Tải bản đầy đủ

Đặc điểm ngôn ngữ trong bài đây mùa thu tới

Ngôn ngữ trong bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu

MỞ ĐẦU
Trong thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh nhận xét: “Xuân Diệu mới nhất trong các
nhà thơ mới”. Với những sáng tác của mình, Xuân Diệu không chỉ đem đến cho thơ
ca dân tộc nghệ thuật thể hiện, kĩ thuật viết thơ đặc sắc mà cả trên nội dung tư tưởng
cũng có những khám phá độc đáo. Có thể nói ông đã có sự cách tân sâu sắc và toàn
diện nhất về mọi phương diện trong sáng tạo thi ca. Đặc biệt là về phương diện sử
dụng ngôn ngữ nghệ thuật. Xuân Diệu đã tạo ra cho thơ mình một hệ thống ngôn
ngữ đầy cá tính, sáng tạo về hình ảnh, nhịp điệu, hình thức tổ chức câu thơ cùng
những lời lẽ cách nói năng mà đa phần trước đây người ta chưa thấy trong thơ ca
truyền thống.
Ngôn ngữ văn học là tiếng nói của thời đại, chuyển tải đầy đủ tâm tư, tình cảm
của con người. Bài thơ Đây mùa thu tới đã làm được điều đó. Bài thơ vẽ lên một bức
tranh mùa thu đẹp mà đượm buồn - cái buồn của sự tàn phai, chia lìa, trống vắng.
Một bài thơ mà từng bước đi của thời gian hay những rung động mơ hồ của lòng
người đều được sự nhạy cảm của Xuân Diệu bắt gặp. Cũng vì thế mà cả tình lẫn
cảnh đều trở nên xôn xao vô cùng. Bài thơ góp phần quan trọng vào sự phát triển
của phong trào thơ Mới, tiếp thu và sử dụng sáng tạo ngôn ngữ thơ ca Tiếng Việt.
Những điều đó tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt cho bài thơ. Chính vì thế, tôi chọn đề
tài: Ngôn ngữ trong bài thơ “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu để thấy được

những nét mới, cái hay trong cách vận dụng từ ngữ, hình ảnh để tạo nên phong cách
nhà thơ.


NỘI DUNG
I. Xuân Diệu trong dòng chảy của thơ mới
Xuân Diệu là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn và cũng đã là một trong những
chủ soái của phong trào "Thơ Mới". Trước Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu là nhà
thơ được xem là “mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh), là “người mang
đến cho thơ mới nhiều cái mới nhất" (Vũ Ngọc Phan). Ở thời kì này ông viết cả thơ
lẫn văn xuôi. Trong đó đáng chú ý là tập Thơ Thơ (1938), Gửi hương cho gió
(1945), Phấn thông vàng (1939), Trường ca (1945). Thơ ông giai đoạn này mang đến
một cách nhìn mới, một bút pháp mới, một cảm xúc mới và bao trùm là một thứ thơ
mới thực sự. Những cách tân của Xuân Diệu và phong trào thơ mới đã góp phần đổi
mới thơ ca Việt Nam, thực sự đưa thơ ca Việt Nam chuyển sang phạm trù hiện đại.
Xuân Diệu cũng là nhà thơ tình yêu với những cung bậc nồng nàn và tha thiết.
Sau Cách mạng tháng Tám, năng lực sáng tạo của Xuân Diệu không phỉ thể
hiện ở thơ ca mà còn được bộc lộ ở nhiều thể loại văn học khác như bút kí, tiểu luận,
phê bình... Ở thời kì này ông có nhiều tập thơ tiêu biểu như Riêng chung (1960),
Một khối hồng (1964), Tôi giàu đôi mắt (1970), Thanh ca (1982)... Cũng như thơ ca
ta trong giai đoạn này, thơ Xuân Diệu ca ngợi nhân dân đất nước, ca ngợi Đảng, Bác
Hồ. Ông viết nhiều về xây dựng chủ nghĩa xã hội, về đấu tranh thống nhất nước
nhà... Nếu ngày xưa thơ ông bộc lộ lòng ham sống một cách thiết tha, một tình yêu
rạo rực, thì ở giai đoạn này thơ ông vẫn là “sự sống chẳng bao giờ chán nản” của
một hồn thơ gắn bó với nhân dân, đất nước.
Xuân Diệu cũng là người để lại nhiều công trình nghiên cứu và phê bình văn học
có giá trị. Ông viết về hầu hết các nhà thơ cổ điển Việt Nam với những tiểu luận văn
học đặc sắc. Ông viết về Nguyễn Trãi. Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương,
Nguyễn Đình Chiểu, Tú Xương, Tản Đà, Trần Tuấn Khải... Viết về ai ông cũng có
cái nhìn mới, khám phá ra nhiều cái hay mà người trước chưa đề cập đến. Ông cũng
viết nhiều về công việc làm thơ, về thơ của các nhà thơ trẻ, về cả những hiểu biết
của ông về ca dao, dân ca.


Bài thơ Đây mùa thu tới nằm trong tập thơ Thơ (1938). Cả bài thơ là nguồn cảm
xúc dạt dào của Xuân Diệu trước cảnh đất trời mới chớm vào thu, mang nỗi buồn
mùa thu. Ta thấy rõ trong Đây mùa thu tới hiện lên một bức tranh thu buồn nhưng lại
rất đẹp và nên thơ. Bức tranh thu được miêu tả ở nhiều khung cảnh, nhiều thời điểm
khác nhau, được miêu tả, cảm nhận từ gần đến xa, từ thấp lên cao và từ cái cụ thể
đến cái mơ hồ bằng một giác quan vô cùng nhạy bén và tinh tế, cùng toàn bộ linh


hồn của sự cô đơn. Có lẽ vì vậy mà cảnh thu hiện lên vừa đa dạng về đường nét, vừa
phong phú về màu sắc. Linh hồn của bài thơ vừa cổ điển, vừa hiện đại vì nó được
phát hiện bằng con mắt vô cùng tinh tế, nhạy cảm của cái tôi Xuân Diệu.
I. Ngôn ngữ trong bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu
1. Đặc điểm ngôn ngữ thơ
Nếu như giai điệu, âm thanh là ngôn ngữ của âm nhạc; màu sắc, đường nét là
ngôn ngữ của hội họa; mảng khối là ngôn ngữ của kiến trúc thì ngôn ngữ là chất liệu
của tác phẩm văn chương. Macxim Gorki đã từng nói: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất
của văn học”. Tuy nhiên tùy vào đặc trưng thể loại, ngôn ngữ trong mỗi loại thể văn
học có những đặc điểm riêng. Ngôn ngữ giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong thơ.
Ngôn ngữ thơ là một phương tiện hình thức luôn được coi trọng, là một giá trị không
thể phủ nhận trong thơ. Ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ biểu hiện tập trung nhất tính
hàm xúc phong phú của ngôn ngữ, vừa giàu hình ảnh, sắc màu (tính họa), vừa giàu
nhạc điệu (tính nhạc). Các đặc điểm trên hòa quyện với nhau tạo nên hình tượng thơ
lung linh, đa nghĩa.
Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ giàu hình ảnh, sắc màu. Hình ảnh thơ bao giờ cũng là
sự kết tinh của việc sử dụng ngôn ngữ. Vì thế hình ảnh thơ luôn có ý nghĩa trong
việc tạo hiệu ứng nghệ thuật, góp phần khẳng định sự hiện hữu của thơ. Rõ ràng,
hình ảnh thơ không phải là tổng số của nhiều hình ảnh mà chính sự chọn lọc những
hình ảnh có giá trị biểu cảm, có tính hàm súc, tạo hiệu ứng nghệ thuật cao, mới thể
hiện tư tưởng, tinh thần lập ngôn và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ.


Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm. Như nhịp đập của
trái tim khi xúc động, ngôn ngữ thơ có nhịp điệu riêng của nó. Thế giới nội tâm của
nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà bằng cả âm thanh, nhịp
điệu của từ ngữ ấy. Có thể xem tính nhạc là nét đặc thù rất cơ bản của ngôn ngữ thơ.
Bởi nhạc tính như một nét duyên thầm làm nên vẻ đẹp của thơ, cũng là một yếu tố
tạo mỹ cảm cho người đọc. Thơ bao giờ cũng là sự kết hợp hài hòa giữa ý và nhạc.
Nếu “rơi vào cái vực ý thì thơ sẽ sâu nhưng rất dễ khô khan. Rơi vào cái vực nhạc
thì thơ dễ làm say lòng người nhưng dễ nông cạn” (Chế Lan Viên).
Tóm lại, có thể khẳng định rằng, tính nhạc là một đặc điểm quan trọng của ngôn
ngữ thơ ca. Mỗi từ ngữ trong câu thơ phải diễn tả được đúng điều mà nhà thơ nhìn
thấy, cảm thấy và những điều sẽ thấy. Lựa chọn được một từ ngữ “đắt” để diễn đạt
một ý không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Hàm súc và giàu sức biểu hiện, ngôn ngữ
thơ ca cô đúc, chặt chẽ với số từ rất hạn định nhưng năng lực biểu hiện lại rất lớn.
Vấn đề đặt ra với mỗi nhà thơ là phải chọn một cách nói tốt nhất đến mức độ người
ta cảm thấy không thể khác được. Thơ hay bao giờ cũng là cuộc hôn phối kỳ diệu
giữa âm thanh và ý nghĩa, hình ảnh. Chữ và nghĩa trong ngôn ngữ thi ca hòa quyện
với nhau như hình với bóng, như xác với hồn nên việc tách rời chúng ra khỏi nhau
sẽ làm tổn hại đến bình diện ngôn ngữ và thẫm mỹ của câu thơ.
2. Ngôn ngữ trong bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu
Nói đến ngôn ngữ thơ Xuân Diệu là nói đến ngôn ngữ của một nhà thơ tiêu
biểu nhất cho phong trào Thơ mới. Đánh giá thơ Xuân Diệu có nhiều ý kiến khác
nhau: “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh); “nhà thi sĩ của tuổi
xuân, của lòng yêu và của ánh sáng” (Thế Lữ); “nhà thơ lãng mạn tiêu biểu nhất”
(Lê Đình Kỵ)… Thơ Xuân Diệu là tiếng nói của trái tim, tiếng hát của tuổi trẻ, sự
giao cảm thắm thiết giữa con người với con người. Ngay từ lúc mới xuất hiện như
vầng trăng vừa ló, với con mắt xanh, Thế Lữ đã chỉ ra với nhiều yêu mến và cảm
phục nhà thơ trẻ tài hoa: Đó là một tâm sự nồng nàn mà kín đáo, một linh hồn rạng
rỡ và say mê, đằm thắm hiện ở trong những điệu thơ êm dịu và ái ân, thiết tha và


bồng bột. Cảnh sắc của sự vật, nỗi âm thầm của tình ái, dáng tươi cười của mùa
xuân, nỗi tiếc thương lạnh lẽo của mùa thu, lời van xin khuyên nhủ của tấm lòng yêu
thấm thía nhưng rụt rè, tất cả những tình cảm ấy đều tả trong thở của Xuân Diệu
một cách mới lạ, ý nhị, vừa đơn giản vừa đầy đủ, gợi cho ta những hình ảnh, những
tư tưởng bát ngát và tươi đẹp không ngờ. Để nói lên những tâm trạng và cảnh sắc ấy,
chắc chắn phải có một cách nói, một giọng điệu, một hệ thống ngôn từ thích hợp,
mềm mại, gợi cảm, đa sắc thái như mơn trớn, lơi lả, mơ hồ, lai láng, hiu hiu, nhỏ
nhỏ, nhè nhẹ, mơ màng ngẩn ngơ, xôn xao, chơi vơi, mỏng manh, ôm ấp… Đó là hệ
thống ngôn từ của thơ ca lãng mạn gắn với những rung động của con tim, những
cảm xúc trước thiên nhiên tạo vật.
Ngôn ngữ thơ Xuân Diệu gắn với sự sống trong thiên nhiên nên dễ tạo được
nhiều màu sắc phong phú. Xuân Diệu đã quy tụ, chuyển đổi một cách tài tình và
sáng tạo trong ngôn ngữ từ tiếp nhận giác quan này sang giác quan khác, từ thị giác
sang thính giác. Trong thơ Xuân Diệu, ngôn ngữ nhiều khi bị cuốn theo dòng tình
cảm mãnh liệt. Một dòng một câu không thể diễn tả đủ mà phải nhiều câu liên kết
chặt với nhau thành một đoạn, một khối kết dính và tạo hiệu quả cao. Những khối
chữ ấy gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc. Ý thức chủ động và tinh tường về vận
dụng ngôn ngữ thơ của Xuân Diệu còn thể hiện ở sự chọn lựa cân nhắc kỹ càng từ
ngữ trong từng bài thơ. Nhiều hình ảnh, từ ngữ được sử dụng sáng tạo và có hiệu
quả. Điều đó được thể hiện rất rõ qua bài thơ Đây mùa thu tới.
2.1 Hình ảnh thơ
Trong thơ Xuân Diệu có những hình ảnh thơ duyên dáng, tinh tế và vô cùng
hiện đại. Ngôn ngữ được Xuân Diệu sử dụng có khả năng diễn đạt chính xác cái mơ
hồ, mong manh, muôn hình muôn vẻ của thiên nhiên. Bài thơ Đây mùa thu tới thể
hiện rõ sự nhạy cảm và mới mẻ của hồn thơ Xuân Diệu. Thiên nhiên đẹp và có hồn
qua cảm nhận của thi sĩ. Bao trùm lên bài thơ là một nỗi buồn muôn thuở của thi
nhân. Sau khi bộc lộ cảm nhận của mình trước cảnh vật mùa thu từ gần đến xa, từ
cái hiện đến cái ẩn, thi sĩ đi sâu vào thể hiện tâm tư con người. Tất cả đều nhằm
phản ánh nỗi buồn man mác, vừa mênh mông vừa sâu lắng trong cái thế chung của


sự sống bên ngoài như nhạt phai, mất mát nhưng bên trong lại như chất chứa một sự
vươn tới, một ước mong mơ hồ mà tha thiết. Xuân Diệu nhìn cảnh vật bằng đôi mắt
u sầu nên thấy đâu đâu cũng nhuốm vẻ buồn thương:
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng:
Đây mùa thu tới – mùa thu tới,
Với áo mơ phai dệt lá vàng.
Xưa nay, các nhà thơ tả mùa thu đến thường sử dụng những hình ảnh ước lệ như lá
ngô đồng rụng, làn hương cốm mới, những thoáng heo may… hay trong thơ ca trung
đại thường dùng những hình ảnh ước lệ như sen tàn, cúc nở hoa,... để làm biểu
tượng cho sự chuyển mùa lúc thu sang. Xuân Diệu lại tả liễu. Những cây liễu bên hồ
được tác giả cảm nhận giống như các nàng thiếu nữ thướt tha, yểu điệu nghiêng
mình buông những suối tóc dài. Trong gió thu lạnh đìu hiu, dáng liễu cũng giống
như dáng người đứng chịu tang, tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng. Một hình ảnh
buồn nhưng cũng thật gợi cảm, phảng phất đâu đây bóng dáng quen thuộc của các
nàng thiếu nữ đài các, đẹp và buồn một cách lãng mạn. Đó là cách nhìn, cách cảm
của một trào lưu thơ, một thế hệ các nhà thơ mới nên không thể nói hình ảnh đó thể
hiện một nỗi buồn tang tóc, bi luỵ. Hai câu thơ thật ra chỉ nhằm gợi tả vẻ yểu điệu,
thướt tha của liễu như một tín hiệu báo thu sang mà thôi. Những cành liễu mềm mại,
êm đềm rủ xuống chính là dấu hiệu mùa thu đầu tiên mà Xuân Diệu bất chợt nhận ra
một cách ngạc nhiên thích thú. Đằng sau những tiếng reo hồ hởi của nhà thơ, người
đọc có thể hình dung ra ánh mắt trẻ trung ngơ ngác của ông sững sờ trước vẻ đẹp bất
ngờ của thiên nhiên tạo vật. Bốn câu thơ tả mùa thu mới chớm và tâm trạng của con
người lúc thu sang thật gợi cảm, tươi sáng. Những câu thơ thoáng nét buồn nhưng
không hề ảm đạm, héo hắt, buồn mà vẫn đẹp. Ở đây, vẻ đẹp được tạo bởi sự cảm
nhận tinh tế và mới mẻ những chuyển vận của thiên nhiên cùng bước đi của thời
gian, đẹp bởi màu sắc đường nét tươi sáng, bởi vẻ yểu điệu, thiết tha, rất trẻ trung,
lãng mạn phù hợp với mùa thu mới chớm. Hai câu thơ tiếp theo lại là tiếng reo vui
đầy phấn khởi :


Đây mùa thu tới – mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng.
Sáng tạo của Xuân Diệu nằm ở từ mơ phai. Đó là một cách miêu tả tinh tế và chính
xác cảnh chớm thu. Cây cỏ chưa tàn úa, đã ngả vàng nhưng vẫn tươi. Nhà thơ như
bừng tỉnh nhận ra rằng mùa thu đã trở về với lòng thu đang ngóng đợi. Nàng thu
diễm kiều của tạo hóa đã đến với thi nhân trong bộ xiêm y tha thướt dệt bằng những
chiếc lá vàng màu mơ phai huyền ảo. Tưởng chừng như thi sĩ đang dang rộng vòng
tay đón nhận mùa thu như đón nhận người bạn tri kỉ tri âm sau bao ngày xa cách.
Trong cảm nhận của thi sĩ, thiên nhiên cũng giống như một giai nhân. Mùa xuân là
mùa đẹp nhất. Qua hạ vào thu, thiên nhiên đã nhuốm vẻ tàn phai nhưng vẫn đẹp, vẫn
quyến rũ hồn người. Xuân Diệu đã sử dụng những hình ảnh đầy lão luyện, tinh vi:
Rặng liễu, đứng chịu tang, tóc buồn, lệ ngàn hàng, áo mơ phai, đôi nhánh khô gầy...
Những hình ảnh được sử dụng đầy độc đáo lôi cuốn đem đến cho người đọc những
cảm nhận mới, những trải nghiệm thú vị khác xa với những gì người ta đã từng được
biết về mùa thu. Là nhà thơ của cảm thức về thời gian, Xuân Diệu rất nhạy cảm với
những bước đi của các mùa trong năm. Thời điểm giao mùa vốn dễ gợi nhiều cảm
xúc cho con người và với thi nhân đó là thời điểm sản sinh ra ý thơ. Mỗi mùa trôi
qua bao giờ nhà thơ cũng có những dòng cảm xúc. Khi thì “giục giã”, “vội vàng”,
khi thì reo vui chào đón, khi lại tiếc nuối… Với tâm hồn nhạy cảm, nhà thơ đã cảm
nhận được bước đi rất nhẹ nhàng của mùa thu. Mùa thu với vẻ đẹp riêng rất lãng
mạn và rất thơ nên đã chiếm được cảm tình đặc biệt của thi nhân. Dường như thu là
mùa của tâm trạng, của cảm xúc. Trước cảnh thu người ta thường tức cảnh sinh tình.
Đỗ Phủ khi xa quê trong cảnh loạn li, trước mùa thu đã có chùm Thu hứng nổi tiếng.
Nguyễn Khuyến với tâm sự u uất của một nhà nho đau đời trước cảnh nước mất nhà
tan, ở một làng quê yên ả đã có cả “chùm thơ thu” nức tiếng. Lưu Trọng Lư lại xao
động trước “Tiếng thu” huyền diệu. Còn thu đến dưới cặp mắt xanh non của thi sĩ đa
tình, đa sầu, đa cảm Xuân Diệu là sự kết hợp của cả hai yếu tố cổ điển và hiện đại.
Thời gian tiếp tục chuyển động trong cảm nhận của thi nhân :
Hơn một loài hoa đã rụng cành,


Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh ;
Những luồng run rẩy rung rinh lá…
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh.
Lại một sự sáng tạo mới, sáng tạo về lối diễn đạt, về cách tả và cách cảm nhận hình
ảnh thu sang. Khổ thơ là kết quả của sự vận động tổng hợp mọi giác quan của con
người. Những từ hơn một, rũa cùng cách nói những luồng, đôi nhánh vốn còn rất xa
lạ với thi ca thời ấy lại được Xuân Diệu sử dụng rất tài tình. Đây là điểm độc đáo
của thi nhân. Cảnh vật xao động rất nhẹ nhưng được nhà thơ miêu tả rất cụ thể.
Trong cách cảm nhận của tác giả, mùa thu trở nên mỏng manh, khe khẽ, nhẹ nhàng.
Đó chính là nét riêng của mùa thu. Khí thu hơi lạnh được cảm nhận bằng xúc giác và
diễn tả thật đạt qua cách sử dụng bốn phụ âm “r” liên tiếp.
Mỗi khổ thơ là một bước đi khá dài của mùa thu. Cảnh thu được nhìn nhận rộng
hơn, xa hơn:
Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ…
Non xa khởi sự nhạt sương mờ…
Đã nghe rét mướt luồn trong gió…
Đã vắng người sang những chuyến đò…
Cái buồn của mùa thu đã bao trùm lên cảnh vật. Trăng thu buồn và như có tâm sự.
Hai câu thơ tả trăng vào cuối thu mang lại sắc màu cổ điển rất rõ nét. Hai từ đã như
là sự khẳng định chắc chắn rằng thu đã đến thật rồi với cái lạnh trong gió. Sự tàn
phai và vẻ buồn của mùa thu đã được thể hiện đầy đủ. Những bước thu êm dịu được
cảm nhận thật tinh tế. Một bức tranh thu có nhiều đường nét và màu sắc. Trong đoạn
thơ, con người tuy không trực tiếp xuất hiện nhưng tâm trạng đã được thể hiện rất rõ
qua cảnh thu.
Đến khổ thơ cuối ta thấy xuất hiện hình ảnh con người. Cảnh vật chẳng những
không vui hơn mà còn buồn hơn bởi vì con người xuất hiện trong hoàn cảnh và một
tâm thế đầy tâm trạng :
Mây vẩn từng không, chim bay đi.
Khí trời u uất hận chia li.


Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì.
Hai câu thơ trên có thể coi như là lời kết luận cho cảnh thu, tình thu ở ba khổ trước.
Hình ảnh mây, chim xuất hiện cùng khí trời u uất làm cho cảnh vật mang màu sắc u
buồn. Theo đó, tình người cũng cô đơn, buồn bã trên nền cảnh vật cũng quạnh quẽ,
đìu hiu, u uất. Khí trời ấy khiến ta nhớ đến câu thơ của Đỗ Phủ viết khi ông chạy
loạn và nhớ đến quê hương đang rên xiết dưới nạn đao binh máu lửa:
Tái thượng phong vân tiếp địa âm
(Mặt đất mây đùn cửa ải xa)
Khí trời u uất như cũng đang nuối tiếc trước sự chia phôi. Trước cảnh chia lìa của
cảnh vật, của một cánh chim đầy tâm trạng, con người càng trầm mặc hơn :
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì.
Thiếu nữ là lứa tuổi nhạy cảm, đa sầu và cũng thường hay rung động mơ hồ. Hình
ảnh người thiếu nữ tựa cửa nhìn ra khoảng không xa xăm, mông lung nghĩ ngợi xuất
hiện giữa bức tranh thu. Thiếu nữ ấy mang tâm sự gì? Chắc chắn là tâm sự buồn.
Một nỗi buồn không xác định, thiếu một đường viền cụ thể, rất mơ hồ. Nỗi buồn
không xác định: ít nhiều, không thành hình thành tiếng: buồn không nói, ý nghĩ thì
mông lung: nghĩ ngợi gì. Nỗi buồn mơ hồ nhưng thấm thía. Thiếu nữ không nhìn cái
gì cụ thể, nhìn xa và mơ hồ, bởi vì lúc này thiếu nữ đang nhìn vào chính lòng mình,
lắng nghe tiếng nói của trái tim mình để cảm nhận nỗi buồn khi thu đến và thời gian
qua đi. Câu thơ kết không nói gì rõ rệt mà gợi mở rất nhiều. Nỗi buồn thu đến hay
chính là nỗi buồn của con người về cuộc đời đã nhuốm lên cảnh vật. Nỗi buồn của
Xuân Diệu cũng chính là nỗi buồn của thế hệ các nhà thơ mới.
Ta có thể thấy bài thơ Đây mùa thu tới không chỉ thể hiện tình yêu thiên nhiên,
niềm khát khao giao cảm mãnh liệt của Xuân Diệu mà còn gợi lên tình cảm đối với
quê hương đất nước. Bài thơ khép lại mà ý thơ lại mở ra bao suy nghĩ. Đây mùa thu
tới diễn tả cảnh thu đến qua đó thể hiện tâm trạng nhân vật trữ tình. Bài thơ đem đến
một cảm giác buồn, mặc dù có tiếng reo vui. Buồn vì hình ảnh hàng liễu rủ tang tóc,


buồn vì cái lạnh se sẽ len lỏi đâu đó giữa một khung cảnh trống vắng hắt hiu, buồn
vì có sự tàn phai, chia lìa của cây cỏ, chim muông…Tất cả đều gợi một cái gì đó tựa
như nỗi nhớ nhung bâng khuâng phảng phất khắp không gian và trong lòng người.
Đó cũng chính là nét buồn của một thời Thơ mới. Nét buồn man mác bâng khuâng
của cái Tôi nhạy cảm đã đem đến cho thơ ca lãng mạn một vẻ đẹp riêng.
2.2 Sử dụng từ ngữ độc đáo
2.2.1 Nghệ thuật sử dụng từ ngữ gợi hình, gợi tả
Cái hay trong ngôn ngữ thơ Xuân Diệu nhiều khi không chỉ bởi hình ảnh mới
lạ mà còn bởi những cách kết hợp, cách sử dụng từ ngữ độc đáo. Trong bài thơ Đây
mùa thu tới, Xuân Diệu đã sử dụng rất tài tình những từ ngữ gợi hình, gợi tả, tạo nên
bức tranh thu đẹp và lạ. Với hàng loạt từ ngữ như: đìu hiu, chịu tang, tóc buồn, lệ
ngàn hàng, sắc đỏ rũa màu xanh, xương mỏng manh, rét mướt luồn trong gió, Xuân
Diệu đã tạo nên nét riêng trong phong cách của mình.
Các động từ cũng được Xuân Diệu sử dụng rất hấp dẫn như dệt, rũa, luồn,
nghe, hận... Khi đứng một mình các động từ này dường như vô hình, vô cảm nhưng
khi đặt trong những câu thơ của Xuân Diệu nó bỗng có giá hơn bất cứ lúc nào. Nhà
thơ đã tạo nên những áo mơ phai dệt lá vàng; sắc đỏ rũa màu xanh; nghe rét mướt
luồn trong gió; hận chia ly... rất cuốn hút. Thi sĩ cảm nhận đất trời vào thu không
phải chỉ bằng những giác quan thông thường vốn có mà bằng cả giác quan tâm linh
của một hồn thơ yêu đời, luôn khát khao giao cảm mãnh liệt với sự sống. Cảm xúc
mạnh mẽ, nồng nàn luôn ở trạng thái cực điểm ấy khiến thơ ông không chấp nhận
những cách diễn đạt thông thường, những từ ngữ phẳng lặng. Xuân Diệu đã tìm đến
cách diễn đạt của ngôn ngữ khác, của thơ tượng trưng Pháp và đổi mới chính ngôn
ngữ, lối nói sẵn có của tiếng Việt:
Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá,
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh.


Có lẽ trước Xuân Diệu không mấy ai sử dụng lối nói độc đáo: Hơn một loài, Sắc đỏ
rũa, Những luồng run rẩy... Trong tư duy ngôn ngữ của người Việt, hơn một loài có
thể hiểu là nhiều loài, dăm bảy loài... Ta có thể hiểu Sắc đỏ rũa màu xanh là màu đỏ,
màu úa vàng của cây lá mùa thu ngày càng nhiều, lấn dần màu xanh, làm cho lá cây
màu xanh bị rũa, rụng dần đi từng tí một. Nếu sắc lá xanh là của mùa xuân, mùa hạ
thì sắc lá vàng, lá đỏ là của mùa thu. Mùa thu tới, màu đỏ cứ lấn dần màu xanh. Màu
đỏ lan tới đâu, màu xanh mỏng dần tới đó. Sắc đỏ rũa màu xanh là vậy. Dường như
thi sĩ cảm nhận được từng bước đi âm thầm của mùa thu trên sự đổi thay sắc màu
của lá.
Hai câu thơ sau xứng đáng là tuyệt bút:
Những luồng run rẩy rung rinh lá…
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh.
Ở đầu đoạn thơ là hình ảnh hoa rụng, lá phai, đến cuối đoạn là hình ảnh các nhánh
cây trơ trụi, khẳng khiu in trên nền trời thu. Câu thơ bảy chữ thì có tới sáu chữ gợi
sự tàn tạ: nhánh, khô gầy, xương, mỏng manh. Xuân Diệu đã thể hiện bút lực tài hoa
của mình trong việc sử dụng hình ảnh và ngôn ngữ đầy sáng tạo.
Câu thơ Những luồng run rẩy rung rinh lá vừa lặp phụ âm R, vừa dùng đảo
ngữ, vừa trộn lẫn cảm giác do cách kết hợp trực tiếp loại từ luồng với đảo ngữ run
rẩy rung rinh lá khiến cho người đọc thơ như có thể cảm giác được cả cái run rẩy
rùng mình vì ớn lạnh của chính tâm hồn nhà thơ. Sâu xa và tinh vi hơn nhiều là khả
năng cảm nhận của trái tim và trí tuệ của thi sĩ. Nhà phê bình nghiên cứu văn học
Hoài Thanh nhận xét: Trong cảnh mùa thu rất quen thuộc với thi nhân Việt Nam, chỉ
Xuân Diệu mới để ý đến Những luồng run rẩy rung rinh lá…. Ta có thể hiểu là gió
thổi làm lá rung rinh, nhưng ý thơ chắc chắn không dừng ở đó. Ai biết lá rung rinh vì
gió hay vì lạnh? Những thân cành mảnh mai gầy guộc đang run rẩy vì cái lạnh của
gió thu. Thi sĩ có tài cảm nhận cái rét mướt lạnh lẽo theo điệu tâm hồn riêng của
mình. Cũng như ở những câu thơ trên, đây là một câu thơ mới mẻ, đầy ấn tượng:
Đã nghe rét mướt luồn trong gió.


Với cách dùng từ ngữ thể hiện sự chuyển đổi tương giao của các hệ cảm giác, cái rét
không chỉ được cảm nhận bằng xúc giác thông thường mà bằng cả thính giác (nghe)
và thị giác và xúc giác (luồn) của tâm hồn nhà thơ. Chữ luồn và nghe còn khiến cho
cái rét được cụ thể hoá thành tiếng, thành hình, thành ảnh; diễn đạt được tinh tế cái
rét đầu thu đã bắt đầu len lỏi, đột nhập, ẩn thân vào cảnh vật vào lòng người. Đây
không còn chỉ là cách dùng từ thuần tuý nữa mà chính là cảm xúc tinh tế và mãnh
liệt của một hồn thơ luôn khát khao giao cảm với cuộc đời và thiên nhiên tạo vật.
2.2.2 Nghệ thuật sử dụng nhiều từ láy âm
Một điểm nổi bật trong bài thơ Đây mùa thu tới là Xuân Diệu đã sử dụng một
loạt các từ láy âm: đìu – hiu – chịu, tang – ngàn – hàng, buồn – buông – xuống, run
rẩy – rung rinh.
Biện pháp láy âm được Xuân Diệu vận dụng tài tình để tạo nên vần thơ giàu âm
điệu, nhạc điệu, phát huy hết sức giá trị biểu cảm cho thơ. Đó là một điểm mạnh,
khá mới mẻ trong thi pháp thơ Xuân Diệu. Cũng phải thấy rằng Xuân Diệu có năng
lực sử dụng từ ngữ rất chính xác, độc đáo. Trong kho tàng từ vựng không có từ hay
từ dở, chỉ có những từ ngữ được sử dụng đúng chỗ đúng hoàn cảnh thì trở nên hay
và lên hương lên sắc. Xuân Diệu đã cho ta thấy điều đó. Các từ láy đìu hiu, run rẩy,
rung rinh, mỏng manh, ngẩn ngơ... xuất hiện dày đặc trong tác phẩm tạo nên một hệ
thống từ láy có sức biểu cảm mạnh mẽ. Với hệ thống từ láy đó góp phần tạo nên cái
hay, sức sống cho bài thơ.
2.2 Nhạc điệu thơ
Timofeep từng nói: Thơ là một dạng lời nói có hệ thống ngữ điệu đặc biệt.
Xuân Diệu “đã phổ vào thơ lãng mạn Việt nam những giai điệu tân kì đến mê ly”,
“họ gọi thơ ông là một thứ âm điệu cực kì du dương”, “một sự tuyệt tác của nhạc
cảm”, “một nhạc điệu điếng hồn”. Một điều không thể không nói đến trong ngôn
ngữ nghệ thuật thơ Xuân Diệu đó là nhạc điệu trong thơ. Ông đã phổ vào thơ lãng
mạn những giai điệu tân kì đến mê ly, họ gọi thơ ông là một thứ âm điệu cực kì du
dương, một sự tuyệt tác của nhạc cảm. Ông sử dụng linh hoạt các cách ngắt nhịp.


Nhịp điệu bài thơ chậm rãi, âm hưởng da diết và sâu lắng góp phần thể hiện thành
công cảm xúc chủ đạo của bài thơ.
Trong bài thơ Đây mùa thu tới, ở hai câu thơ đầu:
Rặng liễu / đìu hiu / đứng chịu tang
Tóc buồn / buông xuống / lệ ngàn hàng
Tác giả đã sử dụng nhịp thơ 2-2-3 quen thuộc trong câu thơ 7 chữ của thơ Mới. Tuy
nhiên, Xuân Diệu vẫn tạo được tính nhạc riêng trong đó một cách tài tình nhờ nghệ
thuật láy âm. Ba cặp láy âm: âm "iu" (liễu - đìu - hiu - chịu), âm "ang" (tang - ngàn hàng), âm "uông" (buồn - buông - xuống) làm cho các chữ thơ như quyện chặt vào
nhau, dính vào nhau. Đặc biệt là ba chữ âm "ang" (âm mở) lại là thanh không dấu và
dấu huyền đứng ở cuối hai dòng thơ đã tạo nên một nhạc điệu buồn mênh mang lan
tỏa thấm thía. Câu thơ không thể đọc nhanh mà phải đọc chậm theo một nhịp dàn
trải từng chỗ lên bổng xuống trầm du dương thú vị.
Say mê ngắm rặng liễu đìu hiu..., nhà thơ như khẽ reo lên khi chợt nhận thấy
mùa thu đã đến. Cách ngắt nhịp 4/3 với điệp ngữ mùa thu tới đã diễn tả bước đi của
mùa thu và niềm mong đợi thu về bấy lâu nay trong lòng thi sĩ:
Đây mùa thu tới / mùa thu tới
Với áo mơ phai / dệt lá vàng.
Đoạn thơ tiếp theo với nhịp 2/2/1/2 cùng những hình ảnh tiêu biểu cho mùa thu
tạo cảm giác ấn tượng:
Thỉnh thoảng / nàng trăng / tự / ngẩn ngơ,
Non xa / khởi sự / nhạt / sương mờ…
Đã nghe / rét mướt / luồn / trong gió,
Đã vắng / người sang / những / chuyến đò.
Trăng tự ngẩn ngơ như vừa mất mát một cái gì đó, nhớ mong một cái gì đó. Chưa
thật buồn mà không còn vui, đó là tâm sự bí ẩn của nàng trăng. Xuân Diệu thấu hiểu
căn nguyên nỗi buồn của mình.


Với tài năng sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật tài ba như vậy. Xuân Diệu không chỉ
chiếm lĩnh được trọn vẹn linh hồn của mùa thu mà còn chiếm lấy hầu hết trái tim
của bao thế hệ bạn đọc.
2.3. Các biện pháp tu từ nghệ thuật
2.3.1 Nghệ thuật nhân hóa qua một số hình ảnh thơ
Trong thơ Xuân Diệu, nhân hóa là biện pháp tu từ được sử dụng phổ biến để
khắc họa nổi bật hình ảnh thiên nhiên gần gũi. Với mỗi nét vẽ khác nhau, hình ảnh
thiên nhiên lại hiện lên muôn màu muôn vẻ. Bằng cái nhìn tinh tế về những biến
chuyển nhẹ nhàng của thu sang, Xuân Diệu đã mang đến hơi thở mới cho bức tranh
về mùa thu của làng văn học. Bài thơ Đây mùa thu tới hiện lên cả một không gian
"đìu hiu", buồn và vắng vẻ. Nơi ấy có rặng liễu trầm mặc như "đứng chịu tang", lá
liễu buông dài như tóc nàng cô phụ "buồn buông xuống". Lá liễu ướt đẫm sương thu
tưởng như "lệ ngàn hàng". Liễu được nhân hóa "đứng chịu tang", từ tóc liễu đến lệ
liễu đều mang theo bao nỗi buồn thấm thía. Một nét liễu, một dáng liễu được miêu tả
và cảm nhận đầy chất thơ. Bằng phép nhân hóa điêu luyện: Rặng liễu chịu tang,
nàng trăng ngẩn ngơ, hay khí trời u uất hận chia ly... nhà thơ đã tạo cho mình một
thế giới thơ đầy sống động lạ lùng. Với những phép nhân hóa ấy dường như Xuân
Diệu muốn lấy cho kì hết cái hồn cái cốt của mùa thu. Cái tài, cái cách tân của Xuân
Diệu được thể hiện rõ nét ở việc ông làm mới những biện pháp tu từ nghệ thuật. Nó
hết sức mới, hết sức lạ mà vẫn không kém phần cụ thể, sinh động hấp dẫn, làm ngỡ
ngàng cả một thời đại thi ca đương thời.
2.3.2 Nghệ thuật sử dụng điệp ngữ và nhiều dấu chấm lửng (…)
Để tạo ra tác phẩm văn chương đích thực đòi hỏi nhà thơ phải không ngừng tìm
tòi và sáng tạo. Vì lẽ đó, Xuân Diệu cũng không ngừng làm mới mình bằng cách vận
dụng các điệp ngữ cũng như dấu chấm lửng để tạo sức hấp dẫn cho bài thơ. Khi
nhận ra tín hiệu của mùa thu trên những hàng liễu, Xuân Diệu như khẽ reo lên. Điệp
ngữ "mùa thu tới" giúp tô đậm cảm xúc ấy. Đằng sau sự vui vẻ hồ hởi ấy, ta lại hình
dung được ánh mắt trẻ trung nhưng có vẻ ngạc nhiên, thích thú và ngỡ ngàng trước
vẻ đẹp của đất trời khi mùa thu đến. Đúng là thơ Xuân Diệu, dân tộc nhưng cũng rất


mới mẻ, lại kết hợp được giữa cổ điển và hiện đại. Bài thơ "Đây mùa thu tới" được
mở đầu bằng hình ảnh cây liễu và kết thúc bằng hình ảnh con người thiếu nữ với biết
bao cảm xúc, suy tư. Những hình ảnh thơ của Xuân Diệu mở ra một khoảng không
gian xa vời vợi tạo nên một cái gì bâng khuâng man mác cho tâm hồn của người đọc
khi mùa thu đột ngột tới.
Bài thơ còn có nhiều dấu câu, đặc biệt là chấm lửng. Ở đây, dấu chấm lửng
buông lửng gợi nên biết bao vang vọng tỏa lan từ một nỗi buồn cô đơn xa vắng, mơ
hồ của người đang suy tư. Dấu (…) được sử dụng trong một số kết thúc của câu
nhấn mạnh trạng thái khoảnh khắc bắt đầu, còn dang dở của mọi sự chuyển biến
trong thời điểm giao mùa.

KẾT LUẬN
Xuân Diệu là một nhà thơ rất mới về nhiều phương diện nhưng trước hết là
phương diện ngôn từ. Nhiều cách đặt câu dùng từ của ông nay đã trở thành quen
thuộc và phổ biến đối với người Việt Nam. Đây mùa thu tới là một bức tranh phong
cảnh vừa rất đa dạng về đường nét, vừa phong phú về màu sắc. Tuy nhiên tất cả đều
gợi nên một cái gì lạnh giá, cô đơn, chia lìa, mơ hồ ngẩn ngơ, mà chỉ có cái "tôi" yêu
đời, ham sống đặc biệt nhạy cảm trước cuộc đời mới nhận ra được. Bài thơ là một
nét đặc sắc đặc biệt tạo nên dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc. Vượt lên trên sức
hủy diệt của thời gian, thơ Xuân Diệu là tiếng đàn của cảm xúc thôi thúc, thức tỉnh ở
loài người khả năng sống bằng cả trái tim, tâm hồn, thể phách làm sống dậy mọi
giác quan để hưởng một cách trọn vẹn nhất cuộc đời đầy màu sắc, hương vị và ngọt
lành. Với cách dùng từ ngữ và hình ảnh thật táo bạo, nhịp điệu thơ thay đổi linh
hoạt, phù hợp với việc diễn đạt cảm xúc trong từng đoạn, nhà thơ đã chuyển tải được
những tâm tư, tình cảm đến với bạn đọc.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×