Tải bản đầy đủ

Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động quản trị vốn lưu động của các doanh nghiệp niêm yết trên sgd chứng khoán hà nội

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
---------***---------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh quốc tế
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG
QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SGD CHỨNG KHOÁN
HÀ NỘI
Họ và tên sinh viên: Trương Quang Huân
Mã sinh viên: 1212210057
Lớp: Anh 6
Khóa: 51 QTKD
Người hướng dẫn khoa học: ThS. Bùi Thu Hiền

Hà Nội, tháng 5 năm 2017


i


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1 – LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU
ĐỘNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG
QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG ......................................................................... 5
1.1.

Lý luận chung về vốn lưu động và quản trị vốn lưu động ................................... 5

1.1.1. Khái niệm vốn lưu động và phân loại vốn lưu động ................................... 5
1.1.2. Khái niệm quản trị vốn lưu động ................................................................. 9
1.1.3. Vai trò của quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp .............................. 10
1.2.

Các nội dung của hoạt động quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp ..... 12

1.2.1. Quản trị tiền mặt và các tài sản thanh khoản cao ...................................... 12
1.2.2. Quản trị hàng tồn kho ................................................................................ 22
1.2.3. Quản trị các khoản phải thu ....................................................................... 27
1.2.4. Quản trị các khoản phải trả ngắn hạn ........................................................ 30
1.3.

Các tiêu chí đo lường hiệu quả quản trị vốn lưu động ....................................... 31

1.3.1. Các tiêu chí đo lường khả năng thanh toán ............................................... 31
1.3.2. Các tiêu chí đo lường hiệu quả quản trị hàng tồn kho ............................... 36
1.3.3. Các tiêu chí đo lường hiệu quả quản trị khoản phải thu ............................ 37
1.3.4. Các tiêu chí đo lường hiệu quả quản trị khoản phải trả ............................. 38
1.3.5. Chu kỳ chuyển hóa tiền mặt ...................................................................... 39
1.4.

Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động quản trị vốn lưu động của

các doanh nghiệp ......................................................................................................................... 40
1.4.1. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp ......................................................... 40


ii
1.4.2. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp ......................................................... 44


CHƯƠNG 2 – PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI
HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SGD CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI ..... 46
2.1.

Giới thiệu về các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà

Nội (HNX) ...................................................................................................................................... 46
2.1.1. Tổng quan các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà
Nội……………………………………………………………………………….46
2.1.2. Tổng quan các ngành nghề niêm yết trên HNX ........................................ 48
2.2.

Phân tích hiệu quả quản trị vốn lưu động của các doanh nghiệp niêm yết

trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội................................................................................ 51
2.2.1. Các tiêu chí đo lường khả năng thanh toán ............................................... 51
2.1.2. Các tiêu chí đo lường hiệu quả quản trị hàng tồn kho ............................... 55
2.1.3. Các tiêu chí đo lường hiệu quả quản trị khoản phải thu ............................ 58
2.1.4. Các tiêu chí đo lường hiệu quả quản trị khoản phải trả ............................. 61
2.1.5. Chu kỳ chuyển hóa tiền mặt ...................................................................... 63
2.3.

Phân tích định lượng các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động quản trị vốn lưu

động của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội ...... 65
2.3.1. Dữ liệu doanh nghiệp ................................................................................. 65
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 66
2.3.2. Thống kê mô tả dữ liệu .............................................................................. 70
2.3.3. Phân tích kết quả hồi quy........................................................................... 74
2.4.

Đánh giá chung về các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động của các doanh

nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội ........................................ 76


iii

CHƯƠNG 3 – GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SGD CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI ..... 79
3.1.

Giải pháp vi mô................................................................................................ 79

3.1.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống quản trị vốn doanh nghiệp .............. 79
3.1.2. Nhóm giải pháp định hướng ...................................................................... 90
3.2.

Giải pháp vĩ mô................................................................................................ 93

3.2.1. Lựa chọn hệ thống phân ngành phù hợp với các đặc điểm của doanh
nghiệp Việt Nam .................................................................................................... 93
3.2.2. Nhanh chóng hoàn thiện xây dựng bộ máy hành chính điện tử ................ 95
3.2.3. Hoàn thiện cơ chế để thúc đẩy sự phát triển của các khu công nghiệp và
sản xuất tập trung ................................................................................................... 95
3.2.4. Tạo điều kiện phát triển công nghiệp phụ trợ ............................................ 96
3.2.5. Nghiên cứu và học tập những chính sách khơi thông dòng vốn từ các nước
phát triển ................................................................................................................ 96

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................. 100
PHỤ LỤC ................................................................................................................ 102


iv

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1. Số lượng doanh nghiệp của từng phân ngành tại thời điểm 31/3/2016….…48
Bảng 2.2. Các nhóm ngành có doanh nghiệp niêm yết trên HNX tại 31/12/2016….…49
Bảng 2.3. Doanh nghiệp có vốn hóa lớn nhất tại các nhóm ngành…………...……….50
Bảng 2.4. Hệ số nợ/Vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp niêm yết trên HNX giai
đoạn 2011 – 2016………………………………………...…………………………....51
Bảng 2.5. Hệ số thanh toán hiện hành của các doanh nghiệp niêm yết trên HNX giai
đoạn 2011 – 2016……………………………………………………………..……….54
Bảng 2.6. Vòng quay hàng tồn kho của các doanh nghiệp niêm yết trên HNX giai đoạn
2011 – 2016……………………………………………………………………………56
Bảng 2.7. Số ngày tồn kho bình quân của các doanh nghiệp niêm yết trên HNX giai
đoạn 2011 – 2016…………………………………………...…………………………58
Bảng 2.8. Vòng quay khoản phải thu của các doanh nghiệp niêm yết trên HNX giai
đoạn 2011 – 2016……………………………………………………………………...58
Bảng 2.9. Số ngày thu tiền bình quân của các doanh nghiệp niêm yết trên HNX giai
đoạn 2011 – 2016…...…………………………………………………………………60
Bảng 2.10. Vòng quay khoản phải trả của các doanh nghiệp niêm yết trên HNX giai
đoạn 2011 – 2016……………………………………...………………………………61
Bảng 2.11. Số ngày trả tiền bình quân của các doanh nghiệp niêm yết trên HNX giai
đoạn 2011 – 2016…………...…………………………………………………………63
Bảng 2.12. Chu kỳ chuyển hóa tiền mặt của các doanh nghiệp niêm yết trên HNX giai
đoạn 2011 – 2016……………………………………………………………………...64
Bảng 2.13. Cách tính toán các biến độc lập.……………………………............……..69


v
Bảng 2.14. Thống kê mô tả các biến độc lập…………………………………….....…70
Bảng 2.15. Ma trận hệ số tương quan giữa các biến độc lập……………….………....70
Bảng 2.16. Kết quả Mô hình bình phương tối thiểu tổng quát (GLS)…………………74
Bảng 3.1. Theo dõi công nợ của khách hàng………………………………………….86


vi

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1. Mô hình quản trị tiền mặt Miller – Orr……………………………………..16
Hình 1.2. Mô tả quá trình kiểm soát hoạt động thanh toán……………………………19
Hình 1.3. Mối quan hệ giữa chi phí tồn kho và khối lượng đặt hàng…………………24
Hình 1.4. Mô hình tồn kho EOQ với mức tồn kho không có dự trữ an toàn………….24
Hình 1.5. Chu kỳ chuyển hóa tiền mặt của tài sản ngắn hạn……………………….…39
Hình 2.1. Số lượng doanh nghiệp niêm yết trên HNX giai đoạn (2012 – 2016)……...47
Hình 2.2. Giá trị cổ phiếu và vốn hóa các doanh nghiệp niêm yết trên HNX tại
31/12/2016……………………………………………………………………………..47


1

LỜI MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế phát triển hiện đại yêu cầu mối quan hệ bền chặt giữa các doanh

nghiệp khác nhau trong một chuỗi giá trị. Do đó, tự thân mỗi doanh nghiệp phải xây
dựng cho mình một hệ thống quản lý nội bộ hoàn hảo ở tất cả các khâu, nếu không thì
doanh nghiệp sẽ mất đi lợi thế cạnh tranh của mình.
Một trong các yêu cầu đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp
có yếu tố sản xuất, đó là phải đảm bảo hoạt động quản trị vốn lưu động được thực hiện
hiệu quả, lượng vốn sử dụng là ít nhất để tiết kiệm chi phí cơ hội, và thời gian thu tiền
là nhanh nhất để đảm bảo thanh khoản, tạo lợi thế cạnh tranh.
Tuy nhiên, theo số liệu của Tổng cục thống kê, ở Việt Nam hiện nay, số lượng
doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 97,5%. Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa đều duy
trì hệ thống quản trị vốn lưu động chưa chuyên nghiệp, chưa có một bộ phận lập kế
hoạch và quản trị riêng biệt, và thường không đối phó được với các diễn biến tiêu cực
của kinh tế vĩ mô, chẳng hạn như lãi suất tăng hoặc khủng hoảng kinh tế từ bên ngoài.
Có nhiều nguyên nhân khiến cho các nhà quản lý hiện nay vẫn chưa ý thức được
tầm quan trọng của việc quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp, chẳng hạn do
doanh nghiệp vừa và nhỏ có quá nhiều vấn đề cần giải quyết, nên nhà quản lý cho rằng
quản trị vốn lưu động chỉ là vấn đề nhỏ, hoặc do trình độ của ban quản lý có hạn, nên
không nắm được các quy trình liên quan tới hoạt động quản trị vốn lưu động của doanh
nghiệp. Một nguyên nhân quan trọng khác đó là các nhà quản trị không có đầy đủ hiểu
biết về các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động quản trị vốn lưu động.
Do đó, khóa luận này lựa chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động
quản trị vốn lưu động của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng
khoán Hà Nội” nhằm nghiên cứu và cung cấp cho các nhà quản lý một cái nhìn toàn
diện về các nhân tố cơ bản có ảnh hưởng đáng kể tới hoạt động quản trị vốn lưu động
của một doanh nghiệp.


2

2.

Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới, đã có nhiều học giả nghiên cứu về vấn đề quản trị vốn lưu động

trong doanh nghiệp. Từ năm 1980, trong cuốn giáo trình “Principles of Corporate
Finance”, các tác giả Richard Brealey, Stewart Myers, và Franklin Allen đã giành một
chương viết về chủ đề vốn lưu động với tên gọi “Working capital management” (tạm
dịch “Quản trị vốn lưu động”). Trong suốt các năm sau đó, các học giả ở nhiều nước
khác nhau trên thế giới đã công bố các nghiên cứu của mình về chủ đề này. Trong số
đó, có thể kể đến Deloof (2003), M.A. Zariyawati (2010), Ebrahim Mansoori và Datin
Dr Joriah Muhammad (2012), Onaolapo and Kajola (2015).
Tuy nhiên, số lượng đề tài nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam hiện nay vô
cùng ít, tiêu biểu có thể kể đến các nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiền Linh (2009),
Vương Đức Hoàng Quân và Dương Diễm Kiều (2015). Tuy nhiên, những nghiên cứu
của các học giả nói trên đều được thực hiện với quy mô nhỏ và đối tượng ít, vì thế kết
quả nghiên cứu chưa phản ánh được đặc điểm của toàn bộ các doanh nghiệp. Trong khi
đó, nếu áp dụng các kết quả đã nghiên cứu trên thế giới với các doanh nghiệp Việt
Nam thì sẽ thiếu tính đúng đắn, bởi nhiều sự khác biệt về bản chất, chẳng hạn như quy
mô nền kinh tế, tuổi thọ các doanh nghiệp, hay đặc điểm của nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa với doanh nghiệp nhà nước là trung tâm như ở nước ta.
Do đó, khóa luận này sẽ thực hiện phân tích số lượng mẫu lớn, bao gồm toàn bộ
các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội nhằm đưa ra một kết
luận chung nhất, có thể áp dụng cho nhiều doanh nghiệp thuộc nhiều ngành nghề khác
nhau.
3.

Mục tiêu nghiên cứu
Khóa luận này nghiên cứu, phân tích mẫu nhằm trả lời cho ba câu hỏi sau.
Thứ nhất, cơ sở lý luận như thế nào về chủ đề vốn lưu động và quản trị vốn lưu

động?


3

Câu hỏi lớn thứ nhất bao gồm các câu hỏi nhỏ: Khái niệm về vốn lưu động?
Tiêu chí phân loại vốn lưu động? Mỗi loại gồm có các nhân tố nào?
Thứ hai, các nhân tố nào ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động quản trị vốn lưu
động trong doanh nghiệp?
Câu hỏi lớn thứ hai được phân tích thành các câu hỏi nhỏ bao gồm: Các nhân tố
được phân nhóm như thế nào? Mỗi nhóm gồm có các nhân tố nào?
Thứ ba, các nhân tố đó ảnh hưởng như thế nào tới hoạt động quản trị vốn lưu
động của doanh nghiệp?
Để trả lời câu hỏi thứ ba, khóa luận này sẽ trả lời các câu hỏi nhỏ bao gồm: Hiệu
quả của hoạt động quản trị vốn lưu động được đo lường như thế nào? Các nhân tố ảnh
hưởng tới hiệu quả quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp được đo lường như thế
nào? Sử dụng công cụ gì để đánh giá tác động của các nhân tố tới hiệu quả của hoạt
động quản trị vốn lưu động?
Thứ tư, dựa trên các kết luận về ảnh hưởng của các nhân tố tới hiệu quả của
hoạt động quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp, khóa luận đề xuất giải pháp gì?
Để giải đáp được bốn câu hỏi trên, trước hết, khóa luận cần phải xác định được
đối tượng và phạm vi nghiên cứu, như được trình bày ở ngay dưới đây.
4.

Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động

quản trị vốn lưu động của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán
Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu về không gian, nghiên cứu được giới hạn với các doanh
nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội. Về thời gian, nghiên cứu thực
hiện trong giai đoạn 2008 – 2016.
Các doanh nghiệp được lựa chọn trong mẫu nghiên cứu phải thỏa mãn đồng thời
cả ba tiêu chí bao gồm (1) Niêm yết liên tục từ năm 2008 đến hết năm 2016, (2) Không


4

thuộc các lĩnh vực đặc thù bao gồm Dịch vụ tài chính, Ngân hàng, Chứng khoán bởi
vốn lưu động của các doanh nghiệp này không mang tính đại diện cho các doanh
nghiệp sản xuất, nếu đưa vào mẫu nghiên cứu sẽ cho kết luận không chính xác.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong khóa luận là tổng hợp các bài
nghiên cứu đã có, sau đó là phân tích mẫu và so sánh. Bên cạnh đó, khóa luận còn sử
dụng các phương pháp liệt kê và suy luận để đưa ra các kết quả. Đặc biệt, khóa luận
này sử dụng phương pháp phân tích định lượng khi đánh giá tác động của các nhân tố
ảnh hưởng tới hoạt động quản trị vốn lưu động của các doanh nghiệp.
5.

Bố cục của khóa luận
Ngoài các phần phụ, nội dung chính của khóa luận được trình bày trong 3

chương, bao gồm như sau.
Chương 1 – Lý luận chung về quản trị vốn lưu động và các nhân tố ảnh
hưởng đến hoạt động quản trị vốn lưu động
Chương 2 – Thực trạng và phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động
quản trị vốn lưu động của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng
khoán Hà Nội
Chương 3 – Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị vốn lưu động
của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội


5

CHƯƠNG 1 – LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU
ĐỘNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG
QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG
1.1.

Lý luận chung về vốn lưu động và quản trị vốn lưu động

1.1.1. Khái niệm vốn lưu động và phân loại vốn lưu động
1.1.1.1.

Khái niệm vốn lưu động

Vốn lưu động là các khoản mục trên bảng cân đối kế toán không giúp tối đa hóa
lợi ích cho các cổ đông (Sagner, 2007). Cho đến thời điểm này, đã có nhiều học giả
khác nhau trên thế giới cũng như tại Việt Nam đưa ra khái niệm về vốn lưu động. Dù
mỗi học giả đưa ra một định nghĩa khác nhau trong các công trình nghiên cứu của mình,
nhưng họ đều đồng tình rằng vốn lưu động (working capital) bao gồm hai phần chính
là các tài sản ngắn hạn và các khoản phải trả ngắn hạn. Cùng với khái niệm về vốn lưu
động, các học giả cũng phát triển hai khái niệm khác là vốn lưu động gộp (gross
working capital) và vốn lưu động ròng (net working capital).
Rirchard A. Brealey, Stewart C. Myers và Franklin Allen (1980) cho rằng
“những tài sản và những khoản phải trả ngắn hạn, hay trong kỳ, được gọi chung là vốn
lưu động”. Khái niệm này tuy ngắn gọn nhưng đã nêu lên đầy đủ hai thành phần cơ bản
của của vốn lưu động mà các học giả sau này cũng thừa nhận. Đây cũng là một trong
những khái niệm đầu tiên về vốn lưu động. Tuy nhiên, ba tác giả trên (1980) lại đồng
nhất khái niệm vốn lưu động (working capital) với vốn lưu động ròng (net working
capital) và định nghĩa rằng “vốn lưu động ròng (thường được gọi một cách đơn giản là
vốn lưu động) là sự chênh lệch giữa những tài sản ngắn hạn và những khoản nợ phải
trả ngắn hạn của công ty”.
Soyemi Abosede Abiodun và Olawale Luqman Samuel (2014) định nghĩa “vốn
lưu động xác định các Nguồn tài trợ yêu cần dùng cho hoạt động kinh doanh hàng ngày
của công ty”. Định nghĩa này tổng quát hơn rất nhiều so với ba tác giả ở trên. Tuy
nhiên, cũng trong nghiên cứu của mình, Soyemi Abosede Abiodun và Olawale


6

Luqman Samuel đã phân biệt được hai khái niệm vốn lưu động gộp (gross working
capital) và vốn lưu động ròng (net working capital). Hai tác giả cho rằng “về phương
diện tài chính, tồn tại hai khái niệm về vốn lưu động bao gồm vốn lưu động gộp và vốn
lưu động ròng. Vốn lưu động gộp là toàn bộ các tài sản ngắn hạn bao gồm tiền mặt, các
chứng khoán có khả năng thanh khoản, các khoản hàng tồn kho nguyên vật liệu, sản
phẩm dở dang, hàng hóa thành phẩm và các khoản phải thu. Vốn lưu động ròng là sự
chênh lệch giữa các tài sản ngắn hạn và các khoản phải trả ngắn hạn”. Định nghĩa của
hai tác giả đã chỉ ra được sự khác biệt giữa khái niệm vốn lưu động gộp và vốn lưu
động ròng, đồng thời cũng tổng quát được khái niệm vốn lưu động.
TS. Nguyễn Thu Thủy (2011) định nghĩa “vốn lưu động (working capital) đôi
khi còn được gọi là vốn lưu động gộp (gross working capital) là thuật ngữ dùng để chỉ
toàn bộ tài sản ngắn hạn được sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Hay nói cách khác, vốn lưu động là những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh
doanh của doanh nghiệp”. Định nghĩa này đã khái quát được hai định nghĩa của các tác
ở phía trên và phù hợp với đối tượng của nghiên cứu này.
Ngoài khái niệm về vốn lưu động gộp, TS. Nguyễn Thu Thủy (2011) cũng nêu
ra khái niệm về Vốn lưu động ròng, chính là khoản chênh lệch giữa sử dụng vốn và
nguồn vốn cùng thời gian sử dụng do các giao dịch tài chính trong kỳ kinh doanh tạo ra.
Vốn lưu động ròng có thể nhận các giá trị sau.


Vốn lưu động ròng dương: Trong trường hợp này, việc tài trợ từ các Nguồn

vốn là tốt. Toàn bộ tài sản dài hạn được tài trợ từ Nguồn vốn dài hạn, nghĩa là được
tài trợ một cách rất ổn định. Doanh nghiệp không những đủ vốn dài hạn tài trợ cho
các tài sản dài hạn của mình mà còn thừa một phần để tài trợ các nhu cầu ngắn hạn.
Đồng thời, khi vốn lưu động có giá trị dương cũng có nghĩa là tổng tài sản ngắn hạn
lớn hơn nợ ngắn hạn. Điều đó chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt, có
thể trang trải các khoản nợ ngắn hạn của mình bằng các tài sản có khả năng luân
chuyển quay vòng nhanh.


7



Vốn lưu động ròng âm: Trong trường hợp này, tài sản dài hạn lớn hơn Nguồn

vốn dài hạn. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp đã dùng Nguồn vốn ngắn hạn tài trợ
cho đầu tư dài hạn. Điều này rất nguy hiểm bởi khi hết hạn vay (không quá một
năm) thì doanh nghiệp buộc phải nhanh chóng tìm ra Nguồn vốn khác thay thế. Đây
mới chỉ là một giải pháp tình thế. Nếu điều này xảy ra liên tục thì sự tồn tại của
doanh nghiệp bị đe dọa, doanh nghiệp có thể bị đẩy tới giải pháp là bán thanh lý tài
sản cố định hoặc các loại tài sản dài hạn khác (thường là với giá thấp hơn giá trị thực
tế) để thanh toán nợ đến hạn. Đồng thời khi vốn lưu động ròng âm thì rõ ràng khả
năng thanh toán của doanh nghiệp là rất kém, bởi vì chỉ có tài sản lưu động (tài sản
ngắn hạn) mới có thể chuyển đổi thành tiền trong thời gian ngắn để trả nợ trong khi
tài sản lưu động của doanh nghiệp lại có giá trị nhỏ hơn tổng nợ ngắn hạn.
Tóm lược lại, người viết sử dụng thuật ngữ vốn lưu động gộp (gross working
capital) để chỉ toàn bộ tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn được sử dụng trong hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp, thuật ngữ vốn lưu động ròng được hiểu là phần
chênh lệch giữa các tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
1.1.1.2.

Phân loại vốn lưu động

Việc phân loại giúp cho hoạt động quản trị vốn lưu động được thực hiện hiệu
quả hơn. Cùng với đó, việc phân loại là cần thiết đối với bài nghiên cứu này nhằm giúp
cho quá trình xác định các nhân tố đo lường hiệu quả hoạt động quản trị vốn lưu động
được thực hiện một cách hiệu quả.
Khóa luận này thực hiện phân loại vốn lưu động dựa theo 5 tiêu chí như được
trình bày dưới đây.
 Phân loại theo vai trò từng loại vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh
Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: bao gồm giá trị các khoản nguyên vật
liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ.
Vốn lưu động trong khâu sản xuất: bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở dang,
bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết quả chuyển.


8

Vốn lưu động trong khâu lưu thông: bao gồm các khoản giá trị thành phẩm, vốn
bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá quý …); các khoản vốn đầu tư ngắn hạn (đầu tư chứng
khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn …); các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn;
các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, các khoản tạm ứng).
 Phân loại theo hình thái biểu hiện
Vốn vật tư, hàng hóa: là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện bằng
hiện vật cụ thể như nguyên, nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành
phẩm;
Vốn bằng tiền; bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi
ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn.
 Phân loại theo quan hệ sở hữu
Vốn chủ sở hữu: là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp mà
doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt.
Các khoản nợ: là các khoản vốn lưu động được hình thành từ vốn vay các ngân
hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn vay thông qua phát hành trái
phiếu; các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán. Doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng
trong một thời hạn nhất định.
 Phân loại theo nguồn hình thành
Nguồn vốn điều lệ: là số vốn lưu động được hình thành từ Nguồn vốn điều lệ
ban đầu khi thành lập hoặc Nguồn vốn điều lệ bổ sung trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Nguồn vốn tự bổ sung: là Nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quá
trình sản xuất kinh doanh.
Nguồn vốn liên doanh, liên kết: là Nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong
quá trình sản xuất kinh doanh như từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu tư.


9

Nguồn vốn đi vay: vốn vay của các ngân hàng thương mại hoặc tổ chức tín dụng,
vốn vay của người lao động trong doanh nghiệp, vay các doanh nghiệp khác.
`

Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn bằng việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu.

 Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn
Nguồn vốn lưu động tạm thời: là Nguồn vốn có tính chất ngắn hạn chủ yếu để
đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời về vốn lưu động phát sinh trong quá trình
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay
ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các khoản nợ ngắn hạn khác.
Nguồn vốn lưu động thường xuyên: là Nguồn vốn có tính chất ổn định hình
thành nên tài sản lưu động thường xuyên cần thiết.
1.1.2. Khái niệm quản trị vốn lưu động
M.A. Zariyawati, M.N. Annuar, H. Taufiq và A. Sazali (2010) cho rằng “vốn
lưu động là một thành phần quan trọng trong hoạt động quản trị công ty, nhằm đảm
bảo rằng một công ty có thể duy trì hoạt động trong thời gian dài và hơn nữa làm tăng
giá trị công ty”, “các công ty cần phải duy trì tính thanh khoản trong hoạt động kinh
doanh hàng ngày để đảm bảo công ty hoạt động trơn tru và đáp ứng được các nghĩa
vụ”. Mặc dù chưa đưa ra được một khái niệm cụ thể về hoạt động quản trị vốn lưu
động, nhưng các tác giả cũng đã khái quát được mục tiêu của việc thực hiện hoạt động
quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp.
Onaolapo và Kajola (2015) đã đưa ra khái niệm “hoạt động quản trị vốn lưu
động liên quan đến việc quản trị có hiệu quả các thành phần khác nhau của vốn lưu
động, bao gồm các tài sản ngắn hạn và những khoản phải trả ngắn hạn”. Khái niệm này
đã nêu lên được nội dung tổng quát, nhiệm vụ của hoạt động quản trị vốn lưu động
trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, khái niệm này chưa nêu cụ thể các nhiệm vụ mà một
nhà quản trị tài chính phải thực hiện để đảm bảo vốn lưu động của doanh nghiệp được
quản trị hiệu quả.


10

TS. Nguyễn Thu Thủy (2011, tr. 288) cũng viết “quản trị vốn lưu động là việc
xây dựng chính sách vốn lưu động và thực hiện chính sách ấy trong các hoạt động kinh
doanh hàng ngày của doanh nghiệp”. Định nghĩa này tuy đã nêu được các nhiệm vụ
chính mà một nhà quản trị phải làm, nhưng lại không đề cập đến mục tiêu của hoạt
động quản trị vốn lưu động.
Tóm lược lại, quản trị vốn lưu động là quá trình xây dựng chính sách vốn lưu
động và thực hiện chính sách ấy trong hoạt động kinh doanh thường ngày của doanh
nghiệp, nhằm đảm bảo doanh nghiệp có khả năng duy trì tính thanh khoản và đáp ứng
đầy đủ các nghĩa vụ ngắn hạn của doanh nghiệp.
1.1.3. Vai trò của quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp
Các học giả đều thừa nhận hoạt động quản trị vốn lưu động đóng một vai trò đặc
biệt quan trọng trong doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất và thương
mại bán lẻ. Trong khi một doanh nghiệp bán lẻ thường không quan tâm nhiều đến việc
quản lý các khoản phải thu bởi hầu hết khách hàng đều thanh toán ngay khi mua hàng,
thì đây lại là vấn đề được một doanh nghiệp sản xuất chú ý. Đối với một doanh nghiệp
bán lẻ, việc quản lý hàng tồn kho lại là một yêu cầu thiết yếu, bởi vấn đề hàng tồn kho
hết hạn, giảm giá.
Tổng hợp các nghiên cứu đã có, quản trị vốn lưu động đóng năm vai trò chủ yếu
sau đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ nhất, quản trị vốn lưu động đảm bảo lượng vốn nhàn rỗi được đầu tư một
cách có hiệu quả. Hàng tồn kho, khoản phải thu, khoản phải trả và tiền mặt cần phải
duy trì ở mức cân đối với đặc thù của từng doanh nghiệp, từng lĩnh vực khác nhau.
Việc chú trọng hoạt động quản trị vốn lưu động sẽ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa
Nguồn vốn của mình, không lãng phí dư thừa, nhưng cũng không thiếu đến mức phải
gián đoạn hoạt động. Việc phân bổ vốn hợp lý còn có thể giúp doanh nghiệp thu được
những khoản lợi nhuận nhất định từ việc tận dụng chi phí cơ hội.


11

Thứ hai, quản trị vốn lưu động đảm bảo khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài
chính ngắn hạn của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp phải duy
trì mối quan hệ với nhiều đối tượng khác nhau như nhà cung cấp, khách hàng, cơ quan
nhà nước, và đôi khi xuất hiện các khoản phải trả đối với các bên này, chẳng hạn thanh
toán tiền nguyên vật liệu cho nhà cung cấp hay các khoản bồi thường đối với khách
hàng. Nếu hoạt động quản trị vốn lưu động không được tách ra để thực hiện một cách
chuyên nghiệp thì doanh nghiệp sẽ rất khó đảm bảo việc thanh toán các khoản phải trả
này một cách đầy đủ và đúng thời hạn. Hậu quả là mối quan hệ với các nhà cung cấp bị
ảnh hưởng và doanh nghiệp có nguy cơ gặp phải các trục trặc pháp lý. Do đó, ở mỗi
doanh nghiệp, nhà quản trị vốn lưu động phải quản lý và dự báo các nghĩa vụ tài chính
ngắn hạn, không để doanh nghiệp phải gián đoạn hoạt động.
Thứ ba, quản trị vốn lưu động duy trì sự cân bằng hiệu quả giữa các tài sản ngắn
hạn và các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Sự cân bằng giữa các Nguồn tài trợ
với các khoản mục tài sản của doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự tồn tại của một doanh
nghiệp. Nếu doanh nghiệp thường xuyên phải dùng các Nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ
cho các tài sản dài hạn, chẳng hạn việc dùng tiền thanh toán nhà cung cấp nguyên vật
liệu để mua tài sản cố định, sớm muộn doanh nghiệp cũng sẽ đối mặt với nguy cơ phá
sản. Ngược lại, nếu doanh nghiệp dùng Nguồn tài trợ dài hạn để thanh toán các nghĩa
vụ ngắn hạn, chẳng hạn dùng lợi nhuận giữ lại để thanh toán nguyên vật liệu, điều đó
khiến doanh nghiệp không tận dụng được chi phí cơ hội từ việc đầu tư tài chính hay
gửi lãi suất, hoặc mua sắm tài sản cố định để mở rộng sản xuất. Bởi vậy, nhà quản trị
vốn lưu động phải cân bằng được Nguồn tài trợ ngắn hạn và các tài sản ngắn hạn trong
hoạt động kinh doanh hàng ngày.
Thứ tư, quản trị vốn lưu động tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Việc phân bổ Nguồn vốn hợp lý và cân bằng được các Nguồn tài trợ
ngắn hạn với tài sản ngắn hạn sẽ giúp doanh nghiệp tận dụng được chi phí cơ hội, có
thêm những khoản lợi nhuận nhất định từ gửi lãi suất hoặc đầu tư tài chính. Cùng với
đó, quản lý hiệu quả các khoản tín dụng hoặc việc thanh toán nhà cung cấp cũng giúp


12

doanh nghiệp tiết kiệm được những khoản phí hoạt động. Doanh nghiệp tiết kiệm được
một đồng phí, lợi nhuận sẽ tăng thêm một đồng, trong khi nếu nỗ lực tăng thêm một
đồng doanh thu, lợi nhuận thu được luôn luôn nhỏ hơn con số đó.
Thứ năm, quản trị vốn lưu động hiệu quả tạo nên uy tín cho doanh nghiệp. Xuất
phát từ vai trò thứ ba, việc doanh nghiệp đảm bảo thực hiện đầy đủ và đúng hạn các
nghĩa vụ tài chính ngắn hạn sẽ giúp doanh nghiệp tạo được sự tin cậy với các nhà cung
cấp, khách hàng, cơ quan nhà nước cũng như các cơ quan truyền thông và công chúng.
Đã có nhiều doanh nghiệp trên thế giới và trong nước có được danh tiếng và sự uy tín
ngay sau khi gặp phải bê bối với khách hàng, chỉ đơn giản bởi vì họ có đủ Nguồn dự
trữ để thực hiện các nghĩa vụ bồi thường hậu hĩnh và xử lý mối quan hệ với truyền
thông một cách hiệu quả.
1.2.

Các nội dung của hoạt động quản trị vốn lưu động trong doanh nghiệp

1.2.1. Quản trị tiền mặt và các tài sản thanh khoản cao
1.2.1.1.

Khái niệm

Theo TS. Nguyễn Thu Thủy (2011), tiền mặt có hai dạng là tiền gửi ngân hàng
và tiền mặt tại quỹ. Doanh nghiệp luôn phải duy trì một mức độ tiền mặt nhất định để
có thể trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả thuế, trả nợ và cổ tức.
Tuy nhiên, việc giữ quá nhiều tiền mặt sẽ gây ra lãng phí bởi tiền mặt là tài sản không
có khả năng sinh lời. Do đó, mục tiêu của nhà quản trị tiền mặt là tối thiểu hóa lượng
tiền mặt mà doanh nghiệp nắm giữ, xong vẫn đảm bảo khả năng chi trả các nghĩa vụ
ngắn hạn.
1.2.1.2.

Xác định mức tồn quỹ tối ưu

Phương pháp thường dùng để xác định mức tồn quỹ tối thiểu là lấy mức xuất
quỹ trung bình hàng ngày nhân với số lượng ngày dự trữ tồn quỹ.
Người ta cũng có thể sử dụng phương pháp tổng chi phí tối thiểu trong quản trị
tồn kho dự trữ để xác định mức dự trữ tiền mặt hợp lý của doanh nghiệp. Bởi vì giả sử
doanh nghiệp có một lượng tiền mặt và phải sử dụng nó để đáp ứng các khoản chi tiêu


13

tiền mặt một cách đều đặn. Khi lượng tiền mặt đã hết, doanh nghiệp có thể bán các
chứng khoán ngắn hạn (có tính thanh khoản cao) để có được lượng tiền mặt như lúc
đầu. Có hai loại chi phí cần được xem xét khi bán chứng khoán. Một là chi phí cơ hội
của việc giữ tiền mặt, đó chính là lợi tức chứng khoán doanh nghiệp bị mất đi. Hai là
chi phí cho việc bán chứng khoán mỗi lần, đóng vai trò như là chi phí mỗi lần thực
hiện hợp đồng. Trong điều kiện đó, mức dự trữ tiền mặt tối đa của doanh nghiệp chính
bằng số lượng chứng khoán cần bán mỗi lần để có đủ lượng vốn tiền mặt mong muốn
bù đắp được nhu cầu chi tiêu tiền mặt.
2(𝑀𝑛 𝑥𝑐𝑏 )

Công thức tính như sau:

𝑀∗ = √

Mức vốn tiền mặt trung bình:

̅=𝑀
𝑀

Trong đó:

𝑖



2

𝑀∗ là số lượng tiền mặt dự trữ tối đa
𝑀𝑛 là tổng mức tiền mặt chi dùng trong năm
𝑖 là lãi suất (chi phí lưu giữ đơn vị tiền mặt)
𝑐𝑏 là chi phí cho mỗi lần bán chứng khoán
Nguồn: Nguyễn Tấn Bình, 2007

Trong thực tiễn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, rất hiếm khi mà lượng
tiền vào, ra của doanh nghiệp lại đều đặn và dự kiến được, từ đó mức dự trữ cũng
không thể đều đặn như tính toán trên. Bằng việc nghiên cứu và phân tích thực tiễn, các
nhà kinh tế học đã đưa ra mức dự trữ tiền mặt dự kiến dao động trong một khoảng, tức
là dự trữ tiền mặt sẽ biến thiên từ cận thấp nhất đến cận cao nhất. Nếu lượng tiền mặt ở
dưới mức thấp (giới hạn dưới) thì doanh nghiệp phải bán chứng khoán để có lượng tiền
mặt ở mức dự kiến. Ngược lại, nếu lượng tiền mặt vượt quá giới hạn trên thì doanh
nghiệp sử dụng số tiền vượt đó để mua chứng khoán đưa lượng tiền mặt về mức dự
kiến.
1.2.1.3.

Dự đoán và quản lý các luồng nhập, xuất quỹ


14

Dự đoán ngân quỹ là tập hợp các dự kiến về Nguồn và sử dụng ngân quỹ. Ngân
quỹ hàng năm được lập vừa tổng quát, vừa chi tiết cho từng tháng và tuần.
Dự đoán các luồng nhập ngân quỹ bao gồm luồng thu nhập từ kết quả kinh
doanh; luồng đi vay và các luồng tăng vốn khác. Trong đó, luồng nhập ngân quỹ từ kết
quả kinh doanh là quan trọng nhất. Nó được dự đoán trên cơ sở các khoản doanh thu
bằng tiền mặt dự kiến trong ngày.
Dự đoán các luồng xuất ngân quỹ thường bao gồm các khoản chi cho hoạt động
kinh doanh như mua sắm tài sản, trả lương các khoản chi cho hoạt động đầu tư theo kế
hoạch của doanh nghiệp, các khoản chi trả tiền lãi phải chia, nộp thuế và các khoản chi
khác.
1.2.1.4.

Một số mô hình quản trị tiền mặt

Ba mô hình thường được dung để quản trị tiền mặt là: mô hình Baumol, mô
hình Miller-Orr và mô hình Stone.
 Mô hình Baumol
Đây là mô hình ra đời sớm nhất do William Baumol phát triển từ mô hình lượng
đặt hang tối ưu nhằm giúp nhà quản lý tối thiểu hóa các chi phí liên quan tới việc
chuyển đổi qua lại giữa tiền mặt và chứng khoán trong một thời gian xác định.
Nhà quản trị mong muốn tối thiểu hóa các chi phí, bao gồm chi phí giao dịch
bán chứng khoán thu tiền mặt về và chi phí cơ hội do việc nắm giữ tiền mặt. Mô hình
Baumol được xây dựng với ba giả định sau.
Thứ nhất, doanh nghiệp định kỳ nhận được một lượng tiền mặt nhất định, nhưng
đồng thời cũng phải liên tục chi tiền ra, theo một tỉ lệ ổn định.
Thứ hai, nhu cầu tiền mặt trong một kỳ đoạn cụ thể (tháng, quý, năm) của công
ty có thể dự báo trước một cách chính xác.


15

Thứ ba, khi số dư tiền mặt ban đầu giảm xuống bằng không, hay ở mức an toàn
tối thiểu, thì số dư tiền mặt lập tức sẽ được tang lên do việc bán chứng khoán với khối
lượng xác định nhằm đạt được số dư tiền mặt ban đầu.
Tổng chi phí cho việc tồn quỹ tiền mặt sẽ gồm: chi phí giao dịch (chuyển đổi
chứng khoán về tiền mặt) và chi phí cơ hội của tiền mặt tồn quỹ.
Tổng chi phí = Chi phí giao dịch + Chi phí cơ hội
𝑇

𝐶

𝐶

2

Có thể viết thành công thức: Tổng chi phí (Z) = F ( ) + 𝑟 ( )
Trong đó:
T :

Tổng nhu cầu tiền mặt trong kỳ.

F :

Chi phí giao dịch cố định cho mỗi lần mua hoặc bán chứng khoán.

r

Chi phí cơ hội vốn do nắm giữ tiền mặt, có thể sử dụng lãi suất của

:

chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao.
C :

Mức tồn quỹ ban đầu và tại thời điểm chuyển đổi chứng khoán để bù

đắp tồn quỹ.
C/2:

Mức tồn quỹ bình quân.

T/C:

Số lần giao dịch.
Nguồn: Nguyễn Tấn Bình, 2007

 Mô hình Miller-Orr
Mô hình Miller-Orr khác với mô hình Baumol ở hai phương diện.
Thứ nhất, mô hình cho phép số dư tiền mặt biến động một cách ngẫu nhiên thay
vì phụ thuộc hoàn toàn vào con số giả định do khả năng dự báo của nhà cung cấp. Để
giải quyết sự biến động này, mô hình đã tính toán sự biến động của dòng ngân lưu ròng
hang ngày của công ty.


16

Thứ hai, mô hình này cho phép số dư tiền mặt biến động cả tang lẫn giảm, khác
với giả định của Baumol là biết được chính xác thời điểm cần bổ sung tiền mặt sau khi
giảm một số tiền nhất định.
Miller-Orr xác định hai giới hạn kiểm soát, là các tín hiệu để quyết định mua,
bán chứng khoán.
Giới hạn trên (U) là tín hiệu mua vào một giá trị chứng khoán (C) đủ để làm tiền
mặt dư thừa giảm xuống mức tồn quỹ tối ưu.
Giới hạn dưới (L) là tín hiệu bán ra một giá trị chứng khoán (C) đủ để làm tồn
quỹ tiền mặt tang lên đến mức tồn quỹ tối ưu.
Hình 1.1. Mô hình quản trị tiền mặt Miller - Orr

Nguồn: Nguyễn Tấn Bình, 2007
Nếu số dư tiền mặt dao động giữa hai giới hạn: giới hạn trên (U) và giới hạn
dưới (L) thì sẽ không có một chứng khoán nào được mua vào hay bán ra cả. Trong
trường hợp này, giả định là dòng tiền vào và dòng tiền ra phải có một sự biến động
nhịp nhàng với nhau trong một phạm vi nào đó. Hay nói cách khác, dòng tiền vào vừa
đủ để trang trải cho dòng tiền ra. Và các dòng tiền biến động một cách ngẫu nhiên theo
phân phối chuẩn, không thể dự đoán trước được.
Mô hình Stone


17

Mô hình này cải tiến tính thực tiễn của quá trình tối ưu hóa ở mô hình MillerOrr bằng cách cho phép nhà quản trị căn cứ vào nhận thức và kinh nghiệm của mình về
dòng ngân lưu công ty để lựa chọn một mô hình thích hợp.
Mô hình Stone có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm một khoản chi phí khá lớn do
sẽ có những lúc nhà quản trị nhận thấy mặc dù số dư tiền mặt xuống giới hạn dưới (L)
nhưng không có một chứng khoán nào được bán ra, bởi vì nhà quản trị biết được công
ty sẽ sớm nhận được một khoản tiền lớn. Ngược lại, mặc dù số dư tiền mặt tăng lên đến
giới hạn trên (U) nhưng không có một chứng khoán nào được mua vào, bởi vì nhà quản
trị biết được công ty sẽ sớm phải chi ra một khoản tiền lớn.
Ngoài ra, mô hình cũng nhận thấy chi phí thiệt hai do việc thiếu hụt tiền mặt chỉ
trong một số ngày cho phép (thường lài từ 3 – 12 ngày) là rất nhỏ. Do đó, nhà quản trị
không cần phải vội vàng mua hay bán chứng khoán ngay khi thấy số dư tiền mặt vượt
ra khỏi các giới hạn U và L.
Nhà quản trị chỉ tiến hành giao dịch mua bán chứng khoán khi số dư tiền mặt
đảm bảo hai điều kiện (1) Hôm nay số dư tiền mặt bắt đầu vượt ra khỏi giới hạn kiểm
soát và (2) Số dư tiền mặt tiếp tục vượt ra khỏi giới hạn kiểm soát sau một số ngày cho
phép nhất định.
1.2.1.4.

Một số biện pháp quản trị tiền mặt

 Đồng bộ hóa dòng tiền mặt
Các doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng dự đoán và sắp xếp các hoạt động để
các hóa đơn gắn đúng với nhu cầu tiền mặt, để thông qua đó duy trì các tài khoản giao
dịch ở mức thấp nhất. Các công ty trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng, dầu mỏ, thẻ
tín dụng,… thường sắp xếp để ghi hóa đơn cho khách hàng, để thanh toán hóa đơn
riêng của họ, trên cơ sở “các chu kỳ thanh toán” trong cả tháng. Việc đồng bộ hóa dòng
ngân quỹ đảm bảo tiền mặt khi cần thiết và vì thế giúp công ty giảm tối thiểu tài khoản
tiền mặt, giảm nợ ngân hàng, giảm chi phí vay và do đó tăng lợi nhuận.
 Giảm thời gian kiểm tra hàng hóa


18

Khi khách hàng viết và gửi đến một tờ ngân phiếu, điều này không có nghĩa là
công ty đã chính thức nhận được ngân quỹ ngay. Mặc dù chúng ta đã gửi tiền vào tài
khoản nhưng ngay sau đó chúng ta không thể viết ngân phiếu từ tài khoản này đến khi
ngân hàng thực hiện xong hoạt động chuyển sec. Trước hết, ngân hàng của chúng ta
phải đảm bảo rằng tờ sec đã gửi vào là an toàn và ngân quỹ trong tài khoản đã sẵn sàng
trước khi chuyển tiền mặt cho chúng ta.
Trên thực tế, công ty phải mất một khoảng thời gian dài để thực hiện các hoạt
động kiểm tra ngân phiếu và sử dụng tiền mặt. Trước hết, khách hàng phải gửi ngân
phiếu qua đường bưu điện, hệ thống ngân hàng làm thủ tục chuyển sec và sau d dó tiền
mặt mới được đưa vào sử dụng. Đặc biệt, sec của các khách hàng ở xa thường bị trì
hoãn do thời gian chuyển thư và có nhiều ngân hàng tham gia vào quá trình xử lý.
Chẳng hạn, tình huống công ty nhận xét và chuyển sec vào ngân hàng. Ngân hàng của
công ty phải gửi tờ sec đến ngân hàng nơi mà tiền đã được rút ra. Chỉ khi ngân hàng
cuối cùng này chuyển quỹ đến ngân hàng của công ty thì lúc đó họ mới có thể sử dụng
ngân quỹ.
 Đẩy nhanh tốc độ thu tiền
Hai kỹ thuật phổ biến nhất để đẩy nhanh tốc độ thu tiền là hệ thống tài khoản
thu gom và thanh toán qua điện thoại (hay ghi nợ tự động).
Hệ thống tài khoản thu gom là một trong những công cụ quản trị tiền mặt lâu
đời nhất. Trong hệ thống tài khoản thu gom, các tờ sec của khách hàng được gửi đến
hộp thư đặt ở bưu điện của thành phố chứ không phải là trụ sở công ty. Hệ thống tài
khoản thu gom làm giảm thời gian nhận sec từ khách hàng, sau đó gửi, chuyển qua hệ
thống ngân hàng để đưa quỹ vào sử dụng. Dịch vụ gom có thể làm tăng thời gian sử
dụng ngân quỹ sớm hơn 2 đến 5 ngày so với hệ thống thông thường.
Các công ty ngày càng muốn được thanh toán các hóa đơn lớn qua điện thoại
hoặc ghi nợ tự động. Với hệ thống ghi nợ điện tử, ngân quỹ tự động được trừ ra khỏi
một tài khoản này và cộng vào tài khoản kia. Tất nhiên, sự tiến bộ trong hoạt động thu


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×