Tải bản đầy đủ

RÈN kĩ NĂNG NHỚ CÔNG THỨC và GIẢI bài tập CHƯƠNG i vật lí 8

MỤC LỤC

PHẦN I : PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thế giới vật chất luôn vận động không ngừng.Các hiện tượng vật lí xung quanh chúng
ta luôn đặt ra cho chúng ta biết bao câu hỏi, việc tìm hiểu và nghiên cứu bản chất của
các hiện tuợng là nhu cầu thiết yếu trong việc chiếm lĩnh và sở hữu tri thức. Để hoạt
động đó có hiệu quả thì con người phải biết sắp xếp thời gian,công việc một cách khoa
học, con người họ có tư duy trí tuệ cao và tự biết công việc nào cần thiết, cần làm
trước và công việc nào không cần làm, làm sau.
Ở trường THCS đối với học sinh cũng vậy, tuy các em còn nhỏ nhưng cũng được thầy
cô dạy dỗ những điều hay lẽ phải, biết tự mình cố gắng vươn lên trong học tập, học
không bao giờ là dư thừa, càng học càng thấy mình còn nhiều điều chưa biết, cần phải
tìm hiểu. Như Bác Hồ đã nói “ Học,học nữa –Học mãi”.
Như chúng ta đã biết quá trình dạy học là một một quá trình rèn luyện toàn diện.
Những quan điểm lớn của Đảng về giáo dục đã nói :
Đại hội III chỉ thị : ” Nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những người lao động làm chủ
đất nước, có giác ngộ xã hội chủ nghĩa có văn hoá, mĩ thuật và có sức khoẻ”.
Đại hội IV chỉ thị : “Tiến hành cải cách giáo dục trong cả nước làm cho hệ thống giáo
dục quốc dân gắn chặt hơn nữa với sự nghiệp cách mạng chủ nghĩa”.
Nghị quyết TW II của Đảng Cộng Sản Việt Nam nói : ”Cải tiến chất lượng dạy và học,

khắc phục những yếu kém trong giáo dục để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, nâng
cao dân trí đào tạo nhân lực phát triển nhân tài, cung cấp nguồn nhân lực cho giai
đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước”.
Đối với nhà trường cần xác định, nền giáo dục của nhà nước ta là nền giáo dục toàn
diện nhằn làm cho học sinh phát triển đầy đủ các mặt và cân đối giữa các mặt theo
mục tiêu cấp học, do vậy bất cứ môn học nào nói chung cũng không chỉ nhằm cung
cấp kiến thức mà phải làm cho trí lực, thể lực của học sinh ngày càng phát triển làm
cho học sinh lớn lên về nhiều mặt để thích ứng được với điều kiện kinh tế xã hội hiện
nay.
Đối với môn vật lí nói riêng cũng góp phần đào tạo học sinh thành những con người
có sức lực và tài năng có phẩm chất đạo đức tốt để tiếp tục sự nghiệp cách mạng trong
giai đoạn mới. Môn vật lí cần làm cho học sinh nắm vũng được các kiến thức vật lí
một cách chính xác và hệ thống, biết vận dụng linh hoạt những điều đã học vào bài tập
vào thực hành vào thực tế đời sống đồng thời góp phần hình thành và phát triển ở học
sinh những năng lực nhận thức những năng lực thực hành và hình thành ở học sinh
một thế giới quan nhân sinh nhất định.


Với học sinh lớp 8 còn rất vô tư chưa biết đến khái niệm cuộc sống như thế nào. Các
em chỉ biết ở nhà là vui chơi đến lớp là để học. Đó là nhiệm vụ chính, em nào cũng
muốn mình đạt điểm cao nhưng lại không có một phương pháp học hiệu quả. Theo
các em suy nghĩ thì môn vật lí là rất khó, không làm được bài thì cho là khó, học lí
thuyết theo các học vẹt, công thức thì không nhớ, mà nhớ thì đựơc công thức gốc còn
đại lượng còn lại không biết rút ra nên các em không làm được bài tập. Mặt khác đối
với học sinh khối 8 là do mỗi tuần chỉ có một tiết, trong khi đó cả chương trình vật lí 8
không có tiết bài tập trong PPCT, đa số cắc em chưa biết biến đổi công thức để rút ra
đại lượng cần tìm.
Vậy muốn giải được bài tập tốt trước tiên các em phải nhớ công thức vật lí, trong mỗi
công thức học sinh phải nắm rõ từng đại lượng vật lí.
Với tôi khi được phân công giảng dạy môn vật lí khối lớp 8. Tôi đã dành nhiều thời
gian tìm hiểu và lựa chọn phương pháp để truyền đạt kiến thức cho học sinh dễ hiểu,
dễ nhớ công thức nhất. Xuất phát từ những thực tế đã giảng dạy tôi mạnh dạn chọn đề
tài:
“RÈN KĨ NĂNG NHỚ CÔNG THỨC VÀ GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG I VẬT LÍ 8”
I.2 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
a. Mục tiêu.
Căn cứ vào nhiệm vụ chung của trường phổ thông mà tôi đã xác định cụ thể những
nhiệm vụ và yêu cầu của việc giảng dạy vật lí đồng thời đề ra biện pháp thực hiện
Nhiệm vụ của môn vật lí được cụ thể hoá ở SGK, tài liệu hướng dẫn giảng dạy. Tuy
nhiên tất cả những tài liệu đó chỉ là những nét cơ bản và được người giáo viên dẫn dắt


theo từng phương pháp của từng người. Đối với những tiết dạy bài tập thường khô
khan, học sinh hay nhàm chán, khi giáo viên hỏi đến công thức thì không nhớ. Nhiều
giáo viên đến tiết bài tập cho học sinh tự làm mà không định hướng.
Mục tiêu của đề tài này là rèn luyện kĩ năng nhớ công thức và giải bài tập chương I
vật lí lớp 8. Với đề tài này rèn cho học sinh cách rút ra đại lượng cần tìm, kĩ năng giải
bài tập một cách chính xác, lôgic không phải mò mẫm. Từ đó giúp học sinh có kĩ năng
nhớ công thức, giải bài tập.
b)Nhiệm vụ của đề tài.
Đề tài này giúp học sinh lớp 8 có kĩ năng nhớ công thức và giải bài tập. Để đạt được
mục tiêu trên. Là một giáo viên ra trường hơn 12 năm, được nhà trường phân công
dạy lớp 8 nhiều năm tôi đã tìm ra cách nhớ công thức, con đường lập mối liên hệ giữa
các đại lượng để giải bài tập. Qua quá trình dạy tôi đã vận dụng cho học sinh, bản thân
tôi thấy đề tài này có tính khả thi cao đặc biệt đối với học sinh tôi đã dạy.
I.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Học sinh khối 8 trường THCS ......
Vấn đề nghiên cứu phần cơ học trong chương trình vật lí 8
Bài 2: vận tốc
Bài 7 : áp suất


Bài 8 : áp suất chất lỏng
Bài 10 : lực đẩy ACSi MET
Bài 13: công cơ học
I.4 . GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Vì có những hạn chế về nguồn lực và thời gian nên đề tài chỉ giới hạn trong
phạm lớp …… của Trường THCS ...... – ......- .......
Nội dung mới nghiên cứu được 5 bài. Các vấn đề còn lại tôi rất mong các đồng nghiệp
nghiên cứu tiếp và giới thiêu đến các em học sinh trong thời gian sau.
I.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
1) phương pháp quan sát
2) phương pháp điều tra, phân tích tổng hợp
3) phương pháp giải bài tập mẫu
4) phương pháp đọc sách và tài liệu tham khảo
5) phương pháp đàm thoại
Ngoài ra tôi còn sử dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy

PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG
II.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN .
Vật lí là một bộ môn khoa học đều có những đặc điểm riêng, có đối tượng nghiên cứu
và phương pháp nghiên cứu tương ứng, trong sự vận động và phát triển của môn vật lí
đã nảy sinh nhiều tri thức vật lí mới. Do vậy khi giảng dạy bài tập vật lí ở trường phổ
thông, người giáo viên phải nắm vững đặc điểm của tri thức vật lí và phương pháp vật
lí, để từ đó lựa chọn phương pháp dạy thích hợp.
Vai trò của bài tập vật lí trong dạy học vật lí: Với tư cách là một phương pháp dạy học
Bài tập vật lí giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc dạy học sinh cách áp dụng
kiến thức trong học tập vào thực tiễn.
Bài tập vật lí là một vấn đề được đặt ra đòi hỏi phải giải quyết nhờ suy nghĩ lôgic
những phép toán và những thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật. Bài tập vật lí là
phương tiện tốt để phát triển tư duy học sinh.
Bài tập vật lí là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kĩ năng của học sinh. Vây để giải
được bài tập vật lí thì đòi hỏi học sinh phải nhớ công thức, nắm chắc trình tự giải một
bài tập vật lí.
Qua cơ sở lí luận nói trên là một giáo viện dạy môn vật lí tôi thấy học sinh còn thụ
động trong việc học, chưa xác định được nhiệm vụ của môn vật lí, chưa có kĩ năng
nhớ công thức, chưa biết cách giải bài tập. Do đó việc tìm hiểu từ dữ liệu của bài toán
phân tích các hiện tượng để đi đến bản chất vật lý là việc rất quan trọng giúp ta định
hướng cách giải một bài tập vật lý.Điều đó giúp tôi tìm hiểu và đi nghiên cứu đề tài
này.


II.2. THỰC TRẠNG VỀ VIỆC NHỚ CÔNG THỨC VÀ GIẢI BÀI TẬP VẬT LÝ
CỦA HỌC SINH.
a. Thuận lợi và khó khăn :
*Thuận lợi:
Nhà trường cùng hội cha mẹ phụ huynh học sinh quan tâm đến cơ sở vật chất đầu tư
trang thiết bị tương đối đầy đủ, đảm bảo cho việc dạy và học.
Đa số ý thức đạo đức của học sinh luôn ngoan và lễ phép với thầy cô mặc dù xã hội
đang có nhiều thay đổi và diễn ra phức tạp. Ý thức học tập trên lớp luôn đoàn kết và
hợp tác với thầy cô giáo, nhiệt tình chăm ngoan.Việc tiếp cận thông tin các em khá tốt.
Thuận tiện cho việc dạy và học theo giáo án điện tử.
Học sinh đẫ được làm quen với môn vật lí từ lớp 6.
Được dạy với đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy.
Trong quá trình viết sáng kiến được sự giúp đỡ của giáo viên tin ,toán và các đồng
nghiệp trong trường.
*Khó khăn :
Qua nhiều năm giảng dạy vật lý ở trường THCS ...... đối với học sinh vấn đề nhớ
công thức, giải và sửa các bài tập vật lý gặp không ít khó khăn vì học sinh thường
không nắm vững lý thuyết, không có giờ luyện tập, bài tập ở lớp (phân phối chương
trình lý 8), không có tiết chữa bài tập, chưa có kỹ năng vận dụng kiến thức vật lý. Vì
vậy các em giải bài tập một cách mò mẫm, không có định hướng rõ ràng, áp dụng
công thức máy móc và nhiều khi không giải được, có nhiều nguyên nhân:
- Học sinh không nhớ công thức
- Học sinh chưa biết phương pháp để giải bài tập vật lý.
- Học sinh không chịu khó nghiên cứu bài, chỉ chờ giáo viên chữa bài rồi ghi
vào vở.
b. Thành công và hạn chế:
*Thành công
Thành công của sáng kiến này là giúp các em có kĩ năng nhớ công thức và
phương pháp giải bài tập và dù là cấp nào vẫn áp dụng giải bài tập được, và giải theo
các bước cơ bản.giúp các em không quên. Đặc biệt trong tiết dạy 2 buổi có nhiều bài
tập và các tiết bài tập chính khóa trên lớpcác em chăm chỉ làm bài .
Khi áp dụng sáng kiến này đã giúp học sinh biết áp dụng các công thức để giải
bài tập ở nhiều dạng.
*Hạn chế
Mặt hạn chế kĩ năng nhớ công thức chỉ áp dụng cho những công thức chỉ có 3
đại lượng, phương pháp đòi hỏi giáo viên có thời gian chuẩn bị lâu hơn có kiến thức
chủ lực về toán học và kiến thức lập luận của văn. Ví dụ như phương pháp giải bài tập
phần cơ không khó nhưng giải khá dài, phần nào cũng có cách giải, bước giải khác
nhau. Các đại lượng vật lí thì kí hiệu còn chồng chéo.


c. Mặt mạnh và mặt yếu :
*Mặt mạnh : Khi áp dụng đề tài này thì đã phát huy được tính tích cực của học
sinh , phát huy khả năng thực tế nhiều và quá trình giao tiếp thầy và trò thân thiện hơn
đáp ứng được nhiệm vụ dạy và học.Giúp các em học sinh có cách nhớ công thức và
rút đại lượng cần tìm chính xác, tự giải bài tập cơ bản khi học trên lớp cũng như bài
tập về nhà, cũng như ôn học sinh giỏi.
*Mặt yếu: là học sinh không nhớ công thức gốc thì không rút được đại lượng
cần tìm, cần có thời gian luyện tập.
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động.
Các nguyên nhân thường có nguyên nhân chủ quan và khách quan.
Nếu giáo viên nhiệt tình, tận tâm giảng dạy mà học sinh không chịu khó học bài, bài
tập áp dụng cho về nhà mà học sinh không làm thì kết quả không khả thi.
Học sinh cho rằng vật lí là môn học khô khan, trừu tượng. Vật lí gắn liền với các môn
học khác, đặc biệt là môn toán, văn, địa lí… nếu các em không có kiến thức cơ bản về
các môn học đó thì cũng không thể nào đòi hỏi giải được bài tập vật lí có kết quả đúng
được.
Ví dụ như khi đặt lời giải cho bài toán thì vận dụng đến kiến thức của môn văn, khi
tính toán thì vận dụng đến môn toán.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
Là giáo viên giảng dạy môn vật lí nhiều năm, tôi thấy trong tư tưởng của học
sinh luôn nghĩ rằng “ khó như lí, bí như hình …”. Vậy để giải toả ý nghĩ của học sinh
tôi rất băn khoăn làm cách nào để giúp học sinh không còn mặc cảm với suy nghĩ đó
nữa. Trong quá trình dạy tôi đã dần tìm hiểu từng đối tượng học sinh. Với học sinh
yếu tôi đặt câu hỏi nguyên nhân nào các em không làm được bài tập, học sinh trả lời:
”Em không biết bắt đầu làm từ đâu, em không biết rút các đại lượng mà bài toán yêu
cầu ,…”
Tôi không e dè hỏi học sinh vậy em cho cô biết công thức tính vận tốc, học sinh trả lời
nhanh và đúng, khi tôi yêu cầu học sinh cho cô biết muốn tính quãng đường từ công
thức đó em làm thế nào? Đối với học sinh khá, giỏi thì quá dễ, nhưng đối với những
học sinh này thì rất khó khăn.
Để giúp các em nhớ và biết rút các đại lượng cần tìm đó mà học thuộc lòng thì rất lâu:
Ví dụ như muốn tìm quãng đường đi được ta lấy vận tốc nhân với thời gian, hoặc
muốn tìm thời gian ta lấy quãng đường chia cho vận tốc ….nếu theo cách đó thì các
em chỉ thuộc được những bài mà cô cho ghi như thế còn không thì lại không biết.
Đối với công thức tính vận tốc các em còn được làm quen ở bậc tiểu học mà khi lên
lớp 8 còn thấy rất bỡ ngỡ. Mà trong chương 1, phần cơ học của lớp 8 còn rất nhiều các
công thức mà các đại lượng có mặt trong công thức còn rất mới lạ nên các em không
thể nhớ hết cũng là điều dễ hiểu. Vì vậy nhiệm vụ của giáo viên làm sao để cho các
học sinh nhớ được hết các công thức trong chương này là điều rất cần thiết.


Giáo viên phải hiểu được đặc thù từng học sinh, trước hết hướng dẫn các em cách nhớ
công thức trong bài học, sau đó hướng dẫn các em từ công thức đó đưa về công thức
tam giác điều này rất quan trọng trong bước đầu để học cách nhớ công thức và rút ra
các đại lượng cần tìm.
Từ buổi đầu tiếp xúc với các học sinh tôi đưa ra phương pháp cách nhớ công thức để
từ đó rèn kĩ năng nhớ cho các em . Khái niệm đầu tiên tôi đưa ra là công thức tam giác
các em rất bỡ ngỡ không hiểu tại sao cô lại gọi là công thức tam giác. Tôi phân tích
cho các em dự vào hình tam giác mà ta gắn các đại lượng vật lí sao cho nằm gọn vào
phần trong của tam giác mà khi ta vẽ đường trung bình trong tam giác mà một đại
lượng ở phía trên đường trung bình, hai đại lượng nằm ở dưới. Khi học sinh đã nắm
được thao tác rồi thì phần rút ra đại lượng cần tìm thì không còn khó khăn nữa. Học
sinh nhớ các công thức rồi thì làm cách nào vận dụng vào giải bài tập một cách có
hiệu quả lại là vấn đề cần trao đổi nhiều hơn.
Vậy tôi lại đặt câu hỏi cho học sinh khi các em còn chưa nhớ công thức. Khi làm một
bài tập vật lí thì em tiến hành như thế nào? Học sinh ấp úng không giám trả lời, có em
thì nhanh nhẹn trả lời: ”chúng em cứ giải mò có bài dễ, bài mà áp dụng công thức
trong bài vào giải ngay thì làm được hoặc bài nào mà tìm ít đại lượng, mà công thức
không phải suy luận nhiều thì chúng em làm được. Tôi lại hỏi tiếp vậy các em giải bài
tập vật lí tuân theo những bước nào? Các em cũng không trả lời gãy gọn được mà cứ
giải bài tập theo kiểu mò mẫm thôi. Có học sinh đặt lời giải thì không viết công thức
áp dụng nào, có em thì viết công thức lại không có lời giải. Khi làm bài xong thì
không ghi đơn vị, không ghi đáp số.
Khi dạy các em về cách giải bài tập vật lí yêu cầu học sinh lên bảng tóm tắt bài toán,
các em không dùng kí hiệu các đại lượng vật lí để tóm tắt mà các em tóm tắt như làm
bài toán ở cấp 1, ghi chữ ra rồi viết số kèm theo.
Ví dụ: tóm tắt bài 3.10
Quãng đường đầu bằng quãng đường thứ 2 bằng quãng đường thứ 3 và bằng 1/3
quãng đường.
Vận tốc đi trong đoạn 1 là 12m/s
Vận tốc đi trong đoạn 2 là 8m/s
Vận tốc đi trong đoạn 3 là 16m/s
Tính vận tốc trung bình trên cả quãng đường.
Như thế đâu phải gọi là tóm tắt, mà là viết bớt đề bài để ngắn lại. Đa số học sinh học
vật lí là như thế, tôi rất băn khoăn. Làm sao để các em em làm được bài tập.
Thực tế các em học vật lí theo cách đó thì không thể khá được. Trong quá trình học
một cấp học như thế các em được nhiều giáo viên dạy, mỗi năm một giáo viên dạy
khác nhau, mà mỗi giáo viên lại có những phương pháp dạy khác nhau.
Qua quá trình dạy học sinh tôi thấy một thực trạng như thế là không được. Học sinh
lớp 8 rồi mà không biết tóm tắt một bài toán. Khi giáo viên hướng dẫn học sinh cách


tóm tắt thì yêu cầu các em đi giải bài toán các em vẫn không biết cách xác lập mối liên
hệ giữa các đại lượng.
Nói tóm lại, để làm hoàn chỉnh một bài tập vật lí các em cứ làm thế không theo một
kiểu hướng dẫn nào.Thực trạng này là rất nhiều các học sinh học yếu và trung bình.
Khi giáo viên yêu cầu học sinh làm một bài tập thong thường theo các bước nào,
không có học sinh nào trả lời được đầy đủ các bước cơ bản. Tôi là một giáo viên dạy
vật lí tôi thiết nghĩ nếu cứ tình trạng này thì học sinh không có hứng thú học môn vật
lí, sẽ không có học sinh giỏi.
Khi giải bài tập các em chưa tìm hiểu bài tập, xem xét điều kiện vật lí được đề cập,
Chưa có tư duy trong quá trình giải bài tập vật lí,học sinh chưa có kĩ năng giải bài tập
vật lí.
Trước khi thực hiện đề tài này tôi đã tiến hành kiểm tra khảo sát đối với học sinh tôi
dạy năm 2010-2011gồm có ba lớp 8A2, 8A3, 8A4 bằng các bài tập cơ bản tương ứng
với mức độ, nội dung kiến thức đã học.
Qua kết quả trên tôi thấy số lượng học sinh khá giỏi thấp, còn học sinh trung bình và
dưới trung bình còn cao so với yêu cầu của giáo dục hiện nay.
Là một giáo viên dạy tôi rất buồn cho thế hệ học sinh hôm nay. Vậy xuất phát từ thực
trạng trên tôi quyết định đưa ra sáng kiến này để các em học sinh có kĩ năng nhớ công
thức và vận dụng công thức để giải bài tập một cách có hiệu quả.

II.3 GIẢI PHÁP VÀ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI.
a. Mục tiêu và ý nghĩa của giải pháp, biện pháp.
Ghi nhớ công thức giúp học sinh không bị nhầm lẫn khi tìm các đại lượng trong quá
trình làm bài tập.
Trong quá trình dạy học bài tập vật lí có tầm quan trọng đặc biệt như là một phương
tiện nghiên cứu tài liệu mới khi trang bị kiến thức mới cho học sinh nhằm đảm bảo
cho học sinh lĩnh hội những kiến thức mới một cách sâu sắc và vững chắc.
Bài tập vật lí là một phương tiện rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức
liên hệ lí thuyết với thực tế.
Bài tập vật lí là một phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việc rèn luyện tư
duy bồi dưỡng phương pháp khoa học cho học sinh, bởi vì giải bài tập vật lí là hình
thức luyện viết tự lực căn bản của học sinh.
Bài tập vật lí là một phương tiện ôn tập, củng cố kiến thức một cách sinh động có hiệu
quả, khi giải bài tập vật lí đòi hỏi học sinh phải nhớ các kiến thức đã học như: Công
thức vật lí. Định luật, có khi đòi hỏi kiến thức tổng hợp các kiến thức đã học trong
một chương, một phần. Do đó học sinh sẽ hiểu rõ hơn và ghi nhớ vững các kiến thức
đã học và các công thức vật lí liên quan thông qua việc giải bài tập.


b. Nội dung và cách thức thực hiện.
*RÈN KĨ NĂNG NHỚ CÔNG THỨC CHO HỌC SINH
* Công thức tính vận tốc : v=s/t :Trong đó v là vận tốc vận tốc
s là quãng đường mà vật đi được.t là thời gian vật đi hết quãng đường đó.
Để học sinh rút ra một đại lượng cần tìm trong công thức thì có nhiều học sinh rút ra
sai. Là giáo viên dạy lớp 8 nhiều năm tôi thấy việc tìm ra phương pháp nhớ công thức
là một điều khó, mà từ công thức trong bài học đi tìm một đại lượng kia còn khó hơn.
Vì vậy tôi mạnh dạn đưa ra cách tìm đại lượng vật lí trong công thức tam giác:
Công công thức tính VẬN TỐC( tốc độ)
Trước hết phải đưa công thức đã cho về dạng công thức tam giác

s
v.t

Muốn tìm đại lượng nào che khuất đại lượng đó đi thì xuất hiện công thức cần tìm .
(đại lượng cần tìm là màu đỏ)
-Ví dụ: Muốn tìm đại lượng thời gian thì ta lấy tay che đại lượng t trên công thức tam
giác xuất hiện còn lạ là s /v (công thức cần tìm là : t = s/v)

s

v.t
Ví dụ : Muốn tìm đại lượng quãng đường thì ta lấy tay che đại lượng s trên công thức
tam giác xuất hiên còn lạ là v.t (công thức cần tìm là :s=v.t)
s


v.t
Công thức tính ÁP SUẤT
Trước hết phải đa công thức đã cho về dạng công thức tam giác:

F
p.S
Muốn tìm đại lượng nào ta che khuất đại lượng đó đi thì xuất hiện công thức cần tìm
-Ví dụ: Muốn tìm đại lượng áp lực thì ta lấy tay che đại lượng F trên công thức tam
giác xuất hịên còn lạ là p.S (p thường)
(công thức cần tìm là: F= p.S)

F
p.S
.
Ví dụ: Muốn tìm đại lượng diện tích tiếp xúc thì ta lấy tay che đại lượng S trên công
thức tam giác xuất hiên còn lạ là F/p
(công thức cần tìm là: S=F/p)

F
p.S
Ví dụ: Muốn tìm đại lượng Áp Suất thì ta lấy tay che đại lượng p trên công thức tam
giác xuất hiên còn lạ là F/p
(công thức cần tìm là: p=F.S)


F
p.S
Trong công thức tính lực đẩy ÁCSIMÉT:
Trước hết phải đưa công thức đã cho về dạng công thức tam giác
FA
d.V
Muốn tìm đại lượng nào ta che khuất đại lượng đó đi thì xuất hiện công thức cần
tìm .Ví dụ: Muốn tìm đại lượng trọng lượng riêng thì ta lấy tay che đại lượng d trên
công thức tam giác xuất hiên còn lạ là FA/V
(công thức cần tìm là :d=FA/V)
FA
d.V
Ví dụ: Muốn tìm đại lượng thể tích phần nước chiếm chỗ trong chất lỏng thì ta lấy tay
che đại lượng V trên công thức tam giác xuất hiên còn lạ là FA/d ( V=FA/d)

FA

d.V


Ví dụ: Muốn tìm đại lượng Lực đẩy ÁcSi Métthì ta lấy tay che đại lượng FA trên
công thức tam giác xuất hiên còn lạ là d.V(FA =d.V)

FA
d.V

Trong công thức tính CÔNG CƠ HỌC
Trước hết phải đưa công thức đã cho về dạng công thức tam giác:

A
F.s
Muốn tìm đại lượng nào lấy tay che khuất đại lượng đó đi thì xuất hiện công thức cần
tìm
Ví dụ: Muốn tìm đại lượng quãng đường vật dịch chuyến ta lấy tay che đại lượng s
trên công thức tam giác xuất hiên còn lạ là A/F
(công thức cần tìm là: s=A/F)
A
F.s


Ví dụ: Muốn tìm đại lượng lực tác dụng lên vật ta lấy tay che đại lượng F trên công
thức tam giác xuất hiên còn lạ là A/s
(công thức cần tìm là: F=A/s)

A
F.s

Ví dụ: Muốn tìm đại lượng Công cơ học ta lấy tay che đại lượng A trên công thức tam
giác xuất hiên còn lạ là F.s
(công thức cần tìm là: A= F.s)

A
F.s

Trong công thức tính ÁP SUẤT CHẤT LỎNG:
Trước hết phải đưa công thức đã cho về dạng công thức tam giác

p
d.h
Ví dụ: Muốn tìm đại lượng chiều cao cột chất lỏng ta lấy tay che đại lượng h trên công
thức tam giác xuất hiên còn lạ là: p/d
(công thức cần tìm là: h=p/d)


p
d.h

Ví dụ: Muốn tìm đại lượng áp suất chất lỏng ta lấy tay che đại lượng p trên công thức
tam giác xuất hiện còn lại công thức là: d.h
(công thức cần tìm là: p=d.h)

p
d.h
Ví dụ: Muốn tìm đại lượng trọng lượng riêng của chất lỏng ta lấy tay che đại lượng d
trên công thức tam giác xuất hiện còn lại là: p/h
(công thức cần tìm là: d=p/h)
p
d.h
* KĨ NĂNG GIẢI BÀI TẬP :
*. Phân loại bài tập vật lý:
+ Dựa vào dấu hiệu nội dung:
Có thể chia các bài tập theo các đề tài của tài liệu vật lí: bài tập cơ học, bài tập nhiệt
học, bài tập quang học …
Theo nội dung người ta phân biệt các loại bài tập:


Bài tập có nội dung trìu tượng
Bài tập có nội dung cụ thể
Bài tập có nội dung thực tế
Bài tập vật lí vui…
+ Dựa vào dấu hiệu hoặc phương pháp giải người ta phân loại bài tập:
Bài tập bằng lời
Bài tập tính toán
Bài tập thực nghiệm …
+ Dựa vào yêu cầu rèn luyện kĩ năngvà phát triển tư duy trong quá trình dạy học
người ta phân biệt:
Bài tập lí thuyết
Bài tập sáng tạo
*PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP VẬT LÍ.
* CÁC BƯỚC CƠ BẢN CHUNG :
Bước 1: Viết tóm tắt các dữ kiện:
- Đọc kỹ đề bài (khác với thuộc đề bài), tìm hiểu ý nghĩa của thuật ngữ, có thể
phát biểu tóm tắt ngắn gọn chính xác.
- Dùng ký hiệu tóm tắt đề bài cho gì? Hỏi gì? Thống nhất đơn vị. Dùng hình vẽ
để mô tả lại tình huống, minh họa nếu cần.
Bước 2: Phân tích nội dung làm sáng tỏ bản chất vật lý, xác lập mối liên hệ của
các dữ kiện có liên quan tới công thức nào của các dữ kiện xuất phát và rút ra
cái cần tìm xác định phương hướng và vạch kế hoạch giải (Bước này học sinh
thường làm ở giấy nháp, hoặc giáo viên thì dùng máy chiếu với những bài
cần thiết).
Chọn công thức thích hợp, kế hoạch giải: Thành lập các phương trình nếu cần,
chú ý có bao nhiêu ẩn số thì có bấy nhiêu phương trình. (ẩn số là những đại lượng
chưa có ở phần tóm tắt mà trong quá trình xác lập mối liên hệ giữa các đại lượng ta
đang phải tìm).
(phương pháp lập dự án).
Bước 3: Rút ra kết quả cần tìm. Từ các mối liên hệ đã xác lập tiếp tục luận giải ,
tính toán. Lựa chọn cách giải cho phù hợp, tôn trọng trình tự, phải theo để thực
hiện các chi tiết của dự kiến, nhất là khi gặp những bài tập phức tạp. Thực hiện
cẩn thận các phép tính. Để tránh sai số (nếu có) nên thay bằng chữ đến biểu
thức cuối cùng mới thay bằng số.
Bước 4: Kiểm tra, xác nhận kết quả và biện luận:
- Kiểm tra lại xem trị số của kết quả có đúng không, có phù hợp với thực tế
không? Kiểm tra lại các phép tính.
- Nếu có điều kiện, xem thử còn có cách giải nào khác ngắn gọn hơn, hay hơn
không ?


Trong các bước trên giáo viên cần nhắc nhở học sinh hết sức cẩn thận, tóm tắt phải
chính xác vì bước 1 là rất quan trọng, vì trong quá trình tóm tắt nếu sot một đại lượng
nào thì bước 2 không xác định được.
Bước 2: Là con đường tìm về đích vì vậy giáo viên hướng dẫn học sinh cách xác lập
mối quan hệ giữa các đại lượng.
Bước đầu giáo viên hướng dẫn học sinh đi xác lập đại lượng mà bài toán yêu cầu tìm.
Sau đó dựa vào các công thức để xác lập các đại lượng liên quan. Nếu đại lượng nào
có ở phần tóm tắt rồi thì thôi, còn đại lượng nào không có ở phần tóm tắt thì đãnh dấu
lại tiếp tục xác lập các đại lượng đó bằng các công thức cho đến khi nào các đại lượng
có mặt ở phần tóm tắt thì thôi.
Quá trình giải bài tập vật lí thực chất là quá trình tìm hiểu bài tập, xem xét điều kiện
vật lí được đề cập rồi căn cứ vào kiến thức vật lí, toán để tìm những mối liên hệ có thể
của những cái đã cho vứi những cái phải tìm cuối cùng tìm ra được mối liên hệ trực
tiếp giữa cái phải tìm với những cái đã cho .
Ví du như thiết lập sơ đồ sau:
Kí hiệu: (x) là cái phải tìm
(a), (b), (c) là cái đã cho
(1), (2), (3) là cái chưa biết.
(x); (a); (b)…(1); (2)….
Mối liên hệ :
Giả sử
I

(x); (a) (1) (2)

II

(b) (1) (3)

III

(c) (b) (3)

IV

(2) (d)

(e)

Từ mối liên hệ III rút (3). Thế III vào II để tìm (1)
Từ IV rút (2) thế vào mối liên hệ I
Thế (1) (2) vào mối liên hệ I để tìm (x)
(III)
(3)
(II)
(1)
(IV)
(2)
(I)
(x)
Từ sự phân tích trên đây cho thấy có có 2 phần việc cơ bản:


• Việc xác lập được mối liên hệ cụ thể dựa trên sự vận dụng kiến thức vật lí và
toán vào điều kiện cụ thể của bài tập đã cho.
• Sự tiếp tục luận giải và tíh toán đi từ mối liên hệ đã xác lậpđến mối liên hệ cuối
cùng, giữa cái phải tìm với cái đã cho túc là đạt được mục đích giải bài tập vật lí
Đối với những bài tập phức tạp không thể có ngay mối liên hệ trực tiếp của cái phải
tìm với cái đã cho mà phần lớn là một số mối liên hệ gián tiếp giữa cái phải tìm với
cái chưa biết rồi tiếp tục luận giải để tìm mối liên hệ trực tiếp.
Bước 3: Là bước trình bày bài làm
Đặt lời giải cho từng đại lượng đã đánh dấu ở bước 2
- Có bao nhiêu đại lượng đánh dấu thì đặt lời giải cho các đại lượng đó.
- Khi đặt lời giải thì dặt từ đại lượng xác lập cuối cùng rồi đến các đại lượng tiếp
theo cho đến khi về đến đại lượng mà bài toán yêu cầu tìm.
MỘT SỐ BÀI TẬP MINH HỌA CHO CÁC GIẢI PHÁP TRÊN.
1. Bài tập về VẬN TỐC
Bài 3.10 trong SBTVật Lí 8
Bước 1: Tóm tát bài toán :
s1=s2=s3=s/3(m)
v1 =12m/s
v2=8m/s
v3=16m/s
vtb=?

c. Điều kiện thực hiện giải pháp và biện pháp:
Kết hợp với những phương án tối ưu và với điều kiện trường vùng 2 nhưng kinh
tế địa phương khá tốt phụ huynh rất quan tâm đến việc học của học sinh.
Nhờ vào sự hiếu học của học sinh và niềm đam mê môn học của các em, các em
học sinh trong những lớp giáo viên khảo sát, học sinh chăm chỉ làm bài và công
nghệ thông tin trong nhà trường.
Sự nhiệt tình của giáo viên trong trường đã giúp tôi tìm hiểu được nhiều đối tượng
học sinh, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm rất nhiệt huyết và có đủ mọi điều kiện
giúp tôi hoàn thành sáng kiến này.
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp:
Sau khi tìm hiểu các biện pháp tìm ra kĩ năng nhớ công thức, phương pháp
giải bài tập và phối kết hợp với các đối tượng học sinh,tùy vào tâm lí của các em
trong một tiết dạy bài tập tôi nhận thấy chúng như một kiềng ba chân không tách rời
và nếu thiếu 1 trong ba yếu tố đó các em sẽ học không học tốt. ( Nếu muốn làm tốt bài


tập mà không nhớ công thức thì các em cũng không làm được hoặc nhớ công thức mà
tâm lí các em không thích học môn vật lí thì các em cũng không có được kết quả như
mong muốn).
e. Kết quả khảo nghiệm - giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu:
Qua quá trình hướng dẫn học sinh tôi đã tiến hành cho học sinh làm bài tập thì
thấy được đa số học sinh cảm thấy có hứng thú để làm bài tập. Khi kiểm tra một tiêt
để tránh tình trạng các học sinh trao đổi bài tôi đã cho kiểm tra nhiều đề trong cùng
một lớp đan xen nhau thấy kết quả của học sinh rất khả thi.
VẬN DỤNG 4 BƯỚC CHUNG ĐỂ GIẢI BÀI TẬP:
Giáo viên cho học sinh làm bài tập sau:
Bài tập:
Một thác nước cao 120m có lưu lượng 50m3/s, khối lượng riên của nước là
1000kg/m3. Gỉa sử một máy phát điện sử dụng được 20% công suất cực đại mà ta có
thể khai thác được của thác nước, thì cùng một lúcmáy phát điện có thế thắp sáng bình
thường tối đa bao nhiêu bóng điện 60W?
Giáo viên yêu cầu học sinh nêu các bước để giải bài tập vật lí.
Đa số các em học sinh đã nắm vững các bước.
Hình ảnh dưới đây là học sinh làm được theo cách đã học.
BƯỚC 1:
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc đề.
Giáo viên đặt câu hỏi bài toán cho biết gì và hỏi gì?
BƯỚC 2(Thường làm ở giấy nháp)
Giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng định hướng các giải
Yêu cầu học sinh nêu các công thức liên quan
BƯỚC 3(giải bài toán)
- Đặt lời giải cho từng đại lượng đã đánh dấu ở bước 2
- Có bao nhiêu đại lượng đánh dấu thì đặt lời giải cho các đại lượng đó.
- Khi đặt lời giải thì đặt từ đại lượng xác lập cuối cùng rồi đến các đại lượng tiếp
theo cho đến khi về đến đại lượng mà bài toán yêu cầu tìm.
GIẢI :
Lời giải 1: Khối lượng nước đổ xuống thác trong 1s là:
m=D.V=1000.50=50000(kg)
Lời giải 2 :Trọng lượng nước đổ xuống thác trong 1s là:
P=10.m=50000.10=500000(N)
Lời giải 3: công mà thác nước thực hiện từ độ cao 120m là:
A=P.h = 500000.120 =60000000(J)
Lời giải 4: Công suất cực đại mà ta có thể khai thác được của thác nước là:


PMAX = A/t =60000000:1=60000000(W)
Lời giải 5: Công suất có ích mà ta sử dụng được của thác nước là:
Pi =H.PMAX= 0,2.60000000 = 12000000(W)
Lời giải 6: số bóng đèn có thể thắp sáng bình thường là:
n = Pi/ Pđ= 12000000: 60= 200000(bóng)
BƯỚC 4 :Kết luận : vậy có thể sử dụng được 200000 bóng 60W.
II.4.KẾT QUẢ THU ĐƯỢC QUA KHẢO NGHIỆM ,GIÁ TRỊ KHOA HỌC
CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
Trong quá trình dạy học tôi áp dụng sáng kiến này vào giảng dạy thì thấy được học
sinh có niềm đam mê môn học hơn, kết quả ở các bài kiểm tra có tiến bộ rõ rệt
hơn.Trong tiết dạy buổi chiều các em học sinh chăm chỉ làm bài tập chứ không ngồi
chờ giáo viên chữa như trước đây nữa vì thế mà các em đã có kĩ năng nhớ công thức
và kĩ năng giải bài tập một cách có hiêu quả.Kết quả là học sinh khá giỏi tăng,học sinh
trung bình và dưới trung bình giảm. Trong quá trình học vật lý học sinh dần dần biết
cách phát hiện chiếm lĩnh kiến thức mới và giải quyết các vấn đề gần gũi với đời sống,
chất lượng học tập của học sinh tăng lên.
Trong quá trình áp dụng sáng kiến này ,tôi đã thu được kết quả như sau :
PHẦN III: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
III. 1. Kết luận.
Trong quá trình dạy học tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm trong dạy học vật lí.
Áp dụng cái mà mình rút ra từ kinh nghiệm giảng dạy, tôi đã mạnh dạn vận dụng vào
trong giảng dạy đã đưa lại được kết quả cao,cụ thể là học sinh ham học và yêu thích
môn vật lí hơn, đa số học sinh đã biết cách nhớ công thức vận dụng vào giải một bài
tập. Qua các bài kiểm tra thấy được số học sinh khá giỏi đã tăng, các em đã thấy được
tầm quan trọng của môn vật lí, thấy được thành tựu của vật lí đã phục vụ rất nhiều cho
cuộc sống của con người trên mọi phương diện.
Để hoàn thành nhiệm vụ dạy và học thì người giáo viên nhân dân không ngừng phấn
đấu, tích lũy kinh nghiệm để nâng cao chất lượng chuyên môn là việc làm thường
xuyên của mỗi thầy cô. Để làm tròn nhiệm vụ ấy, người giáo viên phải có tinh thần
cộng sản, nhiệt tình, luôn suy nghĩ cải tiến phương pháp dạy học và cải tiến phương
pháp dạy học có hiệu quả. Về phương pháp dạy trong chương trình môn vật lý trung
học cơ sở nói riêng và các môn học khác nói chung. Thường xuyên tìm hiểu và điều
tra tình hình thực tiễn về cơ sở vật chất, trường lớp nơi mình đang công tác và điều
kiện khả năng của học sinh trường mình đang giảng dạy, từ đó có những biện pháp
phù hợp để tạo hứng thú cho học sinh trong học tập. Qua đó giúp cho học sinh nắm


được nội dung của bài học, đặc biệt là những hình ảnh hỗ trợ các em giải các bài tập
định lượng và định tính từ dễ đến khó gây được sự hứng thú và yêu thích, và sự đam
mê môn học sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập môn vật lý nói chung và các
môn học khác nói riêng, giúp các em tự tin hơn khi học tiết bài tập và đón nhận bài
tập, góp phần không nhỏ vào công việc dạy và học.
Cuối cùng rất mong Ban giám hiệu và các bạn đồng nghiệp có sự đóng góp để tôi thực
hiện đề tài được tốt hơn và hoàn thành tốt những đề tài khác trong những năm học tiếp
theo.
III.2. Kiến nghị.
a) Đối với giáo viên dạy môn vật lí
Để giúp HS hứng thú và đạt kết quả tốt trong việc giải bài tập vật lí,điều cơ bản nhất
mỗi tiết dạy giáo viên phải tích cực, nhiệt tình, truyền đạt chính xác, ngắn gọn nhưng
đầy đủ nội dung, khoa học và lô gích nhằm động não cho HS phát triển tư duy, độ bền
kiến thức tốt.
Giáo viên dạy bộ môn vật lí cần cho học sinh hiểu ý nghĩa và tầm quan trọng của môn
học trong cuộc sống và kĩ thuật.
Giáo viên cần chú trọng hơn đến các học sinh yếu để kịp thời bồi dưỡng uốn nắn ,
động viên, khuyến khích các em có niềm say mê đối với môn học.
- Những tiết lý thuyết, thực hành GV phải chuẩn bị chu đáo bài dạy, hướng dẫn HS
chuẩn bị bài theo ý định của GV, có như vậy mới khắc sâu được kién thức của HS.
Thường xuyên nhắc nhở các em yếu, động viên, biểu dương các em khá giỏi, cập nhật
vào sổ theo dõi và kết hợp với GV chủ nhiệm để có biện pháp giúp đỡ kịp thời, kiểm
tra thường xuyên vở bài tập vào đầu giờ trong mỗi tiết học, làm như vậy để cho các
em có một thái độ đúng đắn, một nề nếp tốt trong học tập. Đối với một số HS chậm
tiến bộ thì phải thông qua GVCN kết hợp với gia đình để giúp các em học tốt hơn,
hoặc qua GV bộ môn toán để giúp đỡ một số HS yếu toán có thể giải được một vài
bài toán đơn giản. Từ đó gây sự đam mê, hứng thú học hỏi bộ môn vật lý.
b) Đối với BGH và các cấp có liên quan:
Cần tạo điều kiện cho giáo viên dạy môn vật lí có phòng học bộ môn và có đủ thí
nghiệm để thực hành.
Phòng giáo dục và cụm cần tăng cường tổ chức các chuyên đề vật lí để nhằm nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên bộ môn vật lí, đồng thời cũng để cho các
giáo viên học hỏi lẫn nhau.
Trên đây chỉ là những suy nghĩ của bản thân tôi và một vài kinh nghiệm nhỏ trong quá
trình giảng dạy. Tôi mạnh dạn trình bày để trao đổi cùng đồng nghiệp và cũng muốn
đóng góp một phần nhỏ công sức của mình vào việc nâng cao chất lượng dạy học
chung của toàn nghành giáo dục. Rất mong được sự đóng góp ý kiến, xây dựng của
bạn bè đồng nghiệp, hội đồng khoa học để tôi được hoàn thiện hơn trong quá trình dạy
học.
Xin chân thành cảm ơn.




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×