Tải bản đầy đủ

Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy học tiếng việt cho học sinh dân tộc lớp 5

I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 / LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Cùng với việc đổi mới kinh tế, xã hội đang phát triển từng ngày trên khắp đất nước.
Đòi hỏi phải có những lớp người lao động mới có bản lĩnh, có năng lực, chủ động sáng tạo
dám nghĩ dám làm thích ứng được với đời sống xã hội luôn phát triển. Nhu cầu này làm
cho mục tiêu đào tạo con người ngày càng trở nên toàn diện hơn. Đòi hỏi việc giáo dục
nhân cách cũng như các phương pháp dạy học phải điều chỉnh một cách hợp lí.
Như chúng ta đã biết theo điều 24 luật giáo dục qui định: Giáo dục tiểu học phải
đảm bảo cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên xã hội và con người. Có
kỹ năng cơ bản về nghe, đọc, nói, viết và tính toán.
Chính vì vậy, nhiệm vụ của người giáo viên Tiểu học là hết sức nặng nề. Chúng ta
phải thực hiện tốt nhiệm vụ của mình là: “Chăm sóc chồi non”. Bồi dưỡng, uốn nắn kịp
thời và chuyển giao cho các em tri thức đặt nền móng vững chắc chuẩn bị hành trang cơ
bản cho các em hướng tới học những cấp học cao hơn hoặc đi vào cuộc sống một cách dễ
dàng hơn. Giảng dạy là loại hình lao động sáng tạo thường xuyên đổi mới, đòi hỏi giáo
viên phải có kiến thức sâu rộng, luôn luôn bổ sung cái mới nhằm hoàn thiện nghệ thuật sư
phạm. Đổi mới phương pháp dạy - học là vấn đề bức xúc hiện nay, trước yêu cầu của đổi
mới giáo dục tiểu học và thay sách giáo khoa. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, ngành
Giáo dục và Đào tạo đã và đang thực hiện cuộc vận đông "Hai không" của Bộ trưởng Bộ
GD&ĐT.
Nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường là đề tài quan trọng, đây vừa là mục

tiêu vừa là sự đảm bảo uy tín Thương hiệu của mỗi trường học. Chất lượng dạy và học là sự
quan tâm hàng đầu xuyên suốt không chỉ của những nhà quản lý trường học có tâm huyết, của
mỗi cán bộ giáo viên mà còn là sự quan tâm, là niềm tin của nhân dân khi gửi gắm con em vào
các nhà trường. Muốn vậy đòi hỏi nhà trường phải không ngừng nâng cao chất lượng dạy
và học. Việc nâng cao chất lượng dạy học trong các nhà truờng nói chung và trường Tiểu
học ... nói riêng là vấn đề trọng tâm của hoạt động giáo dục. Sáng kiến kinh nghiệm này
chắc chắn chưa đáp ứng được lòng mong mỏi của quý bạn đọc quan tâm đến vấn đề nâng
cao chất lượng dạy học hiện nay. Tuy nhiên, đây là những trăn trở của một người làm công
tác giảng dạy, rất mong được sự chia sẻ và đóng góp ý kiến của quý vị cho đề tài được
hoàn thiện hơn góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường tiểu học hiện
nay.

1


Trong những năm qua giáo viên trường tiểu học ... chúng tôi đã cố gắng trong việc
thực hiện đổi mới trong phương pháp học để phát huy tối đa khả năng tư duy, óc sáng tạo
của học sinh.
Nhận thức tầm quan trọng của đổi mới phương pháp dạy học đối với việc nâng cao
chất lượng và hiệu quả Đào tạo lớp công dân Việt Nam trong xã hội hiện đại. Thực hiện
chủ trương đổi mới phương pháp dạy trong các trường Tiểu học nói chung và trường Tiểu
học ... nói riêng đang thực hiện chủ trương cải tiến phương pháp dạy học hết sức mạnh mẽ
ở tất cả các môn học. Từ kinh nghiệm thực tế của 8 năm giảng dạy, 5 năm giảng dạy chủ
nhiệm lớp 5 đối với trường có hơn 90% học sinh là con em người dân tộc. Trong đó đặc
biệt có con em nguời dân tộc H’Mông ở xa gia đình không có người lớn kèm cặp và một
số em học xong bậc tiểu học là nghỉ học ở nhà làm kinh tế và lập gia đình. Nên t ôi mạnh
dạn đưa ra một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường hiện nay cho
học sinh tại vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn như trường tiểu học ... qua đề tài “ Một
số kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy học tiếng việt cho học sinh dân tộc lớp 5”.
I.
2. MỤC TIÊU NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI.
Trước đây người ta ít than phiền về chất lượng giáo dục do có ít loại hình giáo dục,
nhưng hiện nay việc phát triển ào ạt các quy mô, các loại hình giáo dục đào tạo kết hợp với
trình độ dân trí phát triển thì vấn đề chất lượng giáo dục được toàn xã hội quan tâm. Nhiều
đơn vị trường học đã trở thành địa chỉ tin cậy được nhiều cha mẹ học sinh tin tưởng khi gửi
gắm con em tới học và trở thành những “ Thương hiệu”. Để hiệu quả giáo dục trong nhà
trường ngày càng cao thì điều tất yếu là tập thể sư phạm nhà trường phải đoàn kết và nỗ
lực hết mình cho công tác dạy và học.
Trong những năm qua bản thân tôi được phân công dạy lớp 5 tôi luôn luôn trăn trở đi
sâu tìm hiểu nội dung chương trình Tiếng Việt lớp 5 đại trà và nâng cao, tìm phương pháp


tốt nhất để giảng dạy có hiệu quả. Tôi cũng nghĩ rằng việc dạy học môn Tiếng Việt nói
chung và việc bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng cơ bản về Tiếng Việt cho học sinh nói riêng
không phải đơn giản để sau này các em trở thành những nhà văn, nhà thơ …mà tôi mong
muốn các em trở thành một con người hoàn thiện trong xã hội.Các em có thể có được vốn
sống cho bản thân để hòa mình vào xã hội ngày nay. Vậy lý do chính khi chọn đề tài này là
muốn góp được một phần nhỏ bé vốn sống , tâm hồn, khả năng tư duy và năng lực ngôn
ngữ, cảm thụ văn chương cho học sinh, góp phần hình thành nhân cách con người Việt
Nam hiện đại. Để đạt được mục tiêu đó việc bồi dưỡng kiến thức kĩ năng cơ bản môn
Tiếng Việt đặt ra cho tôi những nhiệm vụ sau:
1. Tạo hứng thú học Tiếng Việt cho học sinh.
2. Nâng cao kiến thức kĩ năng cơ bản cho học sinh.

2


3. Bồi dưỡng vốn sống cho học sinh để các em giao tiếp tốt hơn.
Trên thực tế trường Tiểu học ... xã ... Huyện ... thuộc địa bàn tương đối khó khăn so
với nhiều trường khác trong toàn huyện. Tỉ lệ học sinh đồng bào dân tộc thiểu cao hơn
90%, nên gặp không ít khó khăn trong việc nâng cao chất lượng dạy học. Tỉ lệ học sinh yếu
hàng năm vẫn còn cao so với một số địa bàn thuận lợi. Là người giáo viên tôi luôn trăn trở
làm thế nào để nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường. Đó là lí do tôi chọn đề tài
“ Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy học tiếng việt cho học sinh dân tộc
lớp5”. Với mong muốn góp một phần nhỏ để nâng cao chất lượng dạy học trong nhà
trường hiện nay.
I.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Đối tượng nghiên cứu là Học sinh lớp 5C trường Tiểu học ..., Huyện ..., Tỉnh ....
Các bài học trong chương trình sách giáo khoa.
Nghiên cứu biện pháp bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng cơ bản Tiếng Việt cho học sinh
để kịp thời phát hiện và giúp đỡ các em học tốt hơn môn tiếng việt.
I.4. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Như các đồng chí đã biết, môn Tiếng việt có rất nhiều phân môn. Song do thời gian
và khả năng có hạn nên tôi chỉ tiến hành nghiên cứu một số vấn đề nhỏ trong việc rèn
luyện kĩ năng sử dụng tiếng việt cho học sinh để các em học môn học này tốt hơn.
I.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Thực hiện nghiên cứu đề tài này tôi tiến hành nghiên cứu các phương pháp sau.
- Phương pháp điều tra.
Thông qua việc trao đổi giữa giáo viên với học sinh, bàn bạc giữa giáo viên với phụ
huynh nhằm mục đích nắm bắt thu thập những tài liệu, thông tin và tình hình thực tế có
liên quan đến nội dung đề tài cần nghiên cứu.
Trao đổi với giáo viên sau một tiết dạy phân môn của tiếng việt phải đạt được những
yêu cầu gì ? Trao đổi với phụ huynh về vấn đề học ở nhà của các em học sinh những tồn tại
của con em họ, ý kiến của phụ huynh về phân môn này.
- Phương pháp quan sát.
Thông qua các tiết dự giờ, các giờ giảng trên lớp của giáo viên mà tôi quan sát được,
khảo sát thí điểm một số lớp trong tiết học, biết được khả năng tiếp thu bài của các em học
sinh, biết được cách đọc cách sử dụng tiếng việt của các em, bên cạch đó tiếp thu học hỏi
được kinh nghiệm hay của giáo viên, và phát hiện ra những hạn chế trong quá trình giảng
dạy của bản thân .
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết .
.

3


Đọc sách nghiên cứu tài liệu tìm ra những kiến thức có liên quan đến vấn đề cần
nghiên cứu, từ đó giúp cho kết quả của đề tài được năng cao, được mở rộng và có tính khả
thi trong các năm học tiếp theo.
- Phương pháp thực nghiệm khoa học .
Thông qua các tiết dạy thực nghiệm để chứng minh cho các biện pháp đề xuất là
đúng đắn và các biện pháp đó có tính giáo dục cao khi áp dụng chất lượng được nâng lên
rõ rệt.

II.PHẦN NỘI DUNG:
II.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
a. Vài nét khái quát về môn tiếng việt.
Hệ thống ngữ âm và cách phát âm chuẩn tiếng việt hiện nay phát triển theo xu
hướng thống nhất. Tức là lấy phương ngôn bắc nam làm hệ thống âm chuẩn, bổ sung
thêm những yếu tố tích cực của các phương ngôn khác.
Tiếng việt không phải là một thực thể nhất dạng mà luôn biến đổi với những sắc thái
địa phương khác nhau. Để bảo đảm thiên chức của mình, công cụ giao tiếp giữa người và
người thì ngôn ngữ xét về mặt cấu trúc và chức năng phải được thống nhất trong cộng
đồng. Do vậy chuẩn ngôn ngữ thường có tính ổn định tương đối, tính lựa chọn và tính bắt
buộc.
Tùy thuộc vào điều kiện lịch sử, điều kiện xã hội, tùy thuộc vào cấu trúc nội bộ của
ngôn ngữ và mỗi quốc gia, mặc dù dựa trên những nguyên tắc chung nhưng vẫn có cách
khác nhau trong việc xác định âm chuẩn. Tình hình thực tế trên , các nhà nghiên cứu đã
đưa ra luận thuyết về việc lấy hệ thống âm của Hà Nội làm chuẩn.
Theo nguyên tắc này chuẩn mực ngữ âm rất phù hợp với hệ thống ngữ âm mà chữ
quốc ngữ phản ánh. Tức là rất phù hợp với chữ viết. Nó sẽ tránh được hiện tượng đồng
âm. Chính vì thế, bên cạnh chuẩn phát âm quốc gia chúng ta chấp nhận thêm một khái
niệm nữa “chuẩn phát âm địa phương”.
b. Vấn đề lỗi phát âm của học sinh trong quá trình giao tiếp.
Khác với chuẩn phát âm có tính quốc gia sử dụng trên bình diện viết thì chuẩn phát
âm địa phương lại tập trung sử dụng trên bình diện nói. Một khi nói đúng sẽ ảnh hưởng
cho đối tượng tiếp nhận viết đúng và chuẩn. Học sinh có ảnh hưởng của ba vùng phương
ngữ: phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam. Do đó số lượng từ địa
phương tồn tại rất lớn đây là cơ sở ban đầu tạo nên hàng loạt học sinh viết sai chính tả,
cần có sự định hướng về chuẩn phát âm để các em có thể viết đúng theo hệ thống âm

4


chuẩn tiếng việt. Do đó yêu cầu chính âm chủ yếu đặt ra trong phạm vi giao tiếp có tính
văn hóa trong nhà trường là nó đòi hỏi sử dụng một thứ chuẩn mực cả về mặt âm. hơn
nữa trong mối liên hệ giữa đọc và viết, Ở những trường hợp dễ gây ra nhầm lẫn thì sự cố
gắng phát âm một cách trưởng thành và chuẩn mực là yêu cầu của nghề nghiệp.
c. Đặc điểm chính tả Tiếng Việt
Tiếng việt là ngôn ngữ phân tiết tính: cách phát âm được tách bạch rõ ràng trong dòng
lời nói.Vì thế khi viết các chữ biểu thị âm tiết được viết rời, cách biệt nhau.
âm tiết tiếng việt đều mang một thanh điệu nhất định ( tiếng việt có 6 thanh) khi viết chữ
phải đánh dấu ghi thanh điệu lên âm chính (hoặc bộ phận chính, đối với âm chính là
nguyên âm đôi) của âm tiết.
Cấu tạo âm tiết của tiếng việt: rất chặt chẽ và ổn định. Ở dạng đầy đủ, âm tiết
tiếng việt có cấu tạo như sau:
THANH ĐIỆU
PHỤ ÂM ĐẦU
VẦN
ÂM ĐỆM
ÂM CHÍNH
ÂM CUỐI
Trong đó, âm chính và thanh điệu là hai bộ phận không thể thiếu được trong cấu tạo của
âm tiết nào.
Cách xác định kí hiệu ghi âm chính trong chữ : muốn xác định ghi âm chính trong chữ, ta
đặt chữ vào trong khuôn âm tiết.
Chất lượng dạy và học trong nhà trường là đề tài quan trọng, đây vừa là mục tiêu vừa là sự
đảm bảo uy tín thương hiệu của mỗi trường học. Chất lượng dạy và học là sự quan tâm hàng
đầu xuyên suốt không chỉ của những nhà quản lý trường học, của mỗi cán bộ giáo viên mà còn
là sự quan tâm, là niềm tin của nhân dân khi gửi gắm con em vào các trường học.
Với việc thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng cơ bản Tiếng Việt cho học
sinh đồng thời phát hiện nhân tài cho đất nước. Hàng năm Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ
chức thi “học sinh dân tộc giao lưu Tiếng Việt” nhằm thúc đẩy phong trào thi đua dạy tốt,
học tốt trong các trường học đặc biệt là đối với các trường có tỉ lệ học sinh dân tộc cao
các em được thể hiện bản thân và tự tin hơn trong giao tiếp.
.

II.2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
a. Thuận lợi – khó khăn:
- Thuận lợi: Trường Tiểu học ... là một trường thuộc xã vùng III nhưng được sự quan
tâm hết mực của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền địa phương (xã – huyện). Hệ thống giao
thông đi lại thuận lợi trục đường chính về tới xã và tới điểm trường lẻ đã được đổ nhựa
.

5


thông tin liên lạc thuận lợi. Công tác xã hội hoá Giáo dục được Đảng, chính quyền quan
tâm và được đồng tình hưởng ứng.
+ Đa số các em ngoan, biết vâng lời, có ý thức trong học tập. Một số em biết quan
tâm giúp đỡ bạn trong học tập.
+ Điều kiện cơ sở vật chất như bảng đen, bàn ghế, ánh sáng, tranh ảnh tương đối đầy
đủ, đáp ứng được yêu cầu dạy học.
+ Phần lớn học sinh của lớp đã đọc thông, viết thạo.
- Khó khăn:
+ Trình độ, độ tuổi học sinh không đồng đều gồm các độ tuổi: (10 tuổi; 11 tuổi; 12
tuổi).
+Đa số học sinh của lớp là người dân tộc thiểu số con gia đình sống bằng nghề nông,
bố mẹ suốt ngày bận rộn với nương rẫy, tối về lo cơm nước, áo quần nên không có thời
gian kèm cặp, hướng dẫn cho con em mình học tập mà hoàn toàn phó thác việc dạy dỗ con
em cho giáo viên.
+ Ý thức học tập của một số em chưa cao.
+ Một số em phát âm còn thiếu chính xác.
+ Đa số các em chưa biết đọc diễn cảm đoạn văn, đoạn thơ, bài văn, bài thơ. Vốn
tiếng Việt của đại đa số học sinh dân tộc đặc biệt các em dân tộc H’Mông còn hạn chế.
+ Một số em chưa tự tin trong học tập.
b. Thành công – hạn chế:
- Thành công: Đội ngũ CB-GV-NV nhiệt tình, tâm huyết yêu nghề mến trẻ và đa số là
giáo viên giảng dạy lâu năm (5 năm trở lên) nên có nhiều kinh nghiệm trong dạy học.
- Hạn chế: Nhà trường có hơn 90% là học sinh dân tộc thiểu số trong đó có lớp có tới 6
dân tộc học chung(Mường, Tày,Thái, Nùng, Sán Chỉ, H’Mông). Nên việc giao tiếp giữa giáo
viên và học sinh, giữa học sinh và học sinh bằng tiếng phổ thông còn hạn chế các em hay sử
dụng tiếng của dân tộc mình giao tiếp với bạn, tinh thần tự giác học tập của các em chưa
cao. Vì vậy việc học tiếng việt rất khó khăn dẫn đến học sinh còn mắc lỗi trong việc giao
tiếp cũng như làm bài trong các phân môn tiếng việt.
c. Mặt mạnh – mặt yếu:
- Mặt mạnh:
Sau khi nhận lớp một thời gian và qua khảo sát chất lượng đầu năm, nắm bắt được tình
hình học tập của học sinh lớp có một vài em chăm học, yêu thích môn Tiếng Việt nên kết
quả bài làm tương đối tốt. Hầu hết các em học sinh chăm ngoan vâng lời thầy cô giáo, có
đạo đức tốt và chuyên cần tích cực trong học tập. Những năm gần đây nhà nước cấp phát
đầy đủ sách vở dụng cụ học tập cho học sinh đến lớp nên không còn trường hợp đi học

6


không có sách vở như trước đây; đặc biệt Giáo viên đã phối hợp gia đình để tăng cường
tiếng việt cho các em, luyện cho các em nói, viết tiếng việt cơ bản đúng chính tả,…
- Mặt yếu: Điều kiện sống của học sinh còn thiếu thốn, đi học 2 buổi/ngày đa phần các
em trưa chỉ ăn tạm một nắm cơm hoặc một gói mì tôm nên khi học vào buổi chiều các em
mệt mỏi học không hiệu quả.
Các em còn rụt rè chưa mạnh dạn tích cực phát biểu xây dựng bài, chưa mạnh dạn đề xuất
ý kiến của mình trong học tập các môn nói chung và môn tiếng việt nói riêng vì đa phần các
em còn chưa tự tin vào khả năng giao tiếp của mình.
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động:
Qua quá trình giảng dạy ở khối 4,5 cũng như việc dự giờ thăm lớp của các đồng
nghiệp, tôi nhận thấy có một số nguyên nhân chủ yếu sau:
-Về phía người dạy : Giáo viên khá tôn trọng phương pháp dạy học mới “Thầy (cô)
thiết kế, trò là người thi công” lấy học sinh làm trung tâm. Giáo viên cố gắng tìm tòi
nghiên cứu để giảng dạy các phân môn tiếng việt, nhưng chất lượng chưa cao bởi vì giáo
viên chỉ coi trọng đọc thành tiếng to, rõ còn việc đọc diễn cảm cũng như khả năng giao tiếp
trao đổi của học sinh giáo viên ít quan tâm và chưa chú trọng.
- Về phía học sinh: Các em đã biết đọc thành tiếng bài văn, bài thơ cũng như việc
xác định câu các thành phần của câu....nhưng việc sử dụng đưa vào các ngữ cảnh cụ thể
như trong bài văn hay trong quá trình giao tiếp còn nhiều hạn chế.
+ Khi giao tiếp các dấu câu như dấu phẩy, dấu chấm các em còn ngắt nghỉ như nhau,
nói ngang ngang, đều đều chưa biết lên giọng, xuống giọng...
+ Đa số học sinh khi giao tiếp chưa biểu lộ được cảm xúc, chưa biết kết hợp giọng
nói với nét mặt và cử chỉ.
+ Một số em do ảnh hưởng phương ngữ của vùng miền nên phát âm còn thiếu chính
xác.
+ Có một số em do khó phát âm nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc luyện đọc.
+ Một số em còn nhút nhát thiếu tự tin, chưa mạnh dạn trong quá trình giao tiếp.
Chính vì những nguyên nhân trên mà dẫn tới chất lượng học tiếng việt của học sinh
chưa cao. Nên tôi đã phân tích và đặt ra câu hỏi cho mình phải làm gì? Làm như thế nào?
để khắc phục tình trạng đó, góp phần nâng cao chất lượng học tiếng việt cho học sinh dân
tộc nơi công tác. Vì vậy tôi đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm giúp các em nâng
cao chất lượng đọc trên cơ sở đó để rèn luyện kỹ sử dụng tiếng việt cho học sinh.
- Nguyên nhân cơ bản là do vốn tiếng Việt của các em còn hạn chế chưa nói được tiếng
việt khi vào lớp Một, các em chưa nắm chắc cấu tạo âm, vần và phát âm một số từ tiếng khó
còn sai cho nên dẫn đến viết sai chính tả,…Mặt khác các em chỉ chủ yếu học ở trường còn

7


khi về nhà thì do bố mẹ (đại đa số phụ huynh dân tộc H’Mông) không biết chữ và đi làm rẫy
xa thiếu sự quan tâm đôn đốc con cái học tập nên các em ham chơi nhiều dẫn đến hiệu quả
học tập các em hạn chế.
- Do hiện tượng tâm lý sợ hãi chưa mạnh dạn sử dụng tiếng việt và thường có thói
quen sử dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp ở trường cũng như ở nhà.
- Do ảnh hưởng của phát âm địa phương, nhất là tình trạng lẫn lộn giữa các cặp phụ
âm đầu: l/n/r; tr/ch; x/s; gi/d hoặc sai giữa các vần chứa các phụ âm cuối: n/ng/nh; c/t. Vì
vậy giáo viên phải chú ý luyện lỗi này để học sinh sử dụng tiếng việt cho chính xác hơn.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra:
Trong giáo dục phổ thông nói chung và ở trường Tiểu học nói riêng, môn học Tiếng
Việt là một môn quan trọng, chiếm vị trí chủ yếu trong chương trình. Môn này có đặc trưng
cơ bản là: Nó vừa là môn học cung cấp cho học sinh một khối lượng kiến thức cơ bản
nhằm đáp ứng được những mục tiêu, nhiệm vụ của từng bài học, vừa là công cụ để học tập
tất cả các môn học khác. Trẻ em muốn nắm được kỹ năng học tập, trước hết cần nghiên
cứu tiếng mẹ đẻ chìa khóa của nhận thức, của sự phát triển trí tuệ đúng đắn, nó cần thiết
cho tất cả các em khi bước vào cuộc sống. Ở nước ta, môn Tiếng Việt có vai trò quan trọng,
là một môn học chính , trong đó không thể không kể đến môn Tập đọc.
Phân môn Tập đọc không chỉ có nhiệm vụ trên mà còn kết hợp chặt chẽ với chương
trình môn Tiếng Việt, qua các bài học học sinh vừa cảm thụ được cái hay, cái đẹp vừa học
được cách sử dụng từ chính xác, cách đặt câu ngắn gọn nhưng sinh động, được luyện về
ngữ âm, chính tả, tập làm văn,….
Ở bậc tiểu học nói chung và lớp 5 nói riêng phân môn tiếng có hai yêu cầu chính là:
- Rèn kĩ năng nghe, nói đọc viết.
- Giúp học sinh nâng cao vốn từ vựng để sử dụng từ ngữ phù hợp trong từng ngữ
cảnh.
Bên cạnh đó, khi quan sát người dạy và người học, chúng ta thấy rằng:
* Đối với học sinh
- Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh Tiểu học còn nhỏ tự giác trong học tập
chưa cao, trình độ đọc còn yếu (chưa rành mạch, còn ấp úng, phát âm không chuẩn xác
một số phụ âm đầu: l/n; tr/ch; s/x)
- Đọc và dùng từ địa phương.
* Giáo viên:
- Một số giáo viên dạy sa vào giảng văn nhiều hơn là rèn đọc, rèn kĩ năng sử dụng từ
ngữ trong ngữ cảnh cụ thể như trong bài văn hay trong quá trình giao tiếp.

8


- Một hạn chế rất phổ biến ở giáo viên khi dạy ở phân môn Tập đọc của bộ môn
tiếng việt là không phân biệt được sự khác nhau giữa tiết Tập đọc và tiết Tập đọc - học
thuộc lòng. Nhiều giáo viên chỉ thấy sự khác nhau ở các lớp đầu cấp khi cho học sinh đọc
đồng thanh, mà quên rằng nhiệm vụ chủ yếu của tiết Tập đọc là luyện đọc cá nhân, còn
nhiệm vụ của tiết Tập đọc- học thuộc lòng là vừa phải luyện đọc vừa kết hợp rèn trí nhớ, ít
chú ý đến đối tượng học sinh yếu nhiều giáo viên cố tình "bỏ quên" đối tượng này, coi như
không có các em trong lớp.
- Có một số giáo viên tuổi cao, mặc dù có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, nhưng
do phương pháp dạy học truyền thống đó tiềm tàng, khả năng nắm bắt phương pháp mới
cũng hạn chế. Các bước lên lớp chưa linh hoạt. Vì vậy tiết Tập đọc còn buồn tẻ, đơn điệu.
Các em học vẹt. Khâu thực hành còn yếu, nhất là khâu luyện đọc, đặc biệt là rèn đọc diễn
cảm cho học sinh.
- Đúc rút kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy giáo viên dạy TH cũng
như giáo viên dạy môn Tiếng Việt cần phải nắm chắc nội dung chương trình và kiến thức
Tiếng Việt khối 4 và 5, biết vận dụng đổi mới PPDH: Lấy học sinh làm trung tâm, biết trân
trọng sự sáng tạo dù nhỏ của học sinh, biết sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để hướng dẫn
học sinh phân tích tìm hiểu bài tập.
- Những năm gần đây mỗi giáo viên đã nhân thức sâu sắc về các cuộc vận động lớn
của ngành như: “ Đổi mới công tác quản lí và nâng cao chất lượng giáo dục”, phong tào
thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”...Tuy nhiên thời gian dành
cho chương trình dạy học đại trà cũng như bồi dưỡng đến học sinh yếu không phải là nhiều
so với lượng kiến thức các em cần nắm thì quá rộng. Nhất là các dạng bài tập cảm thụ văn
học quá mới mẻ và hết sức khó đối với các em.
- Ý thức học tập của các em chưa cao, khả năng tập trung vào bài giảng chưa cao nên
nhiều em còn nóng vội, đọc đề qua loa, chưa nắm chắc đề bài đã bắt tay vào làm. Hơn nữa
lượng kiến thức về ngôn ngữ của các em còn thấp mà yêu cầu đặt ra đối với môn học lại
tương đối cao và đa dạng.
.

II.3. CÁC GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP:
.

a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
Để giúp học sinh giao tiếp và sử dụng tiếng việt được tốt. Từ những kinh nghiệm
của bản thân trong quá trình vận dụng các phương pháp dạy - học vào thực tiễn giảng dạy
môn Tiếng việt nói chung và các phân môn Tập đọc, luyện từ và câu, kể chuyện, tập làm
văn nói riêng. Qua trao đổi kinh nghiệm dạy các phân môn của tiếng việt với các bạn
9

.


đồng nghiệp, tham khảo thêm tài liệu chuyên môn. Tôi đã vận dụng các giải pháp sau vào
việc rèn kỹ năng đọc diễn cảm và khả năng sử dụng câu, từ cho học sinh lớp 5C do tôi chủ
nhiệm như sau:
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
Tiến hành phân loại học sinh :
Ngay từ buổi đầu tiên lên lớp giáo viên cần khảo sát kiến thức học sinh sau đó vạch ra
kế hoạch bồi dưỡng giúp học sinh nắm vững những kiến thức cơ bản. Sau đó giáo viên kịp
thời phát hiện phân loại học sinh thành từng nhóm như:
* Nhóm thứ nhất: - Các em yêu thích văn học, có hứng thú với nghệ thuật ngôn từ, yêu
thích thơ ca, ham mê đọc sách báo, thích nghe kể chuyện, có những em ước mơ sau này
thành nhà văn hoặc trở thành cô giáo dạy Văn - Tiếng Việt... Phần lớn các em không thờ ơ
trước cái hay, cái hấp dẫn của ngôn từ, luôn ghi nhớ và sưu tầm những câu văn, đoạn văn
hay.
Đối với nhóm học sinh này các em có sự tư duy lô ríc và thống nhất như: tư duy phân
loại, phân tích, trừu tượng hóa, khái quát hóa.
Có năng lực quan sát, nhận xét ngôn từ của mọi người và của chính mình.
Có em còn biết quan sát hiện thực, biết liên tưởng, giàu cảm xúc.
Ví dụ: Trong bài “ Tre Việt Nam” của nhà thơ Nguyễn Duy có đoạn:
“ Bão bùng thân bọc lấy thân
Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm
Thương nhau tre chẳng ở riêng
Lũy thành từ đó mà nên hỡi người.”
Các em đã hiểu được phẩm chất tốt đẹp của tre đó là sự đùm bọc, đoàn kết lại vừa nói
lên được phẩm chất, những truyền thống tốt đẹp cao quý của con người, dân tộc Việt Nam.
Từ đó ta thấy các em có khả năng tư duy nghệ thuật là có khả năng tiếp nhận vẻ đẹp của
ngôn từ, cách nói của văn chương, biết phát hiện nghệ thuật ngôn từ trong việc diễn đạt nội
dung.
Với khả năng sử dụng từ: Những học sinh học tốt Tiếng Việt thường có khả năng sử
dụng từ khá phong phú, giàu hình ảnh nhiều tính từ, từ láy, từ tượng hình, từ tượng thanh,
sử dụng những câu có nhiều thành phần phụ như định ngữ, bỗ ngữ, câu văn trôi chảy, rõ ý,
bộc lộ được tình cảm của mình với hiện thực được nói tới. Sau đây ta thử đọc đoạn viết của
2 em HS xem có gì khác:
HS1: “Trời đã về chiều. Nắng trên sân trường đã tắt. Chỉ còn gió lao xao trong
những tán lá bàng, lá phượng và thổi dọc hành lang vắng vẻ. Chúng em đang học tiết
.

10

.

.

.


cuối cùng của buổi học hôm nay.Bỗng một hồi trống vang lên thế là buổi học đã kết
thúc”.
HS2: “Tiết học thứ năm đã hết một hồi trống vang lên buổi học đã kết thúc”.
Đoạn văn của em học sinh ở nhóm thứ nhất nó có tác động không phải chỉ vào lí trí mà
cả tình cảm của người đọc.
Đối với nhóm đối tượng học sinh này giáo viên nên tập trung tham gia đội tuyển bồi
dưỡng học sinh giỏi trường. Trên thực tế có thể nói việc bồi dưỡng học sinh có khả năng
học tiếng việt tốt càng bắt đầu sớm bao nhiêu càng có hiệu quả bấy nhiêu.
* Nhóm thứ hai : các em học sinh học ở mức độ trung bình các em đọc được và việc sử
dụng từ ngữ nhưng chưa hay trong từng ngữ cảnh, trong giao tiếp cũng như trong quá
trình viết văn các em còn chưa thật sự tự tin và sử dụng câu từ hợp lí.
* Nhóm thứ ba: các em có vốn từ vựng rất ít đọc cũng còn yếu việc sử dụng từ ngữ
không được hay đôi lúc còn sai trong từng ngữ cảnh, trong giao tiếp cũng như trong quá
trình viết văn các em viết câu văn còn lộn xộn dụng câu từ hợp lí.
* Sau khi tiến hành phân loại học sinh tôi tiến hành các biện pháp sau.
.

.

.

.

b.1/ Tạo hứng thú học tâp cho học sinh:
Hứng thú có vai trò quan trọng trong học tập và làm việc. Không có việc gì người ta
không làm được dưới ảnh hưởng của hứng thú. Vì vậy M.goocki có nói: “ Thiên tài nảy
nở từ tình yêu đối với công việc”. Vì vậy bồi dưỡng hứng thú học tập rất quan trọng.
Không có con đường nào khác là giúp các em thấy được vẻ đẹp và khả năng kì diệu của
Tiếng Việt – Văn học, từng giờ, từng phút trong giờ Tiếng Việt, người giáo viên đều hướng
đến để hình thành, duy trì hứng thú cho học sinh.
Ví dụ cách giới thiệu bài: Chúng ta đã được học rất nhiều bài nói về hình ảnh người mẹ
như:
“ Mặt trời của mẹ con nằm trên lưng”.
“ Hôm nay trời nắng như nung
Mẹ em đi cấy phơi lưng cả ngày”…
Bài học hôm nay chúng ta học cũng nói về “ Mẹ” của nhà thơ Bằng Việt, các em hãy
cùng cô tìm hiểu xem“Mẹ” trong bài thơ này có gì khác với những bài về mẹ mà các em đã
học.
Những bài về từ ngữ sinh động câu văn trôi chảy cũng gây hứng thú cho HS.
Cho trẻ tiếp xúc trực tiếp càng nhiều càng tốt với những tác phẩm văn chương, những
mẫu hình sử dụng ngôn ngữ mẫu mực vì “ không làm thân với văn thơ thì không nghe
thấy được tiếng lòng chân thật của nó”( Lê Trí viễn).
Ngoài ra GV giúp các em tiếp thu văn chương tốt bằng cách kể cho các em nghe về cuộc
.

.

11

.

.


đời riêng của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, tổ chức nói chuyện thơ văn, ngoại khóa …hay
giáo viên thường xuyên thiết kế các trò chơi để các em được sử dụng tiếng nhiều hơn
trong cách trình bày diễn đạt hợp lí trong trò chơi đó
Ví dụ: như tập làm văn tả người giáo viên có thể thiết kế trò chơi ghép cột A với cột B
A
B
Mái tóc

Bồng bềnh như nhũng đám mây trôi
Trắng mịn hồng hào

Làn da

Đen mượt óng ả được kẹp gọn gàng phía sau bằng chiếc kẹp nhỏ
Dong dỏng cao,dáng đi nhanh nhẹn
Trắng trẻo mịn màng như da em bé

Thân hình
Thân hình thon thả với dáng đi nhẹ nhàng uyển chuyển

Thông qua trò chơi các em sẽ biết sử dụng các câu văn có tính nghệ thuật có các
hình ảnh mang tính nhân hóa, tính so sánh giúp bài văn thêm sinh động.
b.2/Tăng cường khả năng quan sát và trải nghiệm:
Ngày nay theo xu hướng chung đa số giáo viên lên lớp dạy tập làm văn cho học sinh
thường thiên về dạy lý thuyết nhiều .Mặc dù các em nắm vững bố cục nhưng vốn từ khô
khan, thiếu hình ảnh thì bài văn không hay. Điều quan trọng là cung cấp các chất liệu sống
– cái tạo nên nội dung bài viết.
Khi một em học sinh ngồi trước một đề văn 15-20 phút vẫn chưa viết được, giáo viên
thường cho rằng các em không nắm được lí thuyết thể văn mà không hiểu rằng nguyên
nhân đầu tiên làm các em không có hứng thú viết là các em không tạo được một quan hệ
thân thiết giữa mình với đề bài - đối tượng kể hoặc tả, nghĩa là các em không có nội dung,
không có gì để nói, để viết. Nguyên nhân đó là việc thiếu hụt về vốn sống, vốn cảm xúc
của học sinh.
Từ đó, tôi rút ra phương pháp dạy và bồi dưỡng vốn sống cho các em trước hết đó là vốn
sống trực tiếp: cho các em quan sát, trải nghiệm những gì các em sẽ phải viết.
Ví dụ hướng dẫn các em quan sát con đường trước khi yêu cầu các em tả nó. Tất nhiên
giáo viên cần làm cho vốn sống thực này không cản trở trí tưởng tượng của các em. Nhưng

12


trí tưởng tượng dù có bay bổng đến mấy vẫn phải có cơ sở bắt nguồn từ thực tiễn. Người
giáo viên đóng vai trò dẫn dắt, gợi mở, tạo nguồn cảm hứng khơi dậy suy nghĩ trong các
em như khi quan sát một cảnh vật, một bông hoa đang nở, một đàn trâu đang gặm cỏ, ông
mặt trời thức dậy...
Giáo viên tạo cho học sinh sự hứng thú và thói quen đọc sách . Đọc sách, các em không
chỉ được thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp
khơi dậy trí tuệ, bồi dưỡng tâm hồn.
*Là giáo viên dạy học tại điểm trường lẻ xa trường chính không có thư viện tại điểm
trường tôi thường xuyên mượn các loại sách báo mới khuyến khích các em đọc thêm vào
đầu giờ sinh hoạt hoặc các giờ ra chơi nhằm giúp các em vừa có hứng thú đọc sách vừa
nâng cao vốn từ cũng như cách sử dụng câu ngày một hay hơn phù hợp hơn.
b.3/ Tăng cường kiến thức kĩ năng Tiếng Việt:
b.3.1 Tăng cường vốn kiến thức- kĩ năng từ ngữ trong dạy luyện từ và câu:
* Tiến hành phân loại nhận diện từ theo cấu tạo:
Dựa vào số lượng tiếng của từ chia ra từ đơn và từ đa âm.
Phân loại nhóm từ đa âm phải dựa vào mối quan hệ giữa các tiếng trong từ: Nếu có mối
quan hệ về mặt ngữ nghĩa là từ ghép. Nếu có mối quan hệ về âm là từ láy.
Lưu ý ở tiểu học, những từ thuần Việt như tắc kè, bồ hóng, bồ kết... hay những từ vay
mượn: mì chính, xà phòng, mít tinh...là những từ mà cả 2 tiếng đều không có quan hệ cả về
nghĩa lẫn về âm, vì vậy những từ này không được dùng làm ngữ liệu để ra bài tập. Nếu HS
chủ động đưa ra để hỏi thì giáo viên trả lời đó là một từ ghép đặc biệt: từ ghép ngẫu hợp
các từ 2 tiếng có sự giống nhau nào đó về âm như chôm chôm, thằn lằn, ba ba, ngày ngày,
gật gật...đều được xem là từ láy.
Các kiểu từ như ồn ào, ầm ĩ, ọc ạch, ỏn ẻn... đều được xem là từ láy và được giải thích
nó giống nhau ở chỗ cùng vắng khuyết phụ âm đầu.
Những từ như cong queo, cuống quýt,... cũng là từ láy có phụ âm đầu viết dưới dạng
thức các con chữ khác nhau.
Về phân biệt từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại;
Từ ghép tổng hợp: Giữa các tiếng có quan hệ đẳng lập, mang tính tổng hợp, khái quát.
Từ ghép phân loại: Có yếu tố cụ thể hóa, cá thể hóa nghĩa cho yếu tố kia.
Lưu ý một số từ tùy từng ngữ cảnh mà xếp khi là từ ghép tổng hợp, khi là từ ghép phân
loại . Ví dụ: từ “ sáng trong” trong câu: “ Một tấm lòng sáng trong như ngọc” là từ ghép
tổng hợp. Có thể đổi thành “ trong sáng”. Nhưng trong câu “ Nhớ mua bóng đèn sáng trong
đừng mua bóng đèn sáng đục” thì “ sáng trong” ở đây là từ ghép phân loại.
b.3.2/Từ chia theo từ loại thì là danh từ, động từ, tính từ:

13


a/ Danh từ:
Có nhiều loại: danh từ chung, danh từ riêng…
- Danh từ riêng: là tên gọi riêng của một loại sự vật.
VD: Võ Thị Sáu, núi Trường Sơn...
- Danh từ chung: là tên gọi chung của một loại sự vật.
VD: Học sinh, công nhân, thành phố...
- Danh từ cụ thể: chỉ những sự vật mà ta có thể nhận ra được bằng giác quan (nhìn,
nghe,ngửi, thấy, đếm được...)
VD: Nhà, tủ ...
- Danh từ trừu tượng: chỉ những sự vật mà ta nhận ra được bằng suy nghĩ chứ không
phải bằng các giác quan.
VD: Niềm vui, đạo đức, thái độ...
Trong câu, danh từ (Đứng một mình hoặc kèm theo các từ phụ thuộc) có thể làm nhiều
chức vụ khác nhau: Làm chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ.
b/Động từ:
- Động từ chỉ hoạt động hay trạng thái của người, sự vật.
VD: Ngủ, chạy...
* Có hai loại động từ:
- Động từ chỉ trạng thái, hoạt động do người hay sự vật thực hiện, không ảnh hưởng tới
người hay sự vật khác gọi là động từ nội động.
VD: Em bé ngủ.
- Động từ chỉ hoạt động của người hay sự vật thực hiện có ảnh hưởng đến người hay sự
vật khác gọi là động từ ngoại động
VD: Bác nông dân đang gặt lúa.
Các động từ: có, là, bị, được...
- Động từ "bị"và "được" chỉ trạng thái tiếp thu
- Động từ "có" chỉ trạng thái tồn tại hặc sở hữu
- Động từ "là" chỉ được dùng trong câu giới thiệu , nhận xét, đánh giá.
c/Tính từ:
* Tính từ là từ chỉ tính chất của người, loài vật, đồ vật, cây cối như: màu sắc, hình thể,
khối lượng, kích thước, dung lượng, phẩm chất...
Ví dụ : - Xanh, đỏ, xanh biếc, đỏ thắm (chỉ màu sắc)
- Vuông, tròn, thon (chỉ hình thể)
- To, nhỏ,dài, ngắn...(chỉ kích thước)
- Nặng, nhẹ, nhiều, ít...(chỉ khối lượng, dung lượng)

14


- Tốt, xấu, thông minh...(chỉ phẩm chất)
* Có hai loại tính từ:
-Tính từ chỉ tính chất chung, không có mức độ:
Ví dụ: Xanh, đỏ, dài, tốt...
- Tính từ chỉ tính chất có xác định mức độ hoặc có tác dụng gợi tả hình ảnh, cảm xúc.
Ví dụ: Xanh biếc, gầy nhom, chi chít...
d/ Đại từ:
- Đại từ dung để thay thế cho danh từ,động từ hoặc tính từ trong câu.
Ví dụ: Cú chẳng có tổ,nó phai sống trong những hốc cây tăm tối.
-Trong giao tiếp người ta có thể dùng đại từ để xưng hô. Đó là đại từ chỉ ngôi. các đại từ
chỉ ngôi thường dùng là :
Ngôi thứ nhất: Tôi, chúng tôi, tao, chúng tao
Ngôi thứ hai : mày , chúng mày…
Ngôi thứ ba : nó, chúng nó …
* Danh từ chỉ người cùng thường được dùng trong xưng hô như đại từ chỉ ngôi.
VD: anh , chị , ông , bà
e/ Số từ – Phó từ – Từ chỉ quan hệ – Từ cảm:
* Số từ là từ chỉ số lượng hoặc thứ tự.
- Chỉ số lượng : một , hai , vài , dăm…
- Chỉ thứ tự : thứ hai , thứ tư…
* Phó từ : là những từ đi kèm danh từ, động từ , tính từ để bổ sung một số ý nghĩa cho
các từ ấy.
VD:Các môn học, rất giỏi, đẹp lắm , khoảng bốn mươi kg
PT
PT
PT PT
* Từ chỉ quan hệ (quan hệ từ , từ nối)
Từ chỉ quan hệ là từ dùng để nối các từ trong câu, các vế câu trong một câu ghép …
VD: Nam và Bình đi học.
Nam lười học nên bạn bị điểm kém.
b.3.3/ Làm giàu vốn từ hay luyện kĩ năng nắm nghĩa từ và sử dụng từ cho HS:
- Yêu cầu HS giải nghĩa từ ngữ hay thành ngữ . Ví dụ: Em hiểu thành ngữ “ Gió chiều
nào che chiều ấy” là thế nào? Lao động trí óc là gì?
- Cho những từ có cùng yếu tố cấu tạo: Ví dụ phân biệt nghĩa của mẹ đẻ, mẹ nuôi, mẹ
kế, mẹ ghẻ...
- Yêu cầu HS kể ra các từ theo chủ đề:
- Yêu cầu phân loại từ theo nhóm nghĩa và đặt tên cho nhóm.

15


- Dạng đề sửa lỗi dùng từ sai;
- Đặt câu, viết đoạn văn với từ cho sẵn:
- Điền từ vào chỗ trống.
Và nhiều dạng khác nữa, giáo viên phải nắm chắc, cho HS được tiếp cận nhiều lần thì
bài kiểm tra mới đạt hiệu quả cao.
b.3.4/ Giúp học sinh nắm vững kiến thức, kĩ năng ngữ pháp:
Trong các bài học trên lớp phần ngữ pháp thường chiếm số điểm cao.
Các dạng đề và những điều cần lưu ý cho HS:
a/ Khái niệm câu và bản chất của câu:
Các em thường nhầm trạng ngữ là câu, nhầm ngữ danh từ là câu, thường đặt câu thiếu
thành phần. Vì vậy cần tập trung vào các dạng bài tập:
- Trong các ví dụ sau, ví dụ nào đã thành câu? Ví dụ nào chưa thành câu? Vì sao?Chữa
lại cho đúng.
- Chữa câu sai bằng 2 cách.
b/ Cấu tạo ngữ pháp của câu, các thành phần câu:
Đó là các dạng bài tập: Yêu cầu HS chỉ ra các thành phần của câu cho sẵn.
Yêu cầu HS tìm bộ phận chính, bộ phận phụ của câu.
Yêu cầu HS kết hợp các thành phần câu.
Dạng mở rộng nòng cốt câu bằng cách thêm các thành phần phụ.
c/ Kiến thức về dấu câu và kĩ năng sử dụng dấu câu.
Dạng cho một đoạn văn không có dấu câu yêu cầu HS tự đánh dấu câu và chỗ thích hợp
Dạng chữa lại những chỗ đã đặt dấu câu không đúng.
d/ Kiến thức về từ loại, kĩ năng xác định từ loại:
Dạng yêu cầu HS tìm danh từ, động từ, tính từ trong câu, đoạn văn...
b.4 . Dạy cảm thụ văn học:
Dạy cảm thụ văn học là một vấn đề khó khăn vất vả vì đây là phần mới mẻ đối với học
sinh nên đòi hỏi giáo viên phải thật tận tâm để giúp các em hiểu, cảm nhận và liên tưởng
để tiếp nhận tác phẩm qua những câu văn, câu thơ, đoạn thơ…Để có được điều đó thì giáo
viên là người gợi mở dẫn dắt cho sự tiếp xúc của HS với tác phẩm tốt.
Hoạt động của giáo viên chỉ có tác động bổ trợ cho cảm xúc thẩm mỹ nảy sinh. cần tôn
trọng suy nghĩ, cảm xúc thực, ngây thơ của trẻ và nâng chúng lên ở chất lượng cao hơn.
Ví dụ: Hãy chỉ ra cái đúng và hay của sự so sánh trong câu thơ sau:
Bà như quả ngọt chín rồi
Càng thêm tuổi tác, càng tươi lòng vàng.

16


(Võ Thanh An)
Đúng vì bà sống đã lâu, tuổi đã cao giống như quả ngọt chín rồi - đều phát triển đến độ
già dặn, có giá trị cao.
Hay vì hình ảnh đưa ra làm chuẩn để so sánh quả ngọt chín rồi gợi sự suy nghĩ, liên
tưởng đẹp và giàu ý nghĩa về bà: Có tấm lòng thơm thảo, đáng quý, có ích cho cuộc đời,
đáng nâng niu trân trọng.
Cảm thụ văn học có rấy nhiều dạng.Để giúp HS cảm thụ được tác phẩm, giáo viên cần
có hệ thống câu hỏi, bài tập liên tưởng, tưởng tượng, đó là những câu hỏi về ý nghĩa của
tác phẩm giúp HS hiểu mục đích thông báo của văn bản, đánh giá nhân vật, thái độ, tình
cảm, tư tưởng của tác giả, đánh giá giá trị nghệ thuật những từ ngữ hình ảnh cấu tứ gây ấn
tượng.
b.5/ Dạy tập làm văn:
Để làm được bài văn hay người giáo viên cần hướng cho các em có một ý tưởng cụ thể
về đề bài đã cho. Điều quan trọng ở các em là vốn sống, vốn văn học, khả năng cảm thụ
tốt, giàu cảm xúc và điều đặc biệt trí tưởng tượng phong phú. Học sinh phải thể hiện cảm
xúc suy nghĩ của mình bằng ngôn ngữ nói và viết tạo thành những câu văn, bài văn hay.
Quá trình viết một bài văn thật khó nên cần phải có sự chuẩn bị kĩ để bài vă đạt hiệu quả.
Bên cạnh đó giáo viên cần phải bám sát yêu cầu của đề để đánh giá thực chất và tìm ra
những điểm yếu cần khắc phục đồng thời cũng cần phát huy ưu điểm để các em học tập.
c. Điều kiện thực hiện giải pháp.
- Có sự quan tâm sâu sát của các cấp lãnh đạo: Nhà nước và chính quyền địa phương
có những chính sách hỗ trợ thiết thực đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Nhà trường trang
bị cho học sinh bàn ghế cơ sở vật chất đạt chuẩn. Mỗi năm học cần phải tổ chức cuộc thi
“giao lưu tiếng việt cho học sinh dân tộc” cho các em tại các khối lớp.
- Để thực hiện được các giải pháp trên đòi hỏi người giáo viên phải tận tụy, chịu
khó, yêu nghề mến trẻ. Về học sinh các em phải đọc thông viết thạo,... Bên cạnh đó sự
quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiên của ban giám hiệu nhà trường là một yếu tố không thể
thiếu để thực hiện tốt các giải pháp.
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp.
Các biện pháp đều có mối quan hệ biện chứng với nhau,biện pháp này có mối liên
hệ chặt chẽ với biện pháp kia và ngược lại. Ví dụ nếu học sinh có sự chuẩn bị đầy đủ trước
khi đến lớp thì kết quả học tập sẽ cao hơn hoặc nếu học sinh ghi nhớ được mẹo luật chính
tả thì sẽ khắc phục được rất nhiều lỗi mà các em mắc phải. Các biện pháp đều có sự tác
động qua lại với nhau nên khi thực hiện giáo viên chủ nhiệm cần phải thực hiện một cách
đồng bộ, không được coi nhẹ một biện pháp nào nhằm đạt hiệu quả như mong muốn

17


e. Kết quả khảo nghiệm.
* Năm học 2010 – 2011:
Trước khi áp dụng:
XL
TSHS
Giỏi
Môn
Lớp 5C
Tiếng Việt
Tỉ lệ %

22

2
9

Khá

TB

Yếu

5
23

9
41

6
27

Sau khi áp dụng giải pháp cùng với sự nỗ lực cố gắng của bản thân mỗi học sinh, sự
rèn luyện bồi dưỡng thường xuyên của giáo viên, đến nay kỹ năng sử dụng tiếng và kết quả
học môn tiếng việt của học sinh đã tăng lên rõ rệt. Kết quả đạt được như sau:
XL
Môn
Tiếng Việt
Tỉ lệ %

TSHS
Giỏi
Lớp 5C
22
5
23

Khá

TB

Yếu

7
32

10
45

0

Số HS tham gia thi HS chữ đẹp cấp huyện là 2 em.
Kết quả
Số HS

Giải nhất
0

Giải nhì
0

Giải ba
1

* Năm học 2011-2012:
Trước khi áp dụng:
XL
TSHS
Giỏi
Môn
Lớp 5C
Tiếng Việt
23
3
Tỉ lệ %
13

Giải k- khích Công nhận
1
0

Khá

TB

Yếu

4
17,4

9
39,1

7
30,5

Sau khi áp dụng giải pháp cùng với sự nỗ lực cố gắng của bản thân mỗi học sinh, sự
rèn luyện bồi dưỡng thường xuyên của giáo viên, đến nay kỹ năng sử dụng tiếng và kết quả
học môn tiếng việt của học sinh đã tăng lên rõ rệt. Kết quả đạt được như sau:

18


XL
Môn
Tiếng Việt
Tỉ lệ %

TSHS
Giỏi
Lớp 5C
23
5
21,7

Khá

TB

Yếu

8
34,8

10
44,5

0

Số HS tham gia thi học sinh dân tộc giao lưu tiếng cấp huyện là 2 em.
Kết quả
Giải nhất
Giải nhì
Giải ba
Giải k- khích Công nhận
Số HS
0
1
1
0
0
II.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.
Qua quá trình giảng dạy, nhờ đã kiên trì bền bỉ áp dụng những biện pháp trên đây
đối với tất cả học sinh ở những lớp tôi đã từng chủ nhiệm nói chung, đặc biệt là học sinh
lớp 5C nói riêng, tôi thấy các em đã có những chuyển biến tích cực và đạt được một số kết
quả cụ thể như sau:
-Trong giờ tập học hiện nay số học sinh say mê học tập tăng lên, lớp học sôi nổi hơn.
-Những em đọc nhỏ, lí nhí, chưa trôi chảy đến nay đã đọc to, rõ ràng, lưu loát hơn.
-Những em đọc đều đều, ngang ngang nay đã biết lên xuống giọng phù hợp với nội
dung của câu thơ, câu văn, bài thơ, bài văn.
-Còn những em đọc sai do ảnh hưởng phương ngữ hay đọc ngọng thì nay đã có
nhiều tiến bộ. Đặc biệt có em trong số này còn thường xuyên xung phong đọc những từ
ngữ khó mà tôi thường ghi bảng để luyện đọc đúng cho học sinh cả lớp và hơn thế nữa có
em còn rất tự tin khi thi đọc diễn cảm với những em đọc tốt.
-Gần 50% số học sinh của lớp đến nay đã tự tin thể hiện trước đám đông khi trình
bày một vấn đề gì và việc sử dụng từ ngữ, câu văn cũng hợp lí trong bài viết tập làm văn .
Điều đó cho thấy kỹ năng sử dụng tiếng việt của các em được nâng lên rõ rệt.
III.PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
III.1 Kết luận:
Rèn luyện bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng cơ bản tiếng việt học sinh là một vấn đề vô
cùng khó khăn nên đòi hỏi giáo viên phải có đầu tư kiến thức và truyền thụ cho HS một
cách phù hợp.Ngoài ra giáo viên bồi dưỡng cần phải luôn tìm tòi sách vở đặc biệt là có một
hệ thống kiến thức cơ bản và sử dụng linh hoạt để khi giảng dạy thật phù hợp tránh sự
nhàm chán.
Qua nhiều năm dạy lớp 5 bản thân tôi đã rút ra được một vài bài học kinh nghiệm sau:
1/ Thực sự yêu nghề, tâm huyết với công việc.

19


2/ Thường xuyên học hỏi trau dồi kiến thức, tích lũy một hệ thống kiến thức phong phú.
3/ Luôn thân thiện, gần gũi cởi mở với HS, luôn mẫu mực trong lời giảng .Thường xuyên
trò chuyện hay kể những câu chuyện với HS để các em cảm nhận lời văn hay.Tạo cho các
em có niềm say mê hứng thú học môn Tiếng việt. Thường xuyên sáng tạo các trò chơi mới
phù hợp với tiết dạy tạo sự hứng thú gần gủi cho học sinh để học sinh tự tin thể hiện bản
thân. Tăng cường hoạt động dự giờ thăm lớp có góp ý cụ thể sau mỗi tiết dạy. Tích cực
sáng tạo trong việc làm và sử dụng đồ dùng dạy học, sưu tầm tài liệu bộ môn. Tự động
viên khuyến khích, đặt ra yêu cầu mới và sáng tạo không ngừng.
4/ Học sinh cần có nhiều loại sách để tham khảo.
Thư viện nhà trường phải thường xuyên bổ sung cập nhập các loại sách tham khảo
mới và các loại sách báo thiếu nhi dân tộc các loại sách báo của đội...
Việc nghiên cứu đề tài này là vô cùng bổ ích, là nguồn tài liệu quý báu, phục vụ cho
việc giảng dạy các phân môn Tiếng Việt giúp cho học sinh không những đọc đúng, viết
đúng mà còn là cơ sở hết sức quan trọng để học sinh phát triển năng lực ngôn ngữ, giao
tiếp, năng lực cảm thụ văn học và phục vụ cho việc học các môn như: Toán học, môn khoa
học tự nhiên xã hôi và các môn học khác
Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu thực hiện đề tài này, tôi nhận thấy tuy đây mới
chỉ là bước đầu vừa làm vừa rút kinh nghiệm những HS khối 5 mà tôi phụ trách đã có
nhiều bước chuyển biến mới như;
- Về kiến thức từ ngữ, ngữ pháp các em nắm rất chắc và đã quen thuộc với các dạng đề.
Điều đặc biệt hơn là vốn từ rất phong phú. khả năng giao tiếp và diễn đạt được nâng cao.
- Về khả năng cảm thụ văn học và tập làm văn thì đa số các em nắm vững về kiến thức
nhưng điểm tốt mới dừng lại ở một số ít học sinh nhưng các em đã có sự tiến bộ rõ rệt. Học
sinh cảm nhận thơ, văn sâu sắc, biết dùng từ viết câu có nhiều hình ảnh làm cho đoạn văn,
câu văn thêm sinh động và hay hơn nhiều so với năm học trước.
III.2. KIẾN NGHỊ:
Đối các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương :
Cần quan tâm hơn nữa đầu tư xây dựng cở sở vật chất để khuôn viên trường học có được
thêm cảnh quan nhà trường để tiến tới công nhận đạt chuẩn quốc gia.
Đối với ngành giáo dục :
Thường xuyên tổ chức các hội thi phù hợp để tạo điều kiện cho học sinh được giao lưu
học hỏi lẫn nhau ngày càng nhiều.
Đối với trường học cần quan tâm đến việc nâng cao chất lượng học sinh hơn nữa ở các
khối ,lớp để có được kết quả cao hơn.

20


Do thời gian và năng lực có hạn nên những vấn đề đưa ra chắc chắn sẽ có nhiều thiếu
sót. Tôi rất mong được những ý kiến đóng góp của các đồng chí và bè bạn đồng nghiệp để
giúp cho đề tài của tôi được hoàn thiện hơn và được sử dụng rộng rãi.
Tôi xin chân thành cảm ơn !

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×