biện pháp nêu
trên đã cho ta có kết quả rất đáng kích lệ, dù đây chỉ là mới bước đầu khảo
nghiệm (trong học kì I) nhưng cũng đã phần nào chứng minh được tính khả thi
21


của các biện pháp đã áp dụng. Tôi tin chắc rằng học sinh trường tôi ngày càng
tiến bộ nhờ áp dụng đề tài của tôi trong dạy môn Tiếng Việt.

III. PHẦN KẾT LUẬN , KIẾN NGHỊ
1 - KẾT LUẬN
Môn Tiếng Việt môn học chủ lực ở cấp tiểu học, có học tốt môn này mới
mong có thể học tốt các môn học khác. Đồng thời môn Tiếng Việt cũng góp phần
nâng cao khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng. Cách phát hiện và giải quyết
các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; gây
hứng thú học tập; góp phần hình thành bước đầu phương pháp học tập và làm
việc có kế hoạch, và sáng tạo.
Vì thế khi học sinh gặp những lỗi sai trong đọc, viết, giáo viên cần nhẹ
nhàng từng bước để khắc phục cho các em, tránh nóng vội, áp đặt sẽ làm học sinh
chóng chán. Giáo viên cần lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với điều kiện
thực tế của học sinh trong lớp. Biết vận dụng và phối hợp các phương pháp dạy
học một cách linh hoạt thì hiệu quả của tiết học sẽ đạt được mục tiêu. Để học sinh
hiểu được phương pháp dạy cho học sinh hiểu bài thì không thể khẳng định ở một
phương pháp nào đó được mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, Qua thời
gian nghiên cứu về nội dung đề tài cũng như khảo sát thực tế từ tất cả các lớp
trong trường đã giúp cho tôi có hướng chỉ đạo tốt và giáo viên có thêm nhiều
kinh nghiệm dạy Tiếng Việt.
Học sinh trường tiểu học ... đã có kỹ năng đọc, viết Tiếng Việt khá tốt,
nhưng một bộ phận không nhỏ còn mắc một số lỗi trong phát âm, trong đọc và
viết Tiếng Việt. Chất lượng này phù thuộc nhiều yếu tố, có nhiều nguyên nhân,
nguyên nhân chủ yếu là do việc tổ chức rèn đọc và rèn viết cho học sinh chưa
được đặt ra một cách nghiêm túc, đúng yêu cầu. Những lỗi học sinh tiểu học mắc
phải trong môn tiếng Việt của các em có thể khắc phục được.
Trường tiểu học ... Huyện ... chúng tôi trong những năm qua đã đầu tư khá
nhiều cho việc dạy tiếng Việt cho học sinh như: tổ chức các chuyên đề, các cuộc
thi, với khá nhiều đề xuất, giải pháp. Tham gia thi giao lưu Tiếng Việt. Tập huấn
tăng cường Tiếng Việt cho toàn thể giáo viên tronh trường. Vì thế có thể xem
những nội dung được nêu trong đề tài này là kết quả của một quá trình làm việc
nghiêm túc của cá nhân tôi và tập thể giáo viên Trường tiểu học ... .

2 - KIẾN NGHỊ
22


Để có “ Một số biện pháp giúp giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy
Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số” ngày càng tốt hơn tôi xin kiến nghị một
số yêu cầu sau:
Sở giáo dục cần có chỉ đạo kịp thời để hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số học
Tiếng Việt tốt hơn. Có kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên để giúp giáo viên nâng
cao tay nghề, học sinh thuận lợi hơn trong học tập. Nội dung bồi dưỡng cần tập
trung vào những vấn đề ngữ âm học, từ vựng học, ngữ pháp học, cộng với
phương pháp giảng dạy từng loại bài cụ thể đem lại hiệu quả thiết thực khi dạy
Phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh giúp các em hiểu sâu sắc hơn về
vốn từ ngữ trong Tiếng Việt, từ đó các em nhận biết về thế giới xung quanh để
các em luôn có những cảm xúc, tình cảm chân thật giúp các em hoàn thiện bản
thân hơn.
Thư viên nhà trường cần bổ sung các tư liệu, tài liệu, sách truyện thiếu nhi,
truyện tranh phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy từng bộ môn của giáo viên
và việc đọc của học sinh.
Trên đây là những kinh nghiệm của bản thân mà tôi đã rút ra từ thực tế
quản lí, song không sao tránh được khỏi khiếm khuyết. Rất mong đồng nghiệp bổ
sung góp ý, để đề tài của tôi hoàn thiện hơn.
Tôi xin cảm ơn!

23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×