Tải bản đầy đủ

Giáo trình môn học an sinh xã hội

PHẦN I: AN SINH XÃ HỘI 1
I. KHUÔN KHỔ LÝ THUYẾT VỀ AN SINH XÃ HỘI
1. Vai trò của Nhà nước trong việc phát triển ASXH
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá về kinh tế, sự phụ thuộc của
các quốc gia sẽ tăng và chi phối ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình phát triển. Việt
Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Trong bối cảnh này thì Nhà nước có hai
chức năng quan trọng nhất:
- Quản lý nhà nước về kinh tế, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và bảo đảm cho
nền kinh tế thị trường vận hành theo những quy luật vốn có của nó và giảm thiểu rủi
ro cho mọi thành viên trong xã hội;
- Quản lý xã hội, bảo đảm sự ổn định xã hội và chính trị thông qua hệ thống
chính sách xã hội mà trong đó hệ thống an sinh xã hội là cốt lõi.
Ngoài hai chức năng quan trọng trên, Nhà nước còn có chức năng bảo đảm an
ninh quốc phòng, giữ vững chủ quyền độc lập quốc gia. Phương pháp tiếp cận phân
chia chức năng nêu trên cũng không có sự khác biệt nhiều với cách phân chia trước
đây theo học thuyết của Mác và Lê-Nin là chức năng bảo vệ đất nước và xây dựng
đất nước.
Nhiều học giả cho rằng phát triển an sinh xã hội là một chức năng quan trọng
việc góp phần ổn định xã hội. Vì bản thân kinh tế thị trường vận động theo những
quy luật của nó và tự tạo động lực cho kinh tế tăng trưởng. Sự quản lý của Nhà nước
làm giảm đi những tác động không mong muốn mà kinh tế thị trường mang lại chứ

Nhà nước không thay thế được “bàn tay vô hình”, những quy luật vận động vốn có
của nền kinh tế thị trường. Nhưng bản thân hệ thống an sinh xã hội không tự nó hình
thành và vận động phát triển nếu không có bàn tay của Nhà nước, nếu không có định
hướng ngay từ đầu trong quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường.
Dù đi từ các cách tiếp cận khác nhau nhưng đều đi đến nhận định vai trò quan
trọng của Nhà nước trong việc phát triển hệ thống an sinh xã hội phù hợp với tiến
trình phát triển kinh tế thị trường và đó là một chức năng quan trọng hàng đầu của
Nhà nước.
2. Vai trò của cộng đồng và khu vực tư nhân trong việc phát triển hệ thống
ASXH.
Lịch sử loài người đã cho thấy vai trò quan trọng của cộng đồng trong việc
bảo đảm an toàn cho các thành viên trong xã hội ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt là
trước thời kỳ tư bản chủ nghĩa. Các mô hình an sinh xã hội đầu tiên trên thế giới dựa
vào người thân trong gia đình, dòng họ, cộng đồng làng xã và nhà thờ, nhà chùa.
Ngay cả thời đại hiện nay tại các nước đang phát triển ở phương Đông, việc cung
cấp vật chất cho người già cô đơn, người tàn tật, trẻ mồ côi và những người gặp rủi
ro khác thì người nghèo vẫn phải dựa phần lớn vào người thân trong gia đình, dòng
họ và cộng đồng. Nhà nước cũng có chính sách trợ giúp, song không phải lúc nào
cũng giữ vị trí quan trọng nhất trong việc đảm bảo an toàn về đời sống vật chất cho
các thành viên trong xã hội.
Bước vào thế kỷ XX, thế giới cũng đã chứng kiến khu vực tư nhân tham gia
vào phát triển hệ thống an sinh xã hội, khu vực tư nhân đã đóng vai trò người cung
1


cấp dịch vụ cho một số loại hình như bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tuổi già, bảo hiểm
học sinh, bảo hiểm y tế. Ngoài ra khu vực tư nhân còn tham gia cung cấp các dịch vụ
chăm sóc người già, trẻ em, người tàn tật.
Trong xu hướng xã hội hoá các hoạt động xã hội và xã hội hoá an sinh xã hội
thì Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cộng đồng, hỗ trợ các tổ chức
dân sự, nhà thờ, nhà chùa và khu vực tư nhân cung cấp dịch vụ xã hội cho các thành
viên trong xã hội. kể cả các loại hình bảo hiểm và trợ giúp xã hội.
Ở các nước phát triển còn cung cấp một phần ngân sách cho nhà thờ, nhà
chùa và các tổ chức xã hội dân sự, các tổ chức phi chính phủ tham gia hoạt động
cung cấp các dịch vụ trợ giúp xã hội cho các đối tượng là người già, người tàn tật và
hỗ trợ phát triển các cộng đồng nghèo. Trong tương lai gần mô hình này cũng sẽ
được áp dụng tại Việt Nam, vì đây là một xu hướng phù hợp với quá trình xã hội hoá
các hoạt động trợ giúp xã hội, các hoạt động nhân đạo, từ thiện mà một số văn kiện
của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề cập đến.
3. Khuôn khổ an sinh xã hội( chức năng, thể chế, nguyện tắc)


3.2. Chức năng của an sinh xã hội. có 3 chức năng: Phòng ngừa rủi ro, giảm
thiểu rủi ro, khắc phục rủi ro)
Chức năng cơ bản của hệ thống an sinh xã hội đó là: Một hệ thống an sinh xã
hội tốt phải thực hiện được chức năng cơ bản là quản lý được rủi ro, bảo đảm an toàn
cho các thành viên trong xã hội trước các nguy cơ rủi ro làm suy giảm hoặc mất
nguồn thu nhập.
Bằng các cơ chế, chính sách, giải pháp khác nhau và tham gia của nhiều đối
tác: Nhà nước, gia đình, bản thân đối tượng, cộng đồng, khu vực tư nhân, nhà thờ,
nhà chùa, các tổ chức xã hội dân sự; hệ thống an sinh xã hội phải thực hiện được các
chức năng cơ bản nêu trên, đó mới là một hệ thống an sinh xã hội tốt hay còn gọi là
hệ thống an sinh xã hội hiện đại.
Hệ thống an sinh xã hội còn có chức năng bảo vệ các đối tượng có hoàn cảnh
đặc biệt, thể hiện trên ba chức năng cụ thể như sau:
Phòng ngừa rủi ro: Việc phòng ngừa rủi ro phải được thực hiện từ xa, ngay từ
khi người lao động còn trẻ, còn khoẻ mạnh và việc phòng ngừa rủi ro ấy phải được
thực hiện bằng nhiều chương trình và chính sách khác nhau. Phòng ngừa rủi ro cũng
chính là tạo cơ hội cho các đối tượng tiếp cận nguồn lực hoặc duy trì nguồn lực để
đối phó với các rủi ro.
VD: Tham gia BHXH tích lũy sau này, BHYT bệnh hoạn ốm đau
- Giảm thiểu rủi ro: Khi một bộ phận thành viên trong xã hội không có cơ
hội tham gia vào tầng lưới thứ nhất, họ tiếp tục bị rơi xuống và có nguy cơ mất an
toàn cao hơn. Vì vậy hệ thống an sinh xã hội phải thiết lập tầng lưới thứ hai để bảo
vệ sự an toàn cho các thành viên bị lọt khỏi tầng thứ nhất, tầng lưới thứ hai này sẽ
thực hiện chức năng giảm thiểu rủi ro cho họ thông qua các chính sách trợ giúp, trợ
cấp mang tính ngắn hạn như trợ giúp tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, dạy nghề,
nước sạch và nhà ở, trợ cấp cho người có thu nhập thấp, trợ cấp bảo hiểm thất
nghiệp, trợ cấp cho phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ, …
- Khắc phục rủi ro: Khi một bộ phận thành viên xã hội không có cơ hội tham
gia vào tầng lưới thứ nhất và tầng lưới thứ hai hoặc cũng có thể đã tham gia vào một
2


hoặc cả hai tầng lưới nêu trên song rủi ro quá lớn họ vẫn có thể bị lọt lưới và tiếp tục
bị rơi xuống và họ có nguy cơ bị bần cùng hoá. Với chức năng khắc phục rủi ro, hệ
thống an sinh xã hội phải thiết lập tầng lưới thứ ba, đây cũng là tầng cuối cùng trong
hệ thống để bảo đảm an toàn cho mọi thành viên trong xã hội.
Ba chức năng cụ thể này có mối quan hệ với nhau, việc phân chia ba chức
năng chỉ mang tính chất tương đối, vì bản thân các chức năng và hệ thống các chính
sách nêu trên có sự tác động đan xen lẫn nhau, khó phân định một cách rành mạch
đâu là chính sách nằm ở tầng lưới thứ nhất, đâu là chính sách nằm ở tầng lưới thứ
hai, thứ ba.
Điểm chung của các tầng lưới an sinh xã hội là đều nhằm mục đích bảo vệ
sự an toàn cho các thành viên trong xã hội và nó đều thực hiện chức năng “hứng” khi
các thành viên xã hội bị rơi xuống và “tung” các đối tượng trở lại điểm xuất phát
ban đầu sau một quá trình thực hiện những chức năng cụ thể của từng lưới an sinh.
Tuy vậy với quy luật phát triển không đồng đều và rủi ro là không thể tránh khỏi, vì
vậy trong xã hội luôn có một bộ phận nhỏ không có khả năng “bật” trở lại vị trí ban
đầu và họ phải nằm lại tầng dưới đó cho đến cuối cuộc đời (người tàn tật nặng, người
già cô đơn không còn khả năng, không có nguồn thu nhập).
Cũng có ý kiến cho rằng an sinh xã hội có chức năng tái phân phối của cải xã
hội, thông qua các chính sách bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội, điều này sẽ góp
phần giảm bớt sự phân hoá giàu nghèo, sự phân tầng xã hội.
3.3. Thể chế của an sinh xã hội.( có 3 thể chế)
An sinh xã hội có bốn hợp phần cơ bản và các hợp phần nêu trên có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau và đều có ba thể chế quan trọng chi phối, đó là thể chế về chính
sách, thể chế về tài chính, thể chế về bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp. Tuỳ
theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia mà các thể chế trên phát
triển và hoàn thiện ở mức độ khác nhau.

Thể chế chính sách.
Thể chế chính sách là trụ cột đầu tiên của các chính sách an sinh xã hội; nội
dung cơ bản của thể chế này là xác định đối tượng tham gia, đối tượng điều chỉnh
với những tiêu chí, điều kiện cụ thể và cơ chế xác định đối tượng theo một quy trình
thống nhất; xác định các chính sách, các chế độ hưởng và những điều kiện ràng
buộc.
Thể chế chính sách là một trong ba nhóm thể chế quan trọng, thể chế này
được hình thành và xuất phát từ nhu cầu thực tế của các thành viên trong xã hội cần
được bảo vệ trước các nguy cơ bị rủi ro mà họ không tự bảo vệ được.
Các chính sách được hình thành từng bước, không phải ngay một lúc bao phủ
được tất cả các thành viên trong xã hội đều có cơ hội ngang nhau trong việc tham gia
các chính sách an sinh xã hội. Việc tham gia vào các chính sách an sinh xã hội còn là
quyền lợi của các thành viên trong xã hội. Điều này thể hiện phương pháp tiếp cận
dựa vào quyền con người trong việc xây dựng và phát triển các chính sách an sinh xã
hội như quyền tham gia các loại hình bảo hiểm, quyền được sử dụng sự trợ giúp từ
cộng đồng cho dù sự trợ giúp đó có hay không có điều kiện ràng buộc.

Thể chế tài chính.
3


Thể chế tài chính là trụ cột quan trọng của các chính sách an sinh xã hội. Nội
dung cơ bản của thể chế này là cần xác định cơ chế tạo nguồn tài chính phù hợp cho
từng loại chính sách, từng nhóm đối tượng (đóng góp của những người tham gia, của
người sử dụng lao động, của Nhà nước). Tiếp đến là cơ chế thu và chi, sao cho thu
cân đối với chi và bảo đảm thu chi tương đương và bảo đảm chất lượng cung cấp
dịch vụ.
Theo cơ chế hiện hành của Việt Nam, thể chế tài chính của an sinh xã hội chia
làm hai nhóm chính: Một là những người tham gia vào các chính sách trợ giúp
không bắt buộc phải đóng góp về tài chính nhưng vẫn được trợ giúp như trợ cấp xẫ
hội, bảo hiểm y tế cho người nghèo hoặc không phải đóng góp về công sức, xương
máu cho tổ quốc trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc mới
được hưởng trợ cấp đặc biệt như thương binh, bệnh binh và những người có công
với nước; hai là những người tham gia các loại hình bảo hiểm phải có sự đóng góp
nhất định về tài chính mới được hưởng chế độ như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
bảo hiểm thất nghiệp.
* Thể chế bộ máy và đội ngũ cán bộ: .................
=>Tuy ba loại thể chế này vận hành theo cơ chế riêng, quy định riêng nhưng
lại có mối quan hệ gắn bó với nhau bảo đảm tính bền vững của hệ thống an sinh xã
hội. Thậm chí cùng một loại thể chế nhưng cơ chế hoạt động, cách thức vận hành
cũng khác nhau đặc biệt là về thể chế tài chính. Có thể chế tài chính vận hành theo
cơ chế đóng góp có hưởng, mức hưởng phụ thuộc vào mức đóng; nhưng cũng có
dạng thể chế có hưởng nhưng không có đóng góp, mức hưởng không phụ thuộc vào
mức đóng góp mà chỉ phụ thuộc vào thu nhập, nhu cầu cần được bảo vệ như trợ giúp
xã hội, trợ cấp tuổi già, ...
Trong ba thể chế nêu trên, thể chế nào cũng quan trọng và có mối quan hệ
biện chứng với nhau, phụ thuộc lẫn nhau và chi phối nhau, tạo cho nhau sự phát triển
bền vững và ổn định. Trong đó thể chế tài chính được coi là quan trọng nhất để đảm
bảo tính bền vững của hệ thống an sinh xã hội.
3.4. Các nguyên tắc cơ bản của an sinh xã hội.( có 5 nguyên tắc)
Sự phát triển của hệ thống an sinh xã hội phải hướng tới sự ổn định xã hội,
thông qua sự ổn định xã hội để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong xã hội
luôn tồn tại một bộ phận thành viên rơi vào hoàn cảnh “rủi ro” bị suy giảm hoặc
không còn khả năng về kinh tế để tự đảm bảo cuộc sống. Nhà nước, cộng đồng và
gia đình cũng như từng thành viên trong xã hội phải chia sẻ trách nhiệm với họ. Xã
hội phát triển phải là một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh, một xã hội vì hạnh
phúc của con người, lấy con người làm mục tiêu, là động lực cho sự phát triển.
Để đảm bảo được các định hướng đó thì việc phát triển an sinh xã hội phải
đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:

Nguyên tắc thứ nhất: Hướng tới bao phủ mọi thành viên xã hội để
bảo vệ an toàn cuộc sống cho họ khi có những biến cố rủi ro xảy ra làm suy giảm về
kinh tế hoặc làm mất khả năng bảo đảm về kinh tế.

Nguyên tắc thứ hai: Bất cứ một chính sách an sinh xã hội nào hay một
hợp phần nào của hệ thống an sinh xã hội cũng phải đảm bảo tính bền vững về tài
chính (nguồn thu / nguồn hình thành và chi). Vì vậy phải thiết lập hệ thống thể chế
4


về tài chính cho phù hợp và thực hiện cơ chế chia sẻ trách nhiệm xã hội lấy số đông
bù số ít.

Nguyên tắc thứ ba: Phải đảm bảo ổn định về mặt thể chế tổ chức. Sự
ổn định về thể chế tổ chức cho phép hệ thống an sinh xã hoạt động lien tục không
gián đoạn, mặt khác cấu trúc của tổ chức phải hợp lý để bảo đảm khả năng quản lý
đối tượng tham gia, thực hiện các nghiệp vụ của hệ thống với chi phí hữu ích nhất.
Cấu trúc hợp lý của tổ chức còn phải bảo đảm khả năng theo dõi, đánh giá quá trình
thực hiện của hệ thống một cách trung thực, khách quan làm cơ sở cho việc hoàn
thiện hệ thống thể chế về chính sách, tài chính và tổ chức thực hiện.

Nguyên tắc thứ tư: Nhà nước phải là người bảo trợ cho hệ thống an
sinh xã hội hoạt động hiệu quả và đúng pháp luật. Bên cạnh việc thực hiện vai trò
quản lý của Nhà nước đối với hệ thống an sinh xã hội, Nhà nước giữ vai trò người
thực hiện, người bảo trợ khi hệ thống an sinh xã hội gặp rủi ro về tài chính.

Nguyên tắc thứ năm: Tạo cơ chế, môi trường và khuyến khích các cá
nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng, các tổ chức xã hội dân sự, các tổ chức phi chính
phủ, khu vực tư nhân tham gia vào các hoạt động trợ giúp xã hội trên tinh thần chia
sẻ trách nhiệm xã hội và tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ bảo hiểm tuổi già,
bảo hiểm y tế một cách bình đẳng cùng có lợi.

PHẦN II: ASXH 2 (TRỢ GIÚP XÃ HỘI)
2. Nguyên tắc trong hoạt động TGXH
* Phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp phương châm “thế kiềng 3 chân”
Giúp đối tượng vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng
xã hội là mục tiêu của cứu trợ xã hội, muốn đạt được mục tiêu trên điều kiện Việt
Nam vẫn còn là nước nghèo, nền kinh tế còn nhiều khó khăn, thiên tai đe dọa, các
vấn đề xã hội diễn biến phức tạp đối tượng công tác xã hội ngày càng tăng về số
lượng và phức tạp về tính chất. Đòi hỏi hoạt động công tác xã hội phải phát huy cao
độ sức mạnh (nhân lực, vật lực, tài lực) của nhà nước, của các tổ chức, đoàn thể
trong và ngoài nước, của cộng đồng dân cư… và sự tự vươn lên của đối tượng.
Ở các vị trí khác nhau các chủ thể phát huy tối đa sức mạnh của mình tạo
thành tổng lực vững chắc, sự suy yếu ở một chủ thể nào đó sẽ tạo sự chông chênh
đưa đến sụp đổ không còn khả năng giải quyết vấn đề. Chính vì thế hoạt động cứu
trợ xã hội xem việc phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của Nhà nước - Cộng đồng
xã hội - Sự vươn lên của đối tượng là phương thức cơ bản.
- Trách nhiệm của nhà nước:
Chính quyền từ trung ương đến địa phương có trách nhiệm đảm bảo bằng cơ
chế chính sách, chế độ cho đối tượng phù hợp với thực tiễn.
+ Để thực hiện hổ trợ cho đối tượng nhà nước đã giành một khoảng ngân sách
nhất định đấy là nguồn tài lực quan trọng để duy trì hoạt động cứu trợ xã hội. Nguồn
này để chi cho các hoạt động, các cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng cứu trợ
thường xuyên, chữa bệnh, hướng nghiệp cho các đối tượng là người tàn tật, giải
quyết hậu của của tệ nạn xã hội. Nhà nước cũng dành một quỹ dự phòng để cứu trợ
đột xuất cho những vùng gặp thiên tai, các gia đình gặp rủi ro bất ngờ.
5


Ngoài việc chi ngân sách Nhà nước còn phải thực hiện các chức năng nhiệm
vụ sau đây:
+ Ban hành các chính sách, chế độ về cứu trợ xã hội.
+ Quản lý chỉ đạo, điều hành chung các hoạt động cứu trợ xã hội
+ Thông tin tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng tăng
cường giáo dục truyền thống đạo đức, trách nhiệm xã hội.
+ Quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực cứu trợ xã hội.
+ Tổ chức bộ máy nhà nước trong hoạt động cứu trợ xã hội.
- Trách nhiệm của cộng đồng xã hội:
Nêu cao trách nhiệm xã hội của cả cộng đồng, nêu cao truyền thống đạo lý
dân tộc, khai thác có hiệu quả nguồn lực nhân dân, từ các tổ chức đoàn thể, hiệp hội,
tổ chức kinh tế xã hội và tổ chức từ thiện.
Đây là tiềm năng rất lớn, nhân dân ta vốn giàu lòng nhân ái, sống có đạo lý,
ngày càng có nhiều hoạt động cứu trợ xã hội với sự tham gia rộng rãi của nhân dân,
của các tổ chức, đoàn thể hiệp hội …
- Trách nhiệm của đối tượng:
Cứu trợ xã hội ngoài sự cứu tế, trợ giúp, còn cần phát huy sự nỗ lực vươn lên
của chính đối tượng bằng tiềm năng và ý chí để vượt qua khó khăn hòa nhập với
cộng đồng.
Sự tự vươn lên của đối tượng thật sự phát huy khi đối tượng nhận ra vấn đề
của chính mình hiểu rõ tác hại của vấn đề, những tiềm năng cũng như những hạn chế
của bản thân đồng thời xác định niềm tin, nhu cầu để giải quyết vấn đề.
Để phát huy sự vươn lên của đối tượng hội đồng cứu trợ xã hội phải tạo điều
kiện giúp đối tượng nhận ra vấn đề, hỗ trợ nhằm đáp ứng nhu cầu để đối tượng tự
giải quyết vấn đề của chính mình. Việc nghĩ thay và là thay đối tượng sẽ triệt tiêu
sức mạnh này.

II. CỨU TRỢ XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN
Đối tượng của cứu trợ xã hội thường xuyên là những người vì những nguyên
nhân khác nhau không thể tự bảo đảm được cuộc sống bản thân, nếu không được trợ
cấp thường xuyên có thể nguy cơ đến tính mạng.
* Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo NĐ 136/NĐ-CP. Ngày 21
tháng 10 năm 2013.
1. Trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường
hợp quy định sau đây:
a) Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;
b) Mồ côi cả cha và mẹ;
c) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại mất tích theo quy định của pháp luật;
d) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng
tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;
đ) Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù
tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo
dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
e) Cả cha và mẹ mất tích theo quy định của pháp luật;
g) Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội,
nhà xã hội;
6


h) Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang
chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt
buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
i) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng
chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội;
k) Cha hoặc mẹ mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong
thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm
hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
1) Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội,
nhà xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc
đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục
bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

* Khái niệm trẻ em
Trẻ em những mầm non, những chủ nhân tương lai của đất nước đang là mối
quan tâm không chỉ của một quốc gia nào mà còn là mối quan tâm của toàn nhân
loại.
Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định: “Trẻ em có nghĩa là người
dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em đã có quy định tuổi vị
thành niên sớm hơn”
Theo luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt nam: Trẻ em được hiểu là
công dân Việt Nam dưới 16 tuổi.
Bộ luật tố tụng hình sự lại dùng khái niệm “Người chưa thành niên” được
hiểu là người đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Từ những khái niệm đã nêu, trên phương diện pháp lý có thể thống nhất khái
niệm trẻ em theo pháp luật Việt nam: Trẻ em là người chưa thành niên dưới 16 tuổi.
Trẻ em là những người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, trẻ cần
được chăm sóc bảo vệ và giáo dục để trở thành những công dân tốt, những người chủ
tương lai của đất nước. Việc bảo vệ giáo dục và chăm sóc trẻ em đã được Đảng và
Nhà nước coi là mối quan tâm hàng đầu và được xác định, ghi vào luật mà toàn xã
hội phải có trách nhiệm thực hiện.
Trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt:
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: Là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về
thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập
với gia đình, cộng đồng (Khoản 1, Điều 3, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em);
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt gồm: Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ
em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học; trẻ em
nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải lao động nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc
hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục;
trẻ em nghiện ma túy; trẻ em vi phạm pháp luật.
* Đặc điểm của trẻ mồ côi
- Khó khăn về đời sống vật chất trẻ có cảm giác thua thiệt từ đó tiêu cực, tự ti,
mặc cảm mất động cơ học tập, rèn luyện phấn đấu.
- Vắng thiếu đi mối quan hệ tình yêu thương, trẻ mất môi trường xã hội hoá
cá nhân.
7


- Trẻ cần được nâng đỡ khi các em gặp khó khăn, trẻ mồ côi đời sống tình
cảm bị xáo trộn, nghi hoặc, bất cần. Điều này giải thích hiện tượng trẻ mồ côi phạm
pháp.
- Khi có sự quan tâm, tin yêu các trẻ mồ côi có tình cảm sâu nặng với người
đó.
Trẻ em mồ côi là một trong những nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn cần được quan tâm vì các em đã mất nguồn che chở, chăm sóc nuôi dưỡng của
gia đình.
Để các em có điều kiện phát triển cần tìm và mang đến cho các em những mái
ấm tình thương giúp các em vươn lên hoà nhập cộng đồng.
3.2. Cứu trợ xã hội đối với Người cao tuổi.
* Khái niệm
Ở mỗi người có cảm nhận khác nhau về tuổi già, bởi vì sự lão hóa rất khác
nhau giữa các cá nhân. Ở mỗi quốc gia người ta cũng xác định tuổi già khác nhau vì
không có một đường phân định tuyệt đối rõ ràng cho tuổi già có người ở tuổi 70 vẫn
còn khỏe mạnh những có người ở tuổi 50 đã tỏ ra già yếu.
Đối với Việt Nam “Người cao tuổi là công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở
lên.”(Luật NCT, 28/4/2000)
* Khái niệm NCT cô đơn
Người cao tuổi cơ đơn là người từ 60 tuổi trở lên (nữ từ 55 tuổi trở lên hiện
đang hưởng trợ cấp xã hội) sống độc thân hoặc còn vợ, chồng nhưng già yếu, không
có con cháu, người thân thích trông nom, không có nguồn thu nhập nào.
Người cao tuổi cơ đơn là người từ 60 tuổi trở lên tuy còn vợ chồng nhưng già
yếu, không có con đẻ, con nuôi hợp pháp, cháu ruột thịt và người thân thích nương
tựa, không có nguồn thu nhập. Nếu có người thân thích, con cháu mà họ <16 tuổi
hoặc >60 tuổi; đang chấp hành án tù; tàn tật nặng.
Các đặc điểm và các nhu cầu cần đáp ứng cho người cao tuổi cô đơn:
- Các đặc điểm người cao tuổi cô đơn:
+ Chức năng tâm sinh lý thay đổi do lão hoá;
+ Lao động và thu nhập suy giảm hoặc không còn khả năng lao động làm
giảm đáng kể thu nhập.
+ Phạm vi và mức độ quan hệ xã hội bị giảm sút.
Với những thay đổi bất lợi trên người cao tuổi gặp nhiều khó khăn trong cuộc
sống đặc biệt là người cao tuổi cô đơn, khó khăn trong sinh hoạt, ăn uống, trong các
mối quan hệ khác, nếu không có biện pháp giúp đỡ người cao tuổi dễ rơi vào nổi cô
đơn trong tuyệt vọng.
- Các nhu cầu cần đáp ứng:
Vì những thay đổi bất lợi trên cho nên cần phải đáp ứng các nhu cầu sau đây
cho người cao tuổi cô đơn:
+ Chế độ ăn, ở phù hợp thuận tiện.
Ví dụ: người cao tuổi mắt kém cần có kính lão, để họ có thể tự túc hoạt động
không cần phải được dẫn dắt. Người cao tuổi vận động và yếu sức không nên ở nhà
tầng cao, vì phải leo cầu thang nhiều dễ ngã.
+ An toàn cho cuộc sống.
8


Nhu cầu này nổi bật ở người cao tuổi là họ đang sống trong giai đoạn cuối của
cuộc đời, giai đoạn của sự thoái hóa tự nhiên của con người. Sự thoái hóa này không
những chỉ ảnh hưởng thể chất mà cả về mặt tâm lý. Vì vậy, đối với người tuổi việc
chăm sóc sức khỏe là vô cùng cần thiết, từ chế độ ăn uống sinh hoạt, khám chữa
bệnh, tạo điều kiện cho người cao tuổi sống ở môi trường lành mạnh, ít căng thẳng.
+ Được tôn trọng, chấp nhận của người khác.
Dù không còn trực tiếp hoạt động đóng góp cho xã hội, nhưng người cao tuổi
vẫn cần có sự công nhận của xã hội, của gia đình về kinh nghiệm quá khứ của họ, về
khả năng và tính tự lập, rằng họ không phải những người thừa, vô ích mà ngược lại
họ vẫn còn quan trọng đối với xã hội, nhất là đối với những người thân.
+ Cần mối quan hệ mật thiết với người thân,
Nếu thiếu những mối quan hệ và tình cảm của những người thân như với con
cháu, vợ chồng, hoặc bạn bè, người cao tuổi dễ nảy sinh cảm giác cô đơn và đôi khi
có thể tăng thêm quá trình lão hóa.
3.3. Cứu trợ xã hội thường xuyên đối với NKT
* Khái niệm
Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc
chức năng biểu hiện dưới những dạng khác nhau (không phân biệt nguồn gốc gây ra
tàn tật) làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến chọ lao động, sinh hoạt, học tập gặp
nhiều khó khăn.
Khái niệm người khuyết tật nặng
Người khuyết tật nặng thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội phải có đủ 3 điều kiện:
+ Không có khả năng lao động.
+ Không có nguồn thu nhập để đảm bảo cuộc sống. Trong trường hợp có thu
nhập nhưng vẫn thuộc diện hộ nghèo theo chuẩn mực của Bộ LĐTBXH công bố áp
dụng cho từng thời kỳ.
+ Không còn người thân thích để nuôi dưỡng như cha, mẹ đẻ; cha, mẹ nuôi
hợp pháp; vợ chồng; con đẻ, con nuôi hợp pháp. Trong trường hợp người tàn tật có
đủ 2 điều kiện trên (không có khả năng lao động, không có nguồn thu nhập để đảm
bảo cuộc sống) nhưng còn người thân thích dưới 16 tuổi hoặc từ 60 tuổi trở lên, gia
đình thuộc diện nghèo cũng được xem xét hưởng chế độ trợ câp xã hội.
Đặc điểm và nhu cầu của người tàn tật
- Sự thiếu hụt thể chất dẫn tới khả năng hoạt động chức năng của người
khuyết tật có thể bị giảm sút, vì vậy họ gặp nhiều khó khăn trở ngại trong sinh hoạt,
trong lao động và học tập.
- Cơ chế bù trừ chức năng của các cơ quan cảm giác ở người khuyết tật được
thể hiện rõ nét. Khi họ mất đi khả năng hoạt động của các cơ quan cảm giác nào đó
thì ở họ khả năng hoạt động của các cơ quan còn lại rất phát triển và sự nhận biết thế
giới xung quanh được thực hiện chủ yếu thông qua các giác quan còn lại này. Ví dụ
như ở người mù do mất đi khả năng thị giác, nên độ nhạy của cơ quan thính giác,
xúc giác phát triển.
- Do mất hay giảm khả năng hoạt động một trong số các cơ quan tiếp nhận
thông tin cần thiết cho hoạt động nhân thức, nên phần lớn ở những người có khuyết
tật giác quan, tật thần kinh hoạt động tư duy có phần bị giảm sút về tốc độ do khối
9


lượng thông tin cần tiếp thu bị hạn chế (nhưng ở người tật vận động thì vẫn bình
thường).
- Do bị bệnh tật, khó khăn đi lại hoạc giao tiếp nên hoạt động lao động, hoạt
động giao lưu dễ bị hạn chế hơn so với người bình thường, nếu không có hộ trợ xã
hội thì phạm vi quan hệ xã hội ở người khuyết tật sẽ bị thu hẹp.
- Họ cần được học văn hóa, học nghề phù hợp với dạng tật. Các công việc thủ
công đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên nhẫn có thể phù hợp với họ. Việc làm vừa đem lại cho họ
niềm vui trong lao động, vừa giúp họ có thu nhập, điều này giáp họ giảm bớt tâm lý
bị bỏ đi.
- Môi trường cộng đồng và gia đình cũng cần phải giải thích ứng với hoàn
cảnh của người khuyết tật, ví dụ như trong gia đình, tại trường học, các khu công
cộng cần được thiết kế các phương tiện, tiện nghi sinh hoạt phù hợp với đặc điểm,
nhu cầu của người khuyết tật.
- Do sự thiếu hụt dẫn đến những cản trở trong sinh hoạt, lao động trên nên
người khuyết tật thường bị ức chế dẫn tới bi quan, chán nản tự ti, hay cáu gắt, nóng
nảy. Ngay cả khi này, họ cũng cần được chấp nhận, cần được tôn trọng. Cộng đồng
và xã hội cần giáo dục mọi người tránh những cử chỉ, hành vi miệt thị, xa lánh, cần
loại bỏ những tên gọi theo dị tật của họ như “thằng què”, “con cụt” …
- Mặt khác họ cũng là trong số những người có đời sống nội tâm rất nhạy cảm
và tế nhị, họ rất thông cảm với những khó khăn của người khác hơn cả so với người
bình thường.
3.5. Mức trợ cấp xã hội thường xuyên NĐ136/NĐ – CP, ngày 21 tháng 10 năm
2013.

Cách tính mức trợ cấp xă hội hàng tháng
Mức trợ cấp xã hội
hàng tháng

=

Mức chuẩn trợ cấp xã hội
270.000đ (Hệ số 1)

x

Hệ số tương ứng

III. CỨU TRỢ XÃ HỘI ĐỘT XUẤT
1. Khái niệm CTĐX
CTĐX là một bộ phận hợp thành chính sách CTXH, bao gồm các chính sách
chế độ, biện pháp nhằm cứu giúp những thành viên trong cộng đồng mỗi khi gặp rủi
ro bất hạnh trong cuộc sống, để họ có thêm điều kiện vượt qua khó khăn sớm ổn
định đời sống, sản xuất.
CTĐX là sự trợ giúp về vật chất, tinh thần của nhà nước, các tổ chức đoàn
thể, cộng đồng xã hội cho các đối tượng gặp rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống để họ
có điều kiện vượt qua khó khăn ổn định cuộc sống.
2. Đối tượng CTĐX
Đối tượng của cứu trợ đột xuất là những người có khả năng lao động hoặc
không có khả năng lao động, có thu nhập hoặc không có thu nhập, vì những lý do
khác nhau mà gặp phải hoạn nạn, khó khăn tạm thời. Nếu họ nhận được sự giúp đỡ
kịp thời họ có thể nhanh chóng vượt qua được sự hụt hẫng, ổn định được cuộc sống,
nhanh chóng hoà nhập cộng đồng.
10


Đối tượng được cứu trợ đột xuất là những người hoặc hộ gia đình khó khăn
do hậu qủa thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng khác bao gồm:
* Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo NĐ 136/NĐ-CP, ngày 21
tháng 10 năm 2013.

IV. NGHÈO ĐÓI
1. Nguyên nhân nghèo đói
Đói nghèo là vấn đề kinh tế – xã hội, nó vừa là hậu quả do lịch sử để lại như
hậu quả của các cuộc chiến tranh, chế độ thực dân… vừa hệ quả của phát triển, như
sự phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo.
Nguyên nhân đói nghèo rất đa dạng, có những nguyên nhân độc lập, nhưng
cũng có những đan xen, quan hệ nhân quả với nhau. Ở nước ta, nghèo đói do 3
nguyên nhân chủ yếu sau:
1.1. Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội
- Việt Nam ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, tiếp giáp biển Đông, là quốc gia
gồm 1 trong 5 ổ bão trên thế giới, cho nên hàng năm có hàng chục cơn bão trong đó
có 2-3 cơn bão mạnh, lũ lụt, hạn hán, thời tiết thay đổi… gây thiệt hại nặng nề về
người, tài sản, hoa màu, cơ sở hạ tầng.
- Mặt khác Việt Nam có ¾ diện tích là đồi núi; Đất đai cằn côi diện tích canh
tác thấp; Địa dư rộng, địa hình phức tạp, xa xôi hẻo lánh, giao thông đi lại không
thuận tiện, quan hệ thị trường chưa phát triển, cơ sở hạ tầng yếu kém, Thời tiết khí
hậu khắc nghiệt thường bị thiên tai bão lụt, sâu bệnh, hạn hán mất mùa…
- Trình độ dân trí thấp, nhiều phong tục tập quán lạc hậu, tệ nạn xã hội phát
triển, tỉ lệ tăng dân số còn cao.
- Do sự cách biệt, cô lập với tình hình phát triển chung như đường giao thông,
phương tiện thông tin tiến bộ, khoa học kỹ thuật, phúc lợi xã hội, không nói được
ngôn ngữ chung của đất nước…
1.2. Nhóm nguyên nhân do cơ chế chính sách
Trải qua thời gian dài trong cơ chế bao cấp đã kềm hãm sự phát triển kinh tế;
vì vậy, việc xoá bỏ cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường là đúng đắn, kịp
thời. Song cơ chế mới, nhiều chính sách về kinh tế xã hội còn thiếu, chưa đồng bộ,
trong đó chính sách đầu tư phát triển đặc biệt là đầu tư phát triển nông nghiệp – nông
thôn; Các chính sách ưu đãi, khuyến khích, sản xuất, tạo việc làm, y tế, văn hoá, giáo
dục; Chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng chưa thỏa đáng, nhất là ỏ các vùng núi, vùng
cao, vùng sâu…
1.3. Do bản thân người nghèo
Ngoài những tác động trên vấn đề nghèo đói còn do yếu tố chủ quan của
người nghèo.
- Thiếu kiến thức
- Thiếu vốn
- Đông con, thiếu lao động
- Thiếu đất
- Thất nghiệp
- Rủi ro, ốm đau, tai nạn
- Lười lao động
11


- Vướng vào tệ nạn xã hội.
Các nguyên nhân trên tác động qua lại lẫn nhau làm cho tình trạng nghèo đói
trong từng vùng thêm trầm trọng, gay gắt…

IV. NỘI DUNG CÁC CHẾ ĐỘ ƯĐXH (Tính theo NĐ 20/2015 NĐ – CP
ngày 14/02/2015 của Chính phủ)
1. Liệt sĩ
- Tiêu chuẩn xác nhận (NĐ 31/NĐ – CP, ngày 9/4/2013)
Điều 17. Điều kiện xác nhận liệt sĩ
1. Người hy sinh thuộc một trong các trường hợp sau được xem xét xác nhận là liệt sĩ:
a) Chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia;
b) Trực tiếp phục vụ chiến đấu trong khi địch bắn phá: Tải đạn, cứu thương, tải thương, đảm
bảo thông tin liên lạc, cứu chữa kho hàng, bảo vệ hàng hóa và các trường hợp đảm bảo
chiến đấu;
c) Làm nghĩa vụ quốc tế mà bị chết trong khi thực hiện nhiệm vụ hoặc bị thương, bị bệnh
phải đưa về nước điều trị và chết trong khi đang điều trị.
Trường hợp bị chết trong khi học tập, tham quan, du lịch, an dưỡng, chữa bệnh, thăm viếng
hữu nghị; làm việc theo hợp đồng kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, lao động thì
không thuộc diện xem xét xác nhận là liệt sĩ;
d) Trực tiếp tham gia đấu tranh chống lại hoặc ngăn chặn các hành vi nguy hiểm cho xã hội
thuộc các tội được quy định trong Bộ luật Hình sự;
đ) Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng và an ninh;
e) Dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân;
g) Do ốm đau, tai nạn trong khi đang làm nhiệm vụ quốc phòng và an ninh ở địa bàn có
điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật;
h) Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm
quyền giao;
i) Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh bị chết do vết thương tái phát
(không áp dụng đối với thương binh loại B) trong các trường hợp sau:
Suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên chết do vết thương tái phát có xác nhận của cơ
sở y tế.
Suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80% chết trong khi đang điều trị vết thương tái
phát tại bệnh viện cấp huyện hoặc tương đương trở lên;
k) Mất tin, mất tích quy định tại Điểm 1 Khoản 1 Điều 11 của Pháp lệnh sau khi cơ quan có
thẩm quyền kết luận chưa có chứng cứ phản bội, đầu hàng, chiêu hồi, đào ngũ;

12


l) Trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh
có tính chất nguy hiểm: Bắn đạn thật, sử dụng thuốc nổ; huấn luyện, diễn tập chiến đấu của
không quân, hải quân, cảnh sát biển và đặc công; chữa cháy; chống khủng bố, bạo loạn; giải
thoát con tin; cứu hộ, cứu nạn, ứng cứu thảm họa thiên tai.

- Chế độ ưu đãi (NĐ 20/NĐ – CP, ngày 14/02/2015)
3. Thương binh
- Tiêu chuẩn xác nhận (NĐ 31/NĐ – CP, ngày 9/4/2013)
1. Người bị thương thuộc một trong các trường hợp sau được xem xét xác nhận là thương
binh, người hưởng chính sách như thương binh (sau đây gọi chung là thương binh):
a) Chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia;
b) Trực tiếp phục vụ chiến đấu trong khi địch bắn phá: Tải đạn, cứu thương, tải thương, đảm
bảo thông tin liên lạc, cứu chữa kho hàng, bảo vệ hàng hóa và các trường hợp đảm bảo
chiến đấu;
c) Hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn không khuất
phục, kiên quyết đấu tranh, để lại thương tích thực thể;
d) Làm nghĩa vụ quốc tế mà bị thương trong khi thực hiện nhiệm vụ.
Trường hợp bị thương trong khi học tập, tham quan, du lịch, an dưỡng, chữa bệnh, thăm
viếng hữu nghị; làm việc theo hợp đồng kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, lao
động thì không thuộc diện xem xét xác nhận là thương binh;
đ) Trực tiếp tham gia đấu tranh chống lại hoặc ngăn chặn các hành vi gây nguy hiểm cho xã
hội thuộc các tội được quy định trong Bộ luật Hình sự;
e) Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng
cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân;
g) Trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh
có tính chất nguy hiểm: Bắn đạn thật, sử dụng thuốc nổ; huấn luyện, diễn tập chiến đấu của
không quân, hải quân, cảnh sát biển và đặc công; chữa cháy; chống khủng bố, bạo loạn; giải
thoát con tin; cứu hộ, cứu nạn, ứng cứu thảm họa thiên tai;
h) Làm nhiệm vụ quốc phòng và an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn theo quy định của pháp luật;
i) Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm
quyền giao.

- Chế độ ưu đãi (NĐ 20/NĐ – CP, ngày 14/02/2015)

V- XÃ, PHƯỜNG LÀM TỐT CÔNG TÁC NCC VỚI CM: Có 6 tiêu
chuẩn
Từ thực tiễn ở nước ta trong 50 năm qua tổng kết thành 6 tiêu chuẩn:
13


- Cấp ủy, chính quyền quan tâm lãnh đạo: Xác định rõ mục tiêu, nội dung,
công việc cần làm phân công rõ trách nhiệm thực hiện.
- Thực hiện đầy đủ các chính sách, chế độ của NN
- Phối hợp chặt chẽ các ngành, đoàn thể, các tổ chức kinh tế – chính trị – xã
hội thường xuyên các chương trình hành động
- Cán bộ làm công tác, TBLS phải có đủ phẩm chất và năng lực tham mưu
cho cấp ủy, chính quyền về công tác NCC.
- Phát hiện kịp thời những sai sót và không để ra tiêu cực trong thực hiện
CSƯĐ.
- Phải bảo đảm gia đình NCC có mức sống từ trung bình trở lên so với mức
sống của nhân dân cùng xã, phường.
Để duy trì mô hình xã, phường làm tốt công tác NCC vấn đề then chốt là sự
quan tâm thường xuyên của cấp ủy chính quyền, cán bộ chính sách được đào tạo
chuyên môn có năng lực và tâm huyết, hết lòng vì công việc….

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×