Tải bản đầy đủ

GIAO TRINH kỹ NANG SONG

NHẬN THỨC BẢN THÂN
------------------1. Thế nào là tự nhận thức bản thân?
2. Làm thế nào để tự nhận thức bản thân?
3. Nhận thức bản thân có ý nghĩa quan trọng nào?
I. Khái niệm – Tầm quan trọng của nhận thức bản thân:
1. Khái niệm:
Nhận thức bản thân là khả năng tự đánh giá đúng về bản thân mình.
“Nhận thức về bản thân của một người là cơ sở nền tảng
nhân cách của người đó. Nó ảnh hưởng đến mọi phương diện
đời sống của con người. Bao gồm khả năng học hỏi, khả năng
trưởng thành và thay đổi, khả năng xử lý các công việc trong
cuộc sống, sự nghiệp và bạn đời. Sẽ không quá đáng khi nói
rằng, nhận thức đúng về bản thân là sự chuẩn bị khả dĩ và tốt
nhất cho những thành công trong cuộc sống ở tương lai”. ( TS.
Joyce Brothers).
Nói một cách khác, nhận thức về bản thân bao gồm sự nhìn nhận về
bản thân từ tiềm năng, giá trị, quan điểm, tính khí, nhu cầu, tình cảm, sở thích,
thói quen, ước vọng, cảm xúc, sơ hãi, điểm mạnh, điểm yếu cũng như vị trí
của mình trong cuộc sống xã hội để biết nâng cao lòng tự trọng của mình
(không làm tổn thương người khác và của chính mình).
2. Tầm quan trọng của nhận thức bản thân:

Nhận thức về bản thân tốt sẽ giúp cho ta nhận biết một cách chính
xác về cảm xúc của mình ngay từ khi nó xảy ra và hiểu mình có
khuynh hướng làm gì trong tình huống đó.
- Nhận thức về bản thân giúp ta tự nhận biết được những căng thẵng
hay tình trạng bị áp lực chuẩn bị xảy ra để ứng phó kịp thời những tình huống
không tốt xảy ra trong cuộc sống.
- Càng hiểu rõ bản thân, mỗi cá nhân càng có thể kiểm soát và lựa
chọn hành vi muốn biểu hiện.
Nhận thức về bản thân là một tiền đề quan trọng để truyền về giao
tiếp có hiệu quả cũng như để thấu cảm với người khác.
- Nhận thức đúng về ưu và khuyết điểm của bản thân là hết sức cần
thiết trong quan hệ giao tiếp với người khác, thúc đẩy lòng tự trọng và sự tự
tin của chúng ta.
- Điều này sẽ giúp chúng ta thông cảm với người khác.
- Chỉ có trao đổi trong một không khí thân thiện, cởi mở, chấp nhận và
lắng nghe thì sẽ xây dựng được mối quan hệ tốt.
Nhận biết bản thân sẽ đạt được sự tự tin cần thiết, tạo nên một bầu
nhiệt huyết bên trong để ta vững bước vào đời, đủ khả năng đáp
ứng với thử thách.
Nhận thức bản thân đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với những
thành quả hoạt động của cá nhân. Khi chúng ta biết tự nhận thức,
nhiều khả năng chúng ta theo đuổi đúng cơ hội hơn, chúng ta biết
vận dụng thế mạnh của mình vào công việc. Điều quan trọng nhất
1


là Không để cho cảm xúc ngăn trở mình trong thực hiện công
việc.
Càng hiểu rõ mặt tốt đẹp và hạn chế bao nhiêu thì chúng ta càng
phát huy toàn bộ tiềm năng của mình tốt bấy nhiêu.
3. Sự cần thiết của kỹ năng nhận thức bản thân:
Nhận thức bản thân là kỹ năng cơ bản; một khi đã có nó, chúng ta sẽ
vận dụng những kỹ năng trí tuệ cảm xúc khác dễ dàng hơn nhiều.
Kỹ năng nhận thức bản thân cần thiết vì:
Nó giúp chúng ta ứng xử, hành động phù hợp với điều kiện, hoàn
cảnh của mình.
Nhận ra điểm mạnh của bản thân để phát huy, điểm yếu để khắc
phục.
Biết rõ bản thân mình muốn gì, có những năng lực gì, gặp những
khó khăn – thách thức nào để có thể đặt mục tiêu cuộc sống cho phù hợp và


khả thi.
II. Làm thế nào để nhận thức bản thân một cách đúng đắn:
Muốn nhận diện đúng mình là ai, điều kiện đầu tiên phải lắng lòng
minh lại để hiểu tại sao mình suy nghĩ, cảm nhận và hành động như vậy;
Nghiền ngẫm về những ước mơ khát vọng, những thành công, những thất bại,
những điểm mạnh, điểm yếu, những thuận lợi và khó khăn, những đức tính
tốt, xấu, quan điểm sống, các quan hệ xã hội đang có, cần hiểu được lý do tại
sao và bằng cách nào chúng ta trở thành con người như hiện tại.
Để có được kỹ năng tự nhận thức, chúng ta cần biết rõ:
 Ta là ai? là cái gì.
 Ta tự nhận thấy bản thân mình ra sao?
 Ta có những điểm mạnh – điểm yếu nào?
 Ta thường thành công trong lĩnh vực nào?
 Ta thường chưa thành công trong những hoạt động nào?
 Mục tiêu cuộc sống của ta là gì?
 Ta có những yếu tố thuận lợi nào để hoàn thành mục tiêu?
 Những trở ngại và thách thhức đối với việc đạt mục tiêu của ta
là gì?
 Ta có sở thích gì?
Ta cũng cần biết thêm:
 Người khác đánh giá về mình ra sao?
 Sự đánh giá của ta về bản thân và sự đánh giá của người khác
về ta có trùng hợp nhau không? có điểm gì khác biệt?
 Những điểm mạnh cần phát huy và những điểm yếu cần khắc
phục của ta là gi?
 Ta sẽ khắc phục điểm yếu của mình ra sao? ai sẽ hỗ trợ minh?
1. Xác định giá trị của chính mình:
Điều quan trọng nhất cần biết về bản thân mình đó là nhận rõ giá trị
của chính minh. Mỗi người đều có một giá trị và ai cũng muốn nhìn nhận giá
trị đó một cách nghiêm túc.
2


Giá trị là những điều mà bản thân coi là quan trọng, nó có thể rất cụ
thể như tiền bạc, áo quần, các phjương tiện trong sinh hoạt hoặc có thể rất
trừu tượng như lòng chân thật, sự cảm thông, lòng tự trọng hay trinh tiết của
người con gái.
Giá trị còn là chuẩn mực về niềm tin, chính kiến, đạo đức, thái độ của
mỗi người, mỗi nhóm người, mỗi xã hội. Mặc dù có một số chuẩn mực giá trị
chung nhưng giá trị của mỗi người có thể thay đổi theo lứa tuổi, theo kinh
nghiệm sống và chịu ảnh hưởng từ giáo dục của gia đình – nhà trường – xã
hội.
Xác định giá trị bản thân cũng là sự ảnh hhưởng đến quá trình ra quyết
định và hành động của mỗi người. Xác định dược những giá trị của minh như:
Đức tính – Thái độ - Quan niệm – Chính kiến … mà mình cho là quan trọng
và đúng đắn sẽ giúp con người có hướng để sống và hành động theo những
giá trị đó.
2. Biết rõ những thế mạnh và những hạn chế của bản thân:
+ Những thế mạnh của bản thân:
- Sức khoẻ - thể chất – thái độ - kỹ năng.
- Thế mạnh là những điểm mạnh của bản thân mà mình làm giỏi nhất.
Những thế mạnh đó mang một giá trị tốt nhất cho mình.
 Ở mỗi con người đều có những điểm mạnh riêng, không ai giống
ai. Đặt vào mỗi hoàn cảnh khgác nhau thì những điểm mạnh của mỗi người sẽ
được phát huy tối đa, phải tự nhận ra những điểm mạnh của chính mình. Khi
thể hiện những điểm mạnh đó sẽ giúp ta tự tin hơn trong cuộc sống.
+ Những hạn chế của bản thân:
Ai cũng có những hạn chế. Cần thông cảm và giúp đỡ những người
xung quanh mình. Cùng giúp nhau khắc phục những điểm chưa tốt qua những
hành động như chia sẻ và luôn lắng nghe những người mình thường giao tiếp.
+ Yêu thương và chấp nhận bản thân:
Biết mình là không đủ, nhưng phải biết chấp nhận mình với những ưu
và khuyết điểm. “Tôi là như vậy đó, nhưng tôi yêu cái tôi của mình với
những hạn chế của nó để rồi tôi phấn đấu tự hoàn thiện”.
Yêu thương bản thân mình có nghĩa là phải chấp nhận chính mình với
tất cả những thế mạnh cũng như những điểm còn thiếu hụt, khiếm khuyết.
Yêu mình có nghĩa là phải có lòng tự trọng cao, có ý thức tự hào về bản thân
mình. Tuy nhiên yêu mình không có nghĩa là kêu ngạo, cho rằng mình là tốt
hơn so với bất kỳ ai khác. Yêu mình không có nghĩa là ích kỷ hay loại trừ tình
yêu với mọi người xung quanh ta.
Yêu mình ở đây không có nghĩa là tự làm khổ mình và không tư huỷ
hoại mình. Tôi quý trọng sự sống nơi tôi. Đây là một thái độ cần thiết cho sức
khoẻ tinh thần. Nếu không chấp nhận bản thân mình thì cũng đồng nghĩa với
tự chối bỏ nó, không dám nhìn thẵng vào nó. Từ đó tôi có thể có những cái
nhìn không đúng về cái tôi. Từ đó sẽ phát sinh những hành vi lệch lạc.
Chúng ta luôn nhớ rằng mỗi người là một cá thể riêng biệt, độc đáo,
độc nhất vô nhị. Do đó cần tôn trọng sự khác biệt của mỗi người để chấp nhận
nhau.
3


Mỗi chúng ta cần xây dựng cho chính mình một bản sắc riêng, hoàn
thiện, phong phú. Không nên chạy theo bản sắc của người khác, bắt chước
người khác mà đánh mất chính mình.
3. Biết mình là ai trong mắt người khác:
Ta thường biết mình qua sự phản ảnh của những người xung quanh ta
như: Gia đình – Họ hàng – Bạn bè – Đồng nghiệp … Qua đó ta có khái niệm
“Hình ảnh về bản thân ta”. Tuy nhiên ta cũng nên nhớ rằng các người khác
nhìn nhận và đánh giá ta sẽ phụ thuộc vào kiến thức và quan điểm riêng của
họ. Quan điểm này có thể bị tác động bởi dư luận xã hội, hoặc những giá trị
được đề cao trong truyền thông đại chúng chẵng hạn. Có khi họ nhàu năn ta
theo một mẫu hình không phải là ta.
Trân trọng những quan điểm của người khác là điều tốt. Tuy nhiên ta
cũng không đánh giá thấp bản thân mình, không lo lắng, không quá quan
tâm đến những điều người khác nói và nghĩ về mình như thế nào. (Nếu có
là việc của họ) – Ta chỉ cần biết để tránh những phiền toái trong qua trình
thực thi nhiệm vụ.
Hình ảnh về bản thân ta là điều ta ít ý thức (Ta làm nhưng ít để ý đến
hậu quả của hành vi của bản thân mình) nhưng nó lại chi phối hành động của
ta một cách mạnh mẽ. Cho nên chúng ta cần biết điều này để có một cách
nghĩ về mình một cách đúng đắn hơn.
4. Của sổ JOHARI (Joe luft & Hary Ingham).
Mỗi người chúng ta là một kho báu, một phần đã được lộ ra bên ngoài
– Một phần chưa lộ ra. Joe luft & Hary Ingham đã vẽ ra một cửa sổ để giúp
chúng ta hiểu:
- Chúng ta có thể trưởng thành như thế nào trong việc tự nhận biết
chính mình.
- Làm sao chúng ta có thể xây dựng mối quan hệ làm việc tin tưởng
hơn trong nhóm và cộng đồng qua chia sẻ và phản hồi.
Tôi biết
Tôi không biết
1
2
MỞ
Vô thức (mù)
Người
khác
biết

Người khác phản hồi cho mình biết.
Mình phản hồi
3

4
Che dấu

Người
khác
không
biết

Tiềm thức, tiềm năng
(chưa lộ ra)
Mình và người khác cùng khám phá

Mình chia sẻ cho người khác biết

 Cái tôi mở: Phản ảnh những thông tin về chính chúng ta, mà
chúng ta và những người khác cùng nhận biết được. Thí dụ:
Tên tuổi, giới tính, nghề nghiệp của bạn, nơi bạn sinh sống, học
vị…
4


 Cái tôi che dấu, bí mật: Những thông tin mà bạn ý thức về
chính mình những mình không chia sẻ, không có dịp hoặc
không muốn chia sẻ với những người khác. Nó có thể bao gồm
những gì mà bạn hổ thẹn về nó. Thí dụ: Gian lận trong làm bài
kiểm tra, ăn cắp một cái gì đó, một hình ảnh tưởng tượng riêng
tư về ai đó.
 Cái tôi (mù): Bao gồm những thôn tin mà người khác biết về
bạn nhưng bạn không biết. Nó có thể bao gồm những sắc thái
quá khó ưa để mà có thể được người khác nhìn nhận. Thí dụ:
Xem mình là trung tâm, khoe khoang về những tài năng của
bạn, bệnh “nổ”, những tật xấu khi bạn nói chuyện (Hay cắt lời
người khác.
 Cái tôi không nhận biết: Bao gồm những thông tin mà chẵng
ai biết – bạn hay bất cứ người nào khác.
Từ những vấn đề đã nêu trên đã giúp cho chúng ta những hiể biết cơ
bản để nhận định khả năng tự hoàn thiện công việc của chính mình. Phải làm
chủ được cảm xúc của bản thân để chế ngự nó.
III. Làm sao để tự tin?:
Tự tin là điều hết sức cần thiết để bạn có thể thành công trong
cuộc sống, sự nghiệp. Tuy nhiên không phải ai cũng có thể luôn đạt được
sự tự tin cần thiết trong nhiều tình huống
Người ta thường nói: chỉ cần tự tin là giành được 50% thành công. Vì
thế, tự tin là điều hết sức cần thiết để bạn có thể thành công trong cuộc sống,
sự nghiệp. Tuy nhiên không phải ai cũng có thể luôn đạt được sự tự tin cần
thiết trong nhiều tình huống.
1. Muốn có sự tự tin trước mắt cần yêu quý bản thân:
- Lao động hăng say, tích cực học hỏi, trau dồi tri thức. Bên cạnh đó
cũng không quên làm đẹp cho bản thân, vẻ ngoài thanh lịch cũng giúp mình
tự tin hơn rất nhiều.

- Đầu tiên vẫn là phải hiểu rõ bản thân và có niềm tin vào chính mình.
Biết bản thân mình, tùy trường hợp có thể ứng dụng các đặc điểm của bản
thân.
- Trước tiên phải tự yêu lấy bản thân mình rồi sau đó mới tính tiếp
được, tập tin vào chính mình và nhìn những gì người khác làm được là điều
bình thường.
- Muốn tự tin lên thì phải biết tự hào về bản thân, phải cho những
điểm mà người ta bảo ko hay là những điểm mình tự hào nhất, vì nó khác biệt
5


và quan trọng nhất mình thấy vui khi làm, mình thấy nó đúng đắn và hợp với
mình, là hành động mình làm mà mình cho là đúng để có thể tự tin hơn.
- Chấp nhận và hài lòng với việc mình thiếu tự tin. Thiếu tự tin nghĩa
là luôn hoài nghi bản thân, như thế cũng tốt cho việc học hỏi và trưởng thành.
Thiếu tự tin (+ nếu có quyết tâm) thì có khả năng làm việc trong âm thầm và
dành tâm sức cho nó. Và thực tế là có rất nhiều người vốn dĩ rất nhút nhát
nhưng lại tài năng và thành công. ==> Giao tiếp thông minh và những kỹ
năng cần thiết
- Muốn tự tin vào bản thân thì phải tự trân trọng và giữ lấy giá trị
chính mình.
- Có 2 kiểu tự tin: tự tin vay mượn và tự tin thực sự. Tự tin vay mượn
là tự tin vì con nhà giàu, có xe đẹp, bồ xinh gái, đẹp trai) gọi là vay mượn vì
khi một ngày nào đó bạn ko có người yêu xinh đẹp bên cạnh, ko có tiền thì
bạn sẽ cảm thấy thiếu tự tin. Tự tin thực sự là tin vào giá trị bên trong con
người mình, mình hiểu được giá trị của mình và vun đắp nó, dù cho
người khác có nói gì mình vẫn vững một lòng tin; kiểu như tờ 500k có
được nâng niu hay bị vo viên ném đi, hay dẫm nát nó nó vẫn có giá trị sử
dụng là 500k - điều này là ko thay đổi.
2. Cần có sự trải nghiệm để tự tin sẽ không là thùng rỗng kêu to:
Trải nghiệm nhiều thêm, chăm chỉ cóp nhặt thông tin đa dạng thì mới
có được sự hiểu biết, nhận thức về sự vật, sự kiện hay hiện tượng để mà phân
định đúng sai. Cái gì cũng lờ mờ ko rõ ràng, chắc chắn thì thiếu tự tin là tất
yếu. Theo em thì muốn tự tin hơn về bất cứ lĩng vực nào thì phải có :
- Thứ nhất: Vốn hiểu biết phải sâu rộng, để mỗi lời mình nói ra là
phải có được sức thuyết phục và thuyết phục trước hết là chính bản thân
mình, minh phải có niềm tin ở chính mình thì người khác sẽ tin mình.
- Thứ hai: tính kiên trì, lòng ham học hỏi, ham hiêu biết. Vậy nên nếu
bạn thực sự ko chắc về kiến thức của mình. Thì hãy thể hiện một cách khiêm
tốn để mọi người thấy được hảo ý và giúp đỡ mình có thêm nhiều kiến thức.
Thực hành nhiều hơn là cứ suy nghĩ "lần sau mình sẽ làm được". Tích
cực hơn trong suy nghĩ lẫn hành động. Tham gia hoạt động xã hội để gặp gỡ
thêm nhiều người để học hỏi, trao dồi và có thêm bạn. Lắng nghe và tiếp thu
cả ưu lẫn nhược điểm của bản thân để biết mà phát suy và cải thiện đúng chỗ.
Em thấy cứ lăn xả vào làm nhiều, rồi dần dần làm đúng là sẽ tự tin hơn thôi".
Học hỏi từ người khác, và biết khiêm tốn: Luôn coi người ta giỏi hơn
mình, nhận mình thấp hơn họ, ngu ngu ngơ ngơ nhưng trong lòng luôn suy
xét vấn đề và cảm nhận, học hỏi con người họ.
 3 nguyên tắc ứng xử giúp bạn cải thiện kỹ năng giao tiếp hiệu quả
- Bước 1: Hãy thừa nhận (chấp nhận).
- Bước 2: Biết lắng nghe ý kiến, tìm ra chỗ mạnh, chỗ yếu của người.
Thấy cái mạnh, lợi thế của ta (cái ta có mà người không có).
- Bước 3: Tạo ra sự đồng cảm, gây niềm tin (hiểu biết lẫn nhau, gây sự
tin tưởng).
- Bước 4: Tìm điểm chung, mỗi bên đều thấy được cái lợi, cái vui và
cách cộng tác, tương lai của sự cộng tác đó.
- Bước 5: Tạo dư luận ủng hộ, xây dựng mối quan hệ thân tình.
6


3. Muốn có tự tin cần phải có kiến thức
Những gì bạn được học thì là lý thuyết, những gì bạn đã từng trải qua
thì là kinh nghiệm. KIẾN THỨC là sự kết hợp của cả lý thuyết và kinh
nghiệm sống.
- Là luôn trang bị cho mình một vốn kiến thức đủ để sử dụng trong
quá trình giao tiếp.
- Phải tăng sự hiểu biết của bản thân, có tri thức thì sẽ tự tin, đủ khả
năng ứng phó trong nhiều hoàn cảnh.
- Tìm một cái gì đó mà mình giỏi nhất rồi phát triển nó lên... Không
giỏi gì thì không tự tin được.
- Tự tin trong lĩnh vực gì thì tuỳ khả năng của mỗi người, cứ giỏi hoặc
hiểu rõ công việc trong lĩnh vực gì thì sẽ tự tin trong lĩnh vực đó.
- Thông minh hơn, tích lũy cho mình 1 (số) thành quả nhất định, về
lĩnh vực mà mình đang cần tự tin.
- Biết 10 nói 1 thì tự tin vô cùng.
IV. Kỹ năng nhận thức bản thân:
Như vậy, muốn nhận thức về bản thân thân mình một cách thấu đáu,
chúng ta cần hiểu rõ những vấn đề có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến
các hoạt động của chính mình trong đời sống xã hội.
“Con người đi khắp nơi để kinh ngạc trước những ngọn núi cao ngất, trước
những ngọn sóng thần của biển cả, trước những dòng sông dài nhất, trước sự hùng
vĩ của biển khơi, sự đẹp đẽ của những vì tinh tú mà bỏ qua chính mình không một
chút băn khoăn.” - Saint Augustine. (Đây là điều mà mỗi người chúng ta cần suy
nghĩ).
Muốn hạnh phúc và thành công, mỗi cá nhân cần liên tục rèn luyện bản
thân, khám phá và phát huy những tố chất nổi trội của mình để áp dụng vào cuộc
sống, để cho những khó khăn không còn là chướng ngại vật mà bản thân không thể
vượt qua.

7


Kỹ năng giao tiếp
----------------I. Khái niệm – Ý nghĩa của kỹ năng giao tiếp:
1. Khái niệm:
Giao tiếp là sự chia sẻ thông điệp giữa người nói với người nghe.
Giao tiếp là quá trình gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi thông tin, tình cảm,
suy nghĩ, giữa con người với con người về các vấn đề khác nhau. Giao tiếp có
thể bằng lời, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp.
Kỹ năng giao tiếp là khả năng tiếp xúc, trao đổi thông tin, mong
muốn, suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc. Là khả năng thể hiện các mối quan hệ
tương tác giữa người này với người khác về các vấn đề khác nhau.
2. Ý nghĩa của kỹ năng giao tiếp:
Khả năng giao tiếp của mỗi người được hình thành và chịu ảnh hưởng
của gia đình, nhà trường và xã hội, đồng thời cũng được rèn luyện qua kinh
nghiệm bản thân trong các tình huống cụ thể trong cuộc sống.
Kỹ năng giao tiếp có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng mối
quan hệ giữa con người với con người.
Kỹ năng giao tiếp giúp cho các mối quan hệ giữa người với người trở
nên tốt đẹp, gần gủi hơn.
Giáo tiếp là một phương tiện để thông qua đó đưa ra các giải phải và
thực hiện các quyết định, thay đổi các yếu tố gây stress và tranh thủ các hỗ trợ
để giúp người khác sinh hoạt tốt hơn trong cuộc sống thường nhật.
II. Điều kiện để giao tiếp tốt:
Để quá trình giao tiếp có hiệu quả mọi người cần:
- Biết rõ mình là ai, mình đang muốn gì, sẽ làm gì.
- Tôn trọng nhu cầu của đối tượng giao tiếp.
- Tự đặt mình vào vị trí người khác.
- Chăm chú lắng nghe khi đối thoại.
- Lựa chon cách nói sao cho lời yêu cầu của mình hợp với sở thích của
người khác trong giao tiếp.
- Kết hợp giữa lời nói với cử chỉ, điệu bôi, động tác để tạo sự hấp dẫn
đối với người khác trong giao tiếp.
1. Biết mình là ai?
Biết người đã khó, biết mình còn khó hơn rất nhiều.
Chúng ta đang sống trong sự thay đổi. Mọi thứ đều thay đổi, trong đó
cách con người quan hệ, tiếp xúc với nhau cũng thay đổi. Câu hỏi lớn nhất
8


thời đại”Làm thế nào để sống hài hòa với những người xung quanh???” Trả
lời câu hỏi này thực sự không dễ, cuộc sống quá bận rộn và chúng ta ngày
càng ít thời gian để hiểu người khác, từ đó có thể giao tiếp thành công với mọi
người xung quanh.
Giao tiếp với người khác có tầm quan trọng đặc biệt. Điều đó không
ai phủ nhận.
Cổ nhân có câu:
- Sự ăn cho ta cái lực.
- Sự ở cho ta cái chí.
- Sự bang giao cho ta cái nghiệp.
Vậy biết mình là ai là biết điều gì?
Điều quan trọng nhất cần biết là biết về bản thân mình. Đó cũng chính
là nhận biết rõ giá trị của chính mình. Vì chỉ khi ta biết giá trị của chính ta thì
ta mới tự tin trong giao tiếp với người khác.
Ai cũng có gia trị riêng. Chỉ có điều chúng ta có nhận ra và có trau dồi
cho những giá trị đó không. Giá trị quan trọng nhất là thái độ sống của mỗi
người chúng ta.
Thái độ sống quyết địnhcuộc sống của chúng ta.
Thái độ
của ta

Hành vi
của ta

Hành vi
của người khác

Thái độ
của người khác

Hành vi của người khác 

Sẽ khen ngợi – sẽ nói với người khác
Sẽ quay lưng lại – sẽ than phiền

Nên có thái độ sống tốt để chúng ta có thể luôn tự tin trước cuộc sống
chính là “thái độ sống tích cực”.
“Hướng về ánh nắng, bạn sẽ không nhìn thấy bóng tối” Helen Keller.
“Đời thay đổi khi chúng ta thay đổi” Andrew Matthiews.
Một người có thái độ sống tích cực sẽ biết nhìn ra những khía cạnh
tươi sáng của mọi vấn đề xung quanh, từ đó sẽ luôn cảm thấy sự hy vọng,
nhìn thấy tương lai tươi sáng để phấn đấu.
Thí dụ: Có 2 người đều có hoàn cảnh như nhau trong cuộc sống, họ
chỉ còn có 10.000 đ.
9


- Người có thái độ sống tiêu cực sẽ nghĩ mình nghèo qua, mai sẽ sống
sao đây? Rồi buồn chán, thất vọng, đi uống rượu hết số tiền đó.
- Người có thái độ sống tích cực sẽ nghĩ và thấy số tiền đó có thể làm
được nhiều việc để có thêm tiền. Và họ sống vui vẻ, tràn đầy sức sống và có
nhiều hy vọng.
2. Biết người giao tiếp với mình là ai?
Biết người giao tiếp với minh là ai thì rất quan trọng.
Cổ nhân đã nói “Biết người biết ta, trăn trận trăm thắng”
Biết người là biết giá trị của họ để tôn trọng, đề cao họ.
Biết người là biết cảm xúc, vị thế, vai trò, nghề nghiệp của họ để biết
giao tiếp ứng xử cho phù hợp.
III. Các kỹ năng trong giao tiếp:
1. Kỹ năng nghe:
 Nghe có một tầm quan trọng đặc biệt:
- Nói là bạc;
- Im lặng là vào;
- Lặng nghe là kim cương.
 Chú ý sự cản trở khi nghe:
- Nghĩ nhanh hơn nói 20 lần  xao lãng.
- Nhiễu: Môi trường tâm lý.
- Định kiếnn và ý thức của người nghe. (giả vờ gnhe – nghe một
phần…)
 Nguyên nhân nghe không hiệu quả:
+ Nguyên nhân chủ quan:
- Nghe một phần.
- Nghe phục kích.
- Nghe phòng thủ.
- Nghe võ đoán.
- Giả vờ nghe.
- Nghe không tập trung.
- Nói có lợi hơn nghe.
+ Nguyên nhân khách quan:
- Quá nhiều thông điệp.
- Nghe định kiến.
- Nghĩ nhanh hơn nói.
- Thính giác có vấn đề.
- Nhiễu tâm lý.
- Nhiễu vật lý.
 Nghe có hiệu quả là nghe như thế nào?
- KHông định kiến.
- Bày tỏ sự quan tâm.
- Nghe thấu tâm can.
- Làm rõ vấn đề.
- Nghe xong mới nói.
- Kiểm soát bản thân.
10


- Tư thế thuận lợi.
Hãy từ bỏ quán tính “phản đối người khác”.
Hãy để thời gian suy nghĩ trước khi hồi đáp.
Đừng cho rằng nói có lợi hơn nghe.
 Thế nào là người biết lắng nghe:
1. Sử dụng giao tiếp bằng mắt.
2. Chú ý những biểu hiện bằng lời – không lời của người nói.
3. Kiên nhẩn và không ngắt lời người nói.
4. Có sự phản hồi biểu hiện bằng lời – không lời của người nói.
5. Đặt câu hỏi với giọng điệu không mang tính đe dọa.
6. Tóm tắt hoặc diển đạt lại ý người nói.
7. Cung cấp thông tin phản hồi mang tính xây dựng.
8. Có sự đồng cảm (Hiểu được ý người nói).
9. Thể hiện sự tôn trọng với người đối diện.
10. Thể hiện thái độ cởi mở, quan tâm và sẵn lòng lắng nghe.
 Thế nào là người không biết lắng nghe:
1. Thể hiện thiếu kiên nhẫn, luôn ngắt lời người nói.
2. Thiếu hoặc không thể hiện giao tiếp bằng mắt.
3. Không chú ý đến người nói.
4. Không có hứng thú với người nói.
5. Không có hoặc rất ít thông tin phản hồi.
6. Luôn thay đổi đề tài.
7. Luôn phê bình.
8. Nói quá nhiều.
9. Thường xuyên bận tâm về việc riêng.
10. Đưa ra lời khuyên không mong đợi.
2. Kỹ năng nói:
- Khi chưa nói, ta là chủ lời nói.
- Khi nói rồi, lời nói là chủ của ta.
Trong giao tiếp, mình phải biết mình định nói gì, và bạn phải hiểu rõ
điều mình định nói. Nếu bạn chỉ ba hoa về những gì bạn không biết bạn sẽ
mau chóng bị bắt bí và cuộc trò chuyện của bạn trở nên tẻ nhạt, bạn sẽ bị thất
bại trong cuộc nói chuyện.
 Những điều cần lưu ý trong giao tiếp:
 Nói phi ngôn từ:
- Điệu bộ thân thể, tay.
- Cử chỉ.
- Ánh mắt.
- Vẻ mặt.
- Cách nhìn.
- Giọng nói.
- Khoảng cách.
 Nói có ngôn từ:
- Nói gì? Nói như thế nào?
11


Người nghe dễ dàng quên những gì bạn nói, nhưng nếu bạn khéo léo
lồng ghép những gì bạn định nói vào một câu chuyện thì người nghe sẽ dễ
nhớ hơn. Hoặc cũng có thể bạn sẽ so sanh với những gì gắn liền với cuộc
sống, hoặc sử dụng hình ảnh liên tưởng dễ nhớ, như vậy thông điệp bạn muốn
truyền tải sẽ đọng lại tốt hơn ở người nghe.
 Nguyên nhân nói không hiệu quả:
- Nói không có bố cục.
- Nói nhiều và không logique.
- Nói thiếu minh họa.
- Âm lượng không phù hợp – Giọng ngang, thiếu tính trầm bổng.
- Không nhấn mạnh ý chính.
 Khi nói cần lưu ý điều gì:
- Mục đích nói: Cần người nghe hiểu điều gì? Và người nghe cần
điều gì?
- Khả năng tiếp nhận của người nghe: Chọn ngôn ngữ, cách nói
phù hợp.
- Thời gian nói: Phù hợp với ngữ cảnh.
- Xác dịnh nội dung đã được chuyển tải: Hỏn kiểm tra người
nghe xem đã tiếp nhận đến đâu, đầy đủ và chính xác không?.
 Sức mạnh của thông điệp:
- Ngôn từ 7%.
- Giọng nói - Cách nói: 38%.
- Hình ảnh: 55%
 Nụ cười là một yếu tố cơ thể có sức mạnh khá lớn:
- Nụ cười chân thành, thân thiết là dầu bôi trơn tốt nhất cho mọi mối
quan hệ.
- Đôi mắt biết cười sẽ làm xúc động nội tâm người khác.
- Nụ cười giống như mặt trời, có thể tạo ra cho người khác nhiệt
lượng và sự ấm áp.
3. Kỹ năng khen – chê:
* Kỹ năng khen:
- Ai cũng muốn được khen.
- Nguyên tắc khen:
Chân thành hợp lý.
Cụ thể - đúng lúc.
Khen trướng càng nhiều người càng tốt.
* Kỹ năng chê:
 Mục đích của việc chê: Chê là mong cho người được chê làm
tốt hơn.
 Chê như thế nào để có tác dụng và không mất lòng.
 Nguyên tắc chê:
o Muốn chê 1 phải khen trước 2.
o Gợi ý cụ thể làm thế nào để làm tốt hơn.
o Chê sự việc – không chê con người.
IV. Nhận định đánh giá con người qua giao tiếp và ứng xử:
12


1. Nguyên tắc khi nhận định và đánh giá:
- Cần tế nhị, tinh tế trong việc xét đoán mới đánh giá được, nếu quá
vội vàng hấp tấp sẽ sai lệch.
- Tình huống giao tiếp:  Nhìn  Khám phá  Đánh giá.
- Xem xét kỹ hoàn cảnh, môi trường giao tiếp, cảm xúc.
- Đánh giá con người phải qua một quá trình giao tiếp.
- Cần khách quan và luôn nhớ rằng không có ai là hoàn thiện.
2. Một số kinh nghiệm để phán đoán tâm lý con người khi tiếp
xúc:
+ Biểu hiện của người nói dối khi giao tiếp:
- Che mồm (cả tay, ngón cái, giả vờ ho).
- Sờ mũi (Xoa nhẹ một cái).
- Dụi mắt (tránh nhìn – nhìn lãng, đàn ông dụi mắt luôn).
- Gãi cổ (Gãi phần cận dưới tai).
- Đỏ mặt (căng thẳng trên cơ mặt).
- Nháy mắt nhiều khi đang nói.
+ Một số phán đoán khác:
* Quan sát điệu bộ - cử chỉ:
- Đôi mày châu lại
 Không đồng tình.
- Mắt nhìn lên trời
 Mệt mõi – chán ngấy.
- mặt cúi, hơi đỏ, tay mân mê
 Trong lòng lúng túng – xấu hổ.
- Trên trán xuất hiện nếp nhăn ngang  Ngạc nhiên.
- Trên trán xuất hiện nếp nhăn dọc
 Quả quyết.
- Bĩu môi – cười khẩy
 Khinh bỉ.
- Cười gượng – đứng lom khom – nói  Chưa thật.
ấp úng – nhìn né tránh
- Hít hơi dài – Tìm chỗ đứng cao hơn  Chứng tỏ lo lắng sợ sệt.
trong khi nói
- Bặm môi
 Không tán thành hoặc tập trung
vào cái khác.
- Liếm môi
 Chứng tỏ thần kinh căng thẳng.
- Mắm môi
 Chứng tỏ tự trách mình.
- Hai mắt nhìn không trung
 Trốn chạy – bỏ cuộc.
- Hai mắt nhìn trân trân đối phương
 Uy hiếp – công kích.
- Gõ nhẹ chân
 Biểu hiện nóng ruột – bồn chồn
-Buồn bực.
Cắn móng tay
 Khó chịu – Tự trách mình.
- Ngồi dựa ngữa lưng vào sau
 Thư giãn tâm hồn, dễ chịu – thoải
mái
- Đầu nghiêng một bên
 Đồng tình – chăm chú lắng nghe.
- Hai tay bắt chéo hoặc khoanh tay
 Ở vị trí sẳn sàng, phòng ngự.
- Liếc ngang
 Nghi ngờ - không tin tưởng.
- So vai
 Biểu thị trọng trách nặng nề, sợ
hải – thất vọng.
13


- Nét mặt không vui, vắt chân chữ  Buồn bực – không thích giao tiếp.
ngủ
* Qua giọng nói:
- Giọng nói rõ ràng
 Bình tỉnh – cẩn thận – chắc chắn.
- Giọng nói vang vội
 Đầy quyền uy.
- Nhỏ và nhanh
 Hòa dịu.
- Nhỏ và khan
 Đầy mưu mẹo.
- Nhỏ và nhẹ
 Kín đáo.
- Thích nói về mình
 Nhiều tham vọng.
- Thích che bai nhân vật thứ ba
 Hay tò mò.
- Thích nói về người đối thoại
 Mưu trí – có nghệ thuật giao tiếp.
* Qua dáng đi:
- Người đi mà ngữa mắt lên
 Thông inh – sáng suốt.
- Người đi giật cục (gật gù)
 Uẩn khúc trong lòng.
- Người đi ung dung bệ vệ
 Cởi mở - vô tư – nhàn hạ.
- Dáng đi lật đật, hai tay như bơi
 Vất vả - lận đận
- Dáng đi lao đầu về phía trước
 Hấp tấp – vội vàng
- Dáng đi nặng nề
 Vụng về tối trí
- Dáng đi như chim chích
 Tháo vát năng nổ.
- Dáng đi nhanh có vẻ lập cập
 Hay thay lòng đổi dạ.
- Bước chân dài
 Rất quả quyết.
- Bước chân ngắn
 Rất tỉ mỉ - đắn đo – thận trọng.
V. Lễ nghi giao tiếp hằng ngày:
1. Giao tiếp bằng danh thiếp:
+ Vai trò của danh thiếp:
- Giới thiệu – Đặt mối quan hệ.
- Cầu nối – Phương tiện.
- Quảng cáo.
- Thay giấy mời.
- Gửi lời cảm ơn – chúc mừng – Chia buồn.
- Tự giới thiệu mình.
+ Khi nào thì đưa danh thiếp:
- Với tư cách là khách (Pháp).
- Với tư cách là chủ (Anh).
- Gặp gỡ lần đầu (người chủ cuộc gặp mặt).
- Gặp gỡ đa phương, ngang hàng bậc, ai cần thì chủ động trao trước.
-Người thấp vị trí trao trước cho người có vị trí cao hơn. (Tuổi – hàm
– Bậc).
- Với người nước ngoài chu ý thông lệ (Nhập gia tùy tục).
- Không gửi trực tiếp được, có thể gửi qua thư.
+ Các loại hình danh thiếp:
* Dang thiếp chính thức:
- Kích thước 9,3 x 6 x 0,1 cm
- Màu Trắng – kem – sữa – vàng.
14


- In chân phương – có tiếng mẹ đẻ
- Tên cơ quan – tên mình – tên chức danh, điện thoại, telex, email
* Danh thiếp không chính thức: Chỉ cần tên – địa chỉ - điện thoại.
2. Giao tiếp bằng điện thoại:
+ Khi gọi:
- Câu đầu tiên: Xưng danh và xin người cần gặp.
- Nếu nhằm số: thì phải xin lổi. và nhẹ nhàng cúp máy.
- Khi đang liên lạc mà mất tín hiệu thì phải chủ động gọi lại ngay.
- Nếu nội dung dài thì phải chuẩn bị ra giấy trước.
- Nói phải rõ ràng, dễ hiểu.
- Kết thúc cuộc gọi điện thoại phải chào tạm biệt – Hẹn gặp lại.
- Không nên gọi điện thoại vào đầu giờ làm việc.
- Không nên gọi điện thoại quá lâu.
- Không nên lạm dụng điện thoại của người khác.
- Không nên gọi đến nhà riêng sau 22 giờ.
+ Khi nghe:
- Câu đầu tiên là xưng danh  phải nghiêm túc.
- Nếu người bên kia cần gặp người khác thì phải nói “Xin chờ và nhớ
đặt máy nhẹ nhàng”
- Nếu nhờ nhắn tin phải truyền đạt, đặt giấy lên bàn cho người nhắn
tin.
- Khi đàm thoại phải hỏi nghe rõ không?
- Phải đợi bên gọi dừng cuộc gọi và cúp máy trước rồi mới đặt máy.
3. Nghi lễ bắt tay:
Bắt tay là biểu đạt sự hòa bình, hữu hảo, thông cảm, cảm ơn, khoan
dung, kính trọng.
Một số thông lệ bắt tay:
Ai đưa tay trước???
- Chủ - Phụ nữ - Cấp trên.
- Nếu có người giới thiệu thì giơ tay trước.
Khi bắt tay phải:
- Khi thấy người khác giơ tay thi ta phải kịp thời đón nhận, thể hiện
nhiệt tình, hữu hảo, chân thành. Nếu để chậm thành thờ ơ.
- Không đứng quá xa.
- Cầm chắc tay với cường độ vừa phải. (Chú ý tay phụ nữ).
- Thời gian cầm tay nhau thường bằng thời gian chào hỏi.
- Người hơi nghiêng về phía trước.
- Nhìn vào đối tượng.
- Nụ cười hồn nhiên, chào hỏi.
- Khi bắt tay phải cởi găng (nếu đeo găng tay) – Tay bẩn phải xin lổi.
4. Giới thiệu:
Ai giới thiệu cho ai???
- Người nhỏ - dưới, giới thiệu cho người trên.
- Nam giới thiệu cho nữ.
- Nữ giới thiệu cho người giữ chức vụ lớn hơn hay người tu hành.
- Cô gái giới thiệu cho đàn bà.
15


- Đàn bà giới thiệu cho người lão thành.
- Phụ nữ có chồng giới thiệu cho phụ nữ có chồng (theo chức vụ của
mình và theo vai trò người chồng).
- Thủ trưởng giới thiệu nhân viên của mình cho khách.
- Hai người cùng tuổi thi người thấp địa vị hơn giới thiệu cho người
kia.
- Giới thiệu người đến sau cho người đến trước.
5. Những lưu ý khi giao tiếp:
a. Các nguyên tắc của giao tiếp:
- Nhân ái.
- Hài hòa các lợi ích và hợp tác.
- Lựa chọn giải pháp tối ưu để đạt mục tiêu chính.
- Đảm bảo các quy luật khách quan.
- Phù hợp môi trường và đối tượng.
- Coi trọng ảnh hưởng các mối quan hệ.
- Chú trọng thẩm mỹ trong các hành vi.
b. Tạo uy tính khi giao tiếp:
Chúng ta có thể tạo uy tín từ:
- Thứ bậc.
- Thiện chí.
- Khả năng chuyên môn.
- Hình ảnh – Tướng mạo.
- Đạo đức.
c. Rèn luyện kỹ năng “quyến rủ” đối tượng bằng cách:
- Tự tin – không kiêu – không tự ti.
- Chân thành cư xử.
- Ca ngợi thật những điểm mạnh của đối tượng giao tiếp.
- Đặt mình vào vị trí đối tượng để thông cảm.
- Học rộng, biết nhiều cái đích thực.
- Luôn mĩm cười với đối tượng giao tiếp.
- Trang phục phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh.
- Dùng đôi mắt để biểu đạt sự chân thành.
- Đừng tiếc sự hào phóng nhiệt tình.
- Đừng quên sự khôi hài dí dỏm.
d. Rèn luyện khả năng tự kềm chế:
- Cân nhắc cẩn thận mỗi lời nói “Uốn lưởi 7 lần trước khi nói”
- Duy trì sự chú ý và bình tỉnh ở mọi trường hợp.
- Bao dung và độ lượng.
- Luôn phải trải lời câu hỏi thường trực “Hậu quả gì sẽ xảy ra”.
e. 9 điều cần nhớ khi giao tiếp:
1. Nghe đối tác đến cùng.
2. Không coi nặng định kiến.
3. Không hiểu lầm.
4. Thuật ngữ đơn giản phù hợp.
5. Tôn trọng đối tác.
6. Lịch sự khiêm tốn.
16


7. Kiên định – Bình tỉnh.
8. Thuyết phục để đối tác hiểu ý.
9. Biện pháp giao tiếp phải linh hoạt phù hợp.
f. 10 lời khuyên khi giao tiếp:
1. Luôn giữ nụ cười trên môi.
2. Chú ý – nhìn thẵng – lắng nghe – tán thưởng.
3. Tạo dáng vẻ, cử chỉ thân thiện với họ.
4. Đặc biệt quan tâm đến sở thích của họ.
5. Không nên từ chối thẵng thừng yêu cầu của họ.
6. Luôn tạo cơ hội để khen họ.
7. Làm cho họ thấy tầm quan trọng của họ.
8. Nhấn mạnh và sợi dây tình cảm của họ (đồng hương – ban bè – gia
đình).
9. Không bao giờ xẵng giọng, nóng mặt, luôn ôn tồn, nhẹ nhàng.
1. Cản ơn – xin lổi – vâng – dạ là những lời khôn ngoai nhất.

QUẢN LÝ CẢM XÚC
----------------Những vấn đề mở đầu cần quan tâm:
Trong cuộc sống hằng ngày, bất cứ ai cũng có những cảm xúc: vui –
buồn – thương – giận – ghét… Tuy nhiên, khi một hoặc nhiều cảm xúc này
lặp đi lặp lại nhiều lần và kéo dài, chúng se gây ảnh hưởng xấu đến hệ thần
kinh và dẫn đến bệnh tật. Những trường hợp này khoa học gọi là Stress.
Con người đang sống trong một thời đại quay cuồng và luôn thay đổi,
nên luôn luôn gặp những vấn đề về kiệt sức, căng thẳng, e ngại về suy sụp
kinh tế, đạo đức xã hội bị đảo lộn, tình hình thế giới bất ổn, nạn thất nghiệp
cao, bất hòa tôn giáo, kỳ thị chủng tộc… Tất cả đều gây ra căng thẳng. Cho
nên một tình huống nào đó xảy ra tác động đến những nguy cơ cho đúng
người, đúng lúc thì hầu như những sự việc đó sẽ trở thành căng thẳng.
Mặt khác, những trẻ em là học sinh cũng đang phải đối đầu với tình
trạng rối nhiễu tâm lý do nhiều nguyên nhân trong đó có tình trạng học quá
tải. PGS-TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Chủ nhiệm khoa sư phạm (ĐHQG HN) cho
biết: Theo số liệu điều tra, tỉ lệ trẻ em ở lứa tuổi học đường có dấu hiệu rối
nhiễu tâm trí là hơn 20% cụ thể như:
- Tại Hà Nội và các vùng lân cận: chiếm 20% (số liệu điều tra của
Viện Nhi TU năm 2003).
17


- Tại Biên Hòa: chiếm 10 – 14% (số liệu điều tra của Sở GDĐT Đồng
Nai năm 2000).
- Viện sức khỏe tâm thần TU: chiếm 15 – 20%.
- Theo khảo sát của sức khỏe tâm thần học sinh ở các trường học của
TP Hà Nội của tổ chức Y tế thế giới có thấy trên mẫu nghiên cứu gồm 1202
học sinh tiểu học và THCS thì tỉ lệ học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần là
19,46%.
Bà Nguyễn Thị Kim Thanh, TP GDMN Sở GDĐT TP HCM cho rằng:
“Khi đời sống của người giáo viên còn nhiều khó khăn, thu nhập không đủ
sống, trười lớp còn thiếu thốn, sĩ số học sinh quá đông đã gây ra nhiều áp lực
đối với đội ngủ thầy cô giáo. Họ đứng trên bụt giảng chủ yếu vì lòng yêu
nghề, vì tình thước các em học trò. Vậy mà sự nguy hiểm lại luôn rình rập,
đôi khi sự vô tình của phụ huynh và học sinh đã làm không ít thầy cô phải gục
ngã và mất niềm tin vào nghề.
I. Khái niệm cảm xúc:
- Cảm xúc là tập họp những phản ứng tự nhiên được nảo bộ phát ra
một cách tự động để giúp cơ thể và tâm trí chuẩn bị hành động thích hợp
nhằm lấy lại cân bằng tâm lý khi cảm giác phát hiện ra điều gì đó đang xảy
ra liên quan đến chúng ta.
- Tất cả chúng ta đều có cảm xúc – Bởi vì chúng ta là con người.
- Về bản chất, cảm xúc phát sinh ngoài ý thức nhưng nó lại định
hướng cho hành vi của con người (Cân bằng trạng thái tâm lý).
- Mọi cảm xúc của chúng ta không gì khác hơn một chuỗi những cơn
bảo sinh học trong bộ não chúng ta.
- Chúng có thể bộc phát mọi lúc. Nhưng chúng ta phải học cách kiểm
soát, kềm chế chúng một cách có ý thức thay vì chỉ sống bằng phản xạ.
- Không thể thay đổi được cảm xúc của mỗi người, nhưng lại có thể
điều hướng được nó, từ đó có thể thay đổi được hành vi. Như vậy, sử dụng
EQ không có nghĩa là điều khiển cảm xúc mà là quản lý cảm xúc của mỗi
người một cách hài hòa với ngử cảnh và tránh những xung đột không đáng có.
Các khái niệm liên quan đến cảm xúc:
1. Nhận biết cảm xúc: Mỗi người bình thường đều có thể nhận biết
đúng cảm xúc của bản thân mình và cảm xúc của những người xung quanh
thông qua thái độ giao tiếp.
2. Hiểu được cảm xúc: Mỗi người bình thường đều có khả năng hiểu
và thấu cảm được các loại cảm xúc, đồng thời biết nguyên nhân và hậu quả
của các loại cảm xúc ấy.
3. Tạo ra cảm xúc: Mỗi người bình thường đều có khả năng diễn tả
và đáp lại các cảm xúc của người khác. Thông qua đó, người ta biết lắng
nghe, thông cảm và chia sẻ với người khác.
4. Quản lý cảm xúc: Mỗi người bình thường đều có khả năng tự quản
lý được cảm xúc của mình, cư xử hợp lý để dễ dàng hòa đồng với tập thể.
EQ là gì?
- EQ là từ viết tắt của chữ Emotional Quotien là chỉ số cảm xúc.
Những người có công trong nghiên cứu và đưa ra chỉ số EQ là hai nhà tâm lý
học người Mỹ: Peter Salovey và John Mayer vào năm 1990.
18


- EQ được hiểu là khả năng hiểu rõ cảm xúc bản thân, thấu hiểu cảm
xúc của người khác, phân biệt được chúng và sử dụng chúng để hướng dẫn
suy nghĩ và hành động của bản thân.
- EQ còn được hiểu là khả năng tự kềm chế tình cảm, tự đánh giá, khả
năng kiểm soát và chế ngự những khát vọng đam mê, khả năng kỹ luật tự
giác, khả năng tư duy tích cực, tìm ra những giải pháp để giải quyết công
việc.
- EQ là khả năng quản lý cảm xúc giúp chúng ta đưa ra những quyết
định sáng suốt hơn và để cải thiện các mối quan hệ của chúng ta đối với mọi
người.
II. Xử lý tình huống trong điều kiện căng thẳng:
1. Nhận biết tại sao mình dễ dàng bị căng thẳng hơn người khác:
Căng thẳng là cách đáp trả lại với môi trường bên ngoài và mang tính
chất chủ thể. Mỗi người có một cách phản ứng khác nhau tùy vào nhu cầu và
những áp lực họ đang phải gánh chịu: Môi trường sống – Mối quan hệ với
mọi người – những áp lực là họ tự đặt ra cho mình và việc quản lý thời gian.
Đây là lý do tại sao một số người bị căng thẳng nên bắt đầu tự quan sát lối
hành xử của chính mình, xác định những nguyên nhân gây ra căng thẳng và
các yếu tố liên quan.
 Nguyên nhân dẫn đến căng thẳng:
Có nhiều nguyên nhân gây ra strees, nhưng thông thường thì
bao gồm 4 nguyên nhân cơ bản sau:
 Môi trường bên ngoài: Thiên tai – Thời tiết – tiếng ồn –
giao thông – bụi và sự ô nhiễm.
 Những căng thẳng từ xã hội và gia đình: Thời hạn công
việc phải hoàn thành – Các vấn đề tài chánh – Công việc
gây ra áp lực, quá tải – Môi trười làm việc không thuận lợi
– thay đổi thời gian làm việc – Phong cách quản lý độc
đoán – Tập trung quá nhiều sức lực vào nhiệm vụ - Hiệu
quả đem lại kém – Sự mất mát của người thân – Mâu thuẩn
trong gia đình (ly hôn, tranh chấp, xích mích, bất hòa) –
Quan hệ bạn bè không tốt – tình yêu tan vỡ hay bị phụ bạc.
 Các vấn đề về thể chất: Thay đổi cơ thể - Không đủ chất
dinh dưỡng - ốm đau – bệnh tật…
 Suy nghĩ của chúng ta: Đôi khi cách chúng ta suy nghĩ
hay phiên giải những điều đã hoặc sẽ xảy ra đem đến cho
chính mình rất nhiều căng thẳng. Thí dụ: Nếu không oàn
thành công việc sẽ bị sa thải.
2. Hướng suy nghĩ theo lối tích cực:
Nếu như phải đối mặt với cơn giận dữ, bạn nên đặt mình vào người
khác để có cái nhìn khách quan hơn. Hãy tìm mọi cách kềm chế cơn giận của
mình trước khi đòi hỏi đối phương giao tiếp tốt hơn với mình. Những điều
cần thiết bạn nên làm trong lúc giận dữ là “cố gắng giữ giọng ôn tồn, bình
tỉnh, không chỉ trích, không miệt thị”. Hiệu quả mang lại mà bạn nhận biết
19


được là bạn có được hành động và cảm xúc của chính mình và cả chính đối
phương.
3. Rút lui:
Nếu có dấu hiệu cho thấy bạn hoắc đối phương bắt đầu giận dữ trước
một vấn đề hay công việc nào đó. Tốt nhất hãy rút lui khỏi môi trường căng
thẳng ấy vài phút bằng cách đi uống nước, hít thở thật sâu, thả lỏng cơ thể.
Khi những cảm xúc căng thẳng nguội dần đi, bạn trở lại giải quyết vấn đề
trong sự bình tỉnh, chắc chắn kết quả sẽ tốt hơn.
4. Tạo thói quen hài hước và biết cười trong cuộc sống:
Theo tiến sỹ William F.Fry của trường Dại học Y dược Stanfor: “Một
nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”. Một cái cười thoải mái sẽ sản sinh ra rất
nhiều cảm giác tốt đẹp. Khi bạn cười, những cơ ở cằm và bụng sẽ giãn ra
khiến bạn thở sâu hơn, những căng thẳng và mệt nhọc dường như biến mất.
5. Học cách thở sâu:
Thở sâu có thể được xem như một kỹ thuật giữ bình tĩnh để đố phó
với những tình huống căng thẳng, hoặc khi được luyện tập một cách thường
xuyên, nó sẽ có tác dụng ngăn ngừa bạn rơi vào trạng thái căng thẳng. Vì vậy,
hãy tập cách hít thở sâu một hoặc hai lần trong ngày để luôn giữ được sự cân
bằng thần kinh và tâm lý.
III. Giải quyết mâu thuẩn giữa 2 người:
- Học cách làm chủ cảm xúc của mình: Thay vì nổi nóng và làm cho
sự việc căng thẳng hơn thì hãy nói lên cảm xúc của mình khi tiếp xúc sự việc.
- Bằng cách kiểm soát và điều khiển cảm xúc, chúng ta có thể chọn
cách thức tốt nhất để phản ứng lại những việc xảy ra trong đời. Một khi chúng
ta là chủ được cảm xúc và hành vi thì sẽ có một kết quả tốt nhất.
S
+
P
=
K
Sự việc
Phản ứng của tôi
Kết quả sự việc
(Nên cho một thí dụ cụ thể trong đời sống).
- Hiểu và thông cảm với những cảm xúc của người khác:
Thay vì trách cứ hay có hành vi đối kháng ta hãy lắng nghe và thấu cảm.
* Không dán nhãn đối tượng hay người đối diện.
* Hãy lắng nghe và chia sẻ với mọi người sẽ giúp người khác:
+ Cảm thấy được thông cảm và an ủi.
+ Khi cảm xúc tiêu cực lắng xuống, người ta sẽ bình tĩnh lắng
nghe và tìm ra hướng giải quyết.
+ Người ta sẽ có cảm giác an toàn khi được chia sẻ những vấn đề
của họ.
+ Người khác và chúng ta sẽ từng bước thiết lập mối quan hệ gắn
bó và tin cậy lẫn nhau
IV. Các cách quản lý cảm xúc:
Luyện được khả năng ình tỉnh trước nhiều tình huống là điều rất khó,
cần nhiều thời gian, nhất là những người trẻ tuổi. Sẽ không có cách nào thổi
bay đi cơn giận dữ của người khác nhanh nhất, nhưng luôn có cách để chúng
ta rèn luyện khả năng kếm chế và kiểm soát bản thân.
Giữ bình tĩnh trong nhiều tình huống được coi là nhiệm vụ “bất khả
thi” với chúng ta. Tuy nhiên, nóng nảy không bao giờ là giải pháp được lựa
20


chọn khi giải quyết những rắc rối. Để không thường xuyên nổi nóng  hãy
nên nhớ điều này:
Làm thế là vì bạn – Nóng giận chỉ thiệt thân thôi.
Nế có ai đó cố tình chọc giận – hãy thử làm theo các cách sau:
1. Bỏ đi: Trong một cuộc tranh luận, đến lúc cao trào mà cuc diện vấn
đề chưa ngả ngủ thì bỏ đi cũng ấm ức. Tuy nhiên, nếu to tiếng và cáu giận
cũng không giải quyết được vấn đề. Hãy biết ngưỡng của mình, khi biết rằng
cuộc trò chuyện căng thẳng đến mức báo động, bạn hãy dừng lại, bỏ ra ngoai
hoặc đi đâu đó để tránh không lỡ lời. Khi bình tĩnh hơn, bàn luận mọi việc sẽ
dễ dàng hơn.
2. Nhắm mắt trong giây lát:
Gặp chuyện khó chịu, hãy tạm nhắm mắt lại trong chốc lát, tạm thời
để thế giới biến mất một chút, bạn sẽ có được sự tập trung và bình tĩnh hơn.
3. Không gian yên tĩnh:
Đang bốc hỏa mà ở chổ ồn ào thì càng có nguy cơ khiến lửa cháy to
hơn. Nên tìm nơi nào đó yên tĩnh (tốt nhất là nên chuẩn bị vài chổ như vậy)
để được ở một mình, bạn cần để cho thần kinh của mình được “xoa dịu” đôi
chút, mà làm điều đó không gì bằng “bậc thầy” yên lặng.
4. Uống nước:
Khi nóng giận nên uống một ly nước, cách nay có thể củ nhưng lại rát
hiệu quả. Bạn cũng có thể tìm thấy sự hỗ trợ tuyệt với của nước cho sự bình
tĩnh như nhìn ngắm hồ cá, rửa mặt hoặc có thời gian đi tắm cũng sẽ có hiệu
quả tuyệt vời khi cần đuổi cơn cáu giận đi nới khác.
5. Hít thở sâu:
Không cần là yoga, bạn vẫn có thể trở nên điềm tỉnh hơn. Hít thở giúp
cung cấp oxygen cho não và các cơ quan trọng yếu của cơ thể, giúp chúng ta
tỉnh táo hơn. Hãy thực hành phương pháp thở sâu để cảm thấy dễ chịu hơn:
- Hít vào bằng mũi và đếm từ 1  4.
- Dừng lại và đếm từ 1  4.
- Thở ra chầm chậm và đếm từ 1  4.
TƯ DUY SÁNG TẠO
--------------------------------I. Khái niệm:
Trong một thế giới liên tục thay đổi và phát triển không ngừng như
ngày nay, tư duy sáng tạo đóng một vay trò rất quan trọng. Không có sáng
tạo, không có thay đổi thì đồng nghĩa với việc bị tụt hậu, bị hạn chế tư duy và
sa vào những khuôn sao củ, những lối mòn củ. Tư duy sáng tạo không những
giúp chúng ta phát triển được bản thân mà còn giúp tìm ra những giải pháp,
cách làm mới từ đó nâng cao năng xuất, hiệu quả làm việc.
Sáng tạo là quá trình tạo ra những giá trị vật chất tinh thần có tính chất
mớ và giá trị mới so với những sản phẩm, nhận thức, quan niệm củ đã qua.
Tư duy sáng tạo là nhằm tìm ra các phương án, biện pháp thích hợp để
kích hoạt khả năng sáng tạo và để tăng cường khả năng tư duy của một cá
nhân hay một tập thể, công đồng làm việc chung về một vấn đề hoặc một lĩnh
vực.
II. Nguyên nhân không sáng tạo:
21


1. Lối mòn tư duy:
Lối mòn tư duy là những ý nghĩ thông thường xuất hiện trong đầu
chúng ta khi nhắc đến một khái niệm hoặc một định nghĩa nào đó.
- Thí dụ: Nhắc đến dép là ta nghĩ ngay đến tác dụng của dép là để
mang – Mũ là để đội – Ghế là dùng để ngồi – Đi sinh nhật là phải có quà tặng
– Tổ chức chương trình là phải có ca, hát…
Hay nói một cách khác chúng ta gọi đó là tư duy trong chiếc hộp.
Tư duy trong chiếc hộp là chúng ta tự giới hạn những suy nghĩ của
mình trong những khuôn khổ nhất định được bó hẹp từ trước. Những điều đó
được hình thành từ những thói quen suy nghĩ, những kinh nghiệm trong quá
khứ và những định kiến cá nhân về một vấn đề nào đó. Việc này không chỉ
làm hạn chế những ý tưởng của chúng ta mà còn làm chúng ta không nhận
thức được đầy đủ tất cả những khía cạnh của một vấn đề nào đó.
Thí dụ: Nhắc đến mủ bảo hiểm thì người ta chỉ nghĩ đến là dùng để
đội khi tham gia giao thông mà không nghĩ rằng nó còn là vật phòng vệ khi bị
cướp tấn công, dùng để bỏ đồ đi chợ, nơi cất giữ tiền, dung cụ tránh mưa đá,
trang bị để nhảy hiphop… Đó chính là chiếc hộp tư duy.
2. Lười suy nghĩ:
Lười suy nghĩ là một trong những bệnh trầm kha trong xã hội hiện
nay. Đôi khi căn bệnh này trở nên quá quen thuộc đến nổi chúng ta ít nhận
thức được sự hiện diện của chúng và tích cực ngăn ngừa căn bệnh này. Thông
thường, chúng ta thường hài lòng với hiện tại, quen với những cách làm củ,
thiết lập cho mình những thói quen tiêu cực. Khi có những thay đổi, chúng ta
thường phản kháng và từ chối áp dụng những điều mới này. Hoặc đội khi, khi
nghe đến những ý tưởng hay, chúng ta cảm thấy rất thích thú nhưng rồi lại
thôi. Giữa suy nghĩ và hành động là một khoảng cách lớn. Lúc này, trong tâm
trí chúng ta xuất hiện những cụm từ hoặc câu như “Tôi không thể làm được
việc đó”, “Làm việc ấy tốn công lắm mà chẵng mang lại lợi ích là bao
nhiêu”… Nhưng hãy suy nghĩ rằng “Không làm thử thì làm sao biết có
hiệu quả hay không”.
III. 6 bước tư duy sáng tạo:
1. Bước 1 – Chuẩn bị tâm thế:
Một tinh thần rộng mở, tò mò, và sẳn sàng đón nhận những điều mới
là điều kiện tiên quyết để tư duy sáng tạo. Sai lầm thông thường của chúng ta
là khi cố gắng giải quyết một vấn đề nào đó là tập trung ngồi một chổ cả ngày
và cố gắng suy nghĩ, vắt óc ra sáng tạo và vô tình tạo áp lực cho bản thân.
VỚi một tinh thần phóng khoáng, thoải mái, tĩnh tâm và “trở nên trẻ thơ”
chúng ta đã vượt qua được một trong những rào cản lớn nhất của sáng tạo là
“lối mòn tư duy”. Ngạn ngữ Trung quốc có câu “Nếu muốn pha một tách trà
ngon, trước hết hãy đổ hết trà ngụi còn trong tách”.
2. Bước 2 – Xác định vấn đề:
Hãy tự đặt câu hỏi cho mình tại sao?
- Tại sao tôi phải giải quyết vấn đề này?
- Tại sao tôi lại cần ý tưởng mới?
- Tôi cần ý tưởng mới để làm gì?
22


Bằng cách tự đặt cho mình những câu hỏi, bạn đã tự giúp mình xác
định đúng vấn đề cần giải quyết. Chỉ khi xác định đúng được vấn đề cần giải
quyết thì bạn mới có thể tìm ra ý tưởng. Đặt câu hỏi, sơ đồ cây mục tiêu có
thể là những công cụ hữu ích trong giai đoạn này.
“Nếu chỉ có một giờ để cứu hành tinh này, tôi sẽ dành 59’ để xác
định vấn đề và 1’ còn lại là giải quyết nó” (Albert Einstein).
3. Bước 3 – Thu thập thông tin:
Cần phải thu thập đầy đủ những thông tin liên quan đến vấn đề ta cần
giải quyết (internet – thư viện – bạn bè – người thân – nói chung là tất cả).
Khi có đầy đủ những thông tin liên quan ta sẽ suy nghĩ đến phương cách giải
quyết vấn đề. Một cách nhìn mới khi được thu nhận sẽ kết nối những chi tiết
tưởng chừng như không liên quan trong bộ nhớ, nó sẽ được chúng đẩy lên từ
mức tiềm thức lên ý thức, tạo tiền đề cho ý tưởng mới… Ghi nhớ rằng càng
thu thập được nhiều thông tin, bạn càng hiểu rõ hơn vấn đề và có niều lựa
chọn hơn cho mình. Nhưng chỉ nên ở mức độ vừa phải, nếu quá nhiều có thể
bạn sẽ bị rối.
4. Bước 4 – Kết hợp và phân tích thông tin:
Từ những thông tin thu thập được, kết hợp và phân tích nó bằng
những kỹ thuật như: kết hợp ngẫu nhiên và sử dụng bản đồ tư duy mindmap.
- Đối với kết hợp ngẫu nhiên: ta chuẩn bi sẵn 1 tờ giấy trắng và ghi bất
cứ những cụm từ nào xuất hiện trong đầu bạn, sau đó kết hợp chúng với nhau
bạn sẽ có những điều thật thú vị (Thí dụ: ăn sáng với – Bánh mì; cơm tấm;
phở; bánh hỏi…  Rõ ràng sẽ cho ta nhiều cách thức để ta lựa chọn).
- Sơ đồ mindmap (sơ đố tư duy) giúp ta có một cái nhìn tổng quát về
vấn đề và giúp ta sắp xếp ý tưởng theo cách dễ nhớ và dễ sử dụng nhất.

Dù áp dụng theo cách nào, luôn luôn hãy lưu ý là ta hãy sử dụng hết
khả năng trí tưởng tượng của mình và không bó buộc nó trong bất cứ trường
hợp nào.
5. Bước 5 – Hãy tạm quên lãng:
Sau khi đã có đầy đủ các thông tin, hãy … quên chúng đi và làm
những việc giúp thư giãn cơ thể và trí óc bạn như đi tắm, nghe nhạc, café…
Bằng cách này bạn đang “gạt cần tìm thức”, tức là để tìm thức của bạn lưu
tâm đến vấn đề đó nhưng không quá tập trung căng thẳng. Dần dần, tư duy
bạn sẽ sáng tạo ra cách giải quyết. Cơ sở khoa học co việc tách mình ra khỏi
mục tiêu tức thời này là khi tiến hành những việc này, bạn đang để vùng thùy
não phải – nơi của tiềm thức và mơ mộng được kích hoạt trong khi vùng nảo
duy lý được nghỉ ngơi, tạo điều kiện co những ý tưởng bất chơt được hình
thành.
23


Câu chuyện về Archimet là một thí dụ. Được nhà vua giao cho nhiệm
vụ xác định khối lượng vàng bị làm giả trong vương miện, ông không tài nào
nghĩ ra cách trong hàng tháng trời. Vậy mà sáng kiến chợt đến với ông khi
ông đang tắm. Ông đã quá vui mừng đến nỗi từ trong mồn tắm ông đã nhảy
chạy ra ngoai rồi la lên “Tô đã tìm thấy rồi” mà quên cả mặc quần áo.
6. Bước 6 – Đánh giá ý tưởng:
Sử dụng phương pháp PMI (Plus-Minus-Interesting) để tìm ra phương
án/cách giải quyết phù hợp nhất.
Phương pháp PMI được sử dụng như sau:
- Kẻ một bảng gồm 3 cột tương ứng với P – M – I.
- Cột P: ghi tất cả những kết quả tích cực của việc thực hiện hành
động và cũng đánh giá điểm (điểm cộng).
- Cột M: Ghi những tác động tiêu cực của hàh động và cũng đánh giá
điểm. (Điểm trừ).
- Cột I: Ghi tương tự như như cột P (cho điểm cộng), ghi những điều
thú vị và kết quả có thể có.
- Tổng hợp lại 3 cột. Nếu có kết quả điểm dương thì bạn nên tiến hành
điều đó (chọn điểm dương cao nhất). Còn âm thì ngược lại. (Nếu được nhiều
người chấm điểm thì hay nhất).
Tuy nhiên phương pháp này chỉ mang tính chính xác tương đối. Bạn
nên kết hợp với trực giác của mình để lắng nghe “Bạn có thực sự muốn làm
điều này không” để ra được kết quả chính xác hơn. Đôi lúc trong một vài
trường hợp, các yếu tố đã không được liệt kê hết trong bảng phân tích nên dễ
dàng dẫn đến sai lệch trong tính toán. Suy nghĩ thấu đáo về toàn cảnh vấn đề
luôn giúp bạn nhìn rõ vấn đề. Từ đó sẽ giúp bạn đưa ra quyết địh chính xác
hơn.
Trong suốt quá trình sáng tạo, yếu tố đánh giá về đúng – sai đã không
được đề cập đến. BƯớc này sẽ giúp các bạn nhận ra ý tưởng phù hợp nhất với
mình.
IV. Thủ thuật tư duy sáng tạo:
1. Động não cá nhân:Độngnnão cá nhân hay còn gọi là Brainstorm.
Suy nghĩ và viết ra giấy tất cả những suy nghĩ, ý tưởng của mình đang xuất
hiện trong đầu. Càng về sau, ý tưởng càng mới lạ, càng độc đáo càng tốt.
Bằng cách này, bạn đang vận dụng phát huy tiềm năng sáng tạo của mình.
Không để tư duy của mình suy nghĩ theo một lối mòn.
2. Liên tưởng tưởng tượng:
Rất niều phát minh được tạo ra nhờ vào sự liên tưởng, tưởng tượng
của các nhà khoa học. Nhờ vào chuồn chuồn người ta phát minh ra máy bay –
nhờ vào con dơ người ta phát minh ra rada… Kết hợp phương pháp này trong
giải quyết vấn đề bạn sẽ tìm thấy được nhiều nét tương đồng và giải quyết vấn
đề nhanh hơn, tốt hơn.
3. Gán ép ngẫu nhiên:
- Ta chọn 2 từ bất kỳ và viết vào trang giấy chia đôi. Sau đó ghép 2 từ
của 2 bên lai sao cho có nghĩa, càng nhiều nghĩa càng tốt và sau đó chọn
nghĩa đúng nhất để sử dụng.
4. Lật ngược vấn đề:
24


Tự đặt câu hỏi “Nếu không như vậy thì sẽ ra sao?”. Khi đặt vấn đề
như vậy và sau khi suy nghĩ để tìm câu trả lời thì sẽ cho ta một kết quả khác.
Chính thủ thuật này đã giúp chúng ta lật ngược lại vấn đề, nhìn thấy được mặt
trái của vấn đề và đôi khi đó lại là những điểm rất thú vị và độc đáo.
V. Phát triển năng lực sáng tạo:
1. Năng lực tư duy:
Tư duy là một hiện tượng tâm lý, là hoạt động nhận thức bậc cao của
con người. Hoạt động tư duy đồng nghĩa với hoạt động trí tuệ của con người.
Có nhiều cách để phân loại tư duy. Dựa vào mức độ độc lập của tư
duy có thể chia thành 4 loại như sau:
+ Tư duy lệ thuộc: Là tư duy những người suy nghĩ dựa dẫm, phụ
thuộc vào tư duy của người khác, không có chính kiến riêng.
+ Tư duy độc lập: Là tư duy của những người có chính kiến riêng, độc
lập và không phụ thuộc vào ý kiến của người khác, ngay cả với người có
quyền lực lớn.
+ Tư duy phê phán: Là loại tư duy của những người có tư duy độc lập
nhưng đặc biệt hơn là trước một sự việc, sự vật, họ có khả năng quan sát,
phân tích, tổng hợp để có những phán xét việc đó tốt hay xấu (tốt chổ nào và
xấu chổ nào).
+ Tư duy sáng tạo: Sau khi nhận định sự việc, sự vật, người có tu duy
sáng tạo suy nghĩ tiếp và đề ra những giải pháp mới nhằm khắc phục những
thiếu xót và và phát huy những ưu điểm trong sử lý sự việc.
Phát triển năng lực tư duy giúp chúng ta ra những quyết định thông
minh, có ý thức, suy nghĩ sâu sắc trước một vấn đề, giúp phát triển những con
người tích cực, tỉnh táo và tiến bộ văn minh.
2. Năng lực quan sát:
Quan sát là hình thức phát triển cao đệ của tri giác có chủ định, có ý
nghĩa cực kỳ quan trọng trong hoạt động thực tiễn, sang tạo của loài người.
Quan sát giúp thu thập thông tin, giúp hưu ích trong quá trình so sánh, phân
tích, tổng hợp, suy xét vấn đề … giúp người quan sát có cái nhìn tổng quan về
một vấn đề nào đó trong cuộc sống.
3. Năng lực tưởng tượng – liên tưởng:
Liên tưởng – tưởng tượng là xây dựng trong đầu những hình ảnh mới
trên cơ sở các biểu tượng đã có hoặc tạo ra những hình ảnh hoàn toàn mới.
Liên tưởng – tưởng tượng gắn với hoạt động thực tiễn giúp tạo ra những sáng
kiến mới, độc đáo.
4. Năng lực phát hiện vấn đề:
Phát hiện chính xác vấn đề cần giải quyết là điều kiện của tư duy sáng
tạo, có xác định đúng được vấn đề mới xác định được hướng giải quyết, từ đó
điều chỉnh tư duy cho phù hợp.
5. Năng lực đọc:
Đọc không chỉ giúp thỏa mản nhu cầu tinh thần của người đọc mà còn
giúp cung cấp cho chúng ta những thông tin, phục vụ cho công việc, hoạt
động của người lao động, sáng tạo.
6. Sức khỏe và sáng tạo:
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×