Tải bản đầy đủ

Văn hóa truyền thống trong thơ nguyễn nhược pháp

Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
Mở đầu
Thơ Mới được xem là cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử thơ ca Việt
Nam. Thơ Mới - với những thành quả của nó làm cho mọi người kinh ngạc, mọi
thời đại không khỏi giật mình. Phong trào ấy đã sáng tạo ra một quan niệm thơ và
một hệ thống hình thức thơ mới mẻ với những thể loại mới, cấu tứ mới, cảm xúc
mới, ngôn ngữ mới, biểu tượng mới, phong cách mới, hệ thống biện pháp tu từ
mới…cùng với đó là hàng loạt những nhà thơ xuất sắc mang phong cách đa dạng,
độc đáo. Mỗi nhà thơ là một loài hoa tự do bộc lộ bản sắc riêng, dường như không
chịu một gò bó nào của ngoại cảnh, trừ sự thôi thúc của cái tôi trong mỗi người và
thiên hướng nghệ thuật của chính họ.
Trong cuộc cách mạng thơ ca ấy, dù chỉ sống một cuộc đời ngắn ngủi và để
lại gia tài văn học khá khiêm tốn nhưng Nguyễn Nhược Pháp vẫn có một địa vị
không thể thay thế được. Những tác phẩm của ông vẫn làm xao xuyến biết bao trái
tim của người yêu thơ cho tới tận hôm nay, và có lẽ còn nhiều năm sau nữa. Sở dĩ
Nguyễn Nhược Pháp và thơ của ông có sức sống lâu bền như vậy là vì nhà thơ đã
đem đến cho thơ Mới một phong cách rất riêng, mà ở đó, thể hiện truyền thống văn
hóa dân tộc là nét tiêu biểu nhất. “Với vài ba nét đơn sơ, Nguyễn Nhược Pháp đã
làm sống lại cả một thời xưa. Thơ ông đậm đà những nét phong tục xưa, những nếp
văn hoá truyền thống được thể hiện qua những nét tinh tế mang đậm bản sắc văn
hoá dân tộc nhưng không thể thấy dấu tích một nhà thơ xưa nào”.[6;295]

Dù tập Ngày xưa sớm được giới thiệu và đánh giá cao, song, cho đến nay
giới nghiên cứu văn học dường như vẫn nợ nhà thơ tài hoa mà yểu mệnh này một
bức vẽ chân dung đầy đủ, tương xứng, khả dĩ “đóng đinh” được sự nghiệp của ông
vào lịch sử văn học. Và, một khi bức chân dung văn học này chưa hoàn thành, thì
thế giới thơ Nguyễn Nhược Pháp, vẫn còn nhiều khoảng trống với không ít bí ẩn.
Tìm hiểu đề tài Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược
Pháp, chúng tôi hi vọng góp thêm cho bạn đọc một cái nhìn về thơ ca Nguyễn
Nhược Pháp và nhất là những giá trị văn hóa truyền thống mà thơ ca của ông đã đề
cập và bảo tồn.

1


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
1.

Những vấn đề lý luận chung

1.1.

Nguyễn Nhược Pháp và tập thơ “Ngày xưa”

Nguyễn Nhược Pháp sinh ngày 12 tháng 12 năm 1914 (nhằm ngày 25-10
năm Giáp Dần) tại Hà Nội. Ông là con trai thứ của văn hào Nguyễn Văn Vĩnh và là
em của nhà thơ Nguyễn Giang. Cha ông là một con người đầy tài năng. Không xuất
thân từ một gia đình thế gia vọng tộc, bố mẹ chỉ là những nông dân nghèo ở làng
Phượng Vũ, phủ Thường Tín (nay là Phú Xuyên, Hà Tây) - một vùng chiêm trũng
nghèo khó, Nguyễn Văn Vĩnh phải bỏ quê ra Hà Nội kiếm sống. Nhờ tài năng và
nghị lực phi thường, Nguyễn Văn Vĩnh đã tạo dựng nên được một gia tài chữ nghĩa
vô cùng đồ sộ mà ngay cả những người đồng thời, dù không đã đồng quan điểm với
ông, cũng phải vị nể. Ông trở thành một nhà báo, nhà văn, nhà phiên dịch tiếng tăm
lẫy lừng và có nhiều đóng góp lớn cho công cuộc hiện đại hóa văn học Việt Nam
những năm đầu thế kỉ.
Nguyễn Nhược Pháp là người con duy nhất của người vợ thứ hai. Ông là kết
quả của tình yêu sét đánh giữa Nguyễn Văn Vĩnh và cô gái người Thổ xinh đẹp tên
là Phan Thị Lựu ở Lạng Sơn. Hồi ấy, học giả Nguyễn Văn Vĩnh có khách sạn tọa
lạc gần Hồ Gươm, bà Lựu cùng gia đình buôn bán đường xa, thường lưu lại khách
sạn này. Cảm vì sắc, mến vì tài, họ nhanh chóng đến với nhau, nên duyên vợ chồng.
Bà Lựu sống cùng chồng ở căn nhà ngay trong khuôn viên khách sạn, chung quanh
là cảnh sắc đẹp đẽ, nên thơ. Có lẽ cuộc đời của mẹ con bà sẽ rất êm đềm nếu không


có sự cố bất ngờ xảy ra năm Nguyễn Nhược Pháp 2 tuổi. Học giả Nguyễn Văn Vĩnh
không chỉ nổi tiếng bởi tài hoa, giàu có, mà còn là người đàn ông đa tình. Lấy bà
Lựu vài năm, sau một thời gian ngắn mặn nồng, ông Vĩnh lại bắt đầu say mê một
bóng hồng mới, đó là một cô đào lai Tây đẹp tuyệt trần. Tìm mọi cách để giữ ông
không được, sau bao ghen tuông, dằn vặt, bà Lựu tự vẫn, để lại con trai nhỏ mới
hơn 2 tuổi đầu. Thế là Nguyễn Nhược Pháp phải mồ côi mẹ từ đó... Nguyễn Nhược
Pháp đã được bà Đinh Thị Tính (vợ cả của học giả Nguyễn Văn Vĩnh) đón về nuôi
dưỡng và chăm sóc như con đẻ. Ông cùng gia đình sống ở Thụy Khuyê trước
trường Bưởi. Cũng như nhiều thiếu niên ở thời kỳ đó, Nguyễn Nhược Pháp phải học
chữ Nho cùng các anh chị. Nguyễn Nhược Pháp thông minh, đẹp trai, có tài thơ phú
2


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
nên được các anh chị yêu mến. Tuy là con vợ bé nhưng Nguyễn Nhược Pháp luôn
được coi trọng và bình đẳng trong mọi sinh hoạt, vui chơi trong đại gia đình.
Sống với một người cha tính tình phóng túng, cậu bé mồ côi mẹ Nguyễn
Nhược Pháp mặc dù được chăm lo về vật chất nhưng chắc là trong thẳm sâu tâm
hồn chàng luôn có một nỗi trống vắng nào đó. Anh được cha cho ăn học đàng
hoàng. 14 tuổi thi đỗ lớp 6 Trường trung học Albert Saraut. 20 tuổi đỗ tú tài phần
nhất, 22 tuổi đỗ tú tài phần hai, vào Đại học luật. Từ năm 1930, kinh tế gia đình
Nguyễn Văn Vĩnh sa sút. Nguyễn Nhược Pháp vừa đi học để thi tú tài, thi đại học
Luật, vừa làm ở tòa báo An Nam mới, viết thơ… để có tiền nhuận bút, giảm bớt chi
tiêu của gia đình cho mình. Giống như cha, ông không thích đi làm quan mà chỉ mê
mải văn thơ, báo chí. Ông có nhiều tác phẩm đã đăng trên các báo Annam
nouveau, Tinh hoa, Đông Dương tạp chí, Nhật tan, Hà Nội báo…
Nhà thơ từng tương tư một trong bốn mỹ nữ đẹp nổi tiếng của Hà Thành, bà
Đỗ Thị Bính. Là tiểu thư khuê các giàu có, xinh đẹp nức tiếng, nhưng bà Bính lại
được người xung quanh thương mến, yêu quý bởi bà rất đỗi bình dị, hiền hậu, sống
chan hòa với mọi người, không phân biệt giai cấp. Bà trở thành nguồn thi hứng của
nhà thơ, hình ảnh bà Bính xuất hiện nhiều lần trong tập thơ đầu tay và cũng là cuối
cùng của người thi sĩ tài hoa Nguyễn Nhược Pháp.
Vào 7 giờ sáng ngày 19-11-1938 (nhằm ngày 28-9 năm Mậu Dần) ông qua
đời tại bệnh viện Lanean Hà Nội vì bệnh thương hàn, hưởng thọ 24 tuổi.
Ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ, khi tài năng đang độ chín, Nguyễn Nhược
Pháp để lại bao tiếc thương cho gia đình, bạn bè và những người yêu thơ. Ông như
một trang giấy trắng thơm để người đời viết vào đó những dòng tình cảm mến yêu
và trân trọng, là một bông hoa thanh khiết chưa một lần dám ngỏ lời yêu. Ông ra đi
bỏ lại những trang thơ còn đang viết dở, một tình yêu đơn phương, lung linh mãi
trong tim.
Ngày xưa là thi phẩm đầu tay của Nguyễn Nhược Pháp. Bản sách in lần đầu
do Nguyễn Dương xuất bản tại Hà Nội năm 1935. Tác phẩm thứ hai và cũng là tác
phẩm cuối cùng của Nguyễn Nhược Pháp có tên Người học vẽ (kịch), do Trung

3


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
Bắc Tân văn xuất bản (Hà Nội, 1936). Theo tài liệu, đây là hài kịch ba hồi, trước
kia đã đăng tải trên Hà Nội báo.
Xuất hiện trên thi đàn với một gia tài khiêm nhường, Nguyễn Nhược Pháp
được ghi nhận là một nhà thơ tiên phong đã để lại những dấu ấn cá nhân khó phai
mờ trong phong trào Thơ Mới ngay ở chặng đầu tiên (1932-1935). Thơ Nguyễn
Nhược Pháp không phải thuộc loại tinh lọc. So với nhiều nhà thơ cùng thời, sự điêu
luyện về ngôn ngữ, về nghệ thuật thơ ca và độ sâu của tư tưởng, cảm xúc, Nguyễn
Nhược Pháp không có gì vượt trội, nếu không muốn nói thật là vẫn còn kém thua ít
nhiều. Nhưng dẫu sao, với vỏn vẹn mười bài, Ngày xưa của Nguyễn Nhược Pháp
vẫn mãi mãi còn đó trong giai đoạn văn học sử 1930-1945 với một thế giới thơ rất
trong sáng, rất độc đáo và rất Nguyễn Nhược Pháp.
Với tác phẩm Ngày xưa, sau ba năm ngày mất Nguyễn Nhược Pháp, Hoài
Thanh đã viết với những lời tán thưởng trân trọng: “Thơ in ra rất ít mà được người
ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp. Không mến sao được?
Với đôi ba nét đơn sơ, Nguyễn Nhược Pháp đã làm sống lại cả một thời xưa. Không
phải cái thời xưa nặng nề của nhà sử học, cũng không phải cái thời xưa tráng lệ
hay mơ màng của Huy Thông, mà là một thời xưa gồm những sắc màu tươi vui,
những hình dáng ngộ nghĩnh. Thời xưa ở đây đã mất hết cái vẻ rầu rĩ cố hữu và đã
biết cười, cái cười của những “thắt lưng dài đỏ hoe”, những đôi “dép cong” nho
nhỏ…” [6;296].
1.2.

Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa

Văn học và văn hóa có mối quan hệ gần gũi với nhau. Văn học - nghệ thuật
cùng với chính trị, tôn giáo, triết học, đạo đức, phong tục, tập quán… là những bộ
phận hợp thành của cấu trúc của văn hoá. Nếu văn hoá thể hiện quan niệm và cách
ứng xử của con người trước thế giới, thì văn học là hoạt động lưu giữ những thành
quả đó một cách sinh động nhất, hấp dẫn nhất. Văn hoá của mỗi dân tộc cũng như
của toàn thể nhân loại từng trải qua nhiều chặng đường tìm kiếm, chọn lựa, đấu
tranh và sáng tạo để hình thành những giá trị trường tồn, vĩnh cửu trong xã hội,
được cả cộng đồng thừa nhận. Văn học vừa ghi lại quá trình tìm kiếm đó, vừa là nơi
định hình, biểu hiện những giá trị đã hình thành.
4


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
Như vậy, văn học chẳng những là một bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối,
ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là một trong những phương tiện bảo lưu,
gìn giữ văn hóa. Văn học chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường văn hóa sinh thành
ra nó, trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Trong sự tác động đó, văn học hữu ý và
có khi vô tình tiếp nhận, thể hiện những giá trị và mô thức mà cả cộng đồng, xã hội
đã chấp nhận, tôn trọng và tuân thủ.
Lý giải điều này, có thể thấy, nhà văn – chủ thể sáng tạo luôn là con đẻ của
một cộng đồng, thuộc về một dân tộc nhất định. Dù muốn hay không, anh ta cũng
đã tiếp nhận những yếu tố văn hóa của cộng đồng mình, những lối tư duy, những
mô thức ứng xử trong đó chứa đựng tâm lý riêng của thời đại cũng như những
ngưng tụ giá trị văn hóa truyền thống của môi trường anh ta sống. Vì vậy, nhà văn
dù sáng tạo tới đâu, dù cách tân như thế nào, dù viết hay nói ra vấn đề gì thì cũng
luôn thể hiện những dấu ấn văn hóa độc đáo của dân tộc mình. Trong tác phẩm văn
học, ta tìm thấy hình ảnh của văn hoá qua sự tiếp nhận và tái hiện của nhà văn. Đó
là bức tranh văn hoá dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương (tục ngữ, câu đố tục giảng
thanh, trò chơi…); là những lễ hội, những tập tục cổ truyền trong thơ của Nguyễn
Khuyến; là những vẻ đẹp của văn hoá truyền thống từng vang bóng một thời trong
truyện ngắn Nguyễn Tuân; là quê hương, làng cảnh Việt Nam trong thơ của chàng
thi sĩ Nguyễn Bính; là những tín ngưỡng thờ mẫu, là tập tục trải ổ, hát đồng văn
trong tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh…
Văn hoá tác động đến văn học không chỉ ở hoạt động sáng tạo của nhà văn
mà còn ở hoạt động tiếp nhận của bạn đọc. Thị hiếu thẩm mỹ của người đọc luôn
được nuôi dưỡng trong một môi trường văn hoá nhất định. Chính không gian văn
hoá này chi phối cách xử lý đề tài, thể hiện chủ đề, xây dựng nhân vật, sử dụng thủ
pháp nghệ thuật… trong quá trình sáng tác; đồng thời cũng chi phối cách phổ biến,
đánh giá, thưởng thức… trong quá trình tiếp nhận.
Nếu văn hoá chi phối hoạt động và sự phát triển của văn học, thì ngược lại,
văn học cũng tác động đến văn hóa, hoặc trên toàn thể cấu trúc, hoặc thông qua
những bộ phận hợp thành khác của nó. Bằng nghệ thuật ngôn từ, các nhà văn luôn
đấu tranh, phê phán những biểu hiện phản văn hoá, đồng thời khẳng định những giá
5


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
trị tốt đẹp trong văn hoá dân tộc. Dù là phản ứng trước những làn sóng văn hoá tiêu
cực hay cổ vũ cho sự tiếp biến văn hoá, các nhà văn bao giờ cũng là những người
bảo lưu văn hóa truyền thống cũng như tiên phong mở ra hướng nhìn về vận hội
mới của văn hoá dân tộc.
Trong thơ ca Việt Nam có không ít tác giả đã sử dụng vốn văn hoá truyền
thống làm nền tảng sáng tạo nhằm làm mới vốn cổ bấy lâu nay cả cộng đồng trân
trọng và bảo lưu. Nhưng sử dụng vốn văn hoá cổ đặt trong trường liên tưởng mạnh
mẽ của hiện thực cuộc sống để tạo nên gương mặt thơ riêng, không phải ai cũng đạt
được thành công như Nguyễn Nhược Pháp. Sức mạnh của văn hóa truyền thống là
vô cùng quan trọng đối với lịch sử một dân tộc và cũng chính những giá trị văn hóa
đó khi được cảm nhận sâu sắc và đưa vào thơ sẽ tạo nên những khoảng âm vang rất
lớn để thơ ca trường tồn và song hành cùng lịch sử. Chính chiều sâu của những giá
trị văn hóa truyền thống đã tạo ra nét phong cách riêng làm nên gương mặt thơ
Nguyễn Nhược Pháp trong vườn hoa đầy sắc hương của phong trào thơ Mới.
2.

Sự thể hiện văn hóa truyền thống trong tập Ngày xưa từ phương

diện nội dung.
Xuyên suốt 10 tác phẩm của tập thơ Ngày xưa, Nguyễn Nhược Pháp đã
thể hiện những bức tranh hoài cổ, thơ mộng, nhưng đầy tươi sáng, bởi tứ thơ hấp
dẫn, với những lối diễn đạt dí dỏm, trẻ trung. Đặc biệt, nơi đây, mỗi bài thơ có thể
được xem là một câu chuyện nhỏ, mà tác giả thường dùng chữ “xưa” để dẫn dắt
người đọc bước vào một quá khứ mờ ảo, lung linh, đậm sắc màu cổ kính. Nét văn
hóa truyền thống của tập thơ được thể hiện trên những phương diện sau đây:
2.1.

Tái hiện lại các nhân vật trong truyền thuyết, truyện lịch sử

Đối diện với những nỗi buồn cô liêu của một hiện tại đầy bế tắc, mỗi nhà thơ
Mới tìm cho mình một hướng đi riêng. “Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu
trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan
Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền,
điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy
Cận.” [6;45], Nguyễn Nhược Pháp chọn cách dựng lên một thế giới của dĩ vãng –
thế giới của những truyền thuyết, của những câu chuyện cổ, của lịch sử dân tộc.
6


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
Đó là thế giới huyền thoại trong câu chuyện về nàng Mỵ Nương xinh đẹp và
cuộc kén rể của vua Hùng thứ 18 trong bài thơ Sơn Tinh và Thủy Tinh:
Ngày xưa, khi rừng mây u ám
Sông núi còn vàng um tiếng thần,
Con vua Hùng-Vương thứ mười tám,
Mỵ Nương xinh như tiên trên trần...
Đó là tích xưa về câu chuyện hòn ngọc trai đem rửa ở nước giếng
Trọng Thủy trong Giếng Trọng Thủy. Ngọc trai sáng trong như sự giải oan, chiêu
tuyết cho tấm lòng ngây thơ và mối tình oan nghiệt "Trái tim lầm chỗ để trên đầu"
(Tố Hữu) của nàng Mỵ Châu:
Bơ vơ ngày cũ tưởng càng đau
Tìm trông phương nào, hỡi Mỵ Châu?
Lông ngỗng cầm tay nhòa ánh lệ
Chàng đi man mác buồn đêm thâu
(Mỵ Châu)
Còn đây là là cảnh đi cống ngày xưa…
Trên xe nào mâm vàng dát ngọc
Châu báu, sừng tê và ngà voi
Hai pho tượng vàng đỏ dòng dọc
Bào nạm, kim cương, đai đồi mồi
(Đi cống)
Để giữ quan hệ bang giao, hòa hảo với Trung Quốc, chúng ta, với tư cách là
một nước nhỏ thường xuyên phải cống nạp sản vật cho thiên triều. Bài thơ đã dựng
lên một bức tranh chân thực về chính sách ngoại giao mềm mỏng này:
Mười xe bịt đồng, trâu mập kéo,
Bánh sắt khi kề lên sườn non,
Đá đổ ầm ầm như sấm réo,
Gầm nhảy xuống vực sâu kêu ròn.
Nếu so sánh về tỉ lệ, mảng đề tài về truyền thuyết lịch sử và lịch sử thành văn
chiếm đến 5 bài trong 10 bài của tập thơ. Khác với những bài thơ khác được viết
7


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
bằng giọng bông đùa, hóm hỉnh, mảng truyền thuyết - lịch sử lại đượm buồn và đôi
khi thấm đẫm nước mắt:
Nhà tan, nước mất, chàng đi thôi.
Thiếp nén lòng đau khóc nghẹn lời,

Thê thảm chàng đi, về có vậy!
Thiếp chờ ai nữa? Hỡi chàng ôi!
(Nguyễn Thị Kim khóc Lê Chiêu Thống)
2.2. Phục dựng những giá trị tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục cổ truyền
của người Việt
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, nền văn minh, văn hoá truyền thống của Việt
Nam đã gặp gỡ, giao thoa với nền văn minh và văn hoá phương Tây, tạo nên một
nền văn minh, văn hoá mới chưa từng có. Trong bối cảnh đó, nhiều giá trị văn hóa
truyền thống bị mai một dần. Nhưng thật may, thời điểm ấy đã xuất hiện những
Nguyễn Bính, những Anh Thơ, những Nguyễn Nhược Pháp…những nhà thơ của
quê hương, làng cảnh Việt Nam. Họ đã dùng thơ của mình để bảo lưu những giá trị
văn hóa cổ truyền, phong tục, tập quán từ ngàn đời. Chỉ với tập thơ mỏng Ngày
xưa, bằng một nét riêng, độc đáo, Nguyễn Nhược Pháp đã phác họa cả một bức
tranh mang đậm hơi thở phong tục cùng những nét văn hoá tâm linh của hàng ngàn
năm văn hiến của nước Việt ta.
Bài thơ Tay ngà gợi nhớ đến thời Nho học còn cực thịnh:
Ta ngồi bên tảng đá
Mơ lều chiếu ngày xưa
Mơ quan Nghè, quan Thám
Đi có cờ lọng đưa.
Bức tranh ông quan Nghè “vinh quy bái tổ”, mũ áo xênh xang về làng gợi nên
không khí một thời vàng son của khoa cử Hán học. Giữa cái không khí nhố nhăng
của thập niên 30 thế kỷ trước, Nguyễn Nhược Pháp nhắc lại giấc mơ “vinh quy bái
tổ” dường như không chỉ có sự khát khao của cá nhân mà còn có chút gì nuối tiếc
cho quá khứ vàng son, cho truyền thống ngàn năm văn hiến của dân tộc. Đó có lẽ
8


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
cũng là tâm trạng của không ít các nhà thơ mới như Thế Lữ trong Nhớ rừng, của
Vũ Đình Liên trong Ông đồ…
Cũng trong giấc mơ ông quan Nghè vinh quy bái tổ, nhà thơ đã để cho ông
quan trẻ gặp hội gieo cầu tìm chồng của nàng tiểu thư khuê các:
Tay vơ cầu ngũ sắc
Má quan nghè hây hây
Quân hầu reo chuyển đất
Tung cán lộng vừa quay
Trên lầu mấy thị nữ
Cùng nhau rúc rích cười.
Ném tú cầu, tuyển chồng được xem là một nét văn hóa độc đáo của Việt Nam
nói riêng và một số nước phương Đông nói chung. Được đỗ đạt thành danh, sau đó
lại được tú cầu của một cô tiểu thư xinh đẹp, có lẽ lúc này anh chàng đang ở tột
cùng của hạnh phúc. Dù theo Tây học, nhưng xuất thân trong gia đình ít nhiều còn
gắn bó với Hán học, thuở nhỏ theo học chữ Nho, Nguyễn Nhược Pháp vẫn dành rất
nhiều tình cảm cho nền thi cử ngày xưa.
Giữa lúc các nhà thơ khác đang đắm chìm trong nỗi cô đơn, nỗi buồn cá nhân
đến tột đỉnh, Nguyễn Nhược Pháp lại tìm về một thời xưa với những truyền thống
đẹp đẽ, thanh tao mà Chùa Hương là bài thơ tiêu biểu. Bài thơ nhắc đến một lễ hội
truyền thống của Việt Nam – lễ hội Chùa Hương, bắt đầu từ mùng 6 tháng 1 đến
tháng 3 âm lịch.
Bức tranh phong cảnh chùa Hương hiện lên thật đẹp:
Ven bờ, ngọn núi xanh,
Nhịp cầu xa nho nhỏ.
Cảnh đẹp gần như tranh.
Sau núi Oản, Gà, Xôi,
Bao nhiêu là khỉ ngồi
Tới núi con voi phục,
Có đủ cả đầu đuôi
Chùa lấp sau rừng cây.
9


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
Việt Nam là đất nước của những lễ hội, nhờ những lễ hội đó mà chúng ta có
thể lưu giữ được những nét đẹp truyền thống từ ngàn đời. Những câu thơ năm chữ,
nhịp thơ nhanh, hào hứng vẽ nên một bức tranh phong cảnh chùa Hương thật đẹp.
Bức tranh ấy vừa có vẻ tôn nghiêm của nơi đất Phật, vừa tươi vui, căng tràn sức
sống vì được nhìn ngắm dưới đôi mắt ngây thơ của một cô bé đang độ tuổi yêu
đương.
Ngày xưa của Nguyễn Nhược Pháp còn khắc họa đặc trưng văn hóa ăn mặc
và thị hiếu thẩm mĩ của người xưa. Đây là một bức chân dung điển hình cho một cô
gái Việt:
Khăn nhỏ, đuôi gà cao;
Lưng đeo dải yếm đào;
Quần lĩnh, áo the mới;
Tay cầm nón quai thao.
(Chùa Hương)
Với mái tóc đuôi gà buộc cao, với dải yếm đào, quần lĩnh, áo the mới, nón
quai thao…đoạn thơ đã vẽ một cô gái Việt truyền thống xinh xắn, trẻ trung. Có lẽ từ
xa xưa, trong con mắt thẩm mỹ của người Việt, như thế mới đẹp, mới xinh:
Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
Ba thương má lúm đồng tiền,
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua
Năm thương cổ yếm đeo bùa
Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng.
(Ca dao)
Chùa Hương còn vẽ nên một bức tranh quen thuộc của các gia đình khá giả
ngày xưa trong những chuyến du xuân:
Em đi cùng với me.
Me em ngồi cáng tre,
Thầy theo sau cưỡi ngựa,
Thắt lưng dài đỏ hoe.
10


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
Câu chuyện cô gái tuổi 15 theo thầy mẹ trẩy hội chùa Hương được tiếp tục
khi cô gặp người văn nhân:
Người đâu thanh lạ thường!
Tướng mạo trông phi thường.
Lưng cao dài, trán rộng.
Hỏi ai nhìn không thương?
Tình yêu trong cô thiếu nữ bắt đầu ngay từ cái nhìn đầu tiên. Có lẽ cái cái vẻ
thanh thoát, lưng dài trán rộng của chàng văn nhân phù hợp với cái tiêu chuẩn mà
cô cũng như bất cứ cô gái Việt nào thời xưa thường mơ tưởng. Nguyễn Du cũng đã
từng miêu tả một Kim Trọng với những nét vẽ tương tự:
Nền phú hậu, bậc tài danh,
Văn chương nết đất thông minh tính trời
Phong tư tài mạo tót vời,
Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa.
(Truyện Kiều)
2.3.

Khắc họa những phẩm chất, đạo đức tốt đẹp của người Việt

Xuyên suốt 10 bài thơ của Ngày xưa Nguyễn Nhược Pháp đã khắc họa
những phẩm chất tốt đẹp của người Việt, nhất là những người phụ nữ.
Đó tấm lòng hiếu thảo, sự bịn rịn, lưu luyến của Mị Nương khi theo chồng:
Vua thân ngự đón nàng Mỵ Nương.
Lầu son nàng ngoái trông lần lữa,
Mi xanh lệ ngọc mờ hơi sương.
Quỳ lạy cha già lên kiệu bạc,
Thương người, thương cảnh xót lòng đau.
Nhìn quanh, khói tỏa buồn man mác,
Nàng kêu: "Phụ Vương ôi! Phong châu!"
Đó là cái e lệ đáng yêu của cô bé 15 trong bài Chùa Hương:
Dòng sông nước đục lờ.
Ngâm nga chàng đọc thơ.
Thầy khen: "Hay! Hay quá!"
11


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
Em nghe rồi ngẩn ngơ.
Thuyền đi. Bến Đục qua.
Mỗi lúc gặp người ra,
Thẹn thùng em không nói:
"Nam mô A-Di-Đà!"
Nghe thơ của chàng, tình cảm cô bé dành cho người văn nhân tiến thêm một
chút nữa. Cô gái giờ đây không chỉ bị những lời thơ của chàng làm cho “ngẩn ngơ”
mà còn biết thẹn thùng khi có người khác nhìn nữa. Dù “tình trong như đã” nhưng
cô gái vẫn ý tứ, giữ gìn. Đây là một phẩm chất thường thấy ở phụ nữ phương Đông
nói chung và phụ nữ Việt nói riêng. Cái e lệ, thẹn thùng của người con gái Việt còn
được thể hiện trong Tay ngà:
Trên lầu mấy thị nữ
Cùng nhau rúc rích cười:
"Thưa cô đừng thẹn nữa
Quan Nghè trông lên rồi"
Cúi đầu nàng tha thướt
Yêu kiều như mây qua
Mắt xanh nhìn man mát
Mỉm cười vê cành hoa
Đó còn là lòng chung thủy, trung trinh của một người phụ nữ:
Nhà tan, nước mất, chàng đi thôi.
Thiếp nén lòng đau khóc nghẹn lời,
Chậm bước đành nương mình bóng Phật;
Màng tin trông ngóng nhạn chân trời.
Chuông đồng cảnh vắng, hồn mơ sảng,
Trăng lạnh, đêm sâu, cú đổ hồi.
Thê thảm chàng đi, về có vậy!
Thiếp chờ ai nữa? Hỡi chàng ôi!
(Nguyễn Thị Kim khóc Lê Chiêu Thống)
12


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
Bài thơ là tiếng khóc nghẹn ngào của một người vợ, một bà phi trước cảnh
nước mất, nhà tan, chồng mất. Những nỗi đau dồn dập khiến người đàn bà ấy chỉ
còn biết nương nhờ cửa Phật. Chồng bà, dù trong mắt của mọi người có xấu xa,
đáng trách như thế nào thì đối với bà đó cũng là người đầu gối tay ấp, là người đàn
ông suốt đời bà yêu thương, tôn thờ.
Nhân vật lịch sử Mỵ - hoàng hậu của vua Chiêm Thành, người phụ nữ quyết
giữ danh tiết bằng việc nhảy xuống sông tự trầm, cũng được Nguyễn Nhược Pháp
thể hiện với một niềm đồng cảm.
Buồm nhô rẽ sóng, Mỵ mơ màng,
Tay cuốn mền hoa, khóc gọi chàng.
Thân liễu gieo đưa chìm vực biếc,
Lời thương bay lảnh động rừng vang.
Niềm đồng cảm này trong dăm bảy năm sau đã trở thành cảm hứng trung
tâm, chủ đạo của Chế Lan Viên ở tập thơ đầu tay - Điêu tàn.
3. Sự thể hiện văn hóa truyền thống trong tập Ngày xưa từ phương diện
nghệ thuật.
3.1. Thể thơ
Tập thơ Ngày xưa gồm 10 thi phẩm, được tác giả sáng tác theo 3 thể thơ khác
nhau: 4 bài theo thể thơ 7 chữ (Sơn Tinh – Thủy Tinh, Mỵ Châu, Đi cống, Giếng
Trọng Thủy), 4 bài theo thể thơ 5 chữ (Tay ngà, Chùa hương, Một buổi chiều
xuân, Mây), 2 bài theo thể thất ngôn bát cú (Mỵ Ê, Nguyễn Thị Kim khóc Lê
Chiêu Thống).
Như vậy, khi làm thơ “khóc người”, diễn tả tâm trạng đau đớn, xót xa, Nguyễn
Nhược Pháp thường tìm đến với thể bát cú luật Đường. Chẳng hạn, ở bài Mị Ê:
Buồm nhô rẽ sóng, Mỵ mơ màng,
Tay cuốn mền hoa, khóc gọi chàng.
Thân liễu gieo đưa chìm vực biếc
Lời thương bay lảnh động rừng vang.
Hoa trôi. Thành cũ vườn mây lửa
Lau gợn. Chùa cao giỏ tiếng vàng
13


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
Ủ lệ, tay ngà ôm ngực huyết
Mỵ vờn theo sóng dạt bờ hoang
Ở đây, hình thức truyền thống của thơ cũ giúp nhà thơ truyền tải được niềm
cảm thương mới đối với người thời xưa của chàng thư sinh thời nay. Thơ luật
Đường vốn có sở trường khi bộc lộ cảm xúc, nhất là cảm xúc hoài cổ, tiếc thương.
Mặt khác, để cho thơ bát cú của mình thoát khỏi lối thơ nói chí, tỏ lòng hay vịnh
cảnh, Nguyễn Nhược Pháp đã pha mới vào cũ. Ông pha cú pháp, chính tả mới vào
thơ luật Đường. Ông mang lại cho đề tài cũ, nhân vật, sự kiện cũ cảm hứng mới,
quan niệm mới, lập trường mới. Thơ bát cú của Nguyễn Nhược Pháp rất gần với thơ
trữ tình hiện đại. Ở đó, tiếng nói của cái “tôi” tác giả nhân danh cái “tôi” của người
đang yêu, người đang bị tước đoạt mất hạnh phúc trong tình yêu mà khẳng định
phẩm hạnh, tình nghĩa thủy chung bất diệt ở họ.
Khi dùng thơ để kể chuyện, tác giả lại thích sử dụng thơ 5 chữ và 7 chữ. Nếu
như những rung động đầu đời cùng mộng ước thanh xuân của nhân vật trữ tình
được tác giả khắc họa qua câu thơ 5 chữ mang lại cho bức tranh “thời xưa” màu sắc,
đường nét trong sáng, tươi vui, ngộ nghĩnh khó quên (Một buổi chiều xuân, Tay
ngà, Chùa Hương) thì khi khắc họa khung cảnh gắn với sự buồn đau, trăn trở của
nhân vật, nhà thơ lại dùng loại thơ 7 chữ (Mỵ Châu, Giếng Trọng Thủy). Mỗi loại
thơ, với đặc trưng và thế mạnh của mình đã giúp cho chàng thi sĩ trẻ tuổi thể hiện
thành công điều mà anh muốn thể hiện. Sử dụng thể thơ phù hợp, kết hợp với cách
sử dụng từ ngữ, giọng điệu đã góp phần tạo nên màu sắc cổ xưa, thấm đẫm chất văn
hóa truyền thống trong từng thi phẩm.
3.2. Kết hợp chất tự sự trong thơ trữ tình
Ngày xưa dĩ nhiên là một tập thơ, nhưng hầu hết các bài trong tập này đều
mang dáng dấp “truyện”. Bởi, đây là những tác phẩm thơ, thường trữ tình thông qua
một mạch tự sự, một câu chuyện nào đó, theo hai dạng thức: hoặc là trực tiếp bộc lộ
thái độ cảm thương của tác giả thông qua số phận, trạng thái tâm hồn của nhân vật;
hoặc bộc lộ cảm xúc nhà thơ thông qua “câu chuyện” do người “thời xưa” kể lại.
Theo dạng thức thứ nhất, Nguyễn Nhược Pháp làm thơ về những cảnh ngộ bi
thương, những nỗi niềm u ẩn của các nhân vật truyền thuyết, lịch sử. Ở đây, mỗi bài
14


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
thơ là một tiếng khóc, nhà thơ hóa thân vào nhân vật để giãi bày thay, khóc thay cho
họ. Chẳng hạn: ông giãi bày thay cho Mỵ Châu, Trọng Thủy (Mỵ Châu, Giếng
Trọng Thủy); khóc thay cho nàng Mỵ Ê (Mỵ Ê), hay cựu hoàng phi Nguyễn Thị
Kim (Nguyễn Thị Kim khóc Lê Chiêu Thống); khóc thay cho những người phải rời
quê hương xứ sở, theo mệnh vua đi cống bên nước Tàu (Đi cống);… Ngày xưa của
Nguyễn Nhược Pháp có 5 bài thuộc dạng này.
Theo dạng thức thứ hai, nhà thơ trữ tình bằng những câu chuyện, thông qua
các hoạt cảnh, các chân dung. Cảnh, người và việc ở đây như đều thuộc về một thế
giới khác – không phải cảnh, người, việc trước mắt mà là hồi ức. Chúng không
thuộc hiện tại mà thuộc “thời trước”, “ngày xưa”. Ở đây, nhà thơ không chỉ dẫn
người đọc vào thế giới cổ kính của các câu chuyện, các hoạt cảnh, mà quan trọng
hơn, còn dẫn họ vào thế giới của những tâm tình, những khao khát, mộng mơ thời
trước,… Đó có thể là tâm tình của một “cô bé ngày xưa” xinh tươi, hiền thục (Chùa
Hương); là tâm tình của những chàng thư sinh văn hay chữ tốt và rất mực thanh nhã
(Tay ngà, Một buổi chiều xuân, Chùa Hương,…); là khí phách, tâm tư của các bậc
“thần - nhân” vừa cao vời vừa bình dị (Sơn Tinh, Thủy Tinh). Tâm tình, khí phách
ấy có thể kể bằng lời người kể chuyện hoặc lời nhân vật chính. Chất hoạt cảnh, kí
sự ở các bài thơ này rất đậm. Có thể gọi đây là những bài thơ kí sự tâm tư – những
thiên tình ca hiện đại mà cổ kính. Tập thơ Ngày xưa có 5 bài thuộc dạng này.
Phần nhiều các chuyện “ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp đều do nhân vật
kể lại. Các bài thơ có xu hướng kí hóa, để trở thành những thiên “kí sự” của nhân
chính vật: Một buổi chiều xuân là “Thiên kí sự của một chàng thư sinh đời
trước”; Chùa Hương là “Thiên kí sự của một cô bé ngày xưa”; Tay ngà là giấc mơ
ngọt ngào tươi đẹp của một chàng sĩ tử “ngày xưa” cũng được ghi lại theo hình thức
“kí sự”. Và, tất cả các mẩu tự sự, hồi ức trong các bài thơ này đều được kể lại,
không phải theo điểm nhìn của tác giả mà của nhân vật chính, đối tượng trữ tình của
các bài thơ.
Nhờ kết hợp chất tự sự trong tác phẩm trữ tình như vậy, nhà thơ có “đất” để
khắc họa những tập tục, những nét đẹp trong suy nghĩ, lối sống của người Việt một
thời.
15


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
3.3.

Điểm nhìn trần thuật
Con người đa cảm trong Nguyễn Nhược Pháp khiến ông thường xuyên hóa

thân, hay nhập vai vào nhân vật, nhìn bằng đôi mắt của họ và nói bằng tiếng nói của
họ: Khóc cho nỗi đau tê tái u ẩn Mỵ Ê, ông nhìn cục diện nước Chiêm Thành chiến
bại bằng cái nhìn của nàng Mỵ Ê ; khóc thương cho mối tình và số phận oan nghiệt
Mỵ Châu – Trọng Thủy, ông nhìn Mỵ Châu từ góc nhìn Trọng Thủy, nhìn Trọng
Thủy từ góc nhìn Mỵ Châu ; cảm khái trước tình nghĩa tào khang bất diệt Nguyễn
Thị Kim – Lê Chiêu Thống, ông dùng lời huyết lệ của một người vợ tiết liệt gợi
nhắc một người chồng xấu số (chứ không phải của một hoàng phi nhắc đến một cựu
hoàng). Đó là những điểm nhìn của nhà tiểu thuyết, dân chủ và rất “cận nhân tình”.
Cách di chuyển điểm nhìn trong thơ Nguyễn Nhược Pháp cũng khá linh hoạt, tự
nhiên và luôn tạo được hiệu quả nghệ thuật. Trong Chùa Hương, ông nhìn cảnh và
người du xuân vãn cảnh Chùa Hương qua rung động tinh vi của “một cô bé thời
xưa”. Song, cái nhìn của cô bé tươi trẻ, hồn nhiên, hiền thục này thỉnh thoảng lại
được bổ sung, hỗ trợ thêm bằng điểm nhìn của “thầy”, “me”, và của “chàng” giúp
cô bộc lộ tình cảm một cách kín đáo, ý nhị, nhất là ở phần đầu và phần giữa của bài
thơ. Đó cũng là cách ẩn giấu cái tình yêu sâu kín của nhân vật, đến cuối bài thơ mới
cho lộ diện qua những lời yêu thương nồng nàn, những mộng ước cháy bỏng.
Trong Sơn Tinh Thủy Tinh, Nguyễn Nhược Pháp chọn điểm nhìn của một người kể
chuyện luôn giữ khoảng cách nhất định với các nhân vật. Nhưng khi cần và thỉnh
thoảng, có dịch chuyển, bổ sung thêm bằng điểm nhìn của Vua Hùng, Sơn Tinh,
Thủy Tinh, Mỵ Nương. Khi khoảng cách này rút ngắn về phía nhân vật nào thì nhân
vật ấy trở nên có nội tâm hơn và cũng đời thường hơn.
Cách duy chuyển điểm nhìn linh hoạt như vậy không chỉ giúp câu chuyện trong
thơ Nguyễn Nhược Pháp thêm sinh động mà còn có tác dụng rất lớn trong việc thể
hiện văn hóa truyền thống trong thơ. Nhà thơ nhìn và miêu tả bằng cái nhìn trong
cuộc, điều này làm cho những giá trị văn hóa trở nên gần gũi hơn. Ông không nói
về chúng với tư cách một con người hiện đại nhìn về quá khứ vàng son mà như một
người trong cuộc kể lại, tả lại. Vì thế câu chuyện ấy, tâm tình ấy trở nên chân thực

16


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
biết bao và cái ngày xưa kia, cái phong tục cổ truyền ấy cũng gần gũi, thân thiết biết
bao.
3.4.

Ngôn ngữ
Qua mười bài thơ trong Ngày xưa, bằng việc sử dụng các lớp từ cổ, từ Hán

Việt đậm đặc, ta được đưa vào thế giới của huyền thoại, của tình yêu, của lễ hội của
những nét đẹp văn hóa, của một quá khứ xa xôi mà các tân khoa. Sau khi yết bảng,
được vua cho vinh quy bái tổ, có cờ lọng đưa, được các nàng trâm anh từ lầu gieo
cầu ngũ sắc lựa chọn ý trung nhân:
Rồi bao nàng yểu điệu
Ngấp nghé bay trên lầu
Vừa leng keng tiếng ngựa
Lẹ gót tiên gieo cầu
Tay vơ cầu ngũ sắc
Má quan Nghè hây hây
Quân hầu reo chuyển đất
Tung cán lọng vừa quay
Hay là một đoạn trong bài Sơn Tinh Thủy Tinh:
Bình minh má ửng đào phơn phớt
Ngọc đỏ rung trên đầu lá xanh
Ngọn liễu chim vàng ca thánh thót
Ngự giá Hùng Vương lên mặt thành
Mỵ Nương bên lầu son tựa cửa
Rèm ngọc lơ thơ phủ áo hồng
Cánh nhạn long lanh vờn ánh lửa
Mê nàng, chim ngẩn lưng giời đông
Hàng loạt các từ Hán - Việt (bình minh, ngự giá, Hùng Vương, Mị Nương…),
cùng các ngữ ngọn liễu chim vàng, lầu son, rèm ngọc, cánh nhạn…đoạn thơ đã
phục dựng thành công cái không khí cổ xưa thấp đẫm màu sắc văn hóa.

17


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
Để khắc họa vẻ đẹp của những nét văn hóa truyền thống một thời trong Chùa
Hương, Ngyễn Nhược Pháp đã khoác cho bài thơ một lớp vở ngôn ngữ đậm dấu ấn
văn hóa với những hình ảnh thơ gợi màu sắc cổ truyền:
Khăn nhỏ, đuôi gà cao,
Em đeo dải yếm đào;
Quần lĩnh, áo the mới
Tay cầm nón quai thao.
[…]
Em đi cùng với me
Me em ngồi cáng tre
Thầy theo sau cưỡi ngựa
Thắt lưng dài đỏ hoe.
Như vậy, cho dù là kể chuyện về những nhân vật lịch sử, anh hùng văn hóa
hay chuyện về những con người trong cuộc sống thường nhật của đời trước, thì sáng
tác của Nguyễn Nhược Pháp trước hết vẫn là các bài thơ với đầy đủ ý nghĩa của nó.
Trong thế giới “ngày xưa” của ông, chất thơ toát ra từ cái đẹp của văn hóa truyền
thống. Một cuộc cầu hôn, cưới hỏi đầy tinh thần thượng võ, một cơn giận theo kiểu
“thần-nhân”, một nghi thức xã giao hồn nhiên đi vào đời sống, những câu nói ý nhị,
lịch thiệp trong giao tiếp,… đều hàm chứa chất thơ riêng của nó, qua ngòi bút của
ông. Chất thơ còn toát ra từ phong vị hoài niệm quá khứ hoàng kim, và từ những
rung động trong sáng, thanh xuân của tâm hồn tác giả cùng các nhân vật mà ông
yêu mến. Tâm hồn trong sáng nhạy cảm, cái nhìn tươi trẻ và nụ cười duyên dáng
của Nguyễn Nhược Pháp đã phổ vào tác phẩm của ông một chất thơ đằm thắm mà
man mác hiếm có. Tất cả những điều đó được tái hiện qua một lớp ngôn ngữ rất đọc
đáo, rất Nguyễn Nhược Pháp. Với lớp ngôn ngữ ấy, của ông đã thơ hóa cả thế
giới“ngày xưa”.
4. Ý nghĩa
4.1. Thể hiện một cái nhìn mới mẻ về các nhân vật trong truyền thuyết, lịch sử
Tích truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh theo tóm tắt của nhà sử học Trần Trọng
Kim: “Tục truyền rằng vua Hùng Vương thứ 18 có người con gái tên là Mỵ Nương
18


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
nhan sắc tuyệt trần. Sơn Tinh và Thủy Tinh đều muốn hỏi làm vợ. Hùng Vương hẹn
rằng ngày hôm sau ai đem đồ lễ đến trước thì gả cho người ấy. Ngày hôm sau Sơn
Tinh đến trước lấy được Mỵ Nương đem về núi Tản Viên (tức là núi Ba Vì ở tỉnh
Sơn Tây). Thủy Tinh đến sau, thấy Sơn Tinh lấy mất Mỵ Nương, tức giận vô cùng,
mới làm ra mưa to gió lớn, rồi dâng nước lên đánh Sơn Tinh. Sơn Tinh ở trên núi
không việc gì, hễ nước lên cao bao nhiêu thì Sơn Tinh làm núi cao lên bấy nhiêu.
Sơn Tinh lại dùng sấm sét đánh xuống. Thủy Tinh phải rút nước chạy về. Từ đó,
Sơn Tinh và Thủy Tinh thù nhau, mỗi năm đánh nhau một lần, dân gian thật là cực
khổ”. Bài thơ của Nguyễn Nhược Pháp cơ bản vẫn bám sát cốt truyện ấy, song ông
đã đưa vào trong đó nhiều liên tưởng đẹp, từ tả cảnh, tả người đến tả tình, khiến cho
câu chuyện trở nên sinh động và duyên dáng lạ thường. Có thể nói, không ở đâu ta
bắt gặp một cô công chúa Mỵ Nương đáng yêu đến vậy. Đáng yêu từ vẻ đẹp ngoại
hình:
Tóc xanh viền má hây hây đỏ
Miệng nàng bé thắm như san hô
Tay ngà trắng nõn, hai chân nhỏ
… đến cách thể hiện cảm xúc xúc khi nghĩ vì mình mà xảy ra cuộc chiến khốc liệt
giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh, gây nên cảnh khốn cùng cho muôn dân:
Mỵ Nương kinh hãi ngồi trong kiệu
Bỗng chợt nàng kêu mắt lệ nhòa
Giọng kiêu hay buồn không ai hiểu,
(Nhưng thật dễ thương): "Ô! Vì ta!".
Tương tự, thật khó tìm được ở đâu một vị Vua Hùng gần gũi và đáng yêu hơn
vị vua mà Nguyễn Nhược Pháp đã xây dựng nên:
Hùng Vương thường nhìn con yêu quá
Chắp tay ngẩng lên giời tạ ân
Làm vua mà chốc chốc lại ngắm nhìn con rồi chắp tay tạ ơn trời thì quả là vị
vua quá đỗi đáng yêu. Càng đáng yêu hơn là cái nhìn âu yếm, nụ cười hóm hỉnh,
đôn hậu của vua khi thấy bên cửa thành, hai thần Sơn Tinh, Thủy Tinh đang thực
hiện “thi lễ”:
19


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
Hùng Vương âu yếm nhìn con yêu
Nhưng có một nàng mà hai rể
Vua cho rằng thế cũng hơi nhiều.
Bao nhiêu hóm hỉnh được ẩn giấu trong hai chữ “hơi nhiều” mang khẩu ngữ
đời thường này, nó khiến tâm tình của vua càng thêm gần gũi với chúng ta. Việc tác
giả để Hùng Vương nghĩ về chuyện nhân duyên của con gái “Vua nghĩ lâu hơn bàn
việc nước” cũng khiến nhân vật càng trở nên “đời thường” hơn. Vị vua ấy không
hiện lên với tư cách một ông vua uy nghi, thần vũ mà chỉ là một người cha đang đắn
đo, suy xét trước hôn nhân, đại sự của đứa con gái yêu.
Chậm chân hơn Sơn Tinh trong trận chiến tìm lễ vật, Thủy Tinh ôm hận không cưới
được người đẹp, chàng điều binh khiển tưởng cướp lại Mị Nương. Hành động ấy,
nói như Trần Trọng Kim, đã khiến “dân gian thật là cực khổ”. Nhưng đấy là cách
nhìn của nhà sử học. Nguyễn Nhược Pháp là một nhà thơ, ông có cách nhìn nhận sự
việc theo kiểu nhà thơ. Với ông, Sơn Tinh, Thủy Tinh là câu chuyện của tình yêu,
của lòng ghen nên đến kết bài, ông vẫn có cái nhìn hết sức ưu ái, đại lượng đối với
Thủy Tinh:
Thủy Tinh năm năm dâng nước bể
Đục núi hò reo đòi Mỵ Nương
Trần gian đâu có người dai thế
Cũng bởi thần yêu nên khác thường.
Nguyễn Nhược Pháp cũng đem đến cho người đọc một cái nhìn mới về Trọng
Thủy – kẻ vốn bị coi là kẻ thù của cả dân tộc. Tình yêu của Mị Châu và Trọng Thủy
là một mối tình của hai kẻ khác xứ (Mỵ Châu gốc Việt, Trọng Thủy gốc Tần), yêu
nhau mà hai xứ cừu địch, chàng vì lệnh cha làm gián điệp, nàng vì nhẹ dạ phải thác
oan. Chàng sau khi hoàn thành công tác giao phó, theo lông ngỗng đưa đường tới,
thấy nàng bị chém, ôm xác vợ, rồi gieo mình xuống giếng tự trầm. Thi sĩ đã sửa đổi
câu chuyện “nỏ thần vô ý trao tay giặc” thành một mối tình thiên thu mà trong đó
hai kẻ yêu nhau lấy cái chết để nói lên tình yêu bất diệt của mình:
Thiêm thiếp ai bên đường, hỡi ôi!
Chàng ôm khóc nghẹn chẳng ra lời,
20


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
Đầu non mây bạc êm đềm phủ,
Phơn phớt hồn em bay, ngậm cười...
(Mỵ Châu)
Đêm khuya, gió lốc, mây đen vần,
Cỏ lướt gieo mình vực giếng thâm;
Trọng Thủy nằm trên làn nước sủi,
Tiếng mõ cầm canh xa âm thầm.
(Giếng Trọng Thủy)
Với ông, cái “giếng Trọng Thủy” vẫn còn đó như một chứng tích bi thương
của số phận, một vết bầm tím của tâm hồn. Trọng Thủy được nhìn như một người
chồng lạc mất người vợ thương yêu, chàng sẵn sàng giã từ cuộc sống, sang tận thế
giới bên kia để tìm kiếm và đoàn tụ với nàng. Cái chết của chàng thật lạnh lẽo, bơ
vơ, nhưng lại rất chung tình, khiến người đời phải thương, phải trọng. Cái chết ấy
có lẽ là lời chuộc tội cho tất cả lỗi lầm. Người đọc không còn căm ghét mà có chút
tiếc cho mối tình chung thủy, có chút thương cho những con người yêu nhau mà vì
số phận phải chia lìa trong uất hận.
4.2. Thể hiện sự trân trọng đối với những giá trị văn hóa truyền thống
Trong thời đại “Âu hoá” ấy, xã hội và con người Việt Nam, nhất là ở các đô
thị, đã trải qua một sự biến cải sâu sắc, phản ánh tính tất yếu lịch sử. Những giá trị
hết sức mới mẻ như tự do luyến ái, vai trò của cái tôi nhân bản (sản phẩm đặc trưng
của chủ nghĩa tư bản) xuất hiện, tất cả đều khác xa với thời đại phong kiến trước đó.
Khuynh hướng thường được tô vẽ bằng cụm từ rất kiêu “văn minh Âu hoá” tỏ ra có
sức cuốn hút mạnh mẽ không gì ngăn cản được. Sự đua đòi theo lối sống “tân thời”
đã khiến nhà thi sĩ “chân quê” Nguyễn Bính có lúc phải hoảng sợ kêu van:
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng,
Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi!…
Nói ra sợ mất lòng em,
Van em em hãy giữ nguyên quê muà…
(Chân quê)

21


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
Cùng mang tấm lòng như Nguyễn Bính, Nguyễn Nhược Pháp tìm về với
những giá trị văn hóa truyền thống như một sự trân trọng, bảo vệ cho những giá trị
ấy trước sự xâm lăng ồ ạt của nền văn minh phương Tây. Phong trào “Âu hóa”,
“thể thao”, “vui vẻ trẻ trung”, “giải phóng nữ quyền”, “ăn mặc lối sống văn minh”
phát triển rầm rộ, lớp “gái mới” đua nhau ăn mặc tân thời. Một cô gái 15, xuất hiện
với trang phục truyền thống thật đáng trân trọng:
Khăn nhỏ, đuôi gà cao;
Lưng đeo dải yếm đào;
Quần lĩnh, áo the mới;
Tay cầm nón quai thao.
(Chùa Hương)
Hình ảnh những chàng Nho sĩ cũng được tác giả khắc họa thật đẹp trong Một
buổi chiều xuân - Thiên ký sự của một thư sinh đời trước:
Hôm đó buổi chiều xuân,
Trông mây hồng bay vân,
Liền gập pho kinh sử,
Lững thững khỏi lầu văn.
Đường leo, nhà lom khom,
Mái xanh, tường rêu mòn.
Ta nhìn, ngâm nga đọc
Câu đối cửa mầu son.
Nền Hán học suy tàn, các lớp học Nho bị đóng cửa, thay vào đó là những nhà
trường Pháp - Việt. Mọi người đổ xô đi học tiếng Pháp, học chữ Quốc Ngữ. Nho
học đành ngậm ngùi, chìm vào dĩ vãng. Nguyễn Nhược Pháp tuy cũng xuất thân từ
Tây học nhưng ông vẫn dành nhiều tình cảm cho nền Hán học một thời.
4.3. Biểu hiện lòng yêu nước thầm kín và sự bế tắc trước thời cuộc
Sống trong cảnh đất nước bị ngoại xâm thống trị, văn hóa truyền thống ngày
càng bị mai một trước văn hóa ngoại bang, các nhà thơ Mới luôn mang trong mình
22


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
một tâm trạng đầy đau đớn, cô đơn. Thế Lữ luôn mơ ước được trở về với cái “thuở
tung hoành, hống hách những ngày xưa”; Huy Thông thì khát khao: “Muốn uống
vào trong buồng phổi vô cùng/ Tất cả ánh sáng dưới gầm trời lồng lộng”.
Mỗi nhà thơ Mới, dù ít dù nhiều vẫn mang trong mình lòng yêu nước và ý
thức dân tộc. Mỗi người lựa chọn cho mình một cách biểu hiện khác nhau. Nguyễn
Nhược Pháp cũng vậy. Qua việc dựng lại bức tranh đời sống tinh thần của người
Việt thời trước và lịch sử dân tộc, ông luôn ấp ủ một tinh thần dân tộc, một lòng
khao khát tự do.
Tái hiện lại khung cảnh đoàn quan quân hộ tống những người tài bị biến
thành cống vật, cùng các cống vật khác, trong đó chủ yếu là hai tượng vàng thế
mạng cho hai tên tướng Tàu cướp nước bị quân ta hạ sát, bài Đi cống của Nguyễn
Nhược Pháp được viết bằng thủ pháp trần thuật, miêu tả, xen lẫn đôi dòng biểu hiện
nỗi niềm người trong cuộc:
Thầy nho, thầy thuốc bên thầy bói,
Thợ thêu, thợ chạm cùng thợ nề,
Mỗi người đeo một cái khăn gói
Đỏ, buông cương ngựa theo gần xe.
Lúc ấy giời xanh không u ám,
Đầu non không tờ mờ bóng sương,
Làm sao họ âu sầu thảm đạm?
Buồn thay! người cố phận tha hương.
Đến đoạn cuối, ông thể hiện một niềm ước vọng về một thời độc lập, tự chủ:
Sứ bỗng nhìn quanh buồn ủ rũ:
Xa xa ngọn cờ vàng phất phơ!
Vợ con ở chân trời mây phủ,
Hẳn đang nhìn bóng nhạn mong chờ...
Đành rằng việc chịu lệ cống nạp là một nét nhẫn nhịn, khiến niềm tự hào dân
tộc bị vơi bớt, nhưng chẳng thà như thế, còn hơn làm thân nô lệ dưới ách trực trị

23


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
của thực dân Pháp. Đây chính là những dòng thơ thể hiện kín đáo một thái độ chính
trị của tác giả Ngày xưa.
Chủ nghĩa lãng mạn là sự chối bỏ thực tại, vượt lên thực tại buồn chán, bế
tắc, hoặc hướng về tương lai hay ngoảnh lại quá khứ, hoặc khao khát, bay bổng với
hiện tại được mộng ảo hoá. Nguyễn Nhược Pháp thuộc khuynh hướng lãng mạn
hoài niệm. Có lẽ ông không đủ sức mạnh để phủ định quyết liệt thực tại, để cầm
súng chiến đấu cho một tương lai sạch bóng quân thù. Đối diện với thực tại mất
nước, khi tuổi đời quá trẻ, ông hướng về quá khứ vàng son của dân tộc - cái vàng
son theo cảm nhận của ông. Với Nguyễn Nhược Pháp, không những hoài niệm, ông
đã sống với quá khứ nghìn xưa như chính ông là chàng trai trẻ của nghìn xưa ấy,
chứ không phải với ý thức của một người sống vào quãng vài thập niên thuộc nửa
đầu thế kỉ XX. Nhân vật trữ tình của ông ý thức rõ là đang từ hiện thực bay vào
mộng ảo “ngày xưa” một đi không trở lại, như một cuộc vượt thoát hiện tại nô lệ,
mất nước thời thực dân Pháp thống trị. Đó là biểu hiện của lòng yêu nước thầm kín
của chàng thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp.
Hoài niệm “ngày xưa” thực chất là những thoáng lãng mạn tuyệt vọng của
chàng thi sĩ. Đó là niềm bi kịch sâu xa của Nguyễn Nhược Pháp, ẩn nấp phía đằng
sau những thoáng chốc tươi vui, hóm hỉnh, dí dỏm, ngộ nghĩnh dễ thương, được thể
hiện trong thơ ông.

24


Văn hóa truyền thống trong tập “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp
Kết luận
Nguyễn Nhược Pháp chỉ sống trong một thời gian ngắn (1914-1938), để lại
gia tài văn học khiêm tốn thế nhưng ông có 1 địa vị không thể thay thế được trong
văn đàn Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX nói chung, thơ Việt thời tiền chiến nói riêng.
Ông đã được Hoài Thanh - Hoài Chân chọn 2 bài đưa vào Thi nhân Việt Nam
(2/10, một tỉ lệ lớn so với các tác giả khác) cùng những đánh giá rất cao về tài năng
và phong cách thơ.
Trong khi các nhà thơ Mới khác muốn đột phá bằng cách thể hiện cái mới
mang màu sắc phong cách phương Tây thì Nguyễn Nhược Pháp lại không đi tìm cái
xa xôi để thể hiện mà đột phá trên chính mảnh đất quê hương, trên chính những
truyền thống văn hóa dân tộc. Biết nâng niu di sản văn hoá quê hương và cố gắng
tạo nên sự “hoà giải” giữa cái cũ và cái mới trong thơ, đã góp vào thơ Việt đương
thời một tiếng thơ quen mà lạ, truyền thống nhưng cũng mang đầy chất hiện đại.
Ông đến với cái mới mà không đánh mất mình, đến với hiện đại mà vẫn lưu giữ hồn
dân tộc đậm đà bản sắc văn hoá quê hương. Đó chính là nét duyên trong thơ
Nguyễn Nhược Pháp và cũng là lý do làm nên sức sống lâu bền của những thi
phẩm trong tập Ngày xưa.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×