Tải bản đầy đủ

Một số phương pháp giúp học sinh khối lớp 6 rèn luyện kỹ năng viết có hiệu quả

I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lý do chọn đề tài.
Tiếng Anh ngày nay được coi như một công cụ hỗ trợ đắc lực đối với sự
nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển của một đất nước trong cộng đồng quốc tế.
Nó không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là chiếc chìa khoá để có thể mở
được cánh cửa lớn của nền khoa học, kỹ thuật và nền văn hoá thế giới. Vì thế việc
học Anh ngữ đã trở thành một nhu cầu bức thiết, rộng khắp và đó cũng chính là lí
do mà Tiếng Anh trở thành một môn học chính khoá trong hệ thống giáo dục phổ
thông, nhằm hình thành và phát triển ở các em học sinh những kiến thức và kỹ
năng cơ bản về ngôn ngữ thứ hai ngoài tiếng mẹ đẻ (Tiếng Việt).
Việc dạy học ngoại ngữ thực ra là một quá trình hoạt động nhằm nắm bắt ngôn ngữ
lời nói thông qua 4 kĩ năng: Nghe(Listening) - Nói(Speaking) - Đọc(Reading) Viết(Writing). Các kỹ năng này luôn bao trùm và hỗ trợ cho nhau trong một tiết
học. Vì vậy, việc rèn luyện cả bốn kỹ năng là vô cùng cần thiết đối vối người học
nói chung và học sinh đầu cấp THCS nói riêng. Tuy nhiên, không ít giáo viên dạy
Tiếng Anh trong chúng ta có quan điểm rằng đối với học sinh khối lớp 6 thì mục
tiêu chủ yếu thông qua các tiết học là giúp học sinh rèn luyện kỹ năng nghe và nói
nên thường ít chú trọng đến vai trò của hoạt động viết trên lớp – đó chính là sự kết
hợp tinh tế giữa các kỹ năng nghe – nói – đọc nhằm làm phong phú thêm các hình
thức luyện tập củng cố kiến thức, là sự cụ thể hoá các kỹ năng ngôn ngữ khác mà
học sinh đạt được qua một tiết học bằng việc làm quen với văn phong, cấu trúc
chặt chẽ của văn viết trong Tiếng Anh. Qua thực tiễn giảng dạy bộ môn Tiếng Anh

tại trường, bản thân tôi luôn trăn trở vì sao đa số học sinh (kể cả học sinh các khối
cuối cấp) thường cảm thấy lúng túng trong việc triển khai các nhiệm vụ bài tập về
viết câu? Làm thế nào để giúp học sinh tự tin hơn trong việc thể hiện văn phong,
cấu trúc của một câu, một bài viết Tiếng Anh? Tôi nghĩ rằng việc hình thành và
phát triển kỹ năng viết câu cho học sinh khối đầu cấp cũng vô cùng quan trọng. Đó
sẽ là nền móng cho việc phát triển kỹ năng viết ở các khối lớp sau. Với lí do đó tôi
mạnh dạn đưa ra nội dung về một số phương pháp giúp học sinh khối lớp 6 rèn
1


luyện kỹ năng viết có hiệu quả làm đề tài nghiên cứu để đúc rút kinh nghiệm cho
bản thân. Hy vọng đây sẽ là một vài kinh nghiệm nhỏ để các bạn tham khảo và
cũng rất mong nhận được góp ý chân thành từ các đồng nghiệp.
I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
Giúp các em học sinh hiểu được sự cần thiết và tầm quan trọng của Tiếng Anh, tạo
sự hứng thú, say mê trong mỗi học sinh đối với môn học, đồng thời phát huy tính
tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh, giúp các em chủ động chiếm lĩnh, làm
chủ kiến thức. Qua đó các em có thể khắc phục những hạn chế về kỹ năng viết sau
này và tự tin khi thể hiện bài viết của mình.
I.3. Đối tượng nghiên cứu.
- Các tiết học Tiếng Anh chính khoá và tăng buổi (khối 6) tại trường THCS ...
- Toàn thể học sinh khối 6 trường THCS ....
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
Đề tài được nghiên cứu và áp dụng trong phạm vi chương trình giảng dạy Tiếng
Anh bậc THCS.
I.5. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp chủ yếu là khảo sát nắm bắt tình hình thực tiễn và đúc rút kinh
nghiệm giảng dạy hàng năm để tìm ra giải pháp chung.
- Nghiên cứu tài liệu về phương pháp và so sánh với kết quả áp dụng phương pháp
đó trong thực tiễn giảng dạy của bản thân.
II. PHẦN NỘI DUNG
II.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Chương trình cải cách bộ môn Tiếng Anh của bộ Giáo Dục và Đào Tạo
nhiều năm qua đã thật sự tạo ra những chuyển biến lớn đối với quá trình dạy và
học Tiếng Anh trong nhà trường phổ thông về cả nội dung cũng như phương pháp
giảng dạy nhằm phù hợp với mục tiêu và yêu cầu đặt ra của bộ môn trong chương
trình mới đó là làm sao phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học
2



sinh và tạo điều kiện tối ưu cho học sinh được rèn luyện, phát triển và nâng cao
khả năng, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ vào mục đích giao tiếp.
Ngay từ những buổi đầu học Tiếng Anh, các em học sinh đã được tiếp xúc với bốn
kỹ năng cơ bản của ngôn ngữ, đó là: nghe, nói, đọc, và viết. Mỗi kỹ năng đều đóng
một vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển ngôn ngữ của các em.
Trong đó kỹ năng nghe và đọc giúp học sinh hình thành và trau dồi khả năng cảm
thụ ngôn ngữ thông qua các nội dung luyện tập đã được thiết kế sẵn trong chương
trình sách giáo khoa, kỹ năng nói và viết liên quan đến khả năng diễn đạt ngôn ngữ
của học sinh nên thường gây khó khăn cũng như áp lực đối với học sinh trong việc
luyện tập. Đặc biệt kỹ năng viết còn đưa ra yêu cầu cao hơn đối với học sinh trong
việc diễn đạt lại những gì mình đã nghe, nói, đọc được bằng ngôn ngữ viết. Khi
viết, không những đòi hỏi phải chuẩn về cấu trúc ngữ pháp mà còn phải đảm bảo
về ý nghĩa biểu cảm. Để các em có thể trình bày được ý kiến của người khác, diễn
đạt được suy nghĩ của mình bằng Tiếng Anh không phải là một việc đơn giản. Vì
thế, mỗi giáo viên chúng ta cần hình thành trong mỗi học sinh một tư duy về ngôn
ngữ từ đơn giản đến phức tạp nhằm giảm bớt áp lực và tạo sự tự tin cho học sinh
trong việc diễn đạt ngôn ngữ của mình. Với lí do đó, việc rèn kỹ năng viết cho học
sinh ngay từ khối đầu cấp đóng một vai trò quan trọng trong cả quá trình hình
thành và phát triển ngôn ngữ của các em.
II.2. THỰC TRẠNG:
a. Thuận lợi – Khó khăn:
* Thuận lợi:
- Ban giám hiệu nhà trường có sự quan tâm và tạo điều kiện về cơ sở vật chất và
tài liệu chuyên môn phục vụ cho việc giảng dạy như: các loại sách tham khảo, bộ
tranh ảnh Tiếng Anh 6-7-8-9, băng đĩa, máy cassette, bảng phụ học nhóm…
- Đa số giáo viên đều được tham gia các lớp tập huấn đổi mới chương trình,
phương pháp giảng dạy, các lớp bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn… do
phòng Giáo Dục triển khai.
3


- Chính quyền địa phương, ban đại diện cha mẹ học sinh cũng như các đoàn thể
trong và ngoài nhà trường luôn hỗ trợ giáo viên trong quá trình công tác.
- Bản thân mỗi giáo viên luôn nhận được sự giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm từ các
giáo viên cùng tổ chuyên môn và các đồng nghiệp để từng bước nâng cao chất
lượng giảng dạy trong nhà trường.
- Đa số các em học sinh đều có ý thức học tập và có niềm say mê đối với môn
Tiếng Anh. Học sinh được trang bị đầy đủ sách vở, cũng như đồ dùng học tập.
* Khó khăn:
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường vẫn còn thiếu thốn như phòng bộ
môn, các thiết bị nghe, nhìn, bảng điện tử thông minh…nên chưa đáp ứng nhu cầu
học tập cũng như kích thích niềm đam mê, hứng thú của học sinh đối với môn
Tiếng Anh.
- Phần lớn học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số nên các em bị hạn chế rất
nhiều về khả năng ngôn ngữ, việc diễn đạt một câu bằng Tiếng Việt với các em đôi
lúc vẫn còn gặp khó khăn cả về lời nói lẫn câu chữ. Vì thế đa số học sinh cảm thấy
Tiếng Anh là một môn học khó, chưa thật sự đam mê và có hứng thú đối với môn
học này. Hơn nữa, các em cũng ít nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ của bố mẹ ở
nhà bởi Tiếng Anh là môn học đặc thù mà không phải phụ huynh nào cũng biết.
- Xã ... là xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, đa số nhân dân làm
nông nghiệp, nhiều gia đình (đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số) đời sống
vật chất còn thiếu thốn, các em phải giúp bố mẹ làm kinh tế nên không có điều
kiện và thời gian đầu tư cho việc học.
- Một số học sinh còn xao lãng, chưa nhận thức được tầm quan trọng của Tiếng
Anh nên ít quan tâm đến việc học bộ môn này.
- Đa số học sinh rất e dè, ngại nói, ngại giao tiếp bằng Tiếng Anh, từ đó ảnh hưởng
nhiều đến khả năng viết của các em.
b. Thành công – Hạn chế:
* Thành công: Qua nhiều năm liền được phân công giảng dạy bộ môn Tiếng Anh
khối đầu cấp, bản thân tôi được tiếp xúc với rất nhiều học sinh có năng khiếu và
4


cũng không ít học sinh có những hạn chế khác nhau về Tiếng Anh để rồi từ đó tôi
từng bước tìm ra cho mình hướng giảng dạy đạt hiệu quả hơn, thích ứng hơn với
nhiều đối tượng học sinh. Và thành công đối với tôi đó là qua từng niên khoá, tôi
nhận thấy học sinh đã cảm thấy hứng thú hơn với tiết học Tiếng Anh, đặc biệt khi
triển khai các dạng bài tập viết, phần nào các em đã nắm được nội dung cần viết và
có thể ghép các câu chữ thành câu văn tương đối đạt. Các em đã dần dần tự tin hơn
trong việc thể hiện ý tưởng của mình bằng Tiếng Anh cả về ngôn từ và câu chữ.
* Hạn chế: Tiếng Anh là một môn học khá thú vị tuy nhiên đòi hỏi người học
phải thật sự cần cù, chịu khó đặc biệt là phải luyện tập trau dồi thường xuyên nếu
không kiến thức sẽ bị đứt quãng và dễ quên. Nhưng thực tế thì môi trường và điều
kiện học tập của các em còn nhiều hạn chế, ngoài việc tiếp thu kiến thức trên lớp,
các em hầu như không có cơ hội để giao tiếp bằng Tiếng Anh, sống ở vùng có địa
hình dân cư thưa thớt, bạn bè không ở gần nhau nên các em ít có điều kiện ôn tập,
luyện tập theo nhóm, tổ. Nhất là sau 3 tháng nghỉ hè, nhiều em còn phải giúp đỡ
gia đình làm kinh tế nên việc tiếp thu, vận dụng kiến thức sau một năm học hoàn
toàn bị lãng quên.
c. Mặt mạnh – Mặt yếu:
* Mặt mạnh:
- Luôn được sự quan tâm của lãnh đạo Phòng Giáo Dục cũng như ban ngành đoàn
thể về công tác dạy và học của nhà trường, đặc biệt Ban Giám Hiệu nhà trường
luôn đặt nhiệm vụ tăng cường đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng
mũi nhọn lên hàng đầu đã góp phần khuyến khích, thúc đẩy thêm quá trình giảng
dạy của giáo viên cũng như kích thích hơn nữa niềm đam mê học tập của học sinh
nhằm đưa phong trào dạy và học nói chung cũng như phong trào dạy và học ngoại
ngữ nói riêng của ngôi trường nhỏ bé đóng trên địa bàn xã có nền kinh tế xã hội
đặc biệt khó khăn lên một tầm cao mới.
- Đa số giáo viên đều đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ chuyên môn, có lòng
nhiệt huyết cao, yêu nghề mến trẻ, yên tâm công tác là yếu tố góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục của nhà trường.
5


* Mặt yếu:
- Điều kiện kinh tế xã hội của địa phương cũng như hoàn cảnh sống của gia đình
đã ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng giao tiếp, học hỏi cũng như việc rèn luyện
vốn ngoại ngữ của các em.
- Cơ sở vật chất của nhà trường thực sự chưa đáp ứng nhu cầu học tập, rèn luyện
của học sinh (phòng học đặc trưng bộ môn, thiết bị hỗ trợ học tập…) nên các em
chưa thực sự phát huy hết khả năng tư duy ngôn ngữ của mình.
d. Các nguyên nhân và yếu tố tác động:
Việc học ngoại ngữ nói chung cũng như việc rèn luyện các kỹ năng ngôn
ngữ của học sinh, đặc biệt là kỹ năng viết ở môn Tiếng Anh đối với hầu hết các
khối lớp đều chưa đạt hiệu quả là do một số nguyên nhân và yếu tố khách quan
cũng như chủ quan đến từ cả người dạy và người học: cơ sở vật chất, trang thiết bị
của nhà trường chưa đảm bảo nhu cầu học tập, luyện tập của học sinh; học sinh là
con em đồng bào dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn chiếm phần đông; môi
trường giao tiếp hạn chế ảnh hưởng nhiều đến khả năng thực hành, vận dụng và cải
thiện vốn ngoại ngữ của các em; năng lực của học sinh ở mỗi lớp thường không
đồng đều dẫn đến các em ngại giao tiếp, trao đổi, học hỏi lẫn nhau, bên cạnh đó
một số học sinh vẫn còn lơ là, xao lãng việc học, chưa xây dựng được động cơ học
tập cho mình; một số giáo viên thường ít chú trọng đến kỹ năng viết của học sinh ở
trên lớp ( đặc biệt là học sinh khối lớp 6 ) nên còn chủ quan trong việc kiểm tra
đánh giá về kỹ năng ngôn ngữ của học sinh.
e. Phân tích đánh giá các vẫn đề thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
Qua thời gian giảng dạy bộ môn Tiếng Anh tại trường THCS ... ( trước đây
là trường THCS ... – Phân hiệu ... ) bản tôi nhận thấy đa số học sinh ở hầu hết các
khối lớp đều chưa vận dụng và thể hiện tốt kỹ năng viết của mình trong các tiết
học, đặc biệt ở những giờ học viết các em thường coi việc thực hiện những nội
dung, yêu cầu của bài viết là một nhiệm vụ hết sức khó khăn, phần lớn các em
chưa có khả năng viết hoàn chỉnh một đoạn văn, thậm chí một câu văn có nghĩa.
6


Nhiều em có ý tưởng rất hay nhưng do hạn chế về từ vựng, hoặc không nắm được
cấu trúc câu cũng như cách sắp xếp các từ loại trong câu dẫn đến thực tế các em
thường viết theo cảm tính, đôi khi còn sử dụng từ một cách tùy tiện, thể hiện
phong cách viết thuần Việt (theo kiểu dịch từ Việt sang Anh: Vietnamese_ English
translation). Một số em còn có thói quen đối phó với các tiết học viết bằng cách
chép các câu, bài viết mẫu ở sách học tốt dẫn đến kỹ năng viết của các em ngày
càng thui chột dần. Bên cạnh đó, sự yếu kém của các em cũng có phần thiếu sót
của giáo viên giảng dạy chẳng hạn như truyền đạt máy móc, các bước dạy chưa rõ
ràng, các thủ thuật chưa sát thực, gợi mở và không đủ sức lôi cuốn học sinh, chưa
lồng ghép các kỹ năng một cách linh hoạt hoặc đặt ra yêu cầu quá cao so với trình
độ của các em dẫn tới khả năng viết của các em gặp nhiều hạn chế. Một thực tế
được đặt ra hiện nay đó là hầu như tất cả các kỳ thi đối với môn Tiếng Anh ở các
cấp, bậc học phổ thông đều thể hiện bằng hình thức thi viết. Chính vì thế, yêu cầu
đặt ra cho mỗi giáo viên dạy ngoại ngữ khá nặng nề, đặc biệt là trong rèn luyện và
phát triển kỹ năng viết cho học sinh. Từ những thực trạng nêu trên, vấn đề đặt ra
cấp thiết đối với tôi là làm thế nào để định hướng cho các em phương pháp học
ngoại ngữ nói chung cũng như việc rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ nói riêng đặc
biệt là kỹ năng viết cho những lớp đầu cấp để cải thiện những hạn chế, thiếu sót về
khả năng viết của học sinh chính là lí do mà bản thân tôi đưa ra đề tài “ Một số
phương pháp rèn kỹ năng viết cho học sinh khối lớp 6”.
Kết quả khảo sát thực tế trước khi áp dụng đề tài:
STT

Lớp

Giỏi
TS %

Khá
TS %

TB
TS %

Yếu
TS %

3

8,1

9

24,3 19

51,4

6

16,2 0

0

8

25,8 0

0

27,6 3

10,4

1

6A

Sĩ số
37

2

6B

31

2

6,5

6

19,4 15

48,3

3

6C

29

0

0

5

17,2 13

44,8 8

Kém
TS %

7


II.3. GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP:
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
Viết là một trong những kỹ năng ngôn ngữ cơ bản của quá trình dạy và học
ngoại ngữ trong nhà trường phổ thông, mục đích của việc luyện tập kỹ năng này là
nhằm củng cố vốn ngữ liệu đã được học. Ở chương trình lớp 8, 9 kỹ năng viết
được chia theo các tiết dạy riêng biệt, phần lớn là các dạng bài tập viết có hướng
dẫn (viết đoạn văn theo chủ đề), được thực hiện theo 3 bước cụ thể: trước khi viết
(pre-writing), trong khi viết (while- writing) và sau khi viết (post- writing) nên
giáo viên dễ dàng hơn trong việc hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá kết quả luyện tập
của học sinh. Riêng ở chương trình lớp 6, kỹ năng viết thường được lồng ghép với
các kỹ năng nghe, nói, đọc nhằm làm phong phú thêm hình thức luyện tập trên lớp,
thường là các dạng viết có hình thức đơn giản (chủ yếu là viết câu dựa trên vốn
ngữ liệu mới được giới thiệu trong tiết học). Vì vậy, để có thể cải thiện kỹ năng
viết ở mức độ đòi hỏi cao thì trước hết học sinh cần phải hoàn thiện cách trình bày
một câu văn cơ bản (câu đơn), bởi lẽ một đoạn văn là sự kết hợp của nhiều câu văn
có ý nghĩa, được sắp xếp một cách lô-gíc, mạch lạc. Việc giúp học sinh hiểu thế
nào là một câu văn, thành phần và vị trí đúng của các từ loại trong câu theo phong
cách của người Anh, để từ đó học sinh có thể tự triển khai một câu văn hoàn chỉnh
và luyện tập dần dần để nâng cao kỹ năng viết của mình chính là mục tiêu của các
giải pháp mà giới hạn đề tài đưa ra.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
1/ Cách viết câu cơ bản ( câu đơn) ( How to write a basic sentence ).
1.1. Khái niệm : (What is a sentence ?)
- Câu (sentence) là sự kết hợp của một nhóm từ (a group of words). Nó được chia
làm 2 phần: chủ ngữ (subject) và vị ngữ (predicate).
- Động từ trong câu (verb) luôn phải hoà hợp với chủ ngữ về giống (gender), số
(number), thời/thì (tense), cách (case)…
- Nó phải là một sự thông báo hoàn chỉnh (cả về mặt ý nghĩa và ngôn từ).
- Nó thường được bắt đầu bằng chữ cái in hoa (capital letter) và kết thúc bằng một
8


dấu chấm câu (a full stop).
Về mặt định nghĩa, giúp học sinh nhận biết đó chính là một câu đơn hay câu cơ
bản (a basic sentence).
1.2. Các yếu tố / thành phần cơ bản của câu (sentence elements).
Việc giới thiệu và giúp học sinh nắm được các yếu tố / thành phần cơ bản của một
câu chính là cốt lõi của việc rèn luyện kỹ năng viết câu cho học sinh. Thông
thường có 5 yếu tố cơ bản để cấu thành câu, đó là: chủ ngữ (subject), động từ
(verb), bổ ngữ ( complement), tân ngữ (object) và trạng ngữ (adverb). Các yếu tố
này có thể đồng thời có mặt trong một câu hoặc câu có thể khuyết đi một trong các
yếu tố như bổ ngữ, tân ngữ hoặc trạng ngữ.
1.3. Trọng tâm của câu (sentence focus).
Tập trung vào cá nhân / chủ thể cụ thể. Nó phải là câu trả lời cho các dạng câu hỏi:
Who does what? / What does what?
What does what →When/Where/How/Why ?
Who does what → When/Where/How/Why ?
1.4. Câu đơn có bao nhiêu loại ?
Dựa trên sự có mặt của 5 yếu tố cơ bản trong câu có thể giúp học sinh nắm được 7
loại câu đơn, bao gồm:
(1) S + V → It is raining
S

V

(2) S + V + A (compulsory) → He is outside
S V
(3) S + V + Od → Bang likes sports
S

V

A
(Od = direct object: tân ngữ trực tiếp)

Od

(4) S + V + OI + Od →My mother buys me a new bike (OI = indirect object: tân
ngữ gián tiếp)

S

V

OI

Od

(5) S + V + CS → They are beautiful (CS = subject complement: bổ ngữ cho chủ
từ)

S

V

CS
9


(6) S + V + O + A → My father takes me to the zoo
S

V O

A

(7) S + V + O + CO → We call him a hero (CO = object complement: bổ ngữ cho
tân ngữ)

S

V O

CO

Giáo viên cần phân tích rõ vị trí, chức năng của từng thành phần trong mỗi loại
câu, đặc biệt lưu ý học sinh về vị trí của các trạng từ tần suất trong câu bởi lẽ phần
lớn các trạng từ nằm ở cuối hoặc đầu câu, riêng trạng từ tần suất thường được đặt
sau động từ “tobe” và trước động từ thường.
1.5. Sự hòa hợp giữa chủ ngữ, động từ và các yếu tố khác trong một câu
đơn.
Qua phân tích, nhận định các loại câu cơ bản, chúng ta có thể nhận thấy rằng hai
yếu tố chủ ngữ và động từ là thành phần không thể thiếu trong một câu. (Ngoại trừ
câu mệnh lệnh, hoặc dạng câu tỉnh lược)
Vậy giữa chủ ngữ, động từ và các yếu tố khác trong câu sự hòa hợp như thế nào ?
Có phải cứ có đủ 5 yếu tố cơ bản đã nêu trên là cấu tạo thành 1 câu hoàn chỉnh
không ? Có thể xét ví dụ sau:
Ex: He be a doctor.
S V

CS

→ Đây không phải là 1 câu hoàn chỉnh vì động từ “be” chưa phù hợp với chủ ngữ
“ He”.
→ Câu hoàn chỉnh phải là: He is a doctor.
Như vậy , từ định nghĩa về câu và sự phân tích cấu tạo của câu thì giữa động từ và
chủ ngữ nhất thiết phải có sự hoà hợp về giống, số, thời, thể, cách. Ngoài ra, động
từ còn phải phù hợp với các yếu tố khác, đặc biệt là các trạng từ trong câu. Dựa
vào sự dung hoà này giáo viên có thể thiết kế một số dang bài tập luyện tập cho
học sinh như:
Exercise 1: Correct mistake for there sentences(Sửa lỗi câu cho các câu sau)
a/ Ba have two sisters. → has (động từ không phù hợp )
b/ This is my father. Her name’s Ba. → His (giống không phù hợp)
10


c/ They are student. → students (Số không phù hợp)
d/ I am going to visit my grand parents now → tomorrow…. (Trạng từ

không

phù hợp)
e/ She is a teacher good. → Đảo good trước teacher (vị trí từ loại không phù hợp)
Exercise2: Reoder the following words to make full sentences. ( Sắp xếp các từ
cho sẵn thành câu hoàn chỉnh).
a. Phong / plays / in / soccer / the / usually / afternoon
→ Phong usually plays soccer in the afternoon.
b. In/ Thu / the / countryside / lives
→ Thu lives in the countryside.
Exercise 3:

Complete these sentences with the correct form of word in the

parentheses (Hoàn thành các câu sau dùng dạng đúng của từ trong ngoặc)
a/They are................(farm) .They work very hard everyday
→ They are farmers.
b/ The city is very………………(beauty)
→ The city is very beautiful.
c/ Mr Lam is................his car to work now. (drive).
→ Mr Lam is driving his car to work now.
Với các dạng bài tập này có thể giúp học sinh nắm vững cấu trúc cơ bản của một
câu đơn cũng như vị trí, chức năng và sự hoà hợp của các yếu tố cấu thành câu.Và
khi được luyện tập nhiều, học sinh sẽ dần dần cải thiện và nâng cao kỹ năng viết
của mình, các em sẽ viết được một câu văn hay, chính xác cả về văn phong lẫn ý
nghĩa.
2. Các hình thức bài tập luyện tập kĩ năng viết cho học sinh lớp 6:
Như đã trình bày, ở chương trình lớp 6 kỹ năng viết thường đan xen với các kỹ
năng khác như nghe, nói, đọc.Vì vậy, phương pháp chủ yếu để rèn kỹ năng viết
cho học sinh lớp 6 chính là việc thiết kế các hình thức luyện tập lồng ghép tuỳ theo
nội dung, yêu cầu của bài / tiết học cũng như mức độ và khả năng thực hành của
học sinh. Dưới đây là một số hình thức luyện tập cơ bản:
11


2.1 Ghi chép lại (writing down):
Đối với học sinh khối lớp đầu cấp, việc ghi chép lại những gì đã học có thể giúp
học sinh củng cố và ghi nhớ được bài học đôi khi nhiều hơn ta tưởng. Đồng thời
qua việc ghi chép lại, học sinh có thể hạn chế việc mắc lỗi trong quá trình viết,
từng bước cải thiện, nâng cao kỹ năng viết của mình.
Các bài tập ghi chép lại không phải lúc nào cũng mang tính máy móc, thụ động ,
nhàm chán như phần lớn các giáo viên thường quan niệm mà ngược lại giáo viên
hoàn toàn có thể kích thích niềm đam mê, gây hứng thú học tập và giúp học sinh
học tốt hơn bằng cách tạo ra nhiều hình thức bài tập chép lại có ý nghĩa và thú vị.
Sau đây là một số ví dụ cụ thể về các dạng bài tập ghi chép lại:
* Complete the dialogue: Một một học sinh sẽ chép lại một lời thoại từ đoạn hội
thoại đã cho ( có chứa vốn ngữ liệu đã học ), sau đó chuyền cho bạn kế bên chép
lại một câu đáp phù hợp với lời thoại trước. Quá trình luyện tập có thể cho học
sinh đổi vai để nắm bắt hết toàn bộ nội dung của đoạn hội thoại. Hình thức này
tương tự như cách thực hiện một bài hội thoại dây chuyền (chain dialogue).
Example: (B4 – Unit 1)
Lan: Good afternoon, Nga.

Nga: … …, … .

Lan: How are you?

Nga: … … …, … .
……?

Lan: Fine, thanks.

Nga: Goodbye.

Lan: … .
* Complete the sentences: Một học sinh chỉ chép lại phần đầu của một câu, sau
đó chuyền cho bạn bên cạnh chép tiếp phần cuối để hoàn thành câu (hoặc ngược
lại). Câu được hoàn thành phải đảm bảo cả về cấu trúc và ý nghĩa (dựa trên ngữ
liệu đã được cung cấp).
Example:

(Unit 13- A4)

- When it’s hot, I ……………………………..
- When it’s cold, I …………………………….
- When it’s cool, I ……………………………
12


- When it’s warm, I …………………………….
* Reoder sentences to make a complete dialogue: Giáo viên đưa ra một số câu
để cấu thành đoạn hội thoại nhưng được sắp xếp một cách lộn xộn và yêu cầu học
sinh tái tạo lại đoạn hội thoại bằng cách sắp xếp và chép lại những mẫu câu đó
thành đoạn hội thoại hoàn chỉnh.
Example: (B1 – unit 2)
A. My name’s Nam.
B. How old are you?
C. Where do you live?
D. I’m twelve years old.
E. I live on Tran Phu Street
F. What’s your name?
( Key: F – A – C – E – B - D )
2.2. Chép chính tả(Dictation)
Chép chính tả cũng là một hình thức chép lại có hiệu quả. Ở dạng bài tập
này học sinh vừa được luyện tập khả năng nghe hiểu, vừa được củng cố cấu trúc
ngữ pháp và từ vựng đã học bằng việc ghi lại đúng chính tả các từ, câu, đoạn văn
vừa được nghe. Có nhiều cách chép chính tả khác nhau với mức độ từ dễ đến khó:
* Nghe, chép lại các từ hoặc các câu đơn giản: cách chép này thường chú trọng vào
các từ có âm hoặc chính tả khó, dễ gây nhầm lẫn đối với học sinh.
Example: write the ordinal numbers (B4 – Unit 4)
* Nghe, chép lại các từ hoặc cụm từ quan trọng trong văn cảnh (spot dictation):
Học sinh được đưa cho một đoạn văn chưa hoàn chỉnh, sau đó được yêu cầu vừa
theo dõi bài đọc vừa nghe và ghi lại các từ còn thiếu ở chỗ trống.
Example: complete the passage (C4 – Unit 7)
Ở phần này, giáo viên thiết kế lại một đoạn văn đã hoàn chỉnh trong sách giáo khoa
bằng cách bỏ bớt một số từ quan trọng để giới thiệu cho học sinh (viết lên bảng
hoặc dùng bảng phụ), sau đó yêu cầu học sinh gấp sách, theo dõi lên bảng kết hợp
nghe và viết lại các từ còn thiếu).
13


Example: “ Hi. My name is Hoang. I’m a…………… . I …………….at half past
five. I take a shower and get dressed. I ………… breakfast, then I …………..the
house at half past six. The school is near my house, so I…………. . The classes
start at seven and…………..at half past eleven. I walk home and have lunch
at………..o’clock”.
* Nghe, chép lại toàn bài: Đối với học sinh lớp 6 thì giáo viên nên thiết kế những
đoạn văn ngắn có câu, từ đơn giản, nội dung phù hợp với vốn ngữ liệu mới vừa
được cung cấp để tránh gây áp lực cho học sinh, đặc biệt là những học sinh yếu.
2.3 Xây dựng hội thoại có hướng đẫn (Construction dialogues).
Giáo viên đưa ra một bài hội thoại mẫu đồng thời cung cấp một số từ, cụm từ chủ
chốt. Học sinh dựa vào bài mẫu và dùng những từ đã cho để viết thành một bài hội
thoại mới tương tự như bài mẫu. Với dạng bài tập này nên cho học sinh đọc kỹ bài
hội thoại mẫu để các em có thể vừa nắm được nội dung vừa nhận biết những từ, ý
văn cần thay thế.
Example: (A6 – unit 10)
Step 1: Read this dialogue
What’s the matter, Dung? → I’m cold.
What do you want?

→ I want a hot drink.

Step 2: Now use the key words and make the similar dialogues
a) hot / cold drink.
b) hungry / noodles.
c) thirsty / a drink.
2.4. Viết lại đoạn văn: (rewriting the passage)
Hình thức bài tập này cũng tương tự với dạng bài xây dựng hội thoại có hướng
dẫn. Học sinh được đưa cho một đoạn văn, một câu chuyện hay một bài học. Dựa
vào bài mẫu đó, yêu cầu học sinh viết lại một đoạn văn với một số thay đổi theo
yêu cầu.
Example: (C2+3 – Unit 4)
14


Every morning, I get up. Then I get dressed. I brush my teeth and wash my face. I
have breakfast. Then I go to shool
→ Every morning, Ba gets up. He .........................................................................
2.5. Viết mở rộng dưa vào khung gợi ý (expanding frames) :
Yêu cầu học sinh hoàn thành bài viết dựa trên một khung gợi ý cho sẵn, có thể là
của một đoạn văn hoặc một lá thư ngắn có nội dung và chủ điểm liên quan đến bài
học.
Example: (Unit 5: things I do)
Get up / 5.30. / brush teeth / wash face. / have breakfast / 6.00. / After breakfast /
school / 6.30. / go home / lunch / 11.30. / afternoon / homework / play sports. /
have dinner / 6.30. /evening / watch TV. / bed / 10.00.
Key: Every day, I get up at 5.30. I brush my teeth and wash my face. I have
breakfast at 6.00. After breakfast, I go to school at 6.30. I go home and have lunch
at 11.30. In the afternoon, I do my homework and play sports. I have dinner at
6.30. In the evening, I watch TV. I go to bed at 10.00.
2.6. Một số hoạt động giao tiếp phổ biến qua viết:(Communicative writing
activities)
Có nhiều hoạt động giao tiếp qua viết thực hiện ngay tại lớp rất hiệu quả. Đây là
hình thức luyện tập tự do. Học sinh có thể sử dụng ngữ liệu đã học vào những tình
huống, hoạt động gần gũi với cuộc sống hằng ngày. Sau đây là một số hình thức
luyện tập phổ biến:
* Writing messages (viết lời nhắn): Học sinh có thể viết và chuyền cho nhau
những yêu cầu, đề nghị đơn giản qua mẫu giấy nhỏ.
Example: (Unit 14 – C: suggestions)
- Let’s………..
- How about………………?
- Why don’t we…………………?

15


* Writing letters (viết thư): Viết thư là một trong những hình thức giao tiếp qua
viết phổ biến. Có nhiều hình thức viết thư khác nhau như: thư mời, xin lỗi, cám ơn,
chúc mừng, đề nghị, thăm hỏi, hướng dẫn,…
Tuy nhiên, đối với học sinh lớp 6 thì hình thức viết thư chỉ nên đơn giản như thư
mời (thiệp mời) hoặc có thể là viết một tấm bưu thiếp (postcard), vì qua việc viết
thư học sinh không chỉ phải chú ý đến sự chính xác của ngôn từ mà còn phải quan
tâm đến đối tượng giao tiếp (người đọc) hoặc các yếu tố văn hoá xã hội khác có
liên quan.
* Interviews(viết bài phỏng vấn ngắn): Thông thường phỏng vấn là một thủ
thuật phổ biến dành cho luyện tập giao tiếp bằng ngôn ngữ nói( speaking), tuy
nhiên giáo viên vẫn có thể sử dụng hình thức này như một dạng bài tập luyện tập
phối hợp để rèn kỹ năng viết cho học sinh. Trước khi phỏng vấn, giáo viên có thể
hướng dẫn học sinh soạn ra một bảng câu hỏi (questionare) và định hướng cách trả
lời (các câu hỏi nên có nội dung đơn giản để học sinh có thể thu được kết quả
phỏng vấn cao), cho học sinh tiến hành phỏng vấn (theo cặp hoặc theo nhóm nhỏ),
sau khi phỏng vấn xong yêu cầu các em ghi lại các câu trả lời ở dạng đầy đủ sau đó
sắp xếp các câu trả lời sao cho có logic và viết lại thành một bài phỏng vấn hoàn
chỉnh.
c. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp:
* Sự phối hợp giữa các kĩ năng:
Như đã trình bày, bản chất của quá trình học ngoại ngữ chính là sự nắm bắt
và phối hợp giữa các kỹ năng nghe – nói – đọc – viết trong việc cảm thụ và phát
triển năng lực ngôn ngữ của người học. Đó chính là điều kiện quyết định kết quả
học tập, luyện tập của người học nói chung cũng như học sinh trong nhà trường
phổ thông nói riêng. Là giáo viên dạy ngoại ngữ, chúng ta hoàn toàn dễ dàng nhận
thấy rõ vai trò của sự phối hợp giữa các kỹ năng trong mỗi tiết học (đặc biệt là ở
chương trình lớp 6) chủ yếu là thông qua các hình thức luyện tập lồng ghép mà bản
thân đã trình bày trong giải pháp thuộc phạm vi giới hạn của đề tài. Ví dụ:
16


- Học sinh có thể rèn luyện kỹ năng viết bằng việc phối hợp với kỹ năng nghe qua
các dạng bài tập như: chép lại (học sinh nghe một câu chuyện, một bài hội thoại,
một bài khoá… sau đó tái tạo lại ở dạng viết (có hướng dẫn)) hoặc chép chính
tả(nghe rồi ghi lại các thông tin chính)
- Sự phối hợp giữa kỹ năng nói và viết qua các dạng bài tập như: xây dựng hội
thoại có hướng dẫn hoặc viết lại đoạn văn (có sự thay đổi gợi ý): học sinh thường
được luyện nói trước, sau đó trình bày lại dưới dạng bài viết.
- Kỹ năng đọc và viết cũng thường được phối hợp một cách chặt chẽ như thông
qua việc đọc một bài mẫu, học sinh có thể viết một đoạn, bài tương tự dựa trên
những thông tin chính đã được cung cấp (expanding frames)
* Chữa bài viết cho học sinh:
Việc giúp người học nhìn nhận sự tiến bộ (về kỹ năng viết) của bản thân qua
từng tiết học là yếu tố thúc đẩy quá trình học tập, luyện tập của học sinh. Điều
kiện cần thiết đối với việc đánh giá kết quả rèn luyện kỹ năng viết của người học
ngoại ngữ chính là việc chữa bài viết cho học sinh. Khi chữa bài cần đưa ra một số
tiêu chí để lưu ý học sinh như sự đầy đủ về nội dung; sự chính xác, phù hợp về
câu, từ đã sử dụng; sự ràng của bố cục bài viết…Có nhiều cách chữa bài tuỳ thuộc
vào mức độ dễ, khó của bài viết, khả năng sử dụng ngôn ngữ của học sinh như:
- Tự chữa bài: Giáo viên động viên mỗi học sinh có thói quen tự rà soát, kiểm tra
và sửa chữa lại bài viết của mình dựa trên sự hướng dẫn, gợi ý của giáo viên.
- Chữa bài tập thể: Học sinh trao đổi bài viết rồi chữa bài cho nhau cũng dưới sự
hướng dẫn, gợi ý của giáo viên, sau đó tự kiểm tra lại. Hoặc giáo viên có thể chọn
một bài viết bất kỳ để cả lớp cùng nhận xét, đánh giá và sửa chữa.
- Giáo viên chữa bài cho học sinh: Giáo viên có thể thu lại tất cả bài viết của học
sinh để sửa chữa đồng thời nêu lên những nhận xét, đánh giá(comments)trên từng
bài viết để học sinh tự nhìn nhận và đúc rút kinh nghiệm.
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp.
Trong tiến trình dạy ngoại ngữ nói chung, GV luôn đóng vai trò là người
hướng dẫn, tổ chức, đánh giá các hoạt động của HS.
17


Để hoạt động viết trên lớp (đối với học sinh khối 6) đạt hiệu quả cao, trước hết
giáo viên phải làm tốt vai trò hướng dẫn qua việc triển khai các bài viết mẫu đến
với học sinh (đọc và phát hiện thông tin), sau đó làm rõ tình huống và yêu cầu bài
viết. Lưu ý là không nên yêu cầu mục đích viết quá cao so với trình độ, năng lực
và sức tưởng tượng của học sinh để tránh làm cho học sinh căng thẳng, có thể
mang đến kết quả ngược lại. Nội dung viết nên được phát triển dần từ đơn giản đến
phức tạp. Nên lắng nghe ý kiến của học sinh để định hướng tốt mục đích, yêu cầu
của bài viết.
Trong quá trình tổ chức hoạt động viết, giáo viên nên khai thác sự đóng góp ý kiến
của cả lớp hay nhóm trước khi học sinh làm việc cá nhân. Ví dụ có thể cho lần lựơt
nhiều học sinh nói thành câu hoàn chỉnh hoặc xây dựng một bài hội thoại qua nói
theo cặp, nhóm trước, sau đó học sinh viết cá nhân. Cần khuyến khích học sinh
đúng lúc, kịp thời dù đôi khi các em cc̣òn mắc một số lỗi nhỏ.
Sau mỗi hoạt động viết, giáo viên cần cung cấp nhiều kiểu phản hồi (feedback), có
thể trực tiếp hoặc gián tiếp đánh giá kết quả hoạt động của học sinh.
e. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu:
Kết quả sau một năm thực hiện đề tài
ST

Lớp

T

Sĩ số

Giỏi
TS %

Khá
TS %

TB
TS %

Yếu
TS %

Kém
TS %

1

6A

38

6

15,8

11

28,9

18

47,4

3

7,9

0

0

2

6B

34

4

11,8

8

23,5

16

47,1

6

17,6 0

0

3

6C

30

1

3,3

7

23,3

14

46,7

8

26,7 0

0

II.4. KẾT QUẢ THU ĐƯỢC QUA KHẢO NGHIỆM, GIÁ TRỊ KHOA
HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
Qua một năm áp dụng phương pháp rèn kĩ năng viết cho học sinh khối lớp 6
18


theo kinh nghiệm mà tôi đã trình bày tại trường THCS ... năm học 2011-2012, tôi
nhận thấy hầu hết học sinh đã có thể hiểu được cách cảm thụ và vận dụng những
kiến thức, kỹ năng ngôn ngữ cơ bản trong thực hiện mục đích, yêu cầu của bài học.
Các em đã tỏ ra hứng thú, sôi nổi hơn trong các giờ học, đặc biệt khi triển khai các
dạng bài tập lồng ghép để rèn luyện kỹ năng viết, học sinh không còn là những
người ngoài cuộc, bị động thu nhận kiến thức mà trái lại các em hoạt động rất tích
cực, chủ động và sáng tạo. Tỷ lệ học sinh có khả năng viết tốt tăng lên rõ rệt. Một
số học sinh yếu kém cũng đã dần dần khắc phục được những hạn chế trong bài viết
của mình. Giá trị cơ bản của vấn đề nghiên cứu ở đây là đã bước đầu giúp học sinh
hình thành và phát triển kỹ năng vận dụng tiếng Anh trong giao tiếp bằng văn bản.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
III.1. Kết luận:
Cũng giống như các vấn đề về ngữ pháp, từ vựng và các kĩ năng ngôn ngữ
khác (nghe, nói, đọc), viết một kỹ năng quan trọng và là một bộ phận không thể
thiếu của quá trình dạy và học ngoại ngữ. Bài viết hay, đúng ngữ pháp sẽ giúp cho
chúng ta chuyển tải thông tin được chính xác hơn, bên cạnh đó còn giúp cho sự
phối hợp giữa các kỹ năng ngôn ngữ của người học được cải thiện và hoàn chỉnh
hơn. Để một tiết dạy lồng ghép các kỹ năng ở chương trình lớp 6 đạt hiệu quả,
ngoài sự nỗ lực, tích cực, chủ động của học sinh thì bản thân giáo viên cũng phải
có sự chuyển mình trong việc tư duy, tích luỹ kinh nghiệm giảng dạy. Có rất nhiều
thủ thuật có thể áp dụng trong dạy kĩ năng viết, nhiệm vụ của giáo viên là tuỳ
thuộc vào trình độ cụ thể của học sinh, để vận dụng một cách linh hoạt các thủ
thuật khác nhau nhằm đạt được mục đích cuối cùng là giúp học sinh tích hợp
những kiến thức ngôn ngữ vào kĩ năng viết một cách hiệu quả nhất.
Qua vài năm thực nghiệm một số phương pháp rèn kỹ năng viết cho học sinh như
trên, tôi nhận thấy kết quả bước đầu rất khả quan. Kiến thức ngôn ngữ nói chung
và kỹ năng viết của các em nói riêng đã được nâng lên rõ rệt. Tuy nhiên biện pháp
bao giờ cũng chỉ là công cụ, yếu tố con người mới là quyết định. Bằng tất cả
19


những cố gắng của mình, tôi biết sẽ không thể tránh khỏi một số thiếu sót, hạn chế.
Ở mức độ là một đề tài thực nghiệm, bản thân rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của đồng nghiệp giúp tôi hoàn thiện hơn nữa về phương pháp giảng dạy nhằm
đưa chất lượng dạy học ngoại ngữ ở trường THCS ... nói riêng ngày càng được
nâng cao.
III.2. Những kiến nghị.
a. Với cấp trường:
- Cần mua sắm mới, trang bị đầy đủ thiết bị dạy học(máy cassette, tranh ảnh, các
tài liệu tham khảo dành cho giáo viên và học sinh).
- Xây dựng phòng bộ môn.
- Tăng cường tổ chức các lớp tập huấn cho giáo viên về công nghệ thông tin.
b. Với cấp phòng:
- Thường xuyên tổ chức những buổi bồi dưỡng, sinh hoạt chuyên đề cho giáo viên
từng chuyên môn.
- Tạo điều kiện và giúp đỡ giáo viên nâng cao năng lực Tiếng Anh góp phần cải
thiện chất lượng giảng dạy trên lớp.

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×