Tải bản đầy đủ

Vị trí vai trò của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam

MỤC LỤC
I. NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM........................................................................................... 2
1. Khái quát chung về Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam...................................................................2
a. Nhà nước và dấu hiệu đặc trưng của nhà nước.............................................................................................. 2
b. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.............................................................................................. 3
2. Bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.............................................................................4
a. Tính giai cấp công nhân của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam..................................................5
b. Tính dân tộc của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam...................................................................5
c. Tính nhân dân của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam................................................................5
d. Tính thời đại của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam...................................................................6
3. Nhà nước trong hệ thống chính trị nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam...................................................7
a. Khái quát chung về hệ thống chính trị............................................................................................................ 7
b. Vai trò của Nhà nước trong hệ thống chính trị............................................................................................... 8
II. CÁC NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM..............9
1. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo................................................................................................................................. 9
2. Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân...............................................................................10
3. Nguyên tắc tập trung dân chủ.......................................................................................................................... 11
4. Nguyên tắc huy động quần chúng nhân dân tham gia quản lý nhà nước..........................................................12
5. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa............................................................................................................. 12
6. Nguyên tắc công khai, minh bạch..................................................................................................................... 13
III. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.......................................................14

1. Vị trí và tầm quan trọng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương.......................................................................18
2. Quan điểm và chiến lược của các nước lớn (Mỹ, Nga, Trung Quốc)..................................................................21
3. Vai trò và vị thế của Việt Nam trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương...........................................................24
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................................................................. 29

Trang 1


Đề tài: “Vị trí, vai trò của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
I. NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1. Khái quát chung về Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
a. Nhà nước và dấu hiệu đặc trưng của nhà nước
Sự phát triển của sản xuất vật chất chuyển xã hội từ cung không đủ cầu sang
một giai đoạn mới: Có của cải dự thừa, tiêu dùng đã có dự trữ. Việc chiếm đoạt tài
sản dự trữ đã phân hóa xã hội thành giai cấp, đối lập nhau về lợi ích. Xã hội hình
thành mâu thuẫn giai cấp. Khi mâu thuẫn giai cấp phát triển đến độ không thể điều
hòa được thì nhà nước ra đời. Nhà nước biểu hiện và thực hiện đường lối chính trị
của giai cấp cầm quyền, do đó, bản chất của nhà nước luôn mang tính giai cấp và
nó phản ánh bản chất của giai cấp cầm quyền.
Trong các xã hội có giai cấp (chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản) quyền lực
chính trị thuộc về giai cấp thống trị hoặc liên minh giai cấp thống trị. Thông qua
quyền lực chính trị, giai cấp thống trị bắt các giai cấp khác phục tùng ý chí của
mình. Quyền lực chính trị như C. Mác và Ph. Ăngghen đã chỉ rõ, thực chất là bạo
lực có tổ chức của một giai cấp để đàn áp những giai cấp khác.
Nhà nước là công cụ cơ bản của quyền lực chính trị; là bộ máy quyền lực đặc
biệt để trước hết cưỡng chế, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Tuy nhiên, do
được hình thành từ bộ máy quản lý cộng đồng, nên nhà nước cũng đồng thời nhân
danh xã hội, đại diện cho xã hội thực hiện các chức năng quản lý xã hội, phục vụ
nhu cầu chung của xã hội, tương ứng với bản chất của giai cấp cầm quyền và điều
kiện tồn tại của xã hội.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa xuất hiện trong quá trình cách mạng xã hội chủ
nghĩa, là công cụ của giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và các
tầng lớp lao động khác nhằm chống lại giai cấp bóc lột và xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là
chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân dưới
Trang 2


sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản.
Với tư cách là một tổ chức chính trị đặc biệt, nhà nước có các dấu hiệu sau đây:


- Nhà nước được đặc trưng bởi sự hiện diện của một bộ máy quyền lực đặc
biệt với chức năng quản lý và cưỡng chế. Do đó nó có quyền tối cao trong việc
quyết định những vấn đề đối nội và đối ngoại.
- Xác lập chủ quyền quốc gia và phân chia dân cư theo lãnh thổ hành chính
để quản lý.
- Ban hành hệ thống quy tắc xử sự chung của quốc gia để thiết lập và duy trì
trật tự xã hội phù hợp lợi ích giai cấp thống trị cùng lợi ích quốc gia, đồng thời
đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế.
- Quy định bằng pháp luật và thực hiện việc thu thuế bắt buộc đối với cá
nhân và tổ chức trong lãnh thổ quốc gia để thiết lập nền tài chính công.
- Từ các đặc trưng trên của nhà nước, chúng ta có thể định nghĩa: Nhà nước
là một tổ chức quyền lực chính trị gồm một bộ máy đặc biệt để thực hiện chức
năng quản lý và cưỡng chế theo một trật tự pháp lý nhất định phục vụ và bảo vệ
lợi ích của giai cấp cầm quyền.
b. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tổ chức quyền lực thể hiện
và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm
trước nhân dân quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội. Mặt khác, Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chịu sự lãnh đạo và thực hiện đường lối chính
trị của giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trung tâm thực hiện quyền
lực chính trị, là trụ cột của hệ thống chính trị, là bộ máy tổ chức quản lý nhà nước
về kinh tế, văn hóa, xã hội và thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại. Quản lý xã
Trang 3


hội chủ yếu bằng pháp luật, Nhà nước phải có đủ quyền lực, đủ năng lực định ra
pháp luật và năng lực tổ chức quản lý các mặt của đời sống xã hội bằng pháp luật.
Để Nhà nước hoàn thành nhiệm vụ quản lý xã hội bằng pháp luật, thực hiện quyền
lực nhân dân, phải luôn luôn chăm lo kiện toàn các cơ quan nhà nước, với cơ cấu
gọn nhẹ, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả với một đội ngũ cán bộ, công chức có
phẩm chất chính trị vững vàng, năng lực chuyên môn giỏi; thường xuyên giáo dục
pháp luật, nâng cao ý thức sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; có cơ chế
và biện pháp ngăn ngừa tệ quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm...
của một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức; nghiêm trị những hành động gây rối,
thù địch; phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, tổ chức xã hội, xây dựng và tham
gia quản lý nhà nước. Nhấn mạnh vai trò của nhà nước xã hội chủ nghĩa, thực hiện
quản lý xã hội bằng pháp luật cần thấy rằng:
Một là, toàn bộ hoạt động của cả hệ thống chính trị, kể cả sự lãnh đạo của
Đảng cũng phải trong khuôn khổ của pháp luật, chống mọi hành động lộng quyền
coi thường pháp luật;
Hai là, có mối liên hệ thường xuyên và chặt chẽ giữa Nhà nước và nhân dân,
lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, quản lý
đất nước vì lợi ích của nhân dân, chứ không phải vì các cơ quan và công chức nhà nước.
Ba là, không có sự đối lập giữa nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và tăng
cường hiệu lực quản lý của Nhà nước, mà phải bảo đảm sự thống nhất để làm tăng
sức mạnh lẫn nhau. Tính hiệu lực và sức mạnh của Nhà nước chính là thể hiện hiệu quả
lãnh đạo của Đảng.
2. Bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định
trong Điều 2 Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001): “Nhà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng
Trang 4


là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.
Bản chất của Nhà nước ta hiện nay thể hiện cụ thể bản chất của nhà nước xã
hội chủ nghĩa, bao gồm các đặc trưng sau:
a. Tính giai cấp công nhân của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tính giai cấp công nhân của Nhà nước ta được quy định bởi tính tiên phong
và sự lãnh đạo của giai cấp này. Tính tiên phong của giai cấp công nhân được thể
hiện trong quá trình đấu tranh cách mạng, ở sự trung thành với lý tưởng cách
mạng, ở khả năng nhận thức và tư tưởng đổi mới, phát triển. Bản chất giai cấp của
Nhà nước ta thể hiện bản chất của giai cấp công nhân, là giai cấp tiên tiến nhất,
cách mạng nhất, phấn đấu vì lợi ích của nhân dân lao động và của toàn xã hội.
b. Tính dân tộc của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà nước ta là nhà nước của tất cả các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam,
là biểu hiện tập trung của khối đoàn kết dân tộc. Các dân tộc anh em đều bình đẳng
trước pháp luật. Mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ riêng, được Nhà nước tạo điều kiện,
hỗ trợ về mọi mặt để phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội. Các chính sách xã hội thể
hiện tính dân chủ, nhân đạo của nhà nước xã hội chủ nghĩa đang được triển khai
thực hiện ở vùng đồng bào các dân tộc. Ngày nay, tính dân tộc đó được phát huy
nhờ kết hợp với tính giai cấp, tính nhân dân và tính thời đại.
c. Tính nhân dân của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân. Điều 2 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai
cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức".
Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân: Nhân dân thiết lập nên Nhà nước
bằng quyền bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân, sử dụng quyền lực nhà nước
Trang 5


chủ yếu thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Ngoài ra, nhân dân còn
thực hiện quyền lực nhà nước bằng các hình thức giám sát, khiếu nại, tố cáo, khiếu
kiện các quyết định, hành vi của các cơ quan nhà nước và các cá nhân có thẩm
quyền làm thiệt hại đến quyền lợi của họ; tham gia góp ý vào các dự án chính sách,
pháp luật.
Tính nhân dân không phủ nhận các biện pháp cương quyết, mạnh mẽ của Nhà
nước nhằm chống lại các hành vi gây mất ổn định chính trị, vi phạm pháp luật,
xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân. Vì vậy, cùng với việc đổi
mới, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cơ quan nhà nước, Nhà nước
cần tăng cường bộ máy cưỡng chế để đảm bảo an ninh, an toàn cho xã hội và cho
từng cá nhân con người.
d. Tính thời đại của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà nước ta là một Nhà nước xã hội chủ nghĩa, thực hiện thiết chế của nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, Nhà nước ta hiện nay đang thực hiện chính sách
phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội. Nhà
nước ta thừa nhận nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là
phương tiện để đạt mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh". Bên cạnh việc chăm lo phát triển kinh tế, Nhà nước Việt Nam còn quan tâm
đến việc giải quyết các vấn đề xã hội, chú trọng phát triển giáo dục, y tế, văn hóa…
Tính thời đại của Nhà nước ta còn được thể hiện sinh động trong chính sách
đối ngoại với phương châm: "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế
giới". Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghị, hợp tác trên cơ
sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào nội bộ
của nhau.

Trang 6


3. Nhà nước trong hệ thống chính trị nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
a. Khái quát chung về hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị theo nghĩa rộng là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ lĩnh vực
chính trị của đời sống xã hội với tư cách là một hệ thống, bao gồm các chủ thể
chính trị, các quan điểm, hệ tư tưởng, các quan hệ chính trị cùng các chuẩn mực
chính trị, pháp lý.
Theo nghĩa hẹp, hệ thống chính trị dùng để chỉ hệ thống các lực lượng chính
trị tồn tại đồng thời trong một xã hội; vừa mâu thuẫn, vừa vận hành thống nhất như
một chính thể; gồm các tổ chức chính thống thực hiện chức năng chính trị (Đảng
cầm quyền, Nhà nước, các tổ chức xã hội...) và các lực lượng chính trị của giai cấp đối
lập khác.
Hệ thống chính trị xuất hiện và tồn tại trong xã hội có giai cấp và Nhà nước.
Quan hệ sản xuất đặc trưng cho một chế độ xã hội quy định bản chất và xu hướng
vận động của hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị bị chi phối bởi đường lối chính
trị của Đảng cầm quyền, do đó nó luôn phản ánh bản chất của giai cấp cầm quyền.
Trong các xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản, hệ thống chính trị hình
thành và phát triển cùng với quá trình vận động của mâu thuẫn giữa các giai cấp
đối kháng gắn với cuộc đấu tranh của nhân dân lao động và các lực lượng tiến bộ
chống lại chế độ xã hội đó, làm thay đổi theo hướng tiến bộ các hệ thống chính trị,
hoặc thủ tiêu thay thế nó bằng một hệ thống chính trị dân chủ, tiến bộ hơn.
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là
chủ thể thực sự của quyền lực chính trị, tự mình định đoạt quyền chính trị của
mình. Cái căn bản nhất của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng
Cộng sản. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa xét về mặt cơ cấu bao gồm Đảng
Cộng sản, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội. Hệ thống chính trị xã hội chủ
nghĩa hoạt động theo một cơ chế nhất định dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản,
Trang 7


sự quản lý của Nhà nước nhằm thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân để xây
dựng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh.
b. Vai trò của Nhà nước trong hệ thống chính trị
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có vai trò quan trọng trong hệ
thống chính trị. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là biểu hiện tập
trung của quyền lực nhân dân và tổ chức các hoạt động để thực hiện quyền lực ấy.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thiết chế trung tâm của hệ
thống chính trị. Có thể khái quát quan hệ giữa các cơ cấu quyền lực chính trị
ở nước ta hiện nay bằng sơ đồ sau:

Đảng
CSVN

Nhà nước
CHXHCN Việt Nam

Các tổ chức
chính trị - xã
hội

Nhân dân

Sơ đồ khái quát cơ cấu quyền lực chính trị ở Việt Nam
Nhà nước xã hội chủ nghĩa có vai trò quan trọng vì nó có các điều kiện sau:
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa là đại diện chính thức cho mọi giai cấp và tầng
lớp trong xã hội. Điều đó tạo cho Nhà nước có cơ sở xã hội rộng rãi, có thể triển
khai nhanh chóng và thực hiện có hiệu quả những quyết định, chính sách của mình.
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa là chủ sở hữu đối với những tư liệu sản xuất
quan trọng của xã hội và nguồn tài chính to lớn. Thông qua đó Nhà nước điều tiết
Trang 8


vĩ mô đối với nền kinh tế, đảm bảo cho nó phát triển hài hòa vì lợi ích chung của
nhân dân.
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa có một bộ máy chuyên làm chức năng quản lý.
Các chức năng quản lý của Nhà nước bao trùm các lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Trong quản lý xã hội, Nhà nước xã hội chủ nghĩa sử dụng pháp luật và thông
qua hoạt động của các cơ quan chức năng đảm bảo cho pháp luật được thực hiện.
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa có hệ thống lực lượng vũ trang, công an, nhà tù,
tòa án, là những phương tiện để Nhà nước có thể duy trì trật tự và ổn định xã hội.
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa là tổ chức mang chủ quyền quốc gia. Chủ quyền
quốc gia là thuộc tính pháp lý riêng biệt của Nhà nước. Nhà nước là chủ thể của
các điều ước quốc tế.
Đồng thời với việc phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước cũng phải tạo điều
kiện về cơ sở vật chất và pháp lý cho các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động, thu
hút các tổ chức đó tham gia vào việc quản lý các công việc của Nhà nước.
II. CÁC NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ NƯỚC
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo
Hệ thống chính trị Việt Nam là hệ thống chính trị nhất nguyên, trong đó chỉ
tồn tại một đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam - lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà
nước và xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, giữ vai trò lãnh đạo
toàn dân, toàn diện bao gồm chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại
giao. Sự lãnh đạo của Đảng đảm bảo giữ vững bản chất của Nhà nước xã hội chủ
nghĩa, giữ vai trò quyết định trong việc xác định phương hướng tổ chức và hoạt
động của Nhà nước. Đó là điều kiện tiên quyết đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý
của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia quản lý
các công việc của Nhà nước.
Trang 9


Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước được thể hiện trên các nội dung chủ yếu sau:
- Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách định hướng cho quá trình tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
- Đảng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng những đảng viên có phẩm chất, năng lực
và giới thiệu họ vào đảm nhận các chức vụ trong bộ máy nhà nước thông qua con
đường bầu cử dân chủ.
- Đảng kiểm tra hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.
- Các đảng viên và các tổ chức của Đảng gương mẫu trong việc thực hiện
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.
Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không làm thay các công việc của Nhà nước
mà phải phân định rạch ròi công việc lãnh đạo của Đảng với việc quản lý của Nhà nước.
Nguyên tắc này đòi hỏi trong tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước, các cơ
quan nhà nước một mặt phải thừa nhận và chịu sự lãnh đạo của Đảng, mặt khác
phải có trách nhiệm đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vào thực tiễn
đời sống xã hội và đảm bảo sự kiểm tra, giám sát của Đảng.
2. Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhà nước là
công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Vì vậy, trong hoạt động của mình
Nhà nước phải đảm bảo sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với các cơ quan
nhà nước. Nguyên tắc này đòi hỏi: Thứ nhất, tăng cường và mở rộng sự tham gia
trực tiếp của nhân dân vào việc giải quyết các công việc của Nhà nước. Thứ hai,
nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan đại diện để các cơ quan này thực
sự đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Thứ ba, các cơ quan Nhà nước
có trách nhiệm tạo ra cơ sở pháp lý và các điều kiện tài chính, vật chất cho các tổ
Trang 10


chức xã hội hoạt động; định ra những hình thức và biện pháp để thu hút sự tham
gia của các tổ chức xã hội và nhân dân vào các hoạt động của Nhà nước.
3. Nguyên tắc tập trung dân chủ
Đây là nguyên tắc cơ bản áp dụng cho tất cả các cơ quan nhà nước, được quy
định tại Điều 6 Hiến pháp năm 1992: "Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ
quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ".
Nguyên tắc này xuất phát từ hai yêu cầu khách quan của quản lý, đó là: đảm
bảo tính thống nhất của hệ thống lớn (quốc gia, ngành, địa phương, cơ quan, đơn
vị, bộ phận) và đảm bảo sự phù hợp với đặc thù của hệ thống con lệ thuộc (từng
ngành, từng địa phương, từng cơ quan, đơn vị, bộ phận, cá nhân). Nguyên tắc tập
trung dân chủ thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của
cơ quan nhà nước cấp trên với việc mở rộng dân chủ để phát huy tính chủ động,
sáng tạo của cấp dưới nhằm đạt hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Tập trung trong các cơ quan nhà nước được thể hiện trên các nội dung sau: (1)
bộ máy nhà nước được tổ chức theo hệ thống thứ bậc từ Trung ương đến các địa
phương; (2) thống nhất chủ trương, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
phát triển; (3) thống nhất các quy chế quản lý; (4) thực hiện chế độ một thủ trưởng
hoặc trách nhiệm cá nhân người đứng đầu ở tất cả các cấp, đơn vị.
Dân chủ trong các cơ quan nhà nước là sự phát huy trí tuệ của các cấp, các
ngành, cơ quan, đơn vị và các cá nhân, tổ chức vào hoạt động quản lý nhà nước.
Tính dân chủ được thể hiện cụ thể ở các nội dung sau: (1) cấp dưới được tham gia
thảo luận, góp ý kiến về những vấn đề trong quản lý; (2) cấp dưới được chủ động,
linh hoạt trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm trước cấp
trên về việc thực hiện nhiệm vụ của mình.
Hai nội dung tập trung và dân chủ liên quan mật thiết với nhau, tác động bổ
trợ cho nhau. Tập trung trên cơ sở dân chủ và dân chủ trong khuôn khổ tập trung.
Trang 11


Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ đòi hỏi sự kết hợp hài hòa hai nội dung
này để tạo ra sự nhất trí giữa lãnh đạo và bị lãnh đạo, giữa người chỉ huy và người
thừa hành.
4. Nguyên tắc huy động quần chúng nhân dân tham gia quản lý nhà nước
Nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, là lực lượng quyết định trong quá trình
cải biến xã hội. Vai trò quyết định của nhân dân thể hiện trên các mặt chủ yếu sau đây:
- Nhân dân là lực lượng cơ bản sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, góp
phần vào sự tồn tại và phát triển của xã hội.
- Nhân dân là chủ thể của mọi quá trình cải biến xã hội.
- Lợi ích của nhân dân là động lực cơ bản của cách mạng xã hội, của những
quá trình cải biến xã hội.
Trên phương diện quyền lực chính trị, nhân dân vừa là chủ thể, vừa là khách
thể của quyền lực chính trị. Sự tham gia của nhân dân vào các công việc của Nhà
nước vừa với tư cách từng cá nhân, các nhóm cộng đồng, vừa thông qua những tổ
chức, cơ quan mà họ là những thành viên với nhiều phương thức khác nhau, trực
tiếp hoặc gián tiếp. Nhân dân tham gia quản lý nhà nước với nhiều hình thức như:
trực tiếp tham gia làm việc trong các cơ quan nhà nước, bầu cử đại biểu của mình
vào các cơ quan nhà nước, tham gia trưng cầu dân ý, thảo luận các dự án luật và
các chính sách, quyết định của Nhà nước, tham gia giám sát hoạt động của các cơ
quan và công chức nhà nước... Những hình thức tham gia quản lý các công việc
nhà nước của nhân dân được quy định cụ thể tại Điều 11, Điều 53 Hiến pháp năm 1992.
5. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc hiến định, là nội dung
quan trọng nhất của việc xây dựng nhà nước pháp quyền. Điều 12 Hiến pháp năm
1992 ghi: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật không ngừng tăng cường pháp
chế xã hội chủ nghĩa".
Trang 12


Nguyên tắc này đòi hỏi tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước phải
triệt để tôn trọng pháp luật của Nhà nước. Nguyên tắc này không cho phép các cơ
quan nhà nước thực hiện quản lý nhà nước một cách chủ quan, tùy tiện mà phải
dựa vào pháp luật, làm đúng pháp luật, cụ thể:
- Các cơ quan nhà nước phải chịu sự giám sát của công dân và của xã hội.
- Tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước phải trong phạm vi thẩm
quyền do pháp luật quy định, không vượt quyền.
- Hoạt động quản lý nhà nước phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục
do pháp luật quy định.
- Các quyết định quản lý nhà nước được ban hành đúng luật.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, cán bộ,
công chức, viên chức nhà nước; xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật.
Thực hiện tốt nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là cơ sở đảm bảo hoạt
động hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, đảm bảo công bằng xã hội.
6. Nguyên tắc công khai, minh bạch
Trong xã hội ta, với Nhà nước pháp quyền "của dân, do dân và vì dân", tất cả
những thông tin trong quản lý của các cơ quan nhà nước phải được công khai cho
người dân biết trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia và đảm bảo quy định của
pháp luật.
Tính minh bạch trong hoạt động quản lý là hết sức cần thiết và là nguồn sức
mạnh của bộ máy công quyền. Minh bạch trước hết là nhằm bảo đảm bản chất dân
chủ của xã hội, thể hiện quyền của người dân trong việc tham gia quản lý nhà
nước; là một giải pháp rất quan trọng để khắc phục tệ quan liêu tham nhũng. Minh
bạch cũng là điều kiện không thể thiếu để bộ máy nhà nước tiếp thu trí tuệ của dân
đóng góp cho các hoạt động quản lý. Minh bạch cũng là một yêu cầu cần thiết để
Trang 13


thành công trong hội nhập quốc tế.
Tính minh bạch luôn gắn với công khai. Muốn công khai thì phải minh bạch
và minh bạch là cơ sở, là nền tảng để thực hiện công khai. Nguyên tắc này đòi hỏi
các cơ quan nhà nước khi xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách,
pháp luật phải tiến hành công khai, minh bạch, đảm bảo công bằng, dân chủ theo
đúng quy định của pháp luật.
Ngoài các nguyên tắc cơ bản trên, bộ máy Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam còn được tổ chức và hoạt động theo một số nguyên tắc khác, như
nguyên tắc kế hoạch hóa, nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc...
III. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
Nâng cao vị thế Việt Nam
Bước vào thời kỳ Đổi mới, Đảng và Nhà nước đã sớm xác định nhiệm vụ đối
ngoại trong thời kỳ mới là tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định cho mục tiêu
phát triển kinh tế. Từ chỗ bị bao vây về kinh tế, cô lập về chính trị, đến nay Việt
Nam có quan hệ ngoại giao với 180 nước, quan hệ kinh tế-thương mại-đầu tư với
trên 220 quốc gia và vùng lãnh thổ; quan hệ với các nước láng giềng, khu vực, các
nước lớn và các trung tâm kinh tế-chính trị hàng đầu, các nước bạn bè truyền thống
và đối tác tiềm năng ngày càng phát triển, đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững hơn.
Việt Nam là thành viên chủ động, tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng
quốc tế. Ngoại giao cũng góp phần tích cực quảng bá hình ảnh đất nước, con người
Việt Nam, tạo nhiều điều kiện thuận lợi để kiều bào ta ngày càng hướng về Tổ
quốc, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.
Công tác biên giới lãnh thổ đạt nhiều kết quả quan trọng, trong đó nổi bật là
việc lần đầu tiên trong lịch sử quan hệ Việt Nam và Trung Quốc, hai bên đã hoàn
thành phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền và ký các văn bản pháp lý liên
Trang 14


quan. Nhấn mạnh về những đóng góp của Bộ Ngoại giao trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, ông Trịnh Minh Anh, Phó Chánh văn phòng Ban Chỉ đạo liên
ngành hội nhập quốc tế về kinh tế, cho biết Bộ Ngoại giao đã có những đóng góp
to lớn vào thành công chung của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Giai đoạn đầu thời kỳ mở cửa (từ năm 1986-1995), Bộ Ngoại giao đã đi đầu
trong việc vận động các nước bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, đặc biệt đã
góp phần vận động sự ủng hộ của Liên hợp quốc, các tổ chức như Quỹ Tiền tệ
Quốc tế, Ngân hàng Thế giới nối lại quan hệ với Việt Nam.
Giai đoạn sau khi gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) từ
năm 1995-2006, Bộ đã cùng với Bộ Công Thương và các bộ chuyên ngành khác
triển khai việc đàm phán tham gia các tổ chức khu vực và quốc tế; đàm phán và ký
kết các hiệp định hội nhập kinh tế quốc tế song phương, khu vực và đa phương.
Giai đoạn sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ
năm 2007 đến nay, Bộ Ngoại giao đã cùng với Bộ Công Thương và các bộ chuyên
ngành khác tham gia đàm phán và ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) và
vận động công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường.
Đánh giá về những đóng góp của ngoại giao trong sự nghiệp phát triển đất
nước, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Thế Phương chia sẻ nếu trong
những năm tháng kháng chiến, ngoại giao là một mặt trận chiến lược quan trọng,
phối hợp với mặt trận quân sự và chính trị để bảo vệ Tổ quốc, giành lại độc lập dân
tộc, thống nhất đất nước thì bước vào thời kỳ Đổi mới, công tác ngoại giao phục vụ
kinh tế trở thành nhiệm vụ trọng tâm của ngành, đóng góp ngày càng thiết thực,
hiệu quả vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội đất nước.
Với vai trò mở đường, phát huy sức mạnh của ngoại giao chính trị, ngoại giao
văn hóa, ngành ngoại giao đã khai thông, mở rộng và đưa quan hệ hợp tác của Việt
Nam với các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới đi vào chiều sâu; đi tiên phong
trong việc khai mở các thị trường, các lĩnh vực hợp tác quốc tế mới.
Trang 15


Có thể nói chưa bao giờ Việt Nam có được quan hệ hợp tác quốc tế rộng rãi
và bình đẳng với các nước ở khắp các châu lục như ngày nay. Vai trò và vị thế của
Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.
Ngày nay, thế giới biết đến Việt Nam không chỉ là dân tộc yêu chuộng hòa
bình, quật cường, anh dũng trong chiến tranh, mà còn là đất nước đổi mới thành
công, thân thiện, có nhiều tiềm năng, kinh tế phát triển năng động, tích cực tham
gia vào các công việc quốc tế vì hòa bình, hợp tác và phát triển.
Trong những thành tựu đáng tự hào đó của cả dân tộc, có sự đóng góp đáng kể
của ngành ngoại giao trên cơ sở phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương
và doanh nghiệp trong việc triển khai có hiệu quả ba trụ cột đối ngoại là ngoại giao
chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa, kết hợp với công tác người Việt
Nam ở nước ngoài.
Giáo sư-tiến sỹ Vũ Văn Hiền, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương,
cho biết thực hiện đường lối và chính sách đối ngoại đúng đắn, đến nay Việt Nam
đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 15 nước, quan hệ đối tác toàn diện với
11 nước. Việt Nam đã đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là
các đối tác quan trọng, đưa khuôn khổ quan hệ đ ã xác lập đi vào thực chất.
“Những chuyến thăm ngoại giao của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới
Trung Quốc, Hoa Kỳ... và những chuyến thăm của các lãnh đạo Đảng, Nhà nước
được triển khai rộng khắp thế giới, cùng với việc chúng ta tiếp đón những nguyên
thủ và l ãnh đạo các nước tới Việt Nam, là minh chứng hùng hồn về thế n ước đang
lên, vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định vững
chắc,” giáo sư-tiến sỹ Vũ Văn Hiền nhấn mạnh.
Giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển đất nước
Trước tình hình mới đòi hỏi ngoại giao phải chủ động và sáng tạo hơn, nhạy
bén và hiệu quả hơn, phối hợp chặt chẽ với các ngành quốc phòng, an ninh, kinh
Trang 16


tế, tư tưởng văn hóa... để tạo ra sức mạnh tổng hợp, giữ vững môi trường hòa bình,
ổn định, thuận lợi cho sự phát triển của đất nước
Trung tướng Nguyễn Đức Hải cho rằng trong lịch sử chưa bao giờ Việt Nam
có được vị thế quốc tế cao như hiện nay. Tiếp tục quán triệt sâu sắc phương châm
"dĩ bất biến, ứng vạn biến," ngành ngoại giao cần “lấy việc giữ vững môi trường
hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế-xã hội là lợi ích cao nhất của Tổ quốc” và
“lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất."
Trong thời gian tới, ngành cần xác định việc phục vụ phát triển kinh tế-xã hội
là nhiệm vụ trung tâm, đồng thời đảm bảo an ninh là mục tiêu quan trọng thường
trực. Mục tiêu nâng cao vị thế quốc tế có ý nghĩa quan trọng và lâu dài, nhất là khi
đất nước đang hội nhập sâu rộng.
Giáo sư Vũ Dương Ninh chia sẻ 70 năm qua ngoại giao đã thực hiện được
nhiệm vụ của mình, phối hợp với các mặt trận chính trị, quân sự, kinh tế, đem lại
thắng lợi, sự phát triển cho đất nước. Bây giờ trong sự phát triển của đường lối đổi
mới thì ngoại giao cũng vẫn cần thực hiện đường lối đa dạng hóa, đa phương hóa,
tăng cường lực lượng ủng hộ Việt Nam, tức là làm bạn ngày càng sâu hơn, rộng
hơn. Nhờ đó, Việt Nam đẩy mạnh cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập tự chủ, đặc biệt là
bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ các đường biên giới trên bộ, biển đảo.
Với kinh nghiệm đó, với đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, với đội
ngũ cán bộ ngoại giao ngày càng đông đảo và nhiều kinh nghiệm, chắc chắn chúng
ta sẽ đạt được mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng văn minh.
Trong bài viết mới đây "Ngoại giao Việt Nam phát huy truyền thống vẻ vang,
đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc," Phó Thủ tướng,
Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nhấn mạnh: “Trong suốt 70 năm phụng sự
đất nước, ngoại giao Việt Nam không những đạt được thành tựu to lớn, mà còn xây
đắp nên truyền thống quý báu, vẻ vang của ngành. Trước hết và nổi bật nhất là
truyền thống luôn trung thành với Đảng, với lợi ích của dân tộc. Toàn ngành ngoại
Trang 17


giao luôn nhận thức rõ và xác định, trung thành với Đảng, với lợi ích dân tộc là
nguyên tắc, kim chỉ nam cho mọi hoạt động, bất kể hoạt động đó diễn ra trong
hoàn cảnh và điều kiện nào. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vị Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên, ngành Ngoại giao luôn nỗ lực hết mình, thực
hiện thành công đường lối đối ngoại của Đảng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà
Đảng và nhân dân giao phó.”
Có thể nói từ khi ra đời đến nay, ngành ngoại giao luôn đồng hành, góp phần
quan trọng vào những thành công, bước phát triển của cả dân tộc. Trong mỗi giai
đoạn, mỗi thời kỳ, các chủ trương, đường lối đối ngoại được lãnh đạo Đảng, Nhà
nước điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm tình hình đất nước, bối cảnh khu vực và
quốc tế, tất cả đều nhằm mục tiêu cao nhất là sự phát triển của đất nước.
Việt Nam là quốc gia thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương - một khu vực
phát triển năng động nhất và cũng là khu vực rất quan trọng về chính trị, kinh tế,
văn hoá, an ninh... trên thế giới. Việt Nam nằm giữa hai châu lục lớn nhất là châu
Á và châu Mỹ với những cường quốc lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nga... Vì thế, vai
trò của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào việc bảo đảm chính sách đối ngoại đa
phương, tận dụng được các nguồn lực bên ngoài trên cơ sở phát huy có hiệu quả
các nguồn lực nội sinh.
1. Vị trí và tầm quan trọng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Xét trên góc độ địa - chính trị và địa - kinh tế thì khu vực châu Á - Thái Bình
Dương tiếp giáp với nhiều đại dương, trong đó Thái Bình Dương là "cửa ngõ" nối
liền Mỹ với thế giới. Hiện nay, dân số ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương chiếm
khoảng 1/2 dân số thế giới; là khu vực có trữ lượng dầu mỏ, khí đốt rất lớn và tập
trung sự trỗi dậy kinh tế của nhiều nước, qua đó Mỹ có thể lợi dụng xu thế toàn cầu
hóa kinh tế để mở rộng quan hệ mậu dịch ở khu vực đang rất hấp dẫn đối với Mỹ.
Trong "Chiến lược quốc gia cho thế kỷ XXI", Mỹ xác định khu vực châu Á Thái Bình Dương là một địa bàn quan trọng đối với an ninh quốc gia của nước Mỹ.
Trang 18


Thực tế ở khu vực này đang tập trung sự chú ý của nhiều nước lớn và nhiều tổ
chức quốc tế quan trọng. Vì vậy, đây là nơi đang tập trung nhiều mâu thuẫn về lợi
ích có tính chiến lược của một số nước lớn đối trọng với lợi ích quốc gia Mỹ, đặc
biệt những nước đang cạnh tranh với Mỹ để giành quyền khống chế khu vực này
về chính trị và kinh tế.
Bước sang thế kỷ XXI, khu vực châu Á - Thái Bình Dương có những thay đổi
mang tính căn bản:
Thứ nhất, sức mạnh chính trị và tốc độ phát triển kinh tế của khu vực này tăng
lên nhanh chóng so với các khu vực khác trên thế giới. Hiện nay, xuất khẩu của
khu vực châu Á - Thái Bình Dương chiếm 30% tổng lượng xuất khẩu của thế giới,
kim ngạch thương mại mỗi năm giữa khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Mỹ
vượt 1000 tỉ USD, dự trữ ngoại hối chiếm 2/3 tổng lượng của thế giới.
Thứ hai, sự trỗi dậy của Trung Quốc một mặt đã đem đến cơ hội để kinh tế
các nước xung quanh phát triển, mặt khác lại làm cho họ cảm thấy e ngại và lo lắng
trước sự cạnh tranh gay gắt thậm chí là sự lấn át trên nhiều phương diện.
Thứ ba, các quốc gia sở hữu hạt nhân ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương
không ngừng tăng lên, sự theo đuổi của các tổ chức phi chính phủ đối với vũ khí
hủy diệt hàng loạt và việc triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo của Mỹ ở
khu vực này, đều có khả năng dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang ở khu vực châu ÁThái Bình Dương thêm gay gắt.
Thứ tư, cơ chế hợp tác đa phương khu vực không ngừng tăng làm cho khả
năng xuất hiện nhất thể hóa khu vực cũng có phần tăng lên, cho dù để điều đó trở
thành hiện thực còn là câu chuyện của tương lai.
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương không chỉ là một trong những khu vực có
dân số đông nhất thế giới, mà còn là một trong những khu vực có nền kinh tế phát
triển sôi động nhất và tập trung nhiều của cải nhất. Đồng thời, khu vực này còn là
Trang 19


một trong những khu vực có lực lượng quân sự dày đặc nhất, tiềm lực phát triển
quân sự lớn nhất và vấn đề phổ biến vũ khí hạt nhân nghiêm trọng nhất thế giới.
Bước sang thế kỷ XXI, khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang khẳng định là nơi
có mức sống cao nhất trên thế giới. Đến năm 2015, Đông Á sẽ thực hiện và vượt
mục tiêu “kế hoạch phát triển thiên niên kỷ, tức là giảm một nửa mức dân số nghèo
của năm 1990.” Vì vậy, bất kể về lĩnh vực kinh tế, hay là an ninh, đối với Mỹ, khu
vực châu Á - Thái Bình Dương ngày càng trở nên quan trọng.
Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực phục hồi nhanh nhất và đạt tốc độ tăng
trưởng cao nhất sau những tác động sâu sắc của cuộc khủng hoảng tài chính - kinh
tế toàn cầu. Sự tăng trưởng chung của khu vực này dự báo vượt tốc độ tăng trưởng
của nền kinh tế thế giới nhờ nhu cầu nội địa và thương mại nội khối tăng giúp bù
đắp sự suy giảm xuất khẩu sang các nền kinh tế phát triển. Những thách thức mới
trên lĩnh vực an ninh đối với khu vực này mới đáng lo ngại, bởi châu Á - Thái Bình
Dương là khu vực hết sức quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh... trên
thế giới. Những vụ tranh chấp về biển, đảo giữa các nước ở khu vực Đông Bắc Á
vẫn tiềm ẩn nguy cơ căng thẳng trong các mối quan hệ song phương hoặc đa
phương về an ninh ở châu Á - Thái Bình Dương. Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc luôn
đặt quân đội của họ ở Đông Bắc Á trong tình trạng báo động cao, sẵn sàng cho một
cuộc chiến tranh. Những động thái đó đã làm bật lên những thách thức lớn về an
ninh đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) được thành lập
năm 1989 tại Úc nhằm thúc đẩy hơn nữa tăng trưởng kinh tế và thịnh vượng trong
khu vực và củng cố cộng đồng châu Á - Thái Bình Dương. Với 21 thành viên và
2,6 tỉ người (khoảng 40% dân số trên thế giới), 56% GDP, và 57% giá trị thương
mại toàn cầu, APEC tự hào đại diện cho một khu vực kinh tế phát triển năng động nhất thế giới.
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với lợi
ích của Mỹ. Vì vậy, Mỹ đang kiếm tìm một cơ chế an ninh thích hợp để lôi kéo,
Trang 20


ràng buộc chặt chẽ các nước ở khu vực này phục vụ cho ý đồ củng cố địa vị lãnh
đạo trên toàn thế giới của Mỹ trong thế kỷ XXI.
2. Quan điểm và chiến lược của các nước lớn (Mỹ, Nga, Trung Quốc)
Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực theo Mỹ có nhiều cái "nhất" như: nền
kinh tế phát triển sôi động nhất, tập trung nhiều của cải nhất và có lực lượng quân
sự dày đặc nhất. Vì vậy, mục tiêu của chiến lược an ninh châu Á - Thái Bình
Dương của Mỹ là tăng cường quyền lãnh đạo và quyền khống chế của mình đối
với khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Với vị trí đặc biệt, vừa ở Thái Bình
Dương, vừa ở Đại Tây Dương, Mỹ muốn nắm vai trò lãnh đạo ở châu Á - Thái
Bình Dương và củng cố sự hợp tác với các nước trong khu vực. Mục tiêu của Mỹ
tại khu vực là: Ổn định, tự do lưu thông, phát triển kinh tế. Mỹ thực hiện chính
sách trung lập trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ và kêu gọi các bên giải quyết
tranh chấp bằng các giải pháp hòa bình và theo công ước quốc tế.
Quan điểm của Mỹ là nhằm: Thứ nhất, xác định tầm quan trọng của vành đai
chiến lược châu Á - Thái Bình Dương ngăn chặn ảnh hưởng của Trung Quốc. Thứ
hai, tái khẳng định sự trở lại châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ và “tạo sự tin
tưởng, trấn an” ASEAN với các cam kết của Mỹ. Thứ ba, củng cố và thắt chặt quan
hệ đồng minh với Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân; triển khai hợp tác toàn diện của Mỹ đối
với các đối tác trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Mỹ đặt trọng tâm phòng ngừa đối thủ chiến lược trước hết chính là Trung
Quốc, bởi đây là một nước lớn đang chứa đựng những tiềm năng phát triển mạnh
về nhiều mặt ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói riêng và trên thế giới nói
chung trong thế kỷ XXI.
Về an ninh: Mỹ thực hiện chính sách an ninh gồm 3 thành phần: liên minh
quân sự; duy trì sự hiện diện của lực lượng vũ trang Mỹ; và thiết lập cơ cấu an ninh
mới ở khu vực. Mỹ xác định nhất quán liên minh giữa Mỹ và Nhật Bản là hòn đá
tảng trong chiến lược châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ.
Trang 21


Về đối ngoại: Mỹ tích cực thực thi chính sách tăng cường quan hệ với các
nước; thúc đẩy kinh tế thị trường tự do ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Mỹ
tiếp tục hợp tác trên thế mạnh nhằm mục đích kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc
với các nước khác trong khu vực.
Về kinh tế: Chiến lược kinh tế của Mỹ ở khu vực châu Á Thái Bình Dương
nhằm biến khu vực này trở thành thị trường tự do hóa kiểu phương Tây nói chung
và tạo ra thị trường cho hàng hóa công nghệ cao của Mỹ nói riêng. Vì vậy, Mỹ tiếp
tục mở rộng quan hệ kinh tế song phương với các nước trong khu vực, đặc biệt với
Nhật Bản. Mỹ rất coi trọng nhân tố kinh tế của Trung Quốcđể bảo vệ lợi ích đầu tư
của Mỹ ở khu vực này trong thế kỷ XXI.
Mục đích chiến lược châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ là thực hiện bá quyền
khu vực bằng các thủ đoạn kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao nhằm đe dọa, gây
sức ép buộc các nước khuất phục trước tham vọng thiết lập một trật tự thế giới
"đơn cực" do Mỹ lãnh đạo.
Từ khi lên cầm quyền, Chính quyền B.Ô-ba-ma đã không ngừng vạch ra kế
hoạch và điều chỉnh chiến lược an ninh châu Á-Thái Bình Dương. Trung Quốc là
một trong những đối thủ chủ yếu, cho nên Mỹ tập trung làm suy yếu về chính trị,
thâm nhập và cạnh tranh ảnh hưởng về kinh tế. Một mặt, mở rộng mức độ kiềm
chế và bao vây. Mặt khác, lại coi trọng lợi ích kinh tế ở thị trường mới mẻ của
Trung Quốc với số dân hơn 1 tỉ người. Sự lớn mạnh của Trung Quốc đã đem đến
cho Mỹ cả những cơ hội và thách thức. Sự lớn mạnh này tạo cơ hội để Mỹ đầu tư
và xuất khẩu hàng hóa vào Trung Quốc, nhưng đồng thời cũng tạo thành mối đe
dọa đối với sức ảnh hưởng kinh tế của Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Mỹ tỏ ra lo lắng trước sự “lớn mạnh không ngừng” của sức mạnh quân đội Trung
Quốc, sự “không minh bạch” của phát triển quân sự, và sự “tăng lên nhanh chóng”
của chi phí quân sự, cũng như những “hoạt động liên tiếp” của hải quân Trung
Quốc ở biển Đông.
Trang 22


Nội dung cơ bản của chiến lược an ninh châu Á - Thái Bình Dương của Mỹ
bao gồm: Một là, tăng cường hệ thống liên minh của Mỹ ở khu vực châu Á - Thái
Bình Dương, và thúc đẩy quan hệ đối tác của Mỹ ở khu vực này. Mỹ coi Nhật Bản,
Hàn Quốc, Phi-líp-pin và Thái Lan là lực lượng chủ yếu để Mỹ tiếp tục duy trì và
phát huy tầm ảnh hưởng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Vì vậy, Mỹ không
cắt giảm quân đồn trú ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, không ngừng cải tiến
chất lượng quân đồn trú của Mỹ ở khu vực này. Hai là, tích cực tham gia cơ chế
hợp tác kinh tế và an ninh khu vực, bao gồm các cơ chế như ngăn ngừa phổ biến
hạt nhân, xung đột khu vực, chạy đua vũ trang và hàng rào thuế quan. Ba là, nhấn
mạnh ý nghĩa quan trọng của việc “hợp tác trên cơ sở đối thoại”. Hiện nay, trong
cơ chế đa phương, đối thoại là vô cùng quan trọng. Mỹ chủ trương phát huy vai trò
lớn hơn trong các cơ chế hợp tác vốn có, phản đối việc thành lập các cơ chế khu
vực mới vì lo sợ bị loại bỏ ra ngoài. Kế hoạch trong năm 2011, Mỹ sẽ tổ chức Diễn
đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), với hy vọng sẽ đạt được
mục đích can dự vào các hoạt động của khu vực. Bốn là, tăng cường tính linh hoạt
và tính sáng tạo của Mỹ trong việc tham gia vào cơ chế hợp tác đa phương. Mục
tiêu cuối cùng của Mỹ là tăng cường quyền lãnh đạo và khống chế ở khu vực châu
Á - Thái Bình Dương.
Châu Á - Thái Bình Dương là một khu vực phát triển mạnh mẽ, vì vậy việc
bảo đảm an ninh cho các nước trong khu vực được coi là chiến lược đối ngoại của
Nga. Mục tiêu chiến lược của Nga là tăng cường đối thoại mở và những biện pháp
an ninh dựa trên nguyên tắc xây dựng quốc phòng, tạo lập tính phòng thủ cũng như
củng cố sự tin cậy lẫn nhau. Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, chính sách
của Nga là nhằm bảo đảm an ninh biên giới phía Đông và củng cố đối tác chiến
lược với Trung Quốc, bảo đảm tiếp tục phát triển hợp tác với Ấn Độ, đồng thời,
thúc đẩy quan hệ với Nhật Bản và các nước khác, trong đó có các quốc gia
ASEAN. Viễn Đông là khu vực tiềm ẩn nguồn tài nguyên khoáng sản vô cùng
phong phú, da dạng, có tầm quan trọng chiến lược đặc biệt trong việc đưa Nga trở
Trang 23


thành một siêu cường về nhiều lĩnh vực trên thế giới. Nga đưa ra chiến lược phát
triển khu vực Viễn Đông tới năm 2025 và dự định tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) năm 2012 tại Vla-divô-xtốc (Vladivostok) cho thấy quyết tâm của Nga trong cuộc chạy đua vào khu
vực châu Á - Thái Bình Dương.
Trung Quốc xác định mục tiêu an ninh chiến lược tại khu vực châu Á - Thái
Bình Dương là: Thứ nhất, duy trì an ninh và phát triển của bản thân Trung
Quốc. Thứ hai, bảo vệ hòa bình và phồn vinh lâu dài tại khu vực. Thứ ba,thúc đẩy
xây dựng châu Á – Thái Bình Dương phát triển hài hòa. Trung Quốc chủ trương 5
điểm để xây dựng quan hệ đối tác an ninh kiểu mới: Quan điểm an ninh tổng hợp
(đối tác toàn diện); quan điểm an ninh chung (đối tác bình đẳng); quan điểm an
ninh mở (nuôi dưỡng sự tin tưởng lẫn nhau); quan điểm an ninh hợp tác (đối tác
cùng có lợi); quan điểm an ninh phát triển (hướng về phía trước). Sự lớn mạnh của
Trung Quốc sẽ nảy sinh những ảnh hưởng lớn đối với nội hàm và kết cấu của môi
trường an ninh châu Á. Sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng tạo thành những ảnh
hưởng mang tính căn bản đối với lợi ích của Mỹ ở châu Á. Trên thực tế, Trung
Quốc đang tìm cách thay thế vị thế mang tính chủ đạo của Mỹ ở Thái Bình Dương,
cho tới toàn cầu.
3. Vai trò và vị thế của Việt Nam trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong vành đai châu Á - Thái Bình Dương.
Với vị trí chiến lược - nằm giữa Đông Bắc Á và Đông Nam Á - có đường lãnh hải
dài và chung đường biên giới trên bộ với Trung Quốc, Lào và Cam-pu-chia, Việt
Nam chiếm vị trí trung tâm của các hoạt động kinh tế diễn ra khắp châu Á - Thái
Bình Dương. Vì thế, Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ sự phát triển của các nước lớn
trong khu vực cũng như đóng vai trò cầu nối hữu ích giữa các nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á.
Việt Nam đã và đang nỗ lực cùng các nước đóng góp vào sự nghiệp phát triển
chung của khu vực. Đặc biệt, kể từ khi gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Trang 24


Á (ASEAN) năm 1995, Việt Nam đã tổ chức thành công nhiều Hội nghị quốc tế
lớn, trong đó, đáng lưu ý là Hội nghị cấp cao ASEAN 1996, Hội nghị cấp cao
Cộng đồng Pháp ngữ 1997, Chủ tịch ASEAN năm 1998, Hội nghị cấp cao Diễn
đàn Hợp tác châu Á - Thái Bình Dương (APEC-16) năm 2006, Hội nghị cấp cao
Diễn đàn Á - Âu (ASEM) năm 2007 và đặc biệt là gánh vác vai trò Uỷ viên không
thường trực Hội đồng Bảo An Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 bao gồm cả
trọng trách 2 lần Chủ tịch luân phiên của Hội đồng và Chủ tịch Hội nghị Giải trừ
quân bị của Liên hợp quốc khoá 2009. Việt Nam đã có nhiều sáng kiến, đóng góp
cho các vấn đề quan trọng giúp các quốc gia Đông Nam Á triển khai thành công
nhiều lĩnh vực hợp tác bản lề.Trong vai trò Chủ tịch ASEANnăm 2010, Việt Nam
đã thực hiện tốt vai trò của mình khi tham gia các diễn đàn quốc tế quan trọng như
Hội nghị Bộ trưởng ngọai giao ASEAN – EU, Hội nghị ASEAN - Hội đồng hợp
tác vùng Vịnh, Diễn đàn kinh tế thế giới Đông Á. Việt Nam không chỉ đảm nhiệm
tốt vai trò Chủ tịch ASEAN trên các diễn đàn đối thoại toàn cầu mà còn đóng góp
rất nhiều vào sự thành công trong việc tổ chức các hội nghị cấp cao của ASEAN,
các hội nghị chuyên ngành và nhiều hoạt động cộng đồng có ý nghĩa quan trọng
góp phần nâng cao tầm ảnh hưởng và uy tín của Việt Nam nói riêng và các nước
ASEAN nói chung trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và trên toàn thế
giới.Vai trò của Việt Nam sẽ nổi lên như một người chơi chiến lược ở tầm trung
trong các vấn đề khu vực. Việt Nam cần mối quan hệ đa phương tốt để cân bằng
các nước lớn, bảo đảm chính sách đối ngoại đa phương.
Việt Nam chính thức gia nhập Hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn hợp tác kinh tế
châu Á – Thái Bình Dương (APEC) tháng 11 năm 1998. Mặc dù không phải là
thành viên sáng lập ra APEC và trình độ phát triển còn thấp so với nhiều nền kinh
tế APEC khác, nhưng Việt Nam đã chủ động tham gia, đóng góp tích cực cho
nhiều hoạt động hợp tác của APEC với tinh thần trách nhiệm cao, chủ động tham
gia các chương trình hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và quá trình tự do hóa
thương mại của APEC. Việt Nam đã tham gia mạnh mẽ vào một số kế hoạch hành
Trang 25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×