Tải bản đầy đủ

Báo cáo dự án kinh tế đầu tư dự án tổ hợp trang trại nuôi lợn tại huyện lương sơn, tỉnh hòa bình

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
=====000=====

BÁO CÁO DỰ ÁN
KINH TẾ ĐẦU TƯ
DỰ ÁN TỔ HỢP TRANG TRẠI
NUÔI LỢN TẠI HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

Nhóm thực hiện:

Nhóm 1

Giảng viên hướng dẫn: ThS. Đinh Hoàng Minh
Hà Nội, tháng 3/2017

1


Hà Nội, tháng 3/2017


MỤC LỤC

2


I

TỔNG QUAN DỰ ÁN

I.1. Giới thiệu chủ đầu tư
 Chủ đầu tư
: Công ty Cổ phần Chăn nuôi Phú Sơn
 Địa chỉ trụ sở
: 101 ấp Phú Sơn, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng
Nai
 Ngành nghề kinh doanh: Chăn nuôi lợn, gia cầm; buôn bán nông, lâm sản nguyên liệu và
động vật sống; buôn bán thực phẩm; hoạt động thú y; sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm
và thủy sản; nuôi trồng thủy sản nội địa; buôn bán nhiên liệu rắn, lỏng, khí và các sản
phẩm liên quan; kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng dất thuộc chủ sở hữu, chủ sử
dụng hoặc đi thuê.

I.2. Mô tả sơ bộ dự án
I.2.1. Thông tin sơ bộ về dự án
 Tên dự án
: Tổ hợp trang trại chăn nuôi theo hướng công nghiệp sạch
 Các hợp phần dự án :
+ Hợp phần 1
: Trang trại chăn nuôi lợn nái (bầu) theo hướng công nghiệp
+ Hợp phần 2

: Trang trại chăn nuôi lợn thịt theo hướng công nghiệp

+ Hợp phần 3

: Nhà máy giết mổ lợn (chế biến thực phẩm)

+ Hợp phần 4

: Hệ thống quầy bán hàng thịt lợn sạch tại các điểm dân cư


+ Hợp phần 5

: Nhà máy chế biến thức ăn lợn

 Địa điểm đầu tư
: huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
 Hình thức đầu tư
: Đầu tư xây dựng mới
 Hình thức quản lý : Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án thông qua ban Quản lý dự án do
chủ đầu tư thành lập.
 Tổng mức đầu tư : 641,631,229,000 đồng. Trong đó: vốn chủ sở hữu 30% tương ứng
192,489,369,000 đồng, vốn vay ngân hàng 70 % tương ứng 449,141,860,000 đồng.
I.2.2. Mục tiêu đầu tư
Xây dựng 1 tổ hợp gồm: 1 Trang trại lợn giống gồm 300 lợn cụ kị, 300 lợn ông bà
và 5.100 lợn bố mẹ; 2 Trang trại lợn thịt 25.000 con/trang trại; Nhà máy giết mổ lợn (kèm
chế biến thực phẩm); Nhà máy chế biến thức ăn lợn; Hệ thống cửa hàng thịt lợn sạch tại
các khu dân cư.
I.2.3. Mục đích đầu tư
3









Hình thành lực lượng sản xuất hiện đại, tạo sự lan tỏa cho địa phương và đất nước.
Thực hiện hệ thống chuỗi liên kết, có hiệu quả từ nghiên cứu, đào tạo nhân lực, ứng dụng
kỹ thuật công nghệ cao và sản xuất giống vật nuôi.
Phát triển ngành chăn nuôi nước nhà và địa phương nói riêng theo hướng công nghiệp
hiện đại năng suất và chất lượng cao, truy suất nguồn gốc rõ ràng để phục vụ nhu cầu tiêu
thụ nội địa tiến tới xuất khẩu.
Gia tăng chuỗi giá trị chăn nuôi khép kín. Tăng lợi nhuận từ mô hình chăn nuôi công
nghiệp quy mô lớn, quy trình khép kín.
Cung cấp nguồn sản phẩm thịt lợn sạch cũng như các sản phẩm chế biến từ thịt lợn đáp
ứng các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm với giá thành phải chăng nhờ lợi thế quy
mô. Góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng.
I.2.4. Tiến độ thực hiện dự án
Dự án bắt đầu xây dựng từ tháng 06 năm 2017 đến tháng 06 năm 2019 bắt đầu hoàn
thành trang trại đưa vào sử dụng dần đến tháng 07 năm 2019 dự án sẽ đi vào xây dựng
hoàn chỉnh; dự án sẽ cho hoạt động dần các hạng mục hoàn thành từ năm 2018: trang trại
chăn nuôi lợn nái giống và nhà máy chế biến thức ăn cùng các hạng mục phụ trợ khác;
I.3. Bối cảnh kinh tế - xã hội
I.3.1. Môi trường vĩ mô
Theo Tổng cục thống kê mức tăng trưởng GDP của Việt Nam năm nay tuy thấp
hơn mức tăng 6,68% của năm 2015 và không đạt mục tiêu tăng trưởng là 6,7% đã đề ra
nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới không thuận, trong nước gặp nhiều khó khăn thì
mức trên đã là một thành công. Đặc biệt, với những nỗ lực gần đây của Chính phủ trong
việc cải thiện môi trường kinh doanh (tăng 9 bậc trong xếp hạng của World Bank về mức
độ dễ dàng kinh doanh, xếp thứ 82/190 quốc gia), nhiều chuyên gia kinh tế dự báo năm
2017, nền kinh tế Việt Nam sẽ vẫn là một năm tăng trưởng mạnh mẽ.

4


Hình 1. Dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam 2016 - 2017 (Theo: VFA Group)

Hơn nữa, TPP không thành công có đem lại nhiều bất lợi cho nền kinh tế Việt Nam,
tuy nhiên lại bớt đi gánh nặng cạnh tranh cho ngành chăn nuôi rất nhiều. Tạo cơ hội để
ngành chăn nuôi Việt Nam có đủ thời gian để phát triển và cạnh tranh với sản phẩm nhập
ngoại.
I.3.2. Ngành chăn nuôi lợn cả nước
Ngành chăn nuôi ở nước ta còn ở mức độ thấp (quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, manh
mún, phân tán, theo tập tục quảng canh, chưa mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật) nên sản lượng trong chăn nuôi còn rất thấp. Theo Tổng cục thống kê (2012), trong
số 4131,6 ngàn hộ nuôi lợn thì số hộ quy mô nhỏ (<10 lợn/hộ) chiếm tới 86,4% tổng số
hộ, nhưng chỉ sản xuất 34,2% tổng sản lượng thịt lợn. Thêm vào đó, chăn nuôi nhỏ lẻ sẽ
không có lợi thế về quy mô nên giá thành sẽ cao hơn so với chăn nuôi công nghiệp quy
mô lớn.
Trang trại nhỏ không được đầu tư chuồng trại hợp vệ sinh dẫn đến khó phòng
tránh dịch bệnh như lở mồm long móng năm 2006, lợn tai xanh 2010 – 2013, cao điểm
năm 2010 có đến 1.6% đàn lợn cả nước bị tiêu chảy. Ngoài ra, các lò mổ chui không đạt
tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn liên tục bị phát hiện và gây ra nhiều vấn đề về
an toàn thực phẩm cũng như ô nhiễm môi trường. Theo điều tra của Liên minh Nông
nghiệp, hiện nay hệ thống chăn nuôi quy mô nhỏ, mức độ vệ sinh an toàn thực phẩm thấp
đang cung cấp ra thị trường gần 70% sản phẩm thịt. Trong khi đó, chăn nuôi thương mại
quy mô lớn, công nghệ hiện đại, an toàn thực phẩm cao chỉ mới cung cấp trên 15% lượng
thịt cho tiêu dùng.
Thêm vào đó, ngành chăn nuôi lợn cũng không phải cạnh tranh gay gắt với hàng
nhập khẩu như các ngành chăn nuôi bò, gà hay ngành sữa. Nhất là theo thói quen tiêu
5


dùng, người tiêu dùng Việt Nam ưa thích tiêu thụ thịt lợn theo kiểu nóng, nhanh, nên
phần nào hạn chế cạnh tranh từ thịt lợn đông lạnh nhập khẩu.
Như vậy, nâng quy mô trang trại là một xu hướng tất yếu, tuy nhiên không phải nhà
đầu tư nào cũng dám nắm bắt cơ hội để dẫn dắt sự phát triển của ngành. Chăn nuôi theo
hướng công nghiệp với quy mô khép kín sẽ góp phần giảm chi phí đầu vào. Theo nghiên
cứu của VEPR, đàn heo trên 50 con giúp các chi phí như lãi vay, thuế đất, nhiên liệu,
khấu hao và thuốc giảm ít nhất 5% trên tổng chi phí. Theo tính toán từ báo cáo thường
niên năm 2014 của CTCP Chăn nuôi Phú Sơn tại trang trại ở tỉnh Đồng Nai sản lượng
xuất chuồng 30.000 con cho thấy lợi nhuận trước thuế/doanh thu mảng chăn nuôi heo thịt
đạt 21,47%, trong khi mua thức ăn bên ngoài từ Proconco và không thực hiện mảng phân
phối.
I.4. Các điều kiện và cơ sở pháp lý của dự án
I.4.1. Chính sách phát triển chăn nuôi lợn của cả nước
Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 trong Quyết
định số 10/2008/QĐ-TTg. Trong quyết định có các quan điểm về ngành chăn nuôi lợn nổi
bật như: tập trung phát triển sản phẩm chăn nuôi có lợi thế và khả năng cạnh tranh như
vật nuôi lợn; khuyến khích các tổ chức và cá nhân đầu tư phát triển chăn nuôi theo hướng
trang trại, công nghiệp. Đi kèm là mục tiêu chăn nuôi theo phương thức trang trại, công
nghiệp và cơ sở giết mổ, chế biến lợn phải có hệ thống xử lý chất thải, bảo vệ và giảm ô
nhiễm môi trường.
Trong Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ cũng đưa ra các giải
pháp về hỗ trợ khoa học công nghệ hay về tài chính tín dụng, đất đai, xúc tiến thương mại
và phòng chống bệnh dịch với các cơ sở, trang trại chăn nuôi lợn đặc biệt là theo hướng
công nghiệp quy mô lớn.
I.4.2. Chính sách phát triển chăn nuôi lợn của tỉnh Hòa Bình
Hòa Bình là tỉnh đã có sự chuyển dịch chăn nuôi theo hướng hình thành các vùng chăn
nuôi quy mô lớn theo hình thức trang trại, gia trại đảm bảo an toàn dịch bệnh, phát triển
sản phẩm chăn nuôi có lợi thế của địa phương mang lại hiệu quả cao như Lạc Thủy, Lạc
Sơn, Yên Thủy, Lương Sơn, Kỳ Sơn, Tân Lạc.
Tỉnh Hòa Bình đã ban hành cơ chế ưu đãi cho các doanh nghiệp của mọi thành phần
kinh tế khi đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi, trước mắt tập trung vào hai con lợn, gà, như ưu
tiên cấp đất ở những nơi có nguồn nước, ở xa khu dân cư, giao thông thuận tiện. Đồng
thời cải cách thủ tục hành chính tạo môi trường thông thoáng cho các nhà đầu tư vào địa
phương. UBND tỉnh Hòa Bình còn giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
thường xuyên giữ mối liên hệ với các doanh nghiệp trong suốt quá trình triển khai dự án
đầu tư vào tỉnh. Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam đã đầu tư bảy trại sản xuất lợn
6


giống giống ngoại với quy mô 1,200 con nái/trại và hai trại lợn thương phẩm (5,000
con/trại). Tuy mới đi vào hoạt động, nhưng các cơ sở chăn nuôi này đã đạt được những
kết quả đáng ghi nhận, trước hết là tạo việc làm cho hàng nghìn lao động tại chỗ (bình
quân mỗi cơ sở sử dụng khoảng 40 lao động). Trại nuôi lợn giống Dũng Linh ở thị trấn
Thanh Hà, huyện Lạc Thủy có quy mô 1,200 nái do Công ty cổ phần CP Việt Nam đầu tư
từ ba năm nay, bình quân mỗi tháng xuất khoảng 5,000 con lợn giống. Theo đó, hơn 40
lao động có việc làm và thu nhập ổn định với mức ba triệu đồng/tháng. Một số cơ sở còn
xây nhà ở, nhà trẻ trong khu vực trang trại để công nhân có chỗ ở ổn định, yên tâm làm
việc.
Cùng với việc thực hiện các cơ chế, chính sách của tỉnh nhằm khuyến khích, hỗ
trợ các chủ trang trại và hộ chăn nuôi đầu tư mở rộng quy mô chăn nuôi công nghiệp tập
trung theo hướng sản xuất hàng hóa, ngành nông nghiệp Hòa Bình đã và đang triển khai
một loạt các công việc mang tính chiến lược để lĩnh vực chăn nuôi phát triển ổn định và
bền vững. Đó là quy hoạch các vùng chăn nuôi hàng hóa phù hợp điều kiện tự nhiên, kinh
tế - xã hội và sinh thái của từng địa phương; tổ chức lại hệ thống chăn nuôi, gắn sản xuất
với chế biến và tiêu thụ sản phẩm; xây dựng Trung tâm giống và vùng giống trong nhân
dân để cung cấp giống cho nhu cầu chăn nuôi trong và ngoài tỉnh. Đồng thời tăng diện
tích ngô lên 32.000 ha/năm để có sản lượng 130.000 tấn ngô hạt phục vụ chế biến thức ăn
chăn nuôi công nghiệp.
I.4.3. Căn cứ pháp lý
Báo cáo dự án đầu tư được xây dựng trên cơ sở các căn cứ pháp lý sau :










Luật đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014
của nước CHXHCN Việt Nam
Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm
2014 của nước CHXHCN Việt Nam
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 03
tháng 06 năm 2008 của nước CHXHCN Việt Nam
Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của luật thuế thu nhập
doanh nghiệp số 32/2013/QH13 ngày 19 tháng 06 năm 2013
Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26 tháng 11 năm
2013
Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm
2014
Luật đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013
Luật bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 ngày 20 tháng 11
năm 2014
Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 06
năm 2014
7


Luật kinh doanh bất động sản số 66/2014/QH13 ngày 25



tháng 11 năm 2014
Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng



06 năm 2008
 Nghị định số 124/2008 NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 của Chính Phủ về thuế thu
nhập doanh nghiệp;
 Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008 của Chính phủ Qui định chi tiết thi hành
Luật Thuế giá trị gia tăng;
 Nghị định 140/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22 tháng 11 năm 2006 quy định việc
bảo vệ môi trường trong các khâu lập, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện các
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển;
 Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về việc qui định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường;
 Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số
điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về việc quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
 Nghị định số 99/2007/NĐ-CP ngày 13/06/2009 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư
xây dựng công trình;
 Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 4/4/2003 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều
luật phòng cháy và chữa cháy;
 Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về việc Quản lý chất
lượng công trình xây dựng và Nghị định số 49/2008/NĐ-CP ngày 18/04/2008 của Chính
phủ về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 2009/2004/NĐ-CP;
 Thông tư số 12/2008/TT-BXD ngày 07/05/2008 của Bộ xây dựng hướng dẫn việc lập và
quản lý chi phí khảo sát xây dựng;
 Thông tư số 05/2009/TT-BXD ngày 15/04/2009 của Bộ Xây dựng hướng dẫn điều chỉnh
dự toán xây dựng công trình;
 Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT ngày 08/12/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết
bảo vệ môi trường;
 Thông tư số 33/2007/TT-BTC ngày 09/4/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn quyết toán dự
án hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước;
 Thông tư số 08/2006/TT-BTNMT ngày 08/9/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết
bảo vệ môi trường;
 Thông tư số 176/2011/TT-BTC ngày 06/12/2011 của Bộ Tài chính Hướng dẫn chế độ thu,
nộp và quản lý sử dụng phí thẩm định dự án đầu tư xây dựng;
 Quyết định 1172/QĐ-BXD năm 2012 công bố Định mức dự toán xây dựng công trình;
 Định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng kèm theo Quyết định số
957/QĐ-BXD ngày 29/9/2009 của Bộ Xây dựng;
8


 Quyết định số 10/QĐ-TTg của Thủ tướng v/v phê duyệt "Chiến lược phát triển chăn nuôi
đến năm 2020;
 Quyết định 842/QĐ-UBND về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển chăn nuôi đến năm
2015 và định hướng đến năm 2020 tỉnh Hòa Bình;
 Căn cứ các pháp lý khác có liên quan;

9


II PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG
I.5. Thị trường tiêu thụ
I.5.1. Tổng quan thị trường
Nhìn chung qua các năm lượng thịt tiêu thụ tăng khá đều. Giai đoạn 2008 – 2014
trung bình tiêu thụ thịt tăng 3,13% mỗi năm. Đáng chú ý, năm 2009 nhu cầu tăng mạnh
do sản phẩm thay thế thịt gà gặp bất lợi như chân gà quá hạn hay trứng giả nhập khẩu bày
bán tràn lan trên thị trường. Riêng năm 2010, tăng trưởng 0% do dịch lợn tai xanh. Trong
thói quen tiêu thụ thịt của người tiêu dùng Việt Nam, thịt lợn vẫn là sản phẩm thịt chủ lực
và được dự báo sẽ vấn chiếm phần lớn trong tổng lượng tiêu thụ. Năm 2009, 71% lượng
thịt tiêu thụ là thịt lợn, đến năm 2012 giảm còn 67,6% dự báo đến năm 2021 còn 65,2%.
Đối với tình hình nhập khẩu, nhập khẩu thịt lợn đã có thời gian ồ ạt do bệnh dịch
trên đàn lợn trong nước nhưng khoảng 3 năm gần đây đã trở lại mức thấp. Năm 2008,
22,3 triệu USD thịt lợn được nhập về từ Mỹ, Tây Ban Nha, Canada phục vụ tiêu dùng
trong nước, sau đó giảm mạnh 2009 – 2010 còn 2 – 3 triệu USD do dịch bệnh, năm 2011
tăng lên 14,7 triệu USD, những năm gần đây ổn định ở mức 6,7 – 6,9 triệu USD mỗi
năm.
Về việc xuất khẩu thịt lợn Việt Nam ra nước ngoài, từ nhiều năm nay, vẫn chưa có
sự đột phá nào.Phần lớn lượng thịt lợn được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc bằng
con đường tiểu ngạch. Theo báo cáo từ Hãng nghiên cứu toàn cầu (IBC), trong năm 2016,
Việt Nam xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc đạt gần 12 triệu con (33.000 con/ngày).
Năm 2017, Việt Nam xuất tiểu ngạch sang Trung Quốc khoảng 2,4 triệu con (giảm 80%
so với năm 2016) do nhu cầu tiêu thụ lợn hơi của người dân Trung Quốc giảm mạnh 6
tháng cuối năm. Còn xuất khẩu lợn thịt xẻ chính ngạch, Việt Nam mới xuất sang thị
trường Hồng Kong và Malaysia khoảng 15-20 ngàn tấn (tương đương 200.000 con),
trong giai đoạn từ năm 2013 – 2016. Do đó, các doanh nghiệp hàng đầu trong ngành đã
cùng nhau liên kết tạo chuỗi sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế, hướng tới xuất khẩu sản
phẩm thịt lợn VN ra nước ngoài với dự kiến bước đầu là 10.000 tấn sang thị trường Hà
Lan và đàm phán xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc. Để làm được điều này, chúng
ta phải tổ chức lại sản xuất, tái cơ cấu ngành chăn nuôi theo hứong liên kết sản xuất theo
chuỗi. Bên cạnh đó, chúng ta cần áp dụng khoa học công nghệ, tạo ra giống lợn tốt, có
tính cạnh tranh trong khu vực Asean; đẩy mạnh khâu chế biến nhằm có nhiều sản phẩm
từ thịt lợn, đa dạng sản phẩm thì mới thúc đẩy tiêu thụ cả trong và ngoài nước.

10


11


I.5.2. Thói quen người tiêu dùng
Thói quen mua các sản phẩm tiêu dùng nói chung của người dân Việt Nam vẫn là từ
các nhà bán lẻ theo truyền thống, mặc dù các kênh bán lẻ hiện đại ngày càng phát triển
mạnh đặc biệt ở các thành phố lớn nơi mức sống và nhu cầu tiêu dùng chiếm phần lớn
trong tiêu dùng toàn quốc. Các kênh bán lẻ truyền thống bao gồm các tiểu thương ở chợ
truyền thống, các cửa hàng bán lẻ quy mô nhỏ, còn các kênh bán lẻ hiện đại bao gồm các
cửa hàng tiện lợi, siêu thị và đại siêu thị. Có thể thấy, mặc dù giá trị ngành bán lẻ phát
triển rất mạnh trong giai đoạn 2009 – 2014 ở mức trung bình hơn 20% mỗi năm (chưa
loại trừ yếu tố giá). Trong đó, tỉ trọng hàng hóa bán ra theo chuỗi bán lẻ hiện đại vẫn rất
thấp, chỉ ở mức 4 – 5%, còn lại 95 – 96% thị phần vẫn thuộc về các tiểu thương nhỏ lẻ.
Không ngoài tình hình chung trên, thịt lợn vẫn được ưa thích tiêu dùng theo kiểu
nóng, nhanh, phần nào hạn chế cạnh tranh từ thịt lợn đông lạnh nhập khẩu. Người tiêu
dùng Việt Nam phần lớn chưa quen việc tiêu thụ thịt làm mát hay đông lạnh mà giữ thói
quen dùng thịt trong ngày và mua tại các chợ. Khác với thịt gà, thịt bò gần đây bắt đầu có
các sản phẩm được đóng gói công nghiệp và bảo quản đông lạnh tại các siêu thị, thịt lợn
bày bán tươi của các tiểu thương vẫn được ưa chuộng. Phần đông người nội trợ lựa chọn
thịt lợn qua màu sắc, mùi và độ dẻo, độ nạc trong khi ít người quan tâm đến nguồn gốc,
xuất xứ, do phần lớn thịt heo không được đóng gói và trưng bày thông tin theo kiểu công
nghiệp.

12


Dân số và cơ cấu dân số cũng là một yếu tố quyết định đến xu hướng tiêu dùng mặt
hàng thiết yếu chiếm tỷ trọng cao này. Nhìn về quá khứ, theo số liệu từ Tổng cục Thống
13


kê, dân số Việt Nam năm 2009 là 86,8 triệu người và tăng đều trên 1% mỗi năm, tương tự
như mức tăng đều của tiêu thụ thịt lợn. Dân số trẻ độ tuổi 15 – 29 chiếm trên 25% cộng
với tỉ lệ dân thành thị ở mức 33,1% (năm 2014) tạo đà cho xu hướng phát triển của thịt
công nghiệp. Giới trẻ với nhu cầu tiêu dùng lớn và đang hòa nhập với xu hướng chung
của thế giới hội nhập: sử dụng thức ăn nhanh, các loại thịt công nghiệp cũng vì thế mà
được tiêu thụ mạnh. Tổ chức nghiên cứu Euromonitor Internatonal đánh giá ngành thức
ăn nấu sẵn ở Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng 11,4% về giá trị, đạt mức 985 tỷ đồng
và tăng 9,2% về sản lượng tiêu thụ, đạt mức 14.000 tấn trong năm 2016. Euromonitor dự
báo ngành thực phẩm nấu sẵn ở Việt Nam tăng trưởng bình quân 9% giai đoạn 2016 –
2021.

Thu nhập bình quân cũng góp phần ảnh hưởng lên nhu cầu tiêu thụ thịt heo. Thu
nhập cao hơn cũng đồng nghĩa với việc người tiêu dùng có xu hướng chuyển sang các sản
phẩm dinh dưỡng cao hơn như thịt thay vì gạo và rau củ. Như vậy, có mỗi quan hệ tỉ lệ
thuận nhất định giữa thu nhập và lượng thịt tiêu thụ.
I.5.3. Thách thức về đầu ra và cạnh tranh
Tham gia vào mảng bán lẻ thực phẩm là phải tìm được chỗ đứng bên cạnh những
chuỗi siêu thị lớn và các hệ thống của nước ngoài. Việc tìm đầu ra tiêu thụ cho sản phẩm
là một bài toán không phải sẽ tìm được lời giải trong ngắn hạn. Tuy nhiên, sau khi nghiên
cứu kỹ lưỡng các phương án, chúng tôi quyết định sẽ mở riêng chuỗi cửa hàng thịt như
Vissan và Đức Việt. Việc này giúp cho xây dựng thương hiệu lâu dài cũng như đảm bảo
ổn định tiêu thụ trong dài hạn.

14


Chúng tôi cũng không nhìn nhận các công ty có sản phẩm tương tự (thịt lợn sạch
nuôi theo hướng công nghiệp có thương hiệu riêng) là đối thủ mà là người đồng hành
trong việc xây dựng thói quen tiêu dùng và sự tin tưởng của người tiêu dùng. Thịt lợn
đông lạnh nhập từ nước ngoài với giá thành rẻ hơn cũng không phải là đối thủ cạnh tranh
của chúng tôi do thói quen tiêu dùng của người Việt Nam đối với mặt hàng thịt lợn là ưa
thích thịt nóng, nhanh, tiêu thụ trong thời gian rất ngắn. Đối thủ cạnh tranh của chúng tôi
chính là những hàng thịt ở các chợ truyền thống, nơi tiêu thụ thịt lợn trong ngày được thu
mua tại các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, không có thương hiệu và đảm bảo về an toàn thực phẩm
cũng như quy trình chăn nuôi, giết mổ.
I.6. Thị trường đầu vào
Theo Viện nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), giá con giống và thức ăn
chiếm hơn 80% chi phí nuôi lợn. Các nông hộ phần lớn đều phải mua giống và thức ăn
chăn nuôi với giá do chính các công ty sản xuất đưa ra đã là một bất lợi khi các công ty
tăng giá các mặt hàng này nhưng giá mua lợn xuất chuồng không tăng tương ứng. Bản
thân lợn giống và nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi đều phải nhập khẩu với giá đắt
đỏ.
Lợn giống phần lớn nhập khẩu từ Mỹ, Canada, Thái Lan, Đài Loan. Do việc nuôi
giống trong nước chưa phát triển (20 nước số lượng lợn nhiều nhất thế giới, Việt Nam
đứng cuối về năng suất sinh sản) nên nhập khẩu lợn giống tăng mạnh: 9 tháng đầu năm
2014 hơn 1.700 con trị giá hơn 1,6 triệu USD, tăng 86,5% cùng kỳ 2013. Khi chưa có
đầu tư tập trung vào nghiên cứu phát triển con giống trong nước, tình trạng nhập siêu lợn
giống vẫn sẽ đội chi phí nuôi lợn cao gây khó khăn cho các hộ chăn nuôi lợn.
Thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước phần lớn phải nhập nguyên liệu từ nước
ngoài nên phụ thuộc nhiều giá nguyên liệu, tuy nhiên giá bán đến tay nông hộ không đi
cùng chiều với giá nguyên liệu nhập từ nước ngoài. Năm 2014, Việt Nam nhập hơn 3 tỉ
USD thức ăn và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong khi con số của 7 tháng đầu năm
2015 đã là 4,1 tỉ USD. Giá ngô và đậu tương thế giới có xu hướng giảm, đang trở thành
lợi thế cho các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi. Còn với người chăn nuôi, chi phí thức ăn
cho vật nuôi giảm hay không phụ thuộc vào chính các nhà sản xuất bởi thị trường thức ăn
chăn nuôi Việt Nam bị chi phối bởi các doanh nghiệp FDI/liên kết (tổng thị phần hơn
65%). Năm 2015, giá thức ăn chăn nuôi của Việt Nam vẫn cao hơn khu vực khoảng 20%.

15


Gần đây, giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trên thế giới đã giảm rõ rệt, kèm
theo với đó là vùng nguyên liệu tại địa phương chăn nuôi đã được đẩy mạnh và mở rộng
diện tích. Hơn nữa, trong dự án chúng tôi có chuỗi nhà máy chế biến thức ăn riêng. Đây
sẽ là một điều kiện thuận lợi để giảm chi phí đầu vào, đảm bảo giá thành cạnh tranh với
lợn xuất chuồng.

16


III PHƯƠNG ÁN THỰC HIỆN DỰ ÁN
I.7. Tiến độ thực hiện dự án
Dự án bắt đầu xây dựng từ tháng 06 năm 2018 đến tháng 6 năm 2020 bắt đầu hoàn
thành trang trại đưa vào sử dụng dần đến tháng 07 năm 2020 dự án sẽ đi vào xây dựng
hoàn chỉnh; dự án sẽ cho hoạt động dần các hạng mục hoàn thành từ năm 2019: trang trại
chăn nuôi lợn nái giống và nhà máy chế biến thức ăn cùng các hạng mục phụ trợ khác;
I.8. Địa điểm thực hiện dự án
Dự án là một tổ hợp trang trại chăn nuôi theo hướng công nghiệp sạch, gồm các hợp
phần sau:
12-

345-

Hợp phần 1: Trang trại chăn nuôi lợn nái làm lợn giống, công suất 5100 con.
Hợp phần 2: 2 Trang trại chăn nuôi lợn thịt theo hướng công nghiệp công suất
25.000 con. Lợn thịt xuất chuồng được chuyển vào xưởng giết mổ, thịt xuất ra
được giao cho các cửa hàng bán thịt trong hệ thống.
Hợp phần 3: Xưởng giết mổ lợn (Chế biến thực phẩm).
Hợp phần 4: Hệ thống bán hàng thịt lợn sạch tại các điểm dân cư.
Hợp phần 5: Nhà máy chế biến thức ăn lợn.

Các tổ hợp này được đặt tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
I.9. Tổ chức nhân sự
Đội ngũ quản lý và nhân sự dự kiến của dự án gồm tổng cộng 160 người, cụ thể được
phân bổ như sau:
Giám đốc trang trại

1 người

Chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ các hoạt động trong
trang trại, liên hệ với nhà phân phối và có kế hoạch
kinh doanh của toàn trang trại

Trưởng trại hậu bị

1 người

Chịu trách nhiệm quản lý các công việc tại trại hậu bị

Trưởng trại nái

1 người

Chịu trách nhiệm quản lý các công việc của trại nái

Kế toán

3 người

Chịu trách nhiệm về thu – chi theo đúng kế hoạch và
phương án kinh doanh và chịu trách nhiệm về tính
toán tiền lương cho nhân viên

Hành chính nhân sự

1 người

Chịu trách nhiệm quản lý về hành chính nhân sự, tuyển
dụng nhân viên, các thủ tục hành chính pháp lý tại
trang trại

Nhân viên văn phòng

2 người

Chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động kinh doanh
của trang trại dưới sự chỉ đạo của giám đốc trang trại
17


Nhân viên kỹ thuật

5 người

Chịu trách nhiệm về các công việc liên quan đến kỹ
thuật tại trang trại.

Bảo vệ

3 người

Chịu trách nhiệm quản lý và bảo vệ tài sản của trang
trại.

Tổ nhà bếp vệ sinh

6 người

Kỹ thuật cơ điện

3 người

Công nhân chăn nuôi
lợn

75 người

Công nhân trại chế
biến thức ăn cho lợn

30 người

Công nhân trại giết mổ 30 người
Nhân viên tại các cửa
hàng thịt sạch

20 người

Dự tính tại mỗi cửa hàng, có 2 nhân viên phụ trách
thay ca làm việc.

Nhân viên bán hàng tại 30 người
sạp thịt lưu động

Mỗi xe thịt lưu động sẽ do 1 nhân viên bán hàng và
phụ trách.

I.10. Trang trại chăn nuôi lợn
I.10.1. Giải pháp kỹ thuật xây dựng
 Nguyên tắc xây dựng công trình
Các hạng mục công trình sẽ được bố trí theo những nguyên tắc sau:
+ Bố trí thuận tiện cho việc phối hợp hoạt động giữa các bộ phận trong khu vực
Dự án.
+ Thuận tiện cho việc phát triển, mở rộng Dự án sau này.
+ Tiết kiệm đất xây dựng nhưng vẫn đảm bảo sự thông thoáng của các khu trại
chăn nuôi.
+ Tuân thủ các quy định về quy hoạch, kiến trúc, xây dựng của địa phương và
Nhà Nước ban hành.
+ Tạo dáng vẻ kiến trúc phù hợp với cảnh quan của khu chăn nuôi tập trung. Về
mặt kiến trúc, các trại trong cơ sở sẽ được thiết kế như sau:
18


- Mái trại:
+ Lợp tole sóng vuông màu, dày 0.42mm, khổ 1.7m
+ Vì kèo thép hình V40x40x4, bản mã dày 8mm
+ Xà gồ thép hình C40x80x2.5, khoảng cách a=900
+ Sườn trần ngang la phông thép hộp 30x30x3
+ Sườn trần dọc la phông thép hộp 30x20x1.5
+ Đóng trần la phông tole lạnh màu, dày 0.42mm
- Nền:
+ Bê tông đá 1x2 mác #200, dày 100 mm
+Vữa láng nền tạo bề mặt nhám chống trượt
+ Độ dốc: 3%
 Yêu cầu kỹ thuật khi xây dựng Dự án
- Đối với trại lợn nái: Chuồng trại phải cao ráo, sạch sẽ, thoáng mát. Cách ly với
môi trường xung quanh để tránh lây lan dịch bệnh. Tạo điều kiện thuận lợi cho người lao
động nuôi dưỡng chăm sóc đàn lợn được tốt, tăng năng suất lao động đạt hiệu quả kinh tế
cao.
- Đối với trại lợn: Chuồng trại phải cao ráo, sạch sẽ thoáng mát, ấm áp trong mùa
Đông và thoáng mát trong mùa Hè. Hạn chế tối đa việc tắm lợn và rửa chuồng, chuồng
phải luôn khô ráo nhưng vẫn phải đảm bảo thoáng mát, để giảm tối đa các bệnh về hô
hấp. Cách ly phần nào với môi trường xung quanh để tránh lây lan dịch bệnh. Tạo điều
kiện thuận lợi cho người lao động nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn được tốt hơn.
- Đảm bảo các quy định về an toàn trong hoạt động kinh doanh, lao động và
phòng cháy chữa cháy.
 Hạng mục công trình
+ Trại chăn nuôi lợn nái
Hạng mục

Số lượng

Đơn vị

Nhà nuôi lợn nái nuôi con

61,160

m2

Nhà nuôi lợn nái khô, nái chửa

36,696

m2

924

m2

Phòng pha chế tinh

1

nhà

Nhà cách ly

1

nhà

Nhà nuôi lợn đực giống

19


Cổng tường rào

1

T.bộ

Nhà bảo vệ

1

T.bộ

Nhà kỹ thuật

1

nhà

Nhà công nhân

1

nhà

Nhà ăn

1

nhà

Nhà để xe

1

nhà

Bể nước sinh hoạt

1

Bể

Nhà sát trùng xe

1

nhà

Nhà điều hành

1

nhà

Nhà phơi đồ

1

nhà

Nhà máy phát điện

1

nhà

Nhà nghỉ trưa

1

nhà

Kho cám heo

1

nhà

Bệ xuất nhập heo

1

Bể

Bể chứa nước 360 m3, tháp nước
40m3

1

Bể

Silo cám

8

Bể

Bể ngâm rửa đan

6

Bể

Hầm Biogas

1

Hầm

Ao xử lý nước thải

2

Ao

Nhà để phân

1

nhà

Sân phơi phân

1

Sân

Hố phân hủy rác

2

Hố

Kho để dụng cụ

1

nhà

+ Trại chăn nuôi lợn thịt
STT

Số lượng

Đơn vị

Nhà nuôi lợn cai sữa (2-4 tháng tuổi)

55,000

m2

20


Nhà nuôi lợn thịt

110,000

m2

Cổng tường rào

1

T.bộ

Nhà để xe

1

Nhà

Nhà ở kỹ thuật

1

Nhà

Nhà công nhân

1

Nhà

Nhà ăn + bếp

1

Nhà

Tháp nước sinh hoạt 2m3

1

Cái

Sân bóng chuyền

1

Cái

Nhà sát trùng xe

1

Nhà

Nhà điều hành

1

Nhà

Nhà phơi đồ

1

Nhà

Nhà đặt máy phát điện

1

Nhà

Nhà nghỉ trưa

1

Nhà

Kho dụng cụ

1

Nhà

Kho cám heo con

1

Nhà

Kho cám

1

Nhà

Bệ xuất nhập heo

2

Bệ

Bể nước 350m3, tháp 20m3

2

Cái

Bể ngâm rửa đan

6

Cái

Hầm biogas

1

Cái

Ao xử lý nước thải số 3

1

Cái

Nhà cân heo

1

Nhà

Hố hủy xác

2

Cái

Sân phơi phân

1

Cái

Nhà bảo vệ

1

Nhà

Nhà để phân

1

Nhà

I.10.2. Hình thức chăn nuôi
21


Một trong những bước đầu tiên quan trọng trong việc nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản đạt
năng suất cao đó chính là công tác chọn lọc và nuôi dưỡng lợn nái hậu bị.
Vì vậy cần phải tuyển lựa và chăm sóc những nái làm hậu bị đúng cách thì mới
phát huy hết sức sinh trưởng, sinh sản trong tương lai.
1. Chọn lọc và theo dõi lợn nái đẻ
+ Chọn lợn:
Chọn lựa lợn lúc 60 đến 70 ngày tuổi dựa trên các chỉ tiêu về ngoại hình, sự tăng
trưởng và sức khỏe.
Thời kỳ này tuyển chọn cũng dựa vào sức sinh trưởng, sự phát triển tầm vóc. Nếu
có các dị tật sẽ dễ dàng nhận ra. Ta có thể so sánh xếp cấp phê điểm theo tiêu chuẩn định
sẵn bên dưới.
Bảng tiêu chuẩn ngoại hình của lợn nái hậu bị (Nguồn: www.vcn.vn)
Stt

Bộ phận

Ưu điểm

1

Đặc điểm giống, thể
chất, lông da

Đặc điểm giống biểu hiện rõ. Cơ thể phát triển cân đối,
chắc chắn, khỏe mạnh, mập vừa phải. Lông da bóng mượt.
Tính tình nhanh nhẹn nhưng không hung dữ.

2

Vai và ngực

Vai nở đầy đặn, không xuôi hẹp. Ngực sâu rông, không
lép.

3

Lưng sườn và bụng

Lưng thẳng, dài vừa phải, sườn sâu, tròn. Bụng không sệ.
Bụng và sườn kết hợp chắc chắn.

4

Mông và đùi sau

Mông tròn, rộng và dài vừa phải. Đùi đầy đặn, ít nhăn.

5

Bốn chân

Bốn chân tương đối thẳng, không quá to nhưng cũng
không quá nhỏ. Khoảng cách giữa 2 chân trước và hai
chân sau vừa phải. Móng không tè. Đi đứng tự nhiên. Đi
bằng móng chân.

6

Vú và bộ phận sinh
dục

Có 12 vú trở lên, khoảng cách giữa các vú đều nhau. Bộ
phận sinh dục đầy đặn, phát triển tốt.

Giai đoạn từ 7 đến 10 tháng tuổi: Đây là giai đoạn quyết định sự chọn lọc cuối
cùng. Ngoài những yếu tố ngoại hình đã được đề cập ở trên, thời điểm này cần chú ý đến
những biểu hiện động dục lần đầu, cường độ động dục lần đầu mạnh hay yếu, lộ rõ hay
âm thầm. Điều này sẽ cho thấy khả năng phát dục của nái trong tương lai (nái quá mập,
bộ vú xấu, quá nhút nhát hay quá hung dữ, không biểu lộ động dục đến 10 tháng thì nên
loại thải).
22


+ Dinh dưỡng
- Lợn từ giai đoạn cai sữa đến 70 - 90 kg cho ăn tự do theo chương trình dinh
dưỡng dành cho lợn con. Khi đạt 70 - 90 kg trở lên thì chuyển qua sử dụng thức ăn cho
lợn nái nuôi con tới thời điểm phối giống thì dừng. Vì đây là giai đoạn lợn hậu bị phát
triển khung xương, hình dáng nên cần dinh dưỡng tối đa để tạo ra lợn hậu bị đẹp, khung
xương chậu phát triển tốt tránh tình trạng sau này lợn khó đẻ do quá mập hoặc quá ốm.
- Thức ăn phải đảm bảo đủ các dưỡng chất cho nhu cầu của lợn trong giai đoạn
này. Trước khi cho lợn ăn cần phải kiểm tra thức ăn để tránh tình trạng nấm mốc, độc tố,
hoocmon kích thích tăng trưởng, melanine... Độc tố trong thức ăn được coi là kẻ thù giấu
mặt vì thường không có những biểu hiện rõ rệt ra bên ngoài nhưng lại có ảnh hưởng tới
việc phát dục của hậu bị như: chậm động dục, buồng trứng không phát triển, trường hợp
nặng hơn là vô sinh, thậm chí làm lợn bị ngộ độc.
+ Môi trường nuôi dưỡng
- Chuồng nuôi lợn hậu bị phải thoáng mát, có độ dốc để thoát nước dễ dàng, có độ
nhám vừa đủ, không trơn trợt hay gồ ghề vì sẽ làm hư móng. Thiết kế chuồng sao cho lợn
không bị lạnh vào mùa đông, không bị nóng vào mùa hè.
- Không nuôi nhốt quá chật hẹp, nếu nuôi chung cần chú ý đến sự tương đương
tầm vóc.
- Thời gian chiếu sáng cần thiết trong ngày của chuồng nuôi lợn hậu bị là 16 giờ.
- Cho lợn hậu bị tiếp xúc với nọc vào khoảng 150 ngày tuổi, nên chọn nọc có kinh
nghiệm và tính hăng cao và cho tiếp xúc 10 - 15 phút mỗi ngày.
- Tuổi phối giống là 7.5 - 8 tháng sau lần lên giống thứ 2. Độ dày mỡ lưng 20 - 22
mm, trọng lượng là 120 - 130 kg.
+ Công tác thú y:
- Trước khi phối giống 2 - 3 tuần cần phải thực hiện chương trình vaccine. Chương
trình tiêm phòng được khuyến cáo như sau: Dịch tả, Lở mồm long móng, Giả dại,
Parvovirus, có thể tiêm vaccine: PRRS, Circovirus Typ2 ( không bắt buột )
- Tẩy ký sinh trùng: Ivermectin, Doramectin
- Kháng sinh: để tránh ảnh hưởng về sau ta nên định kỳ sử dụng (trộn vào trong
thức ăn) để phòng ngừa triệt để bệnh ho và viêm phổi.
2. Quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn đực giống
Hiệu quả chăn nuôi của một trang trại phụ thuộc vào các yếu tố chính như con
giống, chi phí thức ăn, chi phí quản lý, chi phí thú y...

23


Trong đó yếu tố con giống đóng vai trò cơ bản nhất vì sẽ gây ảnh hưởng lớn đến
việc cải thiện khả năng sản xuất của thế hệ sau. Với tình hình hiện nay khi mà giá thức ăn
chăn nuôi ngày càng tăng, để đóng góp vào việc cắt giảm chi phí thức ăn và nâng cao
hiệu quả chăn nuôi thì cần phải quan tâm đến con giống nhiều hơn nữa.
Một con lợn đực giống tốt sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với một
con nái tốt, nhất là trong điều kiện hiện nay đang áp dụng phổ biến kỹ thuật gieo tinh
nhân tạo. Cụ thể, mỗi năm một con đực giống tốt có thể truyền những thông tin di truyền
về các tính trạng kinh tế như: tăng trọng bình quân/ngày (ADG) cao; tiêu tốn thức ăn
(FCR) thấp... cho hàng ngàn con ở thế hệ sau, trong khi một nái tốt chỉ có thể truyền cho
khoảng 20 lợn con mà thôi. Do đó để nuôi dưỡng và khai thác sử dụng thành công lợn
đực giống thì người chăn nuôi cần chú ý những yếu tố sau:
+ Chọn lợn:
a. Chọn giống lợn: Việc chọn giống phụ thuộc vào những yếu tố sau:
- Chất lượng của giống: cần chọn giống lợn mang đặc tính cải tiến cao, năng suất
vượt trội so với những giống lợn trước.
- Thị hiếu của người chăn nuôi lợn nái trong khu vực bao gồm màu sắc da lông
của đực giống, tính chất phù hợp của giống có phù hợp không, khả năng đáp ứng nhu cầu
cải tiến.
- Hiểu rõ nguồn gốc của đàn lợn nái trong khu vực để có chương trình phối giống
hoặc gieo tinh cho phù hợp, phòng ngừa xảy ra hiện tượng đồng huyết hoặc cận huyết
làm ảnh hưởng xấu đến năng suất của đàn lợn.
- Ngoài ra phải dựa vào cơ sở vật chất và trình độ kỹ thuật chăn nuôi mà trại mình
hiện có.
b. Chọn lợn giống
Chọn lợn giống cần dựa vào đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh trưởng, phát dục,
năng suất, gia phả và qui trình nuôi.
- Căn cứ vào ngoại hình, thể chất: Chọn con khoẻ mạnh và tốt nhất trong đàn.
Hình dáng màu sắc đúng với giống cần chọn. Thể chất cân đối, vai lưng rộng, mông nở,
chân cao thẳng, to khỏe, rắn chắc, đi bằng móng (không đi bàn). Tuyệt đối không chọn
những con đực có chân đi xiêu vẹo, dị dạng khác thường (vòng kiềng, chân quá hẹp,
yếu). Chọn lợn đực có vú đều và cách xa nhau, có ít nhất 6 cặp vú trở lên, dịch hoàn phát
triển đều hai bên, bộ phận sinh dục không dị tật.
- Căn cứ vào khả năng sinh trưởng, phát dục: Đảm bảo tiêu chuẩn của phẩm giống
theo từng giai đoạn nhất định.

24


- Căn cứ vào năng suất: Dựa vào các chỉ tiêu sau: Tốc độ tăng trọng (ADG), độ
dày mỡ lưng (BF), tiêu tốn thức ăn (FCR), tỷ lệ nạc, thành phần thân thịt, chất lượng thịt:
màu sắc, mùi vị, cảm quan..
- Căn cứ vào gia phả: Việc xem lý lịch ông bà, cha mẹ là rất cần thiết. Những quy
định tiêu chuẩn cho dòng cha mẹ giống tốt là nhiều nạc, ít mỡ, độ dày mỡ lưng mỏng
(dưới 3 cm), dài đòn, đùi và mông to, tỉ lệ thịt xẻ trên 55%. Chọn từ đàn có lợn mẹ đẻ sai
từ 10 - 12 con/lứa, trọng lượng sau cai sữa đạt 15 kg trở lên ở 45 ngày tuổi, thức ăn tiêu
tốn ít từ 3,2 - 3,5 kg thức ăn/kg tăng trọng, phàm ăn, chịu đựng tốt với khí hậu nóng, ẩm
ở địa phương. Lượng tinh dịch mỗi lần xuất 15 đến 50cc.
- Căn cứ vào qui trình nuôi: lợn giống phải được nuôi theo qui trình kiểm soát
dịch bệnh nghiêm ngặt để phòng ngừa dịch bệnh lây lan trong khu vực như dịch tả,
thương hàn, suyễn, sảy thai truyền nhiễm...
* Lưu ý: Sau khi đã chọn được lợn đực làm giống thì chất lượng sản xuất của lợn
đực giống phụ thuộc rất nhiều vào quá trình chọn lọc ở giai đoạn hậu bị và ngay cả trong
giai đoạn làm việc. Việc chọn lọc và loại thải kịp thời những lợn đực giống không đạt yêu
cầu sẽ giúp người chăn nuôi giảm rất đáng kể chi phí đầu tư cho việc nuôi dưỡng và
chăm sóc. Nên người chăn nuôi cần tiến hành đánh giá và chọn lọc lợn đực giống ở 2 giai
đoạn quan trọng sau:
+ Giai đoạn 1: Khi lợn bắt đầu phát dục: Khoảng 3,5 - 4 tháng tuổi, trọng lượng
khoảng 40 - 60 kg, tùy theo giống ngoại hay lai. Tiến hành kiểm tra ngoại hình, tốc độ
tăng trưởng, bệnh tật..
+ Giai đoạn 2: Khi lợn bắt đầu phối giống: tiến hành kiểm tra ngoại hình, tinh
hoàn, tính dục, tính tình...
Qua các lần kiểm tra như vậy chỉ chọn lại những con đực có ngoại hình và sức
khỏe tốt, tính dục mạnh, tính tình dễ huấn luyện.
3. Dinh dưỡng cho đực giống
Có 2 chỉ tiêu được chú ý nhiều nhất trong dinh dưỡng nói chung đó là protein thô
và năng lượng. Đối với lợn đực giống thì việc định mức lượng protein thô và năng lượng
ăn vào là rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến chất lượng và thời gian sử dụng lợn đực
giống. Ta có thể chia làm 3 giai đoạn dinh dưỡng khi nuôi lợn đực giống như sau:
a. Giai đoạn 1: (từ khoảng 30 - 50 kg)
Giai đoạn này cần cho lợn đực lớn nhanh, phát triển tốt khung xương và các cơ
quan sinh dục. Vì vậy đòi hỏi thức ăn phải có chất lượng cao, cho ăn tự do. Giai đoạn này
cần chú ý đến nhiều các khoáng chất của thức ăn (một số khoáng có vai trò rất quan trọng
trong quá trình phát triển tính dục của lợn đực giống như: selen, kẽm, mangan, iot).
b. Giai đoạn 2: (từ khoảng 50 kg đến khi phối giống)
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×