Tải bản đầy đủ

Kỹ năng tác nghiệp bằng điện thoại di động của nhà báo trong xu thế hội tụ truyền thông

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ KIM ANH

KỸ NĂNG TÁC NGHIỆP BẰNG ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG
CỦA NHÀ BÁO TRONG XU THẾ HỘI TỤ TRUYỀN THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ

Hà Nội, 2017

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ KIM ANH

KỸ NĂNG TÁC NGHIỆP BẰNG ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG

CỦA NHÀ BÁO TRONG XU THẾ HỘI TỤ TRUYỀN THÔNG

Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành báo chí học
Mã số: 60 32 01 01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Thành Lợi

Hà Nội, 2017
2


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các số liệu
nêu trong luận văn là trung thực; những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tôi xin chịu trách nhiệm
về công trình nghiên cứu của mình.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

TRẦN THỊ KIM ANH

3


LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn đến quý thầy, cô giảng viên Khoa Báo
Chí & Truyền Thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân Văn đã tận
tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình theo học chương trình
Cao học Báo chí.
Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS. Nguyễn Thành
Lợi - người đã tận tâm hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình thực hiện hoàn
thành luận văn này. Đồng cảm ơn các nhà báo, chuyên gia và các phóng viên
am hiểu về lĩnh vực mà đề tài nghiên cứu, đã cung cấp cho tác giả nhiều
thông tin hữu ích.
Trong quá trình thực hiện luận văn tác giả đã cố gắng để hoàn thành
luận văn thật tốt. Tuy nhiên, do thời gian và trình độ còn hạn chế nên luận văn
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong muốn tiếp tục nhận được
sự góp ý, chỉ dẫn chân thành của quý thầy, cô giảng viên và các bạn đồng
nghiệp nhằm bổ sung, hoàn thiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn !


4


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU

10

1. Lý do lựa chọn đề tài

10

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

12

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

20

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

21

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

21

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

22

7. Kết cấu của luận văn

23

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÀM BÁO BẰNG ĐTDĐ TRONG
XU THẾ HỘI TỤ TRUYỀN THÔNG

24

1.1. Một số khái niệm cơ bản

24

1.1.1. Điện thoại di động

24

1.1.2. Làm báo bằng điện thoại di động

25

1.2. Xu hƣớng hội tụ truyền thông

33

1.2.1. Đặc điểm của hội tụ truyền thông

33

1.2.2. Báo chí Việt Nam trước xu thế hội tụ truyền thông

35

1.3. Các kỹ năng tác nghiệp bằng ĐTDĐ

39

1.3.1. Chụp và chỉnh sửa ảnh

39

1.3.2. Quay và chỉnh sửa video

42

1.3.3. Ghi âm

45

1.3.4. Soạn thảo văn bản

47

1.3.5. Live-Streaming

47

1.4. Những yếu tố tác động đến kỹ năng tác nghiệp bằng ĐTDĐ

48

1.4.1. Công nghệ

48

1.4.2. Internet

50

1.4.3. Webcasting

51
5


1.4.4. Công chúng

51

Tiểu kết chƣơng 1

54

CHƢƠNG 2: PHÂN TÍCH KỸ NĂNG LÀM BÁO BẰNG ĐTDĐ CỦA
NHÀ BÁO QUA CÁC BÁO KHẢO SÁT

56

2.1. Giới thiệu các cơ quan báo chí khảo sát

56

2.1.1. Vietnamplus

56

2.1.2. Zing.vn

57

2.1.3. Vietnamnet

58

2.2. Thực trạng kỹ năng tác nghiệp bằng ĐTDĐ của nhà báo

58

2.2.1. Kỹ năng chụp và sửa ảnh

58

2.2.2. Kỹ năng quay và chỉnh sửa video

69

2.2.3. Kỹ năng ghi âm

78

2.2.4. Kỹ năng soạn thảo văn bản

81

2.2.5. Kỹ năng Livestream

85

2.3. Đánh giá chung

86

2.3.1. Thành công

86

2.3.2. Một số hạn chế

89

Tiểu kết chƣơng 2

93

CHƢƠNG 3: ĐỀ XUẤT PHÁT TRIỂN VIỆC SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI
DI ĐỘNG TRONG TÁC NGHIỆP CỦA NHÀ BÁO

95

3.1. Xu hƣớng phát triển Mobile Journalism

95

3.1.1. Xu hướng phát triển Mobile Journalism trên thế giới

95

3.1.2. Xu hướng phát triển Mobile Journalism ở Việt Nam

101

3.2. Đề xuất, kiến nghị nâng cao phát triển việc sử dụng ĐTDĐ trong tác
nghiệp của nhà báo

103

3.2.1. Xây dựng chiến lược nội dung, cơ sở hạ tầng từ cấp cao

103

3.2.2. Mở nhiều lớp ngắn hạn đào tạo kỹ năng tác nghiệp bằng ĐTDĐ tại các
6


cơ quan báo chí (Cho cả PV, BTV và đội ngũ lãnh đạo)

105

3.2.3. Xây dựng môn học Làm báo bằng ĐTDĐ và đào tạo tại các trường đào
tạo báo chí

110

Tiểu kết chƣơng 3

115

KẾT LUẬN

116

TÀI LIỆU THAM KHẢO

119

PHỤ LỤC

125

7


DANH MỤC VIẾT TẮT
BBT: Ban biên tập
ĐTDĐ: Điện thoại di động
Mojo: Mobile Journalism
PGS: Phó Giáo sư
PV: Phóng viên
PTTH: Phát thanh truyền hình
TBT: Tổng biên tập
TS: Tiến sĩ
Th.s: Thạc sĩ
TTXVN: Thông tấn xã Việt Nam

8


9


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Báo chí đã trải qua nhiều thay đổi và chuyển biến theo sự phát triển của
công nghệ trong mười năm qua. Đây là một sự thay đổi theo tiến trình hiện
đại hoá để phục vụ cho nhu cầu của công chúng, đặc biệt là về sự tin cậy của
thông tin và thời gian của tin tức. Các cơ quan báo chí không ngừng đổi mới
công nghệ, nâng cao khả năng phục vụ bạn đọc qua các phương tiện thông tin
truyền thông. Với đặc trưng là sự hội tụ của cả 3 loại hình báo chí đi trước là
báo nói, báo in và báo hình, báo điện tử đã thu hút được một lượng độc giả
nhanh chóng đáng kể ngay từ khi mới ra đời. Nó chia sẻ số lượng độc giả của
các loại hình báo chí khác. Hiện nay, với sự phát triển của Internet và máy
tính, báo điện tử đang trở thành loại hình báo được công chúng quan tâm.
Để phục vụ tốt hơn cho nhu cầu của công chúng và phù hợp với với sự
phát triển của công nghệ thông tin, báo điện tử cũng phải ―làm mới‖ chính
mình. Từ nội dung đến hình thức, từ cách khai thác và sử dụng công nghệ để
khai thác tin bài, các phóng viên, biên tập viên của mỗi tờ báo điện tử đều
phải cố gắng để bắt kịp xu thế và giúp tin bài của mình đến với công chúng
một cách nhanh nhất và chân thực nhất.
Từ năm 2006, tạp chí Time (Mỹ) đã bình chọn ―You‖ là người của năm
bởi con người đang làm chủ phương tiện truyền thông và công nghệ. Công
chúng đã ―vô tình‖ tham gia vào mạng lưới truyền thông mà không hề hay
biết bản thân mình đang là một nhà báo, cung cấp thông tin cho cộng đồng.
Qua chiếc camera trên điện thoại di động và sự bùng nổ của công nghệ, thông
tin từ công chúng dần đóng vai trò chủ động, thay vì bị động từ các cơ quan
báo chí. Ông Dale Peskin, Đồng Giám đốc Trung tâm Truyền thông Reston,
phân hệ thuộc Viện Báo chí Hoa Kỳ, bang Virginia (Mỹ) đã đưa ra một khái
niệm mới ―We media‖ (Chúng ta - giới truyền thông) vào khoảng năm 2011 10


2012. Những đổi mới trong công nghệ thông tin đã đưa thế giới đến với một
kỷ nguyên của các phương tiện truyền thông dân chủ, trong đó hầu như tất cả
mọi người đều được tiếp cận tin tức và trở thành những người sáng tạo,đóng
góp cho ngành công nghiệp báo chí.
Mặt khác, báo chí luôn chú trọng đến thời gian thông tin bên cạnh việc
cạnh tranh tin hot, tin giật gân. Báo nào nhanh hơn, báo đó chiến thắng về mặt
tiếp cận với công chúng và được người đọc ―ưu ái‖ thường xuyên theo dõi.
Đặc biệt, khi gặp một vấn đề mang tính tức thời và phóng viên đang có mặt ở
hiện trường, lúc này, anh không thể chờ quay về toà soạn lấy thiết bị chụp
ảnh, quay phim hay chờ phóng viên ảnh, quay phim chạy đến. Vậy có thể tác
nghiệp bằng cái gì đây? ĐTDĐ mà anh luôn mang theo người là một đáp án
hữu dụng nhất. Nếu anh sử dụng tốt, thành thạo, sản phẩm tin tức của anh
không khác gì các thiết bị chuyên dụng.
Bên cạnh đó, ngày nay, điện thoại di động sở hữu nhiều tính năng ưu
việt như ghi âm, chụp ảnh, quay phim với hình ảnh và chất lượng sắc nét,
thực sự trở thành một công cụ hữu ích cho mọi người. Các nhà báo cũng buộc
đi theo xu hướng sử dụng điện thoại tác nghiệp để có được thông tin, tin tức
nhanh nhất, thay vì chờ đầy đủ thiết bị tác nghiệp truyền thống hoặc công
chúng gửi tin về. Vậy nên, để có thể tác nghiệp một cách nhanh chóng nhất,
mỗi phóng viên có thể chỉ cần mang theo 1 thứ: điện thoại di động để có thể
tác nghiệp trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt là với những breaking news.
Năm 2004, bức ảnh chụp bằng ĐTDĐ lần đầu tiên xuất hiện trên mặt
báo, đánh dấu sự ra đời của hình thức làm báo bằng ĐTDĐ - Mobile
Jounarlism (viết tắt Mojo). Trên thế giới, Mojo đã sớm trở thành một phương
thức làm báo quen thuộc, nhưng ở Việt Nam, trong vài năm trở lại đây, Mojo
đang được chú ý đến bởi sự linh động và nhanh chóng. Nhà báo Lê Quốc
Minh, TBT báo điện tử Vietnamplus, nhà báo Nguyễn Đức Hoà, phó ban
11


Thanh Thiếu Niên, VTV6, Đài Truyền Hình Việt Nam cùng các nhà báo,
chuyên gia khác đều khẳng định: ―Mobile Journalism là một xu thế mới‖.
Tuy nhiên, làm báo bằng điện thoại di động như thế nào cho hiệu quả
thì không phải phóng viên, nhà báo nào cũng tận dụng được triệt để. Nhất là
khi, Bộ Thông tin và truyền thông, các ban ngành, các trường đào tạo báo chí
chưa có bất kỳ một văn bản về vấn đề Làm báo bằng ĐTDĐ cũng như kỹ
năng tác nghiệp bằng ĐTDĐ cho nhà báo. Từ những vấn đề nêu trên, tác giả
lựa chọn đề tài ―Kỹ năng tác nghiệp bằng điện thoại di động của nhà báo
trong xu thế hội tụ truyền thông‖ để làm luận văn tốt nghiệp của mình. Tác
giả đưa ra phân tích thực tiễn tác nghiệp bằng ĐTDĐ tại Việt Nam, từ đó,
nhận xét và đánh giá, kiến nghị giải pháp về cách thức sử dụng ĐTDĐ trong
tác nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Một số nội dung được thảo luận tại hội thảo, hội nghị
Ở Việt Nam, làm báo bằng ĐTDĐ đã du nhập và bắt đầu được biết đến
nhờ sự đi đầu của báo điện tử Vietnamplus năm 2009-2010. Nhưng phải đến
năm 2013, khái niệm Mobile Journalism (Làm báo bằng điện thoại di động)
được biết đến, các phóng viên mới bắt đầu định hình và hiểu rõ hơn về kỹ
năng tác nghiệp bằng ĐTDĐ. Nhất là sau khi khóa học bồi dưỡng kỹ năng
―Làm báo bằng điện thoại di động‖ được mở ra.
Sáng ngày 07/03/2013 Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Thông tin và
Truyền thông (ICDAC) – Thuộc Cơ Quan Đại Diện Bộ Thông tin và Truyền
Thông tại TP Hồ Chí Minh đã tổ chức lễ khai giảng lớp ―Bồi dưỡng kỹ năng
làm báo bằng điện thoại di động‖. Lúc này, những người hoạt động báo chí
mới bắt đầu biết đến khái niệm Mobile Journalism và được đào tạo một cách
bài bản.
Tại đây, ngoài những kiến thức nền về tác nghiệp báo chí nói chung mà
12


các phóng viên, biên tập viên, người phụ trách trang tin cần có, các học viên
được truyền đạt nhiều kinh nghiệm, thông tin về xu thế phát triển của báo chí
thế giới và cách làm báo bằng ĐTDĐ. Đồng thời, giảng viên Lê Quốc Minh
còn giới thiệu một số kỹ năng như: Chụp ảnh, làm tin ngắn, quay phim…,
biên tập trực tiếp trên smartphone (điện thoại thông minh) và đặc biệt là trao
đổi, hướng dẫn các phần mềm đặc biệt ứng dụng vào vấn đề bảo vệ bản quyền
và social media trong báo chí hiện đại.
Kỹ năng xử lý ảnh, video clip được thực hiện dựa trên việc khai thác
các phần mềm xử lý ảnh (Camera+, Instagram, PS Express, Snapseed,
Iphoto…), phần mềm quay và xử lý videoclip (Real Director, Splice, Qik
Video, Socialcam, Imovie…), phần mềm biên tập âm thanh (Audioboo,
Sound Cloud)… Sau khóa học, các học viên được hướng dẫn thực tế thực
hiện các nội dung đã được học, làm bài thu hoạch và được cấp chứng chỉ qua
quá trình theo học.
Đến năm 2014-2015, nhiều lớp học dành cho các phóng viên, nhà báo
các bạn trẻ muốn làm báo bằng ĐTDĐ được mở ra và được nhiều cơ quan
báo chí chú trọng hơn. Tháng 5 năm 2014, một hội thảo có sự tham gia của
250 lãnh đạo và phóng viên thuộc nhiều cơ quan báo chí trong nước đã chia
sẻ kinh nghiệm về làm báo qua điện thoại thông minh (smartphone) tại buổi
hội thảo ―Smartphone với truyền thông hiện đại.‖
Phát biểu tại hội thảo, ông Lê Duy Truyền, Phó Tổng Giám đốc
TTXVN cho biết, sự kiện này diễn ra trong bối cảnh xu thế báo chí trên toàn
cầu đang thay đổi, xã hội đang chuyển dần sang giai đoạn truyền thông
mobile và báo chí cũng phải biến chuyển phù hợp với đối tượng sử dụng và
tiếp cận thông tin theo phương thức mới.
Ngày 14/5/2014, tại Hà Nội, TTXVN cũng đã tổ chức Hội thảo khoa
học ―Smartphone với truyền thông hiện đại‖. Hội thảo đã khẳng định với sự
13


phổ biến của smartphone và tablet, các tờ báo đang không chỉ đơn thuần xây
dựng giao diện mobile mà còn sản xuất nội dung dành riêng cho thiết bị di
động. Điều đó cho thấy sự thừa nhận và tầm quan trọng của ĐTDĐ dưới vai
trò một phương tiện truyền thông hiện đại trong môi trường truyền thông số.
Ngày 11/7/2014, Talkshow "Kể chuyện bằng hình ảnh" - Tác nghiệp
breaking news bằng smartphone được tổ chức, với sự tham gia hai diễn giả:
Nhà báo Đỗ Lê Thăng, trưởng ban điện tử Dân Việt và Nhà báo Phan Lợi,
Phó Tổng thư ký toà soạn báo Pháp Luật TP HCM. Tại talkshow, hai diễn giả
chia sẻ những kinh nghiệm của bản thân về việc tác nghiệp bằng smartphone
khi gặp breakingnews. Họ cũng bày tỏ tầm quan trọng của việc tác nghiệp
bằng ĐTDĐ trong môi trường báo chí hiện nay.
Trong khoảng 2 năm trở lại đây, khi cách mạng công nghệ đã chuyển
mình từ 3.0 lên 4.0, báo chí hiện đại cũng vì thế mà thay đổi vượt bậc. Báo
chí di động, làm báo bằng ĐTDĐ không chỉ là một phương thức tác nghiệp
nên có mà giờ đây các PV cần phải có . Đặc biệt là các kỹ năng tác nghiệp
bằng ĐTDĐ. Ngày 29-31/8/2016, Ban nghiệp vụ Hội Nhà báo Việt Nam phố i
hơ ̣p với Văn phòng Viện KAS (CHLB Đức) tại Hà Nội đã tổ chức lớp tập
huấn nghiệp vụ: "Kỹ năng làm báo hiện đại", với sự tham gia của hơn 30 học
viên là các nhà báo đến từ các cơ quan báo chí Trung ương và một số tỉnh,
thành phố trong cả nước. Nội dung khóa học là cung cấp thông tin về xu
hướng báo chí di động; Các kỹ năng ứng dụng phần mềm cơ bản trên di động
dành cho nhà báo; Mô hình tòa soạn hội tụ, kinh nghiệm xử lý thông tin trên
mạng xã hội cho tác nghiệp của nhà báo. Tuy nhiên, sự giới hạn về quy mô
khiến cho các kiến thức chưa được phổ cập rộng rãi. Ngoài ra, thời gian ít ỏi
cũng sẽ hạn chế việc các nhà báo chia sẻ ―kho‖ kỹ năng rộng lớn.
Ngày 22-23/2/2017, tại Hà Nội, Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ báo
chí – Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức khóa bồi dưỡng ―Kỹ năng sử dụng các
14


công nghệ di động sản xuất video clip trong báo mạng điện tử‖ dành cho hơn
40 học viên là các phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên đến từ các cơ quan
báo chí Trung ương và địa phương. Giảng viên của khóa bồi dưỡng là Nhà
báo Hoàng Đức Long – Trưởng phòng chính trị – Xã hội Truyền hình Thông
tấn (TTXVN). Tại khóa bồi dưỡng, giảng viên Hoàng Đức Long cung cấp cho
các học viên kiến thức và cách tác nghiệp thực tế bằng các công nghệ di động
như: Smarphone, Flycam, Lý thuyết về quay phim bằng ĐTDĐ, kỹ năng sử
dụng các phần mềm dựng, cách Livestream từ điện thoại Smartphone lên
fanpage, facebook hoặc website. Ngoài việc học lý thuyết, các học viên được
chia theo nhóm đi thực tế và sử dụng các công nghệ di động để tác nghiệp tại
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Sau đó, cùng nhau trao đổi, chia sẻ kinh
nghiệm để tạo ra những sản phẩm video clip nhanh, có chất lượng cao, góp
phần nâng cao chất lượng của các báo mạng điện tử, đáp ứng yêu cầu của báo
chí hiện đại.
Rào cản về công nghệ không còn quan trọng khi xu hướng sử dụng
thiết bị quay hình hiện đại là Nhỏ hơn – Nhanh hơn – Rẻ hơn và Phổ cập hơn.
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, nhất là sự ra đời của các
thiết bị thông minh đã giúp cho mọi người có thể tạo nên những đoạn phim
chuyên nghiệp có chất lượng ở mọi nơi, mọi lúc. Hiểu được điều này, Ban
Thời sự và Trung tâm Tin tức VTV24 đã mời chuyên gia Steve Ahern – Giám
đốc Tập đoàn Truyền thông AMT của Australia đến chia sẻ nhiều kỹ năng,
kinh nghiệm thực hành cho các phóng viên tin tức tại Hội thảo quay video
bằng Smartphone. Qua buổi thực hành, các phóng viên tin tức có thể rút ra
nhiều kinh nghiệm trong việc thực hành quay, dựng, biên tập file video, sử
dụng các ứng dụng kết nối trên thiết bị thông minh, cách phối hợp làm việc và
xây dựng bản tin trực tiếp tại trường quay, chuyên nghiệp tới từng vị trí.

15


2.2. Các bài viết, công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề
tài
Thực tế, trên thế giới, việc sử dụng ĐTDĐ trong tác nghiệp không có gì
mới mẻ. Thậm chí được các cơ quan báo chí truyền thông phát triển mở rộng,
đào tạo phóng viên nhà báo các kỹ năng làm báo bằng ĐTDĐ.
Việc tác nghiệp bằng ĐTDĐ càng được phát triển khi báo chí đang đi
theo mô hình báo chí truyền thông hiện đại, truyền thông đa phương tiện,
truyền thông hội tụ. Trong quá trình nghiên cứu, người viết đã tiếp cận nhiều
công trình nghiên cứu như: "Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền
thông hiện đại" của TS Nguyễn Thành Lợi. Tác giả đã đưa ra khung lý luận
và thực tế của "Truyền thông xã hội trong kỷ nguyên số", "Truyền thông
internet và các học thuyết truyền thông", "Hội tụ truyền thông", "Tòa soạn hội
tụ", ….
Trong một cuốn sách khác nghiên cứu chuyên biệt về báo điện tử "Báo
mạng điện tử Đặc trưng và phương pháp sáng tạo" của TS Nguyễn Trí Nhiệm
- TS Nguyễn Thị Trường Giang, có đưa ra cái nhìn toàn cảnh về báo chí điện
tử ở Việt Nam và các vấn đề liên quan báo mạng điện tử như: Đặc trưng cơ
bản, quy trình sản xuất, tổ chức diễn đàn, công chúng của báo điện tử ....
TS Nguyễn Trí Nhiệm cũng đã phát hành một cuốn sách khác, với tiêu
đề ―Báo chí truyền thông - những vấn đề đương đại‖. TS đã bàn về các vấn đề
sau: tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp cận từ góc độ pháp luật báo chí và đạo đức
nhà báo hiện nay; vai trò của báo chí trong việc cung cấp thông tin phục vụ
công tác lãnh đạo, quản lý; báo chí trong kỷ nguyên di động; những lợi ích
báo chí nhận được từ mạng xã hội trong quá trình tương tác; sức mạnh của
báo mạng điện tử trong phản biện xã hội; báo chí đối ngoại Việt Nam trong sự
nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước; sự thay đổi phương thức sản
xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay; kỹ năng phản biện chính
16


sách của nhà báo.
Tháng 6 năm 2016, nhóm tác giả gồm Phạm Chiến Thắng (Giảng viên
Bộ môn Báo chí, Khoa Văn – Xã hội), Phan Văn Kiền, Phan Quốc Hải và
Nguyễn Đình Hậu đã cho ra mắt bạn đọc cuốn sách ―Một số xu hướng mới
của báo chí truyền thông hiện đại‖. Các tác giả đã đưa ra một số xu hướng
mới của báo chí truyền thông hiện đại như: Siêu tác phẩm báo chí (Digital
mega-stories); Báo chí dữ liệu (Data Journalism) và Báo chí di động (Mobile
Media, Mobile Journalism).
Trên báo chí, một số bài viết cũng bàn về Mojo và cho thấy sức mạnh
của smartphone trong tác nghiệp, có thể dẫn đến sự … mất việc của phóng
viên, như 2 bài viết của tác giả Trọng Cầm đăng trên Vietnamnet: ―Phóng
viên ảnh mất việc vì smartphone‖ vào 14h, ngày 29/6/2013 và ―Máy ảnh số
ngắc ngoải vì smartphone‖ 15h11, ngày 28/6/2013.
Ngày 20/6/2015, tác giả - nhà báo Lê Quốc Minh đã viết ―Mobile: ―Tân
vương‖ của báo chí‖, đăng trên Người Lao Động với nội dung: Trong khi báo
chí thế giới đang lên cơn sốt về mobile, nhà nhà đặt chiến lược riêng cho nền
tảng này (không chỉ là việc cung cấp nội dung mà cả các phương án kinh
doanh) thì dường như đa số các báo ở Việt Nam vẫn bình chân như vại. Tác
giả cũng chỉ ra rằng, các nhà báo nên thực hiện nội dung bài báo cho phù hợp
với việc tiếp nhận thông tin bằng ĐTDĐcủa công chúng. Bởi lượng người
dùng sử dụng ĐTDĐ để đọc báo đang chiếm số lượng lớn, cao hơn desktop
và laptop.
Trong một thông tin từ Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến cuối
năm 2017, tổng số thuê bao điện thoại trong nước ước tính đạt 127,4 triệu,
trong đó số thuê bao di động đạt 119,7 triệu. Tỉ lệ phủ sóng di động đạt 95%
diện tích cả nước, số xã có điện thoại đạt 100%. Ngoài ra, các nhà mạng đều
đầu tư nâng cấp về cáp quang, trạm BTS (cột ăngten thu phát sóng thông tin
17


di động) 4G để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao nên việc sử dụng internet
lướt web, đọc báo của người dùng vô cùng thuận tiện, đặc biệt là với các
phóng viên nhà báo cần tác nghiệp mọi lúc mọi nơi.
Tác giả Hà Giang cũng đã chia sẻ về sự thuận tiện của ĐTDĐ trong bài
viết ―Di động hoá - một xu hướng của báo chí hiện đại‖ trên tạp chí Người
làm báo, số tháng 12/2015. Chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh, bất kỳ ai
cũng có thể tự sản xuất tin tức và truyền tin trên mạng xã hội như những nhà
báo thực thụ. Tác giả cũng nhấn mạnh: Trước sự bùng phát của báo chí đa
nền tảng và di động hóa là xu thế tất yếu của báo chí hiện đại, đã đến lúc các
cơ quan báo chí Việt Nam thay đổi cách tiếp cận. Thay vì ―găm‖ thông tin
―nóng‖, độc quyền để làm ―đinh‖ cho báo giấy và tin nổi bật trên báo điện tử,
cần phải đưa lên báo điện tử trên phiên bản mobile trước rồi mới đến báo điện
tử truyền thống và cuối cùng mới là báo in. Để thành công với một loại hình
báo chí mới mẻ và đòi hỏi nền tảng kỹ thuật cao, rất cần những biên tập viên,
nhất là cho phiên bản báo điện tử trên fanpage những kỹ năng về công nghệ,
khả năng chuyên môn tìm kiếm và phát hiện đề tài, rút tít, tìm hình ảnh...
Mới đây, vào ngày 21/6/2017, tác giả Xuân Bách đã đăng tải bài viết:
―Smartphone: Vật thiết thân của nhà báo‖ trên báo điện tử Infonet. Tác giả
cho biết với sự tiến bộ nhanh như vũ bão của khoa học công nghệ, càng ngày
điện thoại càng có nhiều tính năng ưu việt, hỗ trợ phóng viên, nhà báo tốt hơn
trong việc sản xuất thông tin, với khả năng làm việc đa dạng từ tin văn bản,
hình ảnh đến video. Hơn nữa, gần đây, việc phổ biến 4G tại Việt Nam càng
gia tăng khả năng kết nối và truyền tải dữ liệu mọi lúc, mọi nơi cho phóng
viên, nhà báo dùng smartphone để tác nghiệp. Tuy nhiên, mức độ và hiệu quả
khai thác, sử dụng các tính năng của smartphone còn tùy thuộc vào từng
phóng viên, nhà báo và tòa soạn.
Ở luận văn ―Xây dựng phiên bản báo mạng điện tử dành cho môi
18


trường điện thoại di động (Khảo sát báo điện tử VietnamPlus và CNN)‖ của
Dương Đức Dũng (2015), tác giả đã hệ thống những vấn đề lý luận, những
yêu cầu chung về các yếu tố nội dung thông tin, hình thức thể hiện đối với
báo mạng điện tử và báo mạng điện tử dành cho môi trường điện thoại di
động. Khảo sát thực trạng VietnamPlus và CNN để hệ thống hóa những khác
biệt cơ bản giữa hai phiên bản báo mạng điện tử dành cho môi trường ĐTDĐ.
Đề xuất một số khuyến nghị khoa học nhằm nâng cao kỹ năng sản xuất nội
dung, tăng cường tính hiệu quả của thông tin trên báo mạng điện tử dành cho
ĐTDĐ.
Trong luận văn ―Xu hướng phát triển báo mạng điện tử dành cho thiết
bị di động ở Việt Nam hiện nay‖ (2014), tác giả Nguyễn Hoàng Lan Chi đã
đưa ra những vấ n đề lý luâ ̣n liên quan đế n báo mạng điện tử và sự phát triển
báo mạng điện tử dành cho thiết bị di động: khái niệm xu hướng, thiết bị di
động, báo mạng điện tử; đặc điểm của báo mạng điện tử dành cho thiết bị di
động; vai trò của việc phát triển báo mạng điện tử dành cho thiết bị di động và
những tác động đến thói quen đọc báo mạng điện tử của công chúng; Khảo sát
thực trạng xu hướng phát triển báo mạng điện tử dành cho thiết bị di động ở
Việt Nam thông qua 3 tờ báo VTV News (vtv.vn), Tuổi trẻ Online (tuoitre.vn)
và VietnamPlus (vietnamplus.vn); Thông qua kết quả khảo sát, đề xuất mô ̣t số
giải pháp thúc đẩy xu hướng phát triển báo mạng điện tử dành cho thiết bị di
động ở Việt Nam.
Mới đây, trong năm 2016, học viên Dương Hồng Hạnh, Khoa báo chí,
Trường ĐHKHXH&NV đã bảo vệ thành công luận văn ―Vấn đề làm tin cho
phiên bản điện thoại di động ở Việt Nam hiện nay‖. Tác giả đã đưa ra cái nhìn
tổng quát về cơ sở lý thuyết và khảo sát thực trạng vấn đề làm tin cho phiên
bản điện thoại di động, tác giả đã phân tích những thuận lợi, khó khăn của các
cơ quan báo chí trong việc sản xuất tin cho phiên bản ĐTDĐ hiện nay. Đồng
19


thời từ thực trạng làm tin, chỉ ra những vấn đề còn tồn tại như vấn đề công
chúng, vấn đề công nghệ... Từ đó, đóng góp một vài giải pháp cụ thể và xây
dựng một quy trình sản xuất tin dành riêng cho phiên bản điện thoại di động,
mang tính tham khảo dành cho các cơ quan báo chí có phiên bản ĐTDĐ.
Tác giả Vũ Thị Thuỳ Linh, trong luận văn ―Phát thanh trên điện thoại
di động sử dụng công nghệ 3G (Khảo sát trường hợp Viettel Radio)‖ đã tập
trung nghiên cứu những vấn đề của phát thanh trên điện thoại di động sử dụng
công nghệ 3G như: Nội dung, hình thức thể hiện, quy trình sản xuất, công
chúng thính giả… Từ đó rút ra những đặc trưng, đặc điểm, ưu thế và hạn chế
của mô hình phát thanh này, đồng thời đề xuất những đóng góp nhằm nâng
cao chất lượng chương trình và chiến lược phát triển cho Viettel Radio trong
giai đoạn tiếp theo.
Mặc dù các công trình nghiên cứu đều đạt được thành tựu nhất định, có
nhiều đóng góp về lý luận cũng như thực tiễn trong lĩnh vực báo chí truyền
thông, song vẫn chưa có một công trình nào thực sự đi sâu nghiên cứu về kỹ
năng tác nghiệp bằng ĐTDĐ trong xu thế hội tụ truyền thông. Trong khi,
Mobile Journalist - làm báo bằng ĐTDĐ đang là một xu thế trên thế giới.
Chính vì vậy, kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu đi trước
và thực tiễn hoạt động báo chí truyền thông tại Việt Nam, luận văn đi sâu vào
nghiên cứu vấn đề kỹ năng tác nghiệp bằng ĐTDĐ trong xu thế hội tụ truyền
thông.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống khung lý thuyết, tác giả khảo sát kỹ năng tác
nghiệp bằng ĐTDĐ của nhà báo tại một số cơ quan báo chí điện tử, chỉ ra ưu
điểm, hạn chế, từ đó đề xuất kiến nghị cách thức sử dụng ĐTDĐ trong tác
nghiệp.
20


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn giải quyết một số nhiệm vụ nghiên
cứu sau:
- Làm rõ một số khái nhiệm công cụ, xây dựng khung lý thuyết.
- Đánh giá thực trạng kỹ năng làm báo bằng ĐTDĐ của phóng viên,
nhà báo qua một số tờ báo điện tử khảo sát.
- Đề xuất kiến nghị cách thức sử dụng điện thoại di động trong tác
nghiệp.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Kỹ năng tác nghiệp bằng điện thoại di động trong xu thế hội tụ truyền
thông.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát kỹ năng tác nghiệp bằng điện thoại di động của nhà báo trên
ba tờ báo điện tử: Vietnamplus, Vietnamnet và Zing.vn.
Thời gian khảo sát: Tháng 1/2016 - Tháng 11/2017
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên hệ thống lý thuyết: lý thuyết về báo
chí truyền thông, lý thuyết về xu thế hội tụ truyền thông trong môi trường
truyền thông hiện đại, lý thuyết về báo điện tử và phương tiện truyền thông
mới.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học, cụ thể:
Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu: tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề,
nắm bắt những nội dung mà các tác giả/ nhà nghiên cứu đi trước đã làm. Phân
tích nguồn, nội dung và tổng hợp tài liệu.
21


Phƣơng pháp điều tra xã hội học: gồm khảo sát bằng bảng hỏi và
phỏng vấn sâu. Khảo sát bằng bảng hỏi gồm 17 câu hỏi, 200 đối tượng khảo
sát là các PV, nhà báo, CTV, những người có kinh nghiệm làm báo. Đối
tượng phỏng vấn là 5 chuyên gia có nghiên cứu sâu về làm báo bằng ĐTDĐ;
Tổng biên tập một tờ báo điện tử có sử dụng Mobile Journalism; nhà báo,
phóng viên có kinh nghiệm tác nghiệp bằng ĐTDĐ. Mục đích chỉ ra được
thực trạng, điểm mạnh và điểm yếu của việc làm báo bằng ĐTDĐ ở Việt Nam
và tổng hợp nên các kỹ năng cần có để tác nghiệp bằng ĐTDĐ. Từ đó đưa ra
các đề xuất kiến nghị cách thức sử dụng ĐTDĐ trong tác nghiệp.
Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp: Là phương pháp thu thập thông tin
bằng các khảo sát trên đối tượng khảo sát (PV, nhà báo, chuyên gia có kinh
nghiệm và có kiến thức sâu về tác nghiệp bằng ĐTDĐ)
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Qua phần lịch sử nghiên cứu vấn đề ở trên, có thể thấy đây là một đề tài
khá mới, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu sâu về khía
cạnh này. Chính vì vậy, đề tài mang một ý nghĩa lý luận mới mẻ và quan
trọng khi có những đóng góp thiết thực về mặt lý thuyết trong đào tạo báo chí
cũng như trong thực tiễn hoạt động báo chí hiện nay. Về phần lý luận, đề tài
đã tập trung phân tích, tổng hợp và đưa ra các kỹ năng làm báo bằng ĐTDĐ,
đồng thời, làm rõ hiệu quả của việc thực hành kỹ năng tác nghiệp bằng
ĐTDĐ trên thực tế khảo sát với các phóng viên làm cơ sở nền tảng cho quá
trình nghiên cứu đồng thời.
6.2. Thực tiễn
Trong luận văn, tác giả đã đề xuất nâng cao một số kỹ năng tác nghiệp
bằng ĐTDĐ, góp phần cải thiện, khắc phục những hạn chế sử dụng ĐTDĐ để
tác nghiệp của phóng viên.
22


Đây có thể coi là một nguồn tài liệu tham khảo dành cho những thế hệ
sinh viên, học viên của các ngành khoa học xã hội nhân văn nói chung và
ngành báo chí truyền thông nói riêng, cũng như những ai có quan tâm đến
lĩnh vực này.
7. Kết cấu của luận văn
Gồm 3 phần chính:
Mở Đầu
Phần Nội dung:
Chương 1: Cơ sở lý luận về làm báo bằng ĐTDĐ trong môi trường hội
tụ truyền thông
Chương 2: Phân tích kỹ năng làm báo bằng ĐTDĐ của nhà báo qua các
báo khảo sát
Chương 3: Đề xuất giải pháp phát triển việc sử dụng ĐTDĐ trong tác
nghiệp của nhà báo
Kết luận

23


CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÀM BÁO BẰNG ĐTDĐ TRONG
XU THẾ HỘI TỤ TRUYỀN THÔNG
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Điện thoại di động
Điện thoại di động, hay còn gọi là điện thoại cầm tay, là thiết bị viễn
thông liên lạc có thể sử dụng trong không gian rộng, phụ thuộc vào nơi phủ
sóng của nhà cung cấp dịch vụ. Chất lượng sóng phụ thuộc vào thiết bị mạng
và phần nào địa hình nơi sử dụng máy chứ ít khi bị giới hạn về không gian.
ĐTDĐ có thể phân loại thành 2 loại chính: Điện thoại tính năng và điện
thoại thông minh.
Điện thoại tính năng là một thuật ngữ để mô tả một thiết bị di động cấp
thấp, thường phục vụ như là một trợ lý kỹ thuật số cá nhân (PDA - Personal
Digital Assistant), vẫn có hệ điều hành, được tích hợp một số tính năng cơ
bản như nghe gọi nhắn tin, chụp ảnh/ quay phim chế độ thấp và truy cập băng
rộng di động GPRS, 3G.
Điện thoại thông minh là mô tả một thiết bị di động cao cấp của thế hệ
mới hơn. Giao diện ứng dụng lập trình (API - Application Programming
Interface) trên điện thoại thông minh chạy ứng dụng bên thứ 3, cho phép
những ứng dụng tích hợp tốt hơn với hệ điều hành của điện thoại và phần
cứng, giúp người dùng sử dụng điện thoại tốt hơn.
Điện thoại thông minh (Smartphone) là khái niệm để chỉ chiếc điện
thoại tích hợp một nền tảng hệ điều hành di động với nhiều tính năng hỗ trợ
tiên tiến về điện toán và kết nối dựa trên nền tảng cơ bản của điện thoại di
động thông thường.
Các ngành công nghiệp tin rằng điện thoại thông minh đa số có một
màn hình độ phân giải cao hơn so với điện thoại truyền thống và điện thoại
thông minh như một máy tính di dộng, vì nó có một hệ điều hành riêng biệt.
24


Ngoài ra, smartphone có thể hiển thị phù hợp các trang website bình thường,
tuỳ chỉnh tự do giao diện và sở hữu khả năng cài đặt lẫn gỡ bỏ ứng dụng dễ
dàng; điện thoại thông minh có màn hình cảm ứng độ phân giải cao, và có bàn
phím ảo, dễ dàng gõ bằng tay.
Đặc biệt, smartphone có thể tiến hành đa tác vụ, mở email, truy cập
Internet, và hoàn toàn có thể thay đổi các thiết bị truyền thống như MP3,
MP4, PDA... Bên cạnh đó, điện thoại thông minh có thể thay thế xử lý các
vấn đề máy tính văn phòng, kết nối hoặc ngắt kết nối internet bất cứ lúc nào,
và đồng bộ hóa dữ liệu với máy tính, máy tính xách tay và các thiết bị khác.
Ngày nay, ĐTDĐ gần như làm được các công việc của một chiếc PC,
Laptop, giúp cho người sử dụng thuận tiện hơn trong công việc và cuộc sống.
Nhờ những ưu việt của nó, ngành báo chí nói chung và phóng viên, nhà báo
nói riêng thường xuyên phải "nhờ cậy" trong tác nghiệp.
1.1.2. Làm báo bằng điện thoại di động
Trong những năm qua, công nghệ hiện đại đã giúp cho cuộc sống trở
nên dễ dàng hơn và chính những tiện ích đã tạo nên sự ganh đua trong việc
đưa thông tin nhanh chóng, chuẩn xác, giật gân khiến cho các nhà báo và cơ
quan báo chí chịu rất nhiều áp lực. Nhất là khi mỗi người đều có một chiếc
điện thoại với chức năng quay phim chụp ảnh, người dân trở thành một
―phóng viên hiện trường‖ và họ có thể có một ―kênh‖ tin tức riêng ngay trên
chính trang xã hội của mình.
Rất dễ dàng khi bạn tham gia một sự kiện và thay vì tập trung thưởng
thức nó thì bạn sẽ thấy rất nhiều người giơ chiếc điện thoại, máy tính bảng lên
và chụp ảnh, ghi hình, thậm chí là livestream. Sau đó họ sẽ đăng lên mạng xã
hội. Nếu phóng viên phải trở về toà soạn, xử lý ảnh, làm tin sau đó mới đăng
lên hệ thống CMS, chờ duyệt thì chắc chắn tin đó sẽ trở thành tin nguội, công
chúng có thể đã biết tin đó từ một nguồn khác trên mạng xã hội.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×