Tải bản đầy đủ

Rèn luyện năng lực viết văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ cho học sinh lớp 12

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN

RÈN LUYỆN NĂNG LỰC
VIẾT VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN
THƠ CHO HỌC SINH LỚP 12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thái Nguyên - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐHTN

/


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN


RÈN LUYỆN NĂNG LỰC
VIẾT VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN
THƠ CHO HỌC SINH LỚP 12
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Văn – Tiếng Việt
Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thu Thủy

Thái Nguyên năm 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐHTN

/


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được
chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Vân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

1

/


LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng
tới Lãnh đạo trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên, các Thầy Cô giáo
đã tham gia giảng dạy và cung cấp những kiến thức cơ bản, sâu sắc, tạo điều
kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu rèn luyện tại nhà


trường.
Tác giả xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS. Nguyễn Thị Thu
Thủy, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ tác giả
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu trường Trung học
phổ thông Sông Công - Tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện về thời gian, vật
chất, tinh thần cho tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa học.
Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã tận tình giúp đỡ động viên tác giả
hoàn thành khóa học và luận văn này.
Do điều kiện về thời gian và năng lực bản thân còn nhiều hạn chế nên
luận văn này còn có những khiếm khuyết, tác giả mong nhận được sự góp ý
chân thành của Thầy Cô và đồng nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Vân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

2

/


MỤC LỤC
Trang

Trang bìa phụ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

3

/


Lơi cam đoan ..........................................................................................................i
Lơi cam ơn .............................................................................................................ii
Mục lục ............................................................................................................... iii
Danh mục từ viết tắt .............................................................................................iv
MỞ ĐẦU ...............................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề....................................................................................................2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .....................................................................9
5. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................9
6. Giả thuyết khoa học ........................................................................................ 10
7. Cấu trúc của đề tài .......................................................................................... 10
NỘI DUNG ........................................................................................................ 11
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .................... 11
1.1. Cơ sở lí luận................................................................................................. 11
1.1.1. Năng lực Ngữ văn và năng lực viết văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
. 11
1.1.2. Kiểu bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ và hoạt động rèn luyện
năng lực viết văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ ....................................... 14
1.1.3. Khả năng trí tuệ và nhu cầu phát triển năng lực của HS lớp 12............... 24
1.2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................. 25
1.2.1. Thực trạng về tài liệu dạy học kiểu bài nghị luận về một bài thơ, đoạn
thơ cho HS lớp 12 ............................................................................................... 25
1.2.2. Thực trạng hoạt động dạy kiểu bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
cho HS lớp 12 hiện nay ...................................................................................... 27
1.2.3. Thực trạng hoạt động học kiểu bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
của HS lớp 12 hiện nay....................................................................................... 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

4

/


Tiểu kết ............................................................................................................... 32
Chương 2. THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG RÈN LUYỆN NĂNG LỰC VIẾT
VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ CHO HỌC SINH
LỚP 12 ............................................................................................................... 33
2.1. Một số yêu cầu rèn luyện năng lực viết văn nghị luận về một bài thơ,
đoạn thơ cho học sinh lớp 12.............................................................................. 33
2.1.1. Yêu cầu về nội dung rèn luyện ................................................................. 33
2.1.2. Yêu cầu đối với hoạt động rèn luyện........................................................ 33
2.1.3. Yêu cầu về kiểm tra, đánh giá .................................................................. 35
2.2. Thiết kế hoạt động rèn luyện năng lực viết văn nghị luận về một bài thơ,
đoạn thơ cho học sinh lớp 12.............................................................................. 36
2.2.1. Thiết kế hoạt động rèn luyện năng lực viết văn nghị luận về một bài
thơ, đoạn thơ cho học sinh trong giờ đọc - hiểu một bài thơ, đoạn thơ ............. 37
2.2.2. Thiết kế hoạt động rèn luyện năng lực viết văn nghị luận về một bài
thơ, đoạn thơ cho học sinh lớp 12 trong giờ thực hành Nghị luận về một bài
thơ, đoạn thơ (Sách Ngữ văn 12, tập một (Cơ bản)) .......................................... 51
Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM........................................................ 62
3.1. Mục đích thực nghiệm: ................................................................................ 62
3.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm .............................................................. 62
3.2.1. Về đối tượng thực nghiệm: ....................................................................... 62
3.2.2. Về giáo viên thực nghiệm:........................................................................ 62
3.2.3. Về địa bàn thực nghiệm:........................................................................... 62
3.2.4. Kế hoạch thực nghiệm: Thời gian thực nghiệm tiến hành vào tháng 10
năm học 2014 - 2015. Chúng tôi tập trung đánh giá thực nghiệm cho đối
tượng lớp 12 học chương trình cơ bản. Theo PPCT là hai tiết Nghị luận về
một bài thơ, đoạn thơ (tiết 18 PPCT Chuẩn và tiết 6 PPCT Tự chọn). .............. 62
3.3. Nội dung và cách tiến hành thực nghiệm .................................................... 63
3.3.1. Nội dung thực nghiệm .............................................................................. 63
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

5

/


3.3.2. Cách tiến hành thực nghiệm ..................................................................... 91
3.4. Kết quả thực nghiệm.................................................................................... 91
KẾT LUẬN........................................................................................................ 95
TÀI LỆU THAM KHẢO ................................................................................. 97
PHỤ LỤC

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐHTN

v

/


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT

TỪ, NGỮ VIẾT TẮT

TỪ, NGỮ ĐẦY ĐỦ

1

GV

Giáo viên

2

GD-ĐT

Giáo dục và đào tạo

3

HS

Học sinh

4

NLVH

Nghị luận văn học

5

NDDH

Nội dung dạy học

6

RLNL

Rèn luyện năng lực

7

SBT

Sách bài tập

8

SGV

Sách giáo viên

9

SGK

Sách giáo khoa

10

THPT

Trung học phổ thông


Số hóa bởi
Trung tâm Học
liệu - ĐHTN iv

http://www
.lrc.tnu.ed
u.vn/

1
.
L
í
d
o
c
h

n
đ

t
à
i

MỞ
ĐẦU


1.1. Sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật cùng với sự phát triển chưa
từng thấy của nền kinh tế đã đặt ra những yêu cầu mới với ngành GD-ĐT hiện nay.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã chỉ rõ: mục tiêu giáo dục ở thời gian này cần
nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, đào tạo thế hệ trẻ thành những lao động
tự chủ, năng động và sáng tạo, có năng lực giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt
ra, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh. Hướng vào mục tiêu trên ngày
25 tháng 6 năm 2013, bộ GD-ĐT đã ban hành văn bản số 791/HD-BGDĐT trong đó
đưa ra những định hướng mới về việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông sau
năm 2015, đổi mới sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá
học sinh theo định hướng phát triển năng lực. Mục tiêu của việc đổi mới này là khắc
phục những hạn chế của lối dạy truyền thống, đem lại những giờ học hiệu quả và bổ
ích cho người học. Học sinh không chỉ được lĩnh hội các tri thức, kĩ năng mà từ
những tri thức đó học sinh có khả năng vận dụng và giải quyết các tình huống trong
thực tiễn. Từ đó góp phần bồi dưỡng, phát triển những phẩm chất, năng lực sẵn có,
cần có cho HS. Như vậy việc dạy học theo định hướng PTNL cho HS vừa mang tính
thời sự đáp ứng được yêu cầu cấp bách do bộ GD-ĐT đề ra vừa mang tính thực tiễn
đáp ứng được nhu cầu của người học, nhu cầu của cuộc sống. Trước những nhu cầu
trên thì việc rèn luyện cho HS năng lực viết văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
cũng là một nhiệm vụ cần được giáo viên quan tâm và hướng tới.
1.2. Văn nghị luận có một vị trí quan trọng trong chương trình và SGK môn
Ngữ văn THPT. Việc học làm văn nghị luận là một công việc, một yêu cầu rất trọng
yếu của việc học văn trong nhà trường. Bởi văn nghị luận có thể thâm nhập vào mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội. Nó là vũ khí khoa học và vũ khí tư tưởng sắc bén, giúp
cho con người nhận thức đúng đắn các lĩnh vực của đời sống xã hội và hướng dẫn,
thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người. Văn nghị luận giúp HS biết vận dụng
tổng hợp các tri thức đã học được từ tự nhiên đến xã hội, rèn luyện khả năng diễn đạt
bằng ngôn ngữ, khả năng tư duy lôgic khoa học, có năng lực đánh giá, năng lực cảm
thụ thẩm mĩ….góp phần tích cực vào việc phát triển hoàn thiện nhân cách con người.
Trong văn nghị luận thì nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ là một kiểu bài quan

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

2

/


trọng. Kiểu nghị luận này giúp HS phát triển được năng lực cảm thụ cái hay, cái đẹp
của tư tưởng, của ngôn ngữ nghệ thuật, nâng cao năng lực đánh giá, lập luận, diễn
đạt…Hình thành ở HS những phẩm chất cao đẹp như lòng yêu nước, lòng yêu thương
con người, làm giàu có cho tâm hồn, tình cảm, cảm xúc… Nhưng thực tế hiện nay
NDDH và PPDH chưa khai thác triệt để những ích lợi của kiểu bài này đối với người
học, việc dạy vẫn thiên về việc truyền thụ kiến thức chưa chú trọng nhiều đến việc
rèn kĩ năng, phát triển năng lực viết văn cho HS. HS chưa có thói quen tư duy, nghiên
cứu để giải quyết vấn đề. Các em chưa nắm được cách tiếp cận văn bản thơ nên việc
cảm thụ, chiếm lĩnh tác phẩm còn gặp nhiều lúng túng nhất là thơ mới. Vì thế HS
thường có tâm lí lo sợ khi phải tự lực cảm thụ hay phân tích một bài văn, bài thơ, nhất
là những bài mới không có trong chương trình. Đây thực sự là một hạn chế lớn cần
được khắc phục. Và điều đó càng trở nên cần thiết hơn khi Bộ GD-ĐT đã đổi mới
cách ra đề, không chỉ giới hạn trong những tác phẩm nằm trong chương trình SGK
nữa mà mở ra cả những tác phẩm ngoài chương trình. Nếu HS không được rèn kĩ
năng, không có các năng lực để tạo lập văn bản thì HS sẽ bị lúng túng, không thể đạt
được kết quả cao.
1.3. HS THPT đang bước vào giai đoạn hoàn thiện cả về thể chất lẫn trí tuệ,
tính cách. Việc bồi dưỡng và phát triển năng lực toàn diện cho HS cũng như hình
thành ở các em những phẩm chất tốt đẹp là điều cần thiết. Trong đó rèn luyện năng
lực viết văn nghị luận cho HS đóng một vai trò quan trọng để đáp ứng yêu cầu đó.
Nhưng làm thế nào để HS có hứng thú đối với bài học để từ đó có cơ hội phát triển ở
các em những năng lực, phẩm chất là điều mà mỗi GV trăn trở và suy nghĩ.
Xuất phát từ những lí do trên nên chúng tôi đã chọn đề tài "Rèn luyện năng
lực viết văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ cho HS lớp 12" với mong muốn
tìm ra một hướng đi, một giải pháp dù là rất nhỏ để việc dạy học Ngữ văn nói chung
và dạy học làm văn nói riêng đạt hiệu quả cao hơn, đáp ứng mục tiêu giáo dục và nhu
cầu xã hội.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Tình hình nghiên cứu dạy học kiểu bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ ở
trường phổ thông
Văn nghị luận đã có từ lâu đời và nội dung nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
cũng đã được đề cập từ lâu trong chương trình và sách giáo khoa. Văn nghị luận là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

3

/


một thể loại văn chính của phần Làm văn trong bộ môn Ngữ văn nên từ lâu nó đã trở
thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều tác giả.
Giáo trình Làm văn (tập1), NXBGD, (1989) của tác giả Đình Cao - Lê A, đã
nghiên cứu những vấn đề cơ bản về văn bản nghị luận văn học và việc rèn luyện
phương pháp và kĩ năng làm văn nghị luận, trong đó đi sâu nghiên cứu phương pháp
và kĩ năng làm văn nghị luận văn học. Đó là kĩ năng phân tích đề, lập dàn ý, viết đoạn
văn, viết câu, dùng từ. Trong từng phần tác giả bàn luận rất tỉ mỉ và cụ thể. Ở kĩ năng
phân tích đề sau khi nêu tầm quan trọng của việc phân tích đề, tác giả hướng dẫn
người đọc tìm hiểu kết cấu một đề bài rồi cuối cùng là giới thiệu các thao tác cần tiến
hành khi phân tích đề. Ở phần kĩ năng viết đoạn văn tác giả lần lượt trình bày những
kiến thức cơ bản về dàn ý, trong đó bổ ích nhất là phương pháp làm dàn ý. Tương tự
sang phần kĩ năng viết đoạn văn các tác giả cũng lần lượt trình bày khái niệm, các kiểu
mô hình cấu trúc của đoạn văn và đặc biệt là quy trình viết một đoạn văn. Có thể nói
với cách trình bày khoa học, rõ ràng cộng với những kiến thức sâu rộng về kĩ năng
làm văn nghị luận, cuốn giáo trình của hai tác giả thực sự là tài liệu quý giá, bổ ích
đối với cả giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học làm văn nghị luận văn học.
Trong cuốn Làm văn - Từ lý thuyết đến thực hành, NXBGD, Hà Nội (1997)
tác giả Đỗ Ngọc Thống đã khảo sát tài liệu đề cập đến việc rèn luyện các kĩ năng làm
văn của các tác giả như: Lê A, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, Trần Thanh
Đạm...Qua khảo sát, tác giả đã thống kê được 28 kĩ năng làm văn được đề cập đến
trong các tài liệu. Trong đó có một số kĩ năng được các tài liệu nhắc đến khá nhiều
như: tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, xây dựng đoạn văn, lập luận, chọn và trình bày
dẫn chứng…Như vậy có thể thấy đó là những kĩ năng rất quan trọng đối với quá trình
tạo lập văn bản, cần phải rèn luyện cho học sinh thực hành tốt những kĩ năng này.
Trong cuốn Rèn kĩ năng làm văn nghị luận, NXBGD, (2003), tác giả Bảo
Quyến đã mang đến cho người đọc những kiến thức rất cụ thể, chi tiết về loại văn
nghị luận. Tác giả đã nêu ra phương pháp làm bài đối với từng kiểu bài nghị luận
(phân tích, chứng minh, bình luận…). Trong kiểu bài phân tích lại chia nhỏ ra từng
dạng: phân tích tác phẩm tự sự, trữ tình, phân tích nhân vật tự sự, trữ tình, phân tích
khía cạnh của tác phẩm. Tiếp đó tác giả bàn về quy trình làm một bài văn nghị luận,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

4

/


hướng dẫn cách xác định yêu cầu của đề, lập dàn ý, triển khai thành văn bản. Cuối
cùng là rèn kĩ năng xây dựng đoạn, liên kết đoạn và cách sử dụng dẫn chứng trong
bài văn nghị luận cho học sinh. Đây cũng là một tài liệu bổ ích, người đọc có thể lựa
chọn được trong đó rất nhiều kinh nghiệm quý báu cho việc rèn luyện kĩ năng viết
văn.
Trong cuốn Làm văn NXBGD (2008), các tác giả Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên),
Phạm Minh Diệu, Nguyễn Thành Thi đã trình bày những kiến thức cơ bản về các
kiểu văn bản trong nhà trường phổ thông trong đó có văn nghị luận. Cũng giống như
các kiểu văn bản khác, văn nghị luận được trình bày lần lượt về: khái niệm, đặc điểm,
cách làm văn bản nghị luận. Đặc biệt ở phần cuối các tác giả đã đưa ra hệ thống kĩ
năng tạo lập văn bản trong nhà trường và quy trình luyện tập các kĩ năng đó. Bao
gồm kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý và lập dàn ý, diễn đạt, trình bày. Ở từng kĩ năng các
tác giả có những hướng dẫn cụ thể về mặt lí thuyết và có đưa ra một số dẫn chứng để
minh họa. Tuy không đi cụ thể vào từng kiểu bài nghị luận nhưng tài liệu đã chú
trọng đến việc rèn luyện một số kĩ năng cơ bản để tạo lập được văn bản. Những tri
thức đó sẽ giúp ích rất nhiều cho giáo viên và học sinh khi dạy và học kiểu bài nghị
luận về một bài thơ, đoạn thơ.
Trong cuốn Tiếng Việt thực hành, NXBGD Việt Nam, (2012), các tác giả: Bùi
Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng đã trình bày một cách rõ ràng quy trình của việc tạo
lập văn bản. Đó là gồm các bước: định hướng, lập đề cương, viết đoạn văn, sửa chữa
và hoàn thiện văn bản. Ở từng giai đoạn các tác giả có sự hướng dẫn một cách tỉ mỉ,
cặn kẽ giúp người đọc có được những hiểu biết đầy đủ về từng công đoạn. Tuy nhiên
trong cuốn sách này các tác giả chỉ cung cấp những lý thuyết chung cho việc tạo lập
một văn bản nói chung (thuộc mọi phong cách) chứ không đi sâu, cụ thể vào việc tạo
lập văn bản nghị luận văn học cũng như nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
2.2. Tình hình nghiên cứu việc rèn luyện năng lực viết văn nghị luận về một bài
thơ, đoạn thơ cho HS lớp 12
Vấn đề rèn luyện các kĩ năng để phát triển năng lực viết văn ở HS cũng được
các nhà khoa học, các nhà quản lí giáo dục quan tâm, nghiên cứu và có những định
hướng đúng đắn. Trước hết phải kể đến những tài liệu vừa mang tính chỉ đạo vừa
mang tính định hướng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

5

/


Trong công trình nghiên cứu "Chương trình Ngữ văn trong nhà trường phổ
thông Việt Nam" PGS.TS Đỗ Ngọc Thống (2011) NXBGD Việt Nam đã đưa ra định
hướng PTNL người học trong chương trình môn Ngữ văn. Trong đó nhấn mạnh các
năng lực mà môn Ngữ văn cần góp phần hình thành và phát triển bao gồm cả năng
lực chung và năng lực đặc thù. Trong phần năng lực đặc thù tác giả đi sâu vào bàn cụ
thể từng năng lực: năng lực tiếp nhận văn bản và năng lực tạo lập văn bản (về khái
niệm, con đường hình thành và phát triển…) Đó là những định hướng cụ thể, thiết
thực. Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến việc định hướng PTNL HS THPT trong từng
kiểu bài cụ thể như nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
Trong cuốn "Tài liệu tập huấn thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà
trường phổ thông", Hà Nội, (2013), Bộ GD-ĐT đã đề cập đến việc PTNL cho HS.
Trong đó nhấn mạnh việc cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học, để phát huy
được một cách toàn diện các năng lực sẵn có của HS, bao gồm cả năng lực chung và
năng lực riêng. Tài liệu cũng đưa ra một số hướng dẫn đối với bộ môn Ngữ văn nhằm
hướng tới việc hình thành và bồi dưỡng hai năng lực chung là năng lực giao tiếp,
năng lực sử dụng ngôn ngữ và các năng lực chuyên biệt như cảm thụ văn học, tạo lập
văn bản… Tuy mới chỉ đưa ra những hướng dẫn chung nhưng nó cũng chính là định
hướng cho giáo viên trong quá trình dạy học ở cả ba phân môn nhất là ở phân môn
Làm văn - một phân môn mang nặng tính thực hành, có vai trò rất lớn trong việc hình
thành năng lực tạo lập văn bản ở học sinh.
Trong cuốn "Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
theo định hướng phát triển năng lực học sinh bộ môn Ngữ Văn cấp trung học phổ
thông", Hà Nội, (2014), Bộ GD-ĐT có nêu rõ sự cần thiết phải đổi mới chương trình
giáo dục, phương pháp dạy học nhằm chú trọng phát triển năng lực của học sinh.
Năng lực đặc thù mà bộ môn Ngữ văn đảm nhiệm đó là từng bước hình thành và
nâng cao năng lực tiếp nhận văn bản (gồm kĩ năng nghe và đọc) và năng lực tạo lập
văn bản (gồm kĩ năng nói và viết). Để giúp cho người dạy và người học thực hiện
được mục tiêu trên, tài liệu đã đưa ra những phương pháp dạy học tích cực, các kĩ
thuật dạy học tích cực, cách kiểm tra, đánh giá tích cực để giáo viên và học sinh có
thể lựa chọn cho từng bài học sao cho hiệu quả nhất. Như vậy có thể thấy nâng cao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

6

/


năng lực cho học sinh đặc biệt là năng lực viết văn (tạo lập văn bản) là một việc làm
rất quan trọng được các nhà nghiên cứu, quản lí giáo dục đặc biệt quan tâm. Những
định hướng được nêu trong tài liệu thực sự có ý nghĩa đối với việc dạy và học môn
Ngữ văn. Tuy nhiên cuốn tài liệu này mới chỉ dừng ở những định hướng chung cho
bộ môn Ngữ văn. chứ không đi cụ thể vào từng phân môn .
Giáo trình Phương pháp dạy học Văn (tập 2) của các tác giả Phan Trọng Luận
(chủ biên), Trương Dĩnh đã bàn về phương pháp dạy học các phân môn của Ngữ văn
theo hướng tích cực hóa hoạt động dạy và học. Ở phân môn Làm văn các tác giả đưa
ra phương pháp dạy lí thuyết và phương pháp dạy thực hành. Trong đó nhấn mạnh
đến việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh "rèn luyện bền bỉ, tỉ mỉ, từng bước, thường
xuyên thông qua một hệ thống bài tập chặt chẽ từng thao tác một cho học sinh, là một
yêu cầu có tính nguyên tắc, phù hợp với các đặc thù của việc giảng dạy làm văn - bộ
môn học mang nặng tính thực hành ở phổ thông. Thông qua việc luyện tập thực hành,
lí thuyết làm văn mới được định hình và đạt đến trình độ thông hiểu thực sự" [23,
tr.158]. Cuốn sách thực sự là những kinh nghiệm quý báu giúp cho giáo viên có được
được định hướng dạy các giờ lí thuyết và thực hành làm văn một cách hiệu quả.
Trong cuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt các tác giả Lê A, Nguyễn Quang
Ninh, Bùi Minh Toán cũng đã đưa ra phương pháp dạy học làm văn lí thuyết và thực
hành. Trong đó cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng cho
học sinh "Chỉ có thực hành mới tạo ra được những kĩ năng làm văn, mới giúp cho
việc hiểu sâu lí thuyết và chỉ có thực hành mới tạo ra được những năng lực cần thiết
cho học sinh" [1, tr.158]. Xuất phát từ quan điểm đó các tác giả đã đi vào bàn một số
kĩ năng làm văn cần rèn luyện cho HS như: tìm hiểu đề, lập dàn ý, viết đúng theo dàn
ý, lập luận, hành văn, hoàn thiện bài viết. Tuy không đi cụ thể về việc rèn luyện
những kĩ năng này ở từng kiểu bài nhưng đây là những tri thức cơ bản mà người giáo
viên cần nắm được khi dạy học làm văn. Nó có thể sử dụng chung cho nhiều kiểu bài
nghị luận trong đó có nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
Trong cuốn Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho HSPT
NXBGD, (2001), các tác giả Nguyễn Quang Ninh- Nguyễn Thị Ban- Trần Hữu
Phong đã hướng tới việc hoàn thiện những kĩ năng dựng đoạn văn nói chung và dựng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

7

/


đoạn văn nghị luận nói riêng cho HSPT. Luyện cho HS cách lập luận mạch lạc trong
một đoạn văn, góp phần phát triển trí tuệ, mài sắc tư duy, năng cao năng lực giải
thích, chứng minh, phân tích…Nội dung cuốn sách gồm hai phần chính: hệ thống các
bài tập rèn kĩ năng và hướng dẫn cách giải. Các bài tập đựợc các tác giả đưa ra để rèn
luyện kĩ năng rất phong phú, đa dạng và toàn diện. Đây thực sự là một tài liệu cần
thiết đối với cả giáo viên và học sinh nhằm hướng tới việc phát triển năng lực viết văn.
Trong cuốn Muốn viết được bài văn hay, NXBGD (2008), các tác giả Nguyễn
Đăng Mạnh, Đỗ Ngọc Thống, Lưu Đức Hạnh đã đưa ra những kinh nghiệm để giúp
HS từ chỗ viết bài văn đúng đến chỗ viết được bài văn hay. Nêu ra từng công việc cụ
thể để xây dựng một bài văn hay từ việc chuẩn bị chất liệu, lập đề cương bài văn đến
viết thành bài hoàn chỉnh. Trong đó bàn luận từng phần mở bài, thân bài, kết bài,
cách viết câu linh hoạt, cách viết văn có hình ảnh, cách lập luận sắc sảo, chặt chẽ, viết
câu chuyển tiếp…
Bên cạnh những tài liệu nghiên cứu trong nước, chúng tôi cũng tham khảo một
số tài liệu của nước ngoài và nhận thấy vấn đề rèn luyện năng lực viết văn cho HS
THPT cũng rất được các nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm. Trong đó phải kể đến
cuốn tài liệu So sánh giáo dục Ngữ văn của tác giả Cố Minh Viễn. Cuốn tài liệu
nghiên cứu về mục tiêu, tài liệu, phương pháp giảng dạy Ngữ văn của Trung Quốc
trong sự so sánh với các quốc gia khác. Tiếp đó bàn đến việc bồi dưỡng năng lực học
Ngữ văn, năng lực giao tiếp khẩu ngữ, năng lực đọc và ở chương 8 tập trung bàn về
năng lực viết trong Ngữ văn.Từ chỗ khẳng định: "viết văn là bộ phận không thể thiếu
để phát triển năng lực toàn diện của HS" tác giả đã lần lượt đề cập đến từng vấn đề:
năng lực viết văn gồm những năng lực nào? Phương pháp để rèn luyện năng lực viết
văn, hệ thống luyện tập năng lực viết văn. Cuốn sách đã xác định rõ những năng lực
cần bồi dưỡng cho HS, đã đưa ra được những định hướng cho việc dạy học rèn luyện
năng lực viết văn nói chung. Đây là một tài liệu tốt để GV và HS tham khảo. Cuốn tài
liệu tiếp theo là bản dịch cuốn The Process of Composition (Quy trình viết luận) của
Joy M.Reid. Trong tài liệu này tác giả không đưa ra những định hướng chung mà đi
vào hướng dẫn rất chi tiết, cụ thể cách rèn luyện hai kĩ năng đó là: lập dàn ý và viết
đoạn văn. Ở phần lập dàn ý trước hết tác giả nêu cấu trúc, quy tắc lập dàn ý, sau đó
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

8

/


hướng dẫn cách viết mở bài, các lỗi thường gặp khi mở bài, cách viết thân bài, cách
viết kết bài. Ở phần rèn kĩ năng viết đoạn văn, tác giả cũng nêu ra cụ thể bố cục chính
của đoạn văn, cách viết câu chủ đề, quy trình viết đoạn văn. Cuối cùng là một hệ
thống bài tập rèn luyện rất đa dạng. Chính cách trình bày chi tiết, cụ thể với những
dẫn chứng minh họa dễ hiểu đã giúp cho người đọc rất dễ tiếp nhận. Đây thực sự là
những tài liệu quý báu giúp cho quá trình dạy và học của GV và HS.
Qua việc khảo sát những công trình nghiên cứu trên chúng tôi rút ra một số
nhận xét như sau: Văn nghị luận là thể loại có một vị trí, vai trò quan trọng nên từ lâu
nó đã trở thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều tác giả.
Vấn đề rèn luyện nâng cao kĩ năng làm bài nghị luận cho HS trong những năm
gần đây đã được chú trọng hơn. Các nhà khoa học đều chỉ ra rằng đây là khâu then
chốt, quyết định tới sự hình thành và phát triển năng lực tạo lập văn bản của HS. Vì
thế nhiều tài liệu đã đi sâu vào nghiên cứu và đưa ra những kinh nghiệm quý báu giúp
người đọc có được những định hướng đúng đắn để viết tốt một bài văn nghị luận. Tuy
nhiên các tài liệu chủ yếu dừng lại ở việc rèn các kĩ năng để làm bài nghị luận nói
chung, chứ ít đi sâu vào từng kiểu bài cụ thể, trong đó có kiểu bài nghị luận về một
bài thơ, đoạn thơ. Hoặc nếu có đề cập đến thì cũng chưa cụ thể, rõ ràng. Vì thế người
học chưa có được những lý luận sâu sắc, sát thực về vấn đề này dẫn tới việc người
học vẫn còn lúng túng khi đứng trước kiểu bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
Với mong muốn đóng góp một phần dù là rất nhỏ nhằm đổi mới phương pháp,
nâng cao chất lượng dạy và học, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một phương án dạy học
với đề tài: "Rèn luyện năng lực viết văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ cho
HS lớp 12".
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu việc rèn luyện năng lực viết văn nghị luận về một bài thơ,
đoạn thơ cho HS lớp 12 nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn, phát
huy năng lực của HS, đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc rèn luyện năng lực viết
văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ cho HS lớp 12.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

8

/


- Nghiên cứu định hướng dạy học và xây dựng các hoạt động rèn luyện năng
lực viết văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ cho HS lớp 12.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy và học bài Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ (SGK Ngữ văn
lớp 12 - Cơ bản) theo hướng rèn luyện năng lực viết văn cho HS lớp 12.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu bài học về kiểu bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ trong
sách giáo khoa Ngữ văn trung học, thực trạng dạy học kiểu bài này ở trường phổ
thông, nghiên cứu một số định hướng mới của Bộ GD-ĐT để vận dụng vào dạy học
bài Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ (SGK Ngữ văn lớp 12 - Cơ bản).
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình làm đề tài, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp để
nghiên cứu đó là:
5.1. Phương pháp hồi cứu tư liệu
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để nghiên cứu các tài liệu liên quan trước
đó nhằm nghiên cứu lịch sử của vấn đề và cơ sở lý luận của đề tài.
5.2. Phương pháp thống kê phân loại
Đây là một trong những phương pháp của toán học. Chúng tôi sử dụng
phương pháp này để thống kê và phân loại một số dạng, kiểu bài tập đã có trong
sách giáo khoa, sách bài tập và xử lí các số liệu thu thập được trong quá trình điều
tra thực nghiệm.
5.3. Phương pháp điều tra, khảo sát
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để tìm hiểu việc dạy và học văn nghị luận
về một bài thơ, đoạn thơ của giáo viên và học sinh; khảo sát hệ thống bài tập trong
sách giáo khoa và sách bài tập về kiểu bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ. Những
số liệu thu thập được làm cơ sở để chúng tôi nghiên cứu đề xuất nội dung, cách thức
tổ chức hoạt động dạy học nhằm rèn luyện năng lực viết văn nghị luận về một bài
thơ, đoạn thơ cho HS lớp 12.
5.4. Phương pháp phân tích tổng hợp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

9

/


Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để phân tích các số liệu, phân tích
tình hình thực tế, từ đó tổng hợp khái quát lại đưa ra những nhận xét, đánh giá chân
thực, khách quan.
5.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng trong thực nghiệm dạy học. Chúng
tôi tổ chức các hoạt động rèn luyện năng lực viết văn nghị luận về một bài thơ, đoạn
thơ cho học sinh lớp 12 ở trường THPT Sông Công nhằm kiểm tra tính hiệu quả của
hướng dạy học mà luận văn đề xuất.
6. Giả thuyết khoa học
Bài học nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ đã có từ lâu trong chương trình
Ngữ Văn 12 THPT song cho đến nay việc dạy và học của giáo viên và học sinh vẫn
còn nhiều lúng túng. Nội dung và cách thức dạy học kiểu bài này hiện nay chưa thực
sự phát huy được năng lực HS. Vì vậy, nếu đề xuất được một định hướng dạy học cụ
thể về mục tiêu, nội dung, phương pháp, kiểm tra đánh giá và tổ chức các hoạt động
dạy học hiệu quả thì năng lực viết văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ của HS sẽ
được nâng cao, kết quả dạy học nghị luận văn học ở THPT sẽ tốt hơn.
7. Cấu trúc của đề tài
Đề tài Rèn luyện năng lực viết văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ cho HS
lớp 12 được chia thành 3 phần chính: Mở đầu, Nội dung và Kết luận.
Phần Nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Thiết kế hoạt động rèn luyện năng lực viết văn nghị luận về một
bài thơ, đoạn thơ cho học sinh lớp 12.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

10

/


NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Năng lực Ngữ văn và năng lực viết văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
1.1.1.1. Năng lực Ngữ văn
* Năng lực
Năng lực được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào sự lựa
chọn loại dấu hiệu. Theo cuốn "Tài liệu tập huấn thí điểm phát triển chương trình
giáo dục nhà trường phổ thông" thì năng lực có thể phân thành hai nhóm chính:
- Nhóm lấy dấu hiệu tố chất tâm lý để định nghĩa: "Năng lực là tập hợp các
tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo
thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định".
- Nhóm lấy dấu hiệu về các yếu tố tạo thành khả năng hành động để định
nghĩa: "Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và
vận hành chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết
hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống".
Song dù diễn đạt theo cách nào thì năng lực vẫn có một số đặc điểm chung, cơ
bản như sau:
Năng lực là một yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể. Năng lực chỉ tồn
tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể. Vì vậy năng lực vừa
là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động, nó là điều kiện của hoạt động, nhưng cũng phát
triển trong chính hoạt động đó. Bản chất của năng lực là khả năng của chủ thể kết hợp
một cách linh hoạt, có tổ chức hợp lý các kiến thức, kĩ năng với thái độ, động cơ
nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động, bảo đảm cho hoạt động
đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh nhất định.
=> Từ những đặc điểm chung đó ta có thể nhận ra rằng: Trong quá trình dạy
học muốn hình thành, rèn luyện, đánh giá năng lực ở HS thì tất yếu phải đưa HS tham
gia vào hoạt động làm ra sản phẩm. Tức là bên cạnh việc tiếp thu kiến thức thì người
học cần phải được thực hành, được rèn luyện nhiều để thành thục các kĩ năng, từ đó
phát triển năng lực của bản thân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

11

/


Năng lực bao gồm hai loại chính đó là những năng lực chung và năng lực
chuyên biệt. Trong nhà trường HS cần được hình thành và phát triển các năng lực
chung như:
Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân, năng lực tư duy, năng lực tự
quản lý.
Nhóm năng lực về quan hệ xã hội: Năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác
Nhóm năng lực công cụ: Năng lực sử dụng công nghệ thông tin - truyền thông,
năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực tính toán.
Năng lực chuyên biệt là năng lực riêng được hình thành và phát triển do một
lĩnh vực/ môn học nào đó. Tức là mỗi môn học trong nhà trường bên cạnh việc góp
phần hình thành và phát triển những năng lực chung thì cần phát triển ở người học
những năng lực chuyên biệt do môn mình đảm nhiệm.
* Năng lực Ngữ văn
Môn Ngữ văn thì cần hình thành và phát triển cho người học những năng lực
cơ bản sau:
Năng lực chung: Năng lực giao tiếp, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải
quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực tự học…
Năng lực chuyên biệt: Năng lực giao tiếp tiếng Việt, năng lực thưởng thức
văn học/ cảm thụ thẩm mỹ, năng lực tạo lập văn bản.
Bên cạnh việc hình thành và phát triển về năng lực thì người học còn cần được
bồi dưỡng cả những phẩm chất tốt đẹp như: tình yêu quê hương, đất nước, lòng nhân
ái, có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự
nhiên…
1.1.1.2. Năng lực viết văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
Làm văn là một bộ phận của môn Ngữ Văn. Nó góp phần quan trọng trong
việc hình thành và phát triển một số năng lực đặc thù của môn Ngữ văn đặc biệt là
năng lực viết văn (năng lực tạo lập văn bản). Trong đó bao gồm cả năng lực viết văn
nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
Các nhà nghiên cứu đều chỉ ra rằng: Năng lực viết văn nghị luận về một bài
thơ đoạn thơ của HS được thể hiện trên hai phương diện: Một là: biết suy nghĩ sâu
sắc trước một bài thơ, đoạn thơ. Biết phân tích, lý giải, đánh giá cái hay, cái đẹp thậm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 12

/


chí cả những cái dở của bài thơ, đoạn thơ, từ ngữ, hình ảnh…đồng thời rút ra được
giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ. Hai là: biết diễn đạt,
trình bày những suy nghĩ, tình cảm cũng như những hiểu biết của mình một cách sáng
sủa, mạch lạc, có sức thuyết phục, không những diễn đạt đúng mà còn vươn tới diễn
đạt hay. Vì thế để viết tốt một bài nghị luận về bài thơ, đoạn thơ HS cần phải có
những năng lực sau:
- Năng lực nắm bắt vấn đề
Năng lực này thể hiện ở chỗ HS biết xác định đúng vấn đề mà đề bài yêu cầu
nghị luận, đồng thời HS có được những hiểu biết sâu sắc, phong phú về vấn đề đó, có
thể làm sáng rõ vấn đề. Để làm được điều đó thì HS phải có những năng lực bộ phận
như: năng lực quan sát, năng lực biểu tượng, năng lực phân tích, năng lực cảm nhận.
Như chúng ta đã biết nhà văn muốn sáng tác có chất lượng cũng phải biết quan
sát con người và cuộc sống hàng ngày. Viết văn cũng vậy, để có được những bài văn
có chất lượng thì người viết cần phải có năng lực quan sát. Các em cần phải biết quan
sát cuộc sống xung quanh mình để tìm hiểu, để tự điều chỉnh, để hòa nhập và quan
trọng hơn là làm giàu kinh nghiệm cho bản thân. Khi viết văn các em sẽ dùng những
hiểu biết và kinh nghiệm mà mình tích lũy được từ sự quan sát làm cho bài văn của
mình sinh động hơn, chân thực hơn, có hơi thở của đời sống và có màu sắc riêng.
Đồng thời có thể phân tích, lí giải được một cách hợp lý những chi tiết nghệ thuật
trong tác phẩm. Bởi thực chất những chi tiết nghệ thuật ấy cũng được xây dựng nên
từ thực tiễn mà nhà văn quan sát được. Ngoài ra khi đứng trước một bài thơ, đoạn thơ
HS cần phải biết quan sát để có được cái nhìn bao quát về chúng, phát hiện được
những đặc điểm hình thức bên ngoài như thể thơ (cách gieo vần, phối thanh, ngắt
nhịp…), kết cấu, những hình thức nghệ thuật tiêu biểu, nhân vật trữ tình…Từ đó có
thể xác định được hướng tìm hiểu bài thơ, đoạn thơ đó. Như vậy có thể thấy quan sát
là một hoạt động tư duy phức tạp, tinh tế nhằm khám phá đối tượng một cách có hiệu
quả. Muốn có năng lực quan sát một bài thơ, đoạn thơ HS cần phải có sự hiểu biết sâu
rộng về thơ như nắm được thi pháp thơ, đặc điểm các thể thơ, các hình thức nghệ
thuật, phong cách nghệ thuật của các nhà thơ…
Bên cạnh đó HS cũng cần phải có năng lực biểu tượng, đó là khả năng hình
dung, tưởng tượng, tái hiện lại thế giới mà nhà thơ phản ánh vào trong não bộ của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 13

/


mình. Có làm được điều đó thì HS mới thực sự nhập mình vào văn bản từ đó có
những cảm nhận chính xác. Ngoài ra để có thể nắm bắt đúng vấn đề thì HS còn cần
phải có năng lực phân tích, năng lực cảm nhận. Những năng lực này phản ánh sự hiểu
biết và kinh nghiệm của bản thân mỗi HS trước một vấn đề đặt ra. Có nắm bắt đúng
vấn đề thì bài làm mới đi đúng hướng được.
- Năng lực cấu tứ
Năng lực này giúp cho HS biết lập ý, lựa chọn cách triển khai ý cho bài làm
của mình. HS cần tìm được các ý lớn, ý nhỏ và sắp xếp chúng theo một trật tự lôgic
tạo nên những lập luận chặt chẽ, làm sáng tỏ luận đề. Một bài văn hay không phải chỉ
là đủ ý mà đôi khi nó còn thể hiện ở sự sáng tạo, mới lạ trong cấu tứ. Để có năng lực
này, HS cần có năng lực nắm bắt vấn đề, hiểu rõ lô gic nội tại của đối tượng nghị
luận, có khả năng tư duy lôgic, hệ thống, sáng tạo, có khả năng nêu và lập luận sáng
rõ, thuyết phục quan điểm của mình.
- Năng lực hành văn
Năng lực này sẽ giúp cho người viết biết triển khai ý một cách rõ ràng, mạch
lạc, lập luận trong bài văn chặt chẽ, sắc sảo, giàu sức thuyết phục. HS không chỉ diễn
đạt đúng mà cần tiến tới diễn đạt hay, có nghệ thuật thể hiện ở việc lựa chọn và sử
dụng từ ngữ độc đáo, tạo câu văn linh hoạt, giàu hình ảnh…
- Năng lực sửa bài sau khi viết
Năng lực này đòi hỏi người viết văn phải có khả năng thẩm định bài viết của
chính mình, từ đó nhận ra những hạn chế trong bài làm và biết cách sửa chữa. Năng
lực này rất cần thiết bởi trong quá trình làm bài không thể nào tránh hết được những
sai sót và khi đó HS cần phải có khả năng chỉnh sửa lại sao cho đúng.
1.1.2. Kiểu bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ và hoạt động rèn luyện năng
lực viết văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
1.1.2.1. Kiểu bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
* Văn nghị luận
Khái niệm văn nghị luận đã được nêu ra ở nhiều tài liệu khác nhau.
"Văn nghị luận là trình bày những lí lẽ, dẫn chứng một cách sáng sủa, giàu sức
thuyết phục, diễn tả những suy nghĩ và nêu ý kiến riêng của mình về một vấn đề nào
đó trong cuộc sống hoặc trong văn học, nghệ thuật. [36]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

14

/


"Văn nghị luận là loại văn trong đó người viết ( người nói) trình bày những ý
kiến của mình bằng cách dùng lí luận bao gòm cả lí lẽ và dẫn chứng để làm rõ một
vấn đề thuộc về chân lí nhằm làm cho người đọc (người nghe) hiểu, tin, đồng tình với
những ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình đề xuất" [7, tr. 5]
Như vậy ta có thể thấy khái niệm văn nghị luận được trình bày trong các tài
liệu rất phong phú. Tuy nhiên giữa các định nghĩa trên vẫn có những điểm thống
nhất, đó là: Văn nghị luận là sản phẩm của tư duy lôgic, là thể văn dùng lí lẽ, dẫn
chứng cũng như việc lập luận chặt chẽ để thuyết phục người nghe (người đọc) tin,
đồng tình với những ý kiến, quan điểm mà người nói (người viết) đưa ra.
Văn nghị luận có một vai trò, vị trí quan trọng trong đời sống. Bởi nó có thể
thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nó là vũ khí khoa học và vũ khí tư
tưởng sắc bén, giúp cho con người nhận thức đúng đắn các lĩnh vực của đời sống và
hướng dẫn, thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người. Đồng thời nó rèn luyện cho
người học khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ, khả năng tư duy lôgic khoa học, nghĩa là
có phương pháp tư duy đúng để tìm hiểu đúng vấn đề và có thái độ đúng trước các
vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Từ đó góp phần hoàn thiện nhân cách người học.
Dựa vào nội dung, đề tài nghị luận, văn nghị luận được chia thành hai dạng:
NLVH và NLXH. Ở đề tài này dạng văn nghị luận mà chúng tôi đề cập đến là NL về
một bài thơ, đoạn thơ.
* Kiểu bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
Khác với các thể loại truyện, kịch thơ mang một số đặc điểm cơ bản sau:
Thơ là một hình thức cấu tạo ngôn ngữ đặc biệt. Sự sắp xếp các dòng (câu)
thơ, sự hiệp vần, phối thanh, ngắt nhịp…đã làm nên vẻ đẹp nhịp nhàng, trầm bổng
của văn bản thơ.
Thơ là tiếng nói của tâm hồn, biểu hiện những cảm xúc, tâm sự riêng tư nhưng
lại có ý nghĩa khái quát về con người, về xã hội, nhân loại.
Ngôn ngữ thơ chủ yếu là ngôn ngữ của nhân vật trữ tình, là ngôn ngữ hình
ảnh, biểu tượng. Ý nghĩa mà văn bản thơ muốn biểu đạt thường không được thông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN

15

/


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×