Tải bản đầy đủ

Hà nội trong tản văn nguyễn trương quý

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
---------------

TRỊNH THỊ HÀO

HÀ NỘI TRONG TẢN VĂN NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ

LUẬN VĂN THẠC SỸ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Thái Nguyên– 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
---------------

TRỊNH THỊ HÀO

HÀ NỘI TRONG TẢN VĂN NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ


Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã ngành: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SỸ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TÔN THẢO MIÊN

Thái Nguyên– 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.Các số
liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng. Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều
trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn

Trịnh Thị Hào


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám
hiệu, Khoa sau đại học, Khoa báo chí Truyền thông và Văn học, Trường Đại Học
Khoa Học, Đại Học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ
trong suốt quá trình học tập.
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn
PGS,TS Tôn Thảo Miên đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tác
giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã giúp đỡ, động
viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn

Trịnh Thị Hào


MỤC LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................................1
1.Lý do chọn đề tài ..........................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề..............................................................................................................3
2.1. Những bài viết và công trình nghiên cứu văn chương Nguyễn Trương Qúy ........... 3
2.2. Những công trình nghiên cứu tản văn Nguyễn Trương Qúy..................................... 5
3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu ..............................................................................7
3.1. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................................. 7
3.2. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................................... 7
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu .......................................................................7
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................................... 7
4.2. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................. 8
4.2.1. Phương pháp phân tích - tổng hợp ........................................................................... 8
4.2.2. Phương pháp nghiên cứu tiểu sử .............................................................................. 8
4.2.3. Phương pháp so sánh - thống kê ............................................................................. 8
4.2.4. Phương pháp cấu trúc ............................................................................................... 8
4.2.5. Phương pháp liên ngành ........................................................................................... 8
5. Phạm vi nghiên cứu .....................................................................................................8
6. Đóng góp của luận văn ................................................................................................9
7. Cấu trúc của luận văn ..................................................................................................9
CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT VỀ THỂ LOẠI TẢN VĂN VÀ TẢN VĂN ..................10
CỦA NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ .................................................................................10
1.1. Khát quát về thể loại Tản văn .................................................................................. 10
1.1.1. Khái niệm tản văn ................................................................................................... 10
1.1.2. Đặc trưng thể loại tản văn....................................................................................... 11
1.1.3. Phân loại tản văn ..................................................................................................... 14
1.1.4. Mối liên hệ tản văn và kí ........................................................................................ 16
1.2. Đề tài Hà Nội trong văn chương Việt Nam ............................................................18
1.2.1. Đề tài Hà Nội trong văn chương Việt Nam hiện đại ............................................ 18


1.2.2. Hà Nội qua những cuốn tiểu thuyết, tản văn, và khảo cứu viết về Hà Nội .........20
1.3. Tản văn của một kiến trúc sư – Nguyễn Trương Qúy............................................25
1.3.1. Nguyễn Trương Quý – nghiệp đời, nghiệp văn...................................................25
1.3.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến ngòi bút Nguyễn Trương Qúy ............................29
1.3.3. Hà Nội đối tượng nghệ thuật trong sáng tác Nguyễn Trương Quý...................... 33
1.3.4. Tấm căn cước của không gian sống trong tản văn Nguyễn Trương Qúy ..........34
CHƯƠNG 2: BỨC TRANH HÀ NỘI NHÌN TỪ GÓC NHÌN: ...................................40
KIẾN TRÚC - VĂN HÓA - ÂM NHẠC ......................................................................40
2.1. Bức tranh Hà Nội từ góc nhìn của một Kiến trúc sư Nguyễn Trương Qúy. ..........40
2.1.1. Bức tranh Hà Nội từ góc nhìn kiến trúc ..............................................................40
2.1.2. Đời sống thị dân Hà Nội nhìn từ góc nhìn của một kiến trúc sư. ........................48
2.2. Bức tranh Hà Nội từ góc nhìn văn hóa ..................................................................... 59
2.2.1. Đời sống văn hóa Hà Nội trong phạm vi trung tâm Hà Nội. ............................. 59
2.2.2. Đời sống văn hóa Hà Nội khi ra khỏi phạm vi trung tâm Hà Nội. ...................... 64
2.2.3. Đời sống văn hóa Hà Nội ở cự li 1000 cây số và xa hơn thế. ............................. 66
2.3. Bức tranh Hà Nội từ góc nhìn âm nhạc .................................................................... 69
2.3.1. Từ trong ca khúc Hà Nội diễm lệ và kì ảo ..........................................................70
2.3.2. Từ trong ca khúc người Hà Nội lịch lãm, duyên dáng ......................................73
2.3.3. Nhạc sĩ, nhạc sư và ca sĩ hát về Hà Nội tài hoa, lãng mạn................................75
CHƯƠNG 3: VĂN PHONG CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ TRONG TẢN VĂN
VIẾT VỀ HÀ NỘI ......................................................................................79
3.1. Cách đặt “tựa” cho từng bài tản văn viết về Hà Nội ................................................ 79
3.2. Giọng văn dí dỏm và trần trụi trong tản văn viết về Hà Nội của Nguyễn Trương
Qúy ................................................................................................................................85
3.3. Tính thời sự trong tản văn Nguyễn Trương Qúy...................................................88
3.4. Kết cấu và “thủ thuật” trong tản văn viết về Hà Nội của Nguyễn Trương Qúy ....93
KẾT LUẬN .................................................................................................................100
TÀI LIỆU THAM KHẢO. ..........................................................................................102


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1.Thăng Long – Hà Nội luôn là niềm tự hào và thiêng liêng đối với mỗi người
dân Việt Nam, niềm tin yêu đối với bạn bè quốc tế. Đây là thành phố ngàn năm tuổi
với nhiều trầm tích văn hóa, kết tinh văn minh của Việt Nam. Cho nên “hiếm thấy một
thành phố nào mà tốn văn, tốn chữ, tốn nhạc, của nhạc sĩ, thi sĩ, nhà văn như Hà Nội.
Có nhiều tác phẩm văn học viết về thành phố ngàn năm tuổi này đã đi vào lòng người
yêu sách, vậy nhưng mỗi tác phẩm đều phác họa cho ta thấy những Hà Nội rất khác
nhau”[49]. Hà Nội trong tản văn của Nguyễn Trương Qúy là một Hà Nội của những
câu chuyện nho nhỏ, be bé, rất đời thường, đôi khi vớ va vớ vẩn như “xe máy tiếu
ngạo”, “Forum nước chè”, “Phố vẫy đủ mười khúc ngâm”, của những người vô danh,
những người thích tụ bạ ở quán nước chè vạ vật từ ngày này qua tháng khác chỉ để
đánh dăm con đề và nói chuyện phiếm về cuộc đời, … Nhưng từ những câu chuyện
dung dị, đời thường đó Nguyễn Trương Qúy đã phác họa một Hà Nội sống động như
một thực thể sống cùng thời đại chúng ta. Cứ như vậy, tác giả Nguyễn Trương Qúy đã
góp cho Hà Nội thêm “duyên”, thêm “toàn bích” hơn. Đây cũng là một nỗ lực đóng
góp của nhà văn khi viết về Hà Nội, một trong những đề tài tưởng như không còn
“đất” để khai thác nữa.
1.2. Ngay từ khi cầm bút viết, nhà văn Nguyễn Trương Qúy đã “bén duyên” với
thể loại tản văn. Tác giả cho rằng, điều khiến anh trung thành với thể loại này chính là
“khả năng càn lướt hiện thực”. Anh đã “lựa chọn tản văn để chuyển tải những tứ của
đời sống có cái hấp dẫn là cho phép tôi thoải mái mổ xẻ và đưa ra những quan
niệm của mình trong vai trò một người đối thoại với người đọc – dĩ nhiên là những
người đọc vô hình mà tôi phải phân thân đặt mình vào vị trí của họ”[40]. Nguyễn
Trương Qúy cũng cho rằng độ tương tác cao của thể tản văn cũng là một thách thức
thú vị để khẳng định mình. Bằng việc liên tục ấn hành 6 cuốn tản văn, nhà văn
Nguyễn Trương Qúy đã bước qua những định kiến rằng: “tản văn là món nộm, món
gỏi, món đồ ăn nhanh, hay là khúc nghỉ chân, là văn học loại hai …” và một phần nào
đó khẳng định được vai trò, vị trí của thể loại tản văn trong đời sống văn học hiện đại
hiện nay. Đây


cũng là đóng góp của tác giả - nhà văn Nguyễn Trương Qúy về thể loại tản văn mà
chúng tôi muốn hướng tới làm rõ trong khuôn khổ luận văn này.
1.3. Khi nghiên cứu đề tài này, chúng ta có thêm một cái nhìn về nghiệp văn
chương của mỗi nhà văn. Đúng vậy, văn chương không chỉ dành cho những nhà văn,
nhà thơ được đào tạo bài bản mà còn dành “đất” cho bất cứ đối tượng nào. Chỉ cần
họ có tâm hồn của một người nghệ sĩ và có một tấm lòng trải rộng với đời… Mà
trường hợp Nguyễn Trương Qúy được xem là điển hình. Nhà văn Nguyễn Trương Qúy
sinh năm 1977, tốt nghiệp Đại học kiến trúc nhưng lại chọn nghề “viết văn”: “Anh đã
mang chiếc bút chì cũ của mình, trở thành kẻ “tay ngang” bước vào văn chương và
“biên niên” Hà Nội thị dân bằng những rung động của gã 7X dường như là duy nhất
còn sót lại ở đất này”. Chỉ hơn mười năm “gã tay ngang 7X” đã cho xuất bản sáu
cuốn tản văn: Tự nhiên như người Hà Nội (2004), Ăn phở rất khó thấy ngon (2008),
Hà Nội là Hà Nội (2010), Xe máy tiếu ngạo (2012), Còn ai hát về Hà Nội (2013); và
một tập truyện “Dưới cột đèn đường rót một ấm trà” (gồm 14 truyện ngắn và một
truyện vừa, xuất bản năm 2013) – đều là những tản văn viết về con người và phố
thị Hà Nội. Ngoài ra, Nguyễn Trương Qúy cũng tham gia dịch sách. Một số tác
phẩm anh tham gia dịch gồm: Hà Nội và Rumba Cửu Long – Câu chuyện âm nhạc
Việt Nam của Jason Gibbs (2008), Chuyến tàu mang tên dục vọng của Tennesse
William (2011),... Năm 2016, tản văn của anh nằm trong danh sách những tác phẩm
được đề cử nhận giải thưởng Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội. Chúng tôi cho rằng,
đây là một thành công đáng ghi nhận của kiến trúc sư, họa sĩ, nhà văn Nguyễn Trương
Qúy. Đặc biệt, mỗi cuốn tản văn của Nguyễn Trương Qúy đều nhận được sự chờ
đón, yêu mến của bạn đọc trong và ngoài nước: Có những cuốn tản văn của anh
được tái bản 5 – 7 lần: Tự Nhiên như người Hà Nội (2004), Ăn phở rất khó thấy ngon
(2008), Xe máy tiếu ngạo (2012). Riêng cuốn “Xe máy tiếu Ngạo” của nhà văn còn
được Jacob O. Gold, Đại học Michigan, Mỹ dịch sang Tiếng Anh như một cuốn tài liệu
để sinh viên Mỹ, Việt kiều ở Mỹ đọc và hiểu thêm một nét văn hóa riêng của người
Hà Nội nói riêng, thành phố Hà Nội nói chung.
Nghiên cứu Hà Nội trong tản văn Nguyễn Trương Qúy, chúng ta sẽ thấy một
bức tranh Hà Nội với đầy đủ sắc thái, khi thì dưới góc nhìn kiến trúc, góc nhìn văn


hóa, lúc lại là những con người sống trong đô thị với đủ mọi thói tật và hành vi…qua
lối viết tung tẩy, dí dỏm, vừa đủ, lối dẫn dắt khi nào cũng từ chuyện xưa đến chuyện
hiện đại ngày nay, nhịp nhàng và rất có duyên.
1.4. Gần đây, sách giáo khoa ở cấp học phổ thông có dành một số lượng
đáng kể cho những bài viết thuộc thể loại kí. Tuy nhiên, nguồn tài liệu làm cơ sở
khám phá thể loại này còn ít. Thực hiện đề tài này, chúng tôi muốn thúc đẩy sự quan
tâm nghiên cứu, đồng thời vạch ra những định hướng tiếp cận thể loại tản văn nói
riêng, thể kí nói chung ở mảng văn học trong nhà trường.
Vì vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Hà Nội trong tản văn Nguyễn Trương
Qúy”. Một mặt, chúng tôi mong muốn góp phần làm sáng rõ thêm tài năng văn
chương của một nhà văn trẻ ở thể loại tản văn, mặt khác chúng tôi cũng đưa ra cái
nhìn tương đối hệ thống và toàn diện về giá trị tác phẩm của nhà văn này. Qua đó
thấy được những đóng góp của nhà văn đối với thể loại tản văn viết về đề tài Hà Nội
nói riêng, thể loại tản văn nói chung trong thế kỷ XXI này.
2. Lịch sử vấn đề
Khảo sát đề tài “Hà Nội trong tản văn của Nguyễn Trương Qúy” chúng tôi tìm
hiểu và sắp xếp lại những bài viết, những công trình nghiên cứu của những người đi
trước theo các ý sau:
2.1. Những bài viết và công trình nghiên cứu văn chương Nguyễn Trương Qúy
Nguyễn Trương Qúy chuyển ngang từ một kiến trúc sư, họa sĩ vẽ màu nước
sang viết văn từ năm 2002 đến nay. Những tác phẩm của nhà văn chưa nhiều,
tuy nhiên nhà văn cũng nhận được nhiều sự quan tâm, yêu mến của báo chí, truyền
thông, bạn văn và bạn đọc trong và ngoài nước. Xoay quanh hiện tượng văn học này
cũng có nhiều ý kiến đánh giá đáng lưu ý:
Tại chương trình Khách mời quán văn Nguyễn Trương Qúy (Thứ 7,ngày
13/10/2012), trong bài viết của nhà báo Xuân Thủy có trích dẫn phần nhận xét của
nhà văn Đỗ Bích Thúy: “Người yêu Hà Nội thì rất nhiều, người viết về Hà Nội cũng
nhiều, nhưng cách viết của Nguyễn Trương Qúy hấp dẫn ở chỗ: Từ những điều dung
dị nhất, ai cũng có thể hình dung ra một Hà Nội của thế kỉ 21 – một Hà Nội ồn ào,
đông đúc,
chật chội, pha tạp bên cạnh một Hà Nội trầm tĩnh, kín đáo, tự
trọng.


Giọng văn thông minh, quan sát tinh tế, tư duy mạch lạc, khả năng liên tưởng
phong phú, óc hài ước, có kiến thức hệ thống trong nhiều lĩnh vực… là những yếu tố
để Nguyễn Trương Qúy níu bạn đọc ở lại với cuốn tản văn Xe máy tiếu ngạo.
Cách nhìn của Nguyễn Trương Qúy còn dễ được đồng cảm ở chỗ người viết đại
diện cho một lớp công dân mới của thủ đô, đi nhiều, biết nhiều, nhưng vẫn lặng lẽ yêu
Hà Nội theo cách riêng của mình cho dù cuộc sống đang trôi đi gấp gáp”[52].
Trong trang bìa sau của cuốn Tự nhiên như người Hà Nội, nhà thơ Thụy Anh lại
có nhận xét: Đọc Qúy, độc giả được thỏa mãn nhiều điều: Nhận được kiến thức về Hà
Nội cổ và Hà Nội bây giờ (đều dồi dào không kém gì nhau, thể hiện một năng lực tổng
hợp và khiếu quan sát tuyệt vời), nhận được sự đồng cảm trong những vấn đề đang
nóng của xã hội… Và nữa là được cười . Mỉm cười, rồi cười phá lên, hoặc có thể khúc
khích cười rõ lâu …”[27]
Trong trang bìa sau của cuốn Hà Nội là Hà Nội, Nguyễn Trương Qúy có dẫn lời
của Jacob O.Gold, Đại học Michigan, Mỹ: Nguyễn Trương Qúy thuộc về thế hệ giao
điểm của sự chuyển đổi kinh tế xã hội rộng lớn của Việt Nam. Anh đủ già để nhớ
những điều xảy ra trước đó và đủ trẻ để hứng khởi với những điều tương lai dự báo

Hà Nội.
Góc nhìn lịch sử trung gian của Qúy giúp anh có thể cân đo và so sánh phần
nào quá khứ và hiện tại: một mặt nếm trải những sự bằng lòng giản đơn của đời
sống thiếu thốn vật chất những năm tháng cũ, trong khi mặt khác lại châm chích
thói tiêu thụ phù phiếm hời hợt dường như đang ngự trị trong các tầng lớp giàu mới
ngày nay.
Thêm vào đó đây không phải là một tập hợp của những hình mẫu xã hội được
biếm họa. Nguyễn Trương Qúy là một bậc thầy trong việc truyền tải những tấn kịch
đời thường nho nhỏ nhưng sắc sảo về quan hệ trong gia đình và nơi công sở"[28].
Như vậy, hầu hết các ý kiến đều tập trung phản ánh những đặc sắc trong văn
chương của Nguyễn Trương Qúy: quen mà lạ, vừa cổ kính rêu phong vừa hiện đại,
vừa đầy màu sắc lôi cuốn về một thời đại mới, thời đại mà chúng ta đang cùng hít
thở một bầu không khí.


2.2. Những công trình nghiên cứu tản văn Nguyễn Trương Qúy
Hiện tại, Nguyễn Trương Qúy đã ra mắt bạn đọc 6 cuốn tản văn, nội dung trọng
tâm viết về Hà Nội. Có thể nói, các tác phẩm của anh đã cho thấy: Anh là tác giả có
những quan sát tinh tế về cuộc sống đô thị với con mắt của “nhà quy hoạch”, bằng tư
duy của người đang sống với thời đại của mình. Câu dài hay câu ngắn trong sáng tác
của anh đều đi từ những chất liệu đời sống đương diễn ra. Vì vậy mà tản văn của anh
hầu hết đều nhận được những lời khen ngợi từ độc giả và những đánh giá tích cực từ
những bạn văn, nhà phê bình văn học. Cho đến nay, cũng đã có một số luận văn thạc
sĩ nghiên cứu về tản văn Nguyễn Trương Quý nhưng mới đi vào một khía cạnh nội
dung nào đó, hoặc nghiên cứu tản văn của anh với các nhà văn khác như Luận văn viết
về đề tài Đô thị hiện đại trong các sáng tác của các nhà văn viết về Hà Nội (Qua
sáng tác
của Nguyễn Việt Hà, Đỗ Phấn và Nguyễn Trương Qúy) của Lê Ngọc Hà - học viên
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, trường Đại học Quốc Gia Hà Nội,
chuyên ngành lí luận, năm 2015. Nhưng lại chưa có một công trình nghiên cứu nào đi
sâu nghiên cứu về Hà Nội trong tản văn Nguyễn Trương Qúy. Tuy vậy, vẫn có nhiều ý
kiến từ các nhà phê bình nghiên cứu, nhà thơ, nhà văn, nhà báo đã có những nhận
xét đánh giá về tản văn của Nguyễn Trương Qúy.
Trên trang bìa cuốn tản văn Ăn phở rất khó thấy ngon, nhà văn trích dẫn nhận
xét của Nguyễn Vĩnh Nguyên: Nguyễn Trương Qúy không chỉ dừng lại ở việc mô tả
cho ra những câu chuyện tếu táo nghe để mà biết nhưng anh dẫn dắt người đọc từ
cái nhìn tự trào, hóm hỉnh của người trong cuộc, tinh tế, giàu liên tưởng đời sống thú
vị trong bức tranh tâm thế của dân công sở thời mới. Trăm thứ bệnh: ngáo ngơ,
quan liêu, bốc phét đơn điệu, hình thức, phung phí, sĩ diện, nhiễu sự tám vặt ... và cả
những phút lãng mạn, tnh thương mến thương nhất của dân văn phòng được viết
dưới giọng văn đầy chất châm biếm, hóm hỉnh nhưng cũng đầy dằn vặt về thành
phần "phức tạp về nghĩ ngợi" nhất trong xã hội. Cuốn tản văn đáng đọc nhất trong
vài năm trở lại đây, nếu bạn là dân văn phòng"[24].
Trong bài viết "lời giới thiệu cho bản dịch Xe máy tiếu ngạo" Jacob O. Gold, UIC
có viết: ... Mỗi bài tản văn như một cuộc du ngoại được dẫn dắt qua không gian của
hoài niệm, của ghi chép về xã hội, của những tham chiếu văn hóa sâu xa và những


sáng tạo hài ước pha cay đắng. Những cuốn sách của anh đưa chúng ta đến với Hà
Nội, cho chúng ta có được cơ hội trở nên thông thạo nơi này cùng một trong
những nhà quan sát sắc sảo nhất của nó"[30].
Trên trang cá nhân Facebook của thầy Lê Phạm Hùng, giáo viên chuyên văn
trường Amsterdam có viết: “Tản văn của Qúy trong Mỗi góc phố một con người
đang sống nói về những điều nhỏ nhặt mà không mấy người biết, hoặc biết mà chưa
chắc chắn đã biết đúng, hiểu đúng. Qúy nói với những người chưa hiểu nhiều về Hà
Nội rằng: Những ai quen với bộ mặt tươi cười, giọng nói ngọt ngào êm ái của những
người làm nghề dịch vụ ở những miền khác, gặp phải bộ mặt lạnh lùng khó đăm đăm
của người bán hàng Hà Nội, dễ sốc. Nhưng có sống quen mới biết, ở Hà Nội vẫn có
những công việc mà người phục vụ ân cần hơn cả mong đợi.”
Jason Gibbs (Jason Michael Gibbs, sinh năm 1960, làm công tác thư viện ở Thư
viện công cộng Francisco, California, Mỹ, chuyên về âm nhạc) trong bài viết Lời giới
thiệu cho cuốn tản văn Còn ai hát về Hà Nội của Nguyễn Trương Qúy có bày tỏ suy
nghĩ: “Những bài ca Hà Nội này được người Việt khắp thế giới xem như vật yêu dấu
đem theo, là nhu cầu của một văn hóa xa xứ. Còn những người ở lại Hà Nội thuở nào
cũng giữ chật những tà áo bay, những mùa thu lá vàng rơi trong kí ức nội tâm. Mặc
dù là người yêu Hà Nội xưa, Nguyễn Trương Qúy cũng viết đến nhạc Hà Nội thời
chiến, thời bao cấp, thời hội nhập một cách rất chu đáo và tận tụy. Hà Nội hoài niệm
và hiện thực đều sống hòa thuận với nhau”[25,tr.20].
Trong bài viết “Để ngàn năm không còn là vô nghĩa” nhân dịp nhà văn cho ra
tập sách mới, nhà thơ Thụy Anh đã đánh giá “Có cảm tưởng như Trương Qúy có thể
viết mãi không dừng, vì với tài quan sát của anh thì bất kỳ hiện tượng gì cũng là đề tài
để viết. Từ to tát vĩ mô như chuyện quy hoạch thành phố, văn hóa công viên, bàn về
kiến trúc, ... cho đến cái vi mô là cái chợ nhỏ chợ to, chuyện ngập lụt, chuyện oi nực
không lãng mạn chút nào của đời sống Thủ đô, rồi lại bàn cả vòng hai của gái ba
mươi, chuyện tnh online, chuyện lễ tết, chuyện chùa chiền đức tin... Đang bàn đến
món ăn tinh thần người Hà Nội, thoắt cái lại "tám" về món ăn quốc hồn quốc túy
đang
khiến nhiều người "khó thấy ngon" là Phở ...”[34].


Nhìn chung, khi bàn về tản văn của Nguyễn Trương Qúy, các ý kiến đều thống
nhất ở chỗ: Cách tiếp cận hiện thực trong tản văn Nguyễn Trương Qúy linh hoạt, tinh
tế, lối dẫn dắt nhẹ nhàng nhưng rất có duyên từ chuyện nhỏ đến những chuyện to
tát: có khi từ góc nhìn của nhà kiến trúc, có khi lại nhìn cuộc sống từ những sắc màu
lôi cuốn của những chuyến đi để tô tỉa đậm nhạt bức tranh về Hà Nội như một bức
bích họa của một tay họa sĩ. Nhưng đa số vẫn là điểm nhìn trung gian giữa Hà Nội
xưa và nay, cũ và mới mà bắt đầu đều là những cái xưa cũ, rồi mới đến những cái ở
hiện tại, tiếp theo là hình dung trong tương lai gần, tương lai xa...; mới đọc
tưởng như là chuyện tám gẫu, chuyện phiếm nhưng khi đọc xong rồi mới thấy được
những day dứt trăn trở trong lòng người đọc, với câu hỏi cho riêng mỗi người “Hà Nội
ơi, làm sao để ngàn năm không là vô nghĩa”.
Những tư liệu trên đây tuy còn ít ỏi song đó là những gợi ý quan trọng để
chúng tôi hoàn thành luận văn này.
3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu đặc sắc của đề tài Hà Nội trong sáu cuốn tản văn
của nhà văn Nguyễn Trương Qúy.
3.2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài Hà Nội trong tản văn Nguyễn Trương Qúy, chúng tôi hi vọng
sẽ chỉ ra được những sáng tạo mới mẻ của nhà văn trẻ Nguyễn Trương Qúy khi viết về
đề tài Hà Nội – một đề tài dường như “không còn đất để khai thác” nữa. Ngoài ra,
chúng tôi cũng muốn cùng bạn đọc thấy được một Hà Nội mang hơi thở đương đại,
từ góc nhìn hiện đại, góc nhìn kiến trúc, văn hóa và âm nhạc của nhà văn được xem là
gã “tay ngang” bước vào làng văn chương Nguyễn Trương Qúy. Đây cũng chính là
nét làm nên sự khác biệt của nhà văn Nguyễn Trương Qúy với các nhà văn khác
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn tập trung khảo sát những nội dung của tản văn Nguyễn Trương Qúy
về đề tài Hà Nội, chỉ ra những sáng tạo của nhà văn ở đề tài quen thuộc này.


- Làm rõ những hiệu quả của "thủ thuật", thủ pháp, biện pháp nghệ thuật mà
tác giả đã sử dụng để xây dựng hình tượng Hà Nội trong tản văn.
- Bước đầu đánh giá những đóng góp của nhà văn Nguyễn Trương Qúy đối với
thể loại tản văn trong văn học Việt Nam đương đại.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4.2.1. Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng để phân tích, tổng hợp những nội dung, đặc
sắc nghệ thuật trong tản văn của nhà văn Nguyễn Trương Qúy.
Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu.
4.2.2. Phương pháp nghiên cứu tiểu sử
Tìm hiểu tiểu sử, con người Nguyễn Trương Qúy để có cơ sở hiểu hơn về sáng
tác của nhà văn, nhất là tản văn, thể loại đòi hỏi tính chân thực, bộc lộ “cái tôi” cá
nhân của nhà văn.
4.2.3. Phương pháp so sánh - thống kê
So sánh tản văn của Nguyễn Trương Qúy với các tản văn viết về Hà Nội của
những người đi trước và cùng thời với nhà văn. Đối chiếu tản văn ở mỗi thời điểm
sáng tác khác nhau để thấy được những đặc sắc riêng của nhà văn.
Đọc và thống kê các từ mới, cách đặt các câu hỏi được sử dụng trong tản văn
để thấy được văn phong riêng của nhà văn.
4.2.4. Phương pháp cấu trúc
-Trong quá trình nghiên cứu phải luôn đặt mỗi tản văn trong tính chỉnh thể của
toàn bộ tản văn viết về Hà Nội.
4.2.5. Phương pháp liên ngành
Phương pháp này được sử dụng để hiểu sâu hơn mọi khía cạnh của từng tác
phẩm từ đó thấy được những đặc sắc riêng trong tản văn Nguyễn Trương Qúy.
5. Phạm vi nghiên cứu
Trong công trình nghiên cứu này chúng tôi khảo sát 6 cuốn tản văn của nhà văn
Nguyễn Trương Qúy:
- Tự nhiên như người Hà Nội (2004)


- Ăn phở rất khó thấy ngon (2008)
- Hà Nội là Hà Nội (2010)
- Xe máy tiếu ngạo (2012)
- Mỗi góc phố một con người đang sống (2013)
- Còn ai hát về Hà Nội (2013)
Truyện ngắn Dưới cột đèn đường rót một ấm trà, và những bài trả lời phỏng
vấn, bài viết trên Blog TQ, bài viết đăng báo của Nguyễn Trương Qúy chỉ được đề cập
khi làm tư liệu so sánh.
6. Đóng góp của luận văn
- Về mặt lí luận: Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ
thống và toàn diện tản văn của nhà văn Nguyễn Trương Qúy về đề tài Hà Nội. Từ đó
góp phần khẳng định đóng góp của nhà văn đối với thể loại tản văn trong văn học
đương đại; cả những đóng góp của nhà văn trong dòng văn học viết về đề tài Hà Nội.
- Về mặt thực tễn: Luận văn sẽ là tài liệu cần thiết và bổ ích góp phần vào
việc tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về tản văn Nguyễn Trương Qúy, ngoài ra còn có ý
nghĩa định hướng gợi mở cho việc tìm hiểu, nghiên cứu nét đặc sắc trong sáng tác văn
xuôi của nhà văn nói chung.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Khái quát về thể loại tản văn và tản văn của Nguyễn Trương Qúy.
Chương 2. Bức tranh Hà Nội từ những góc nhìn: Kiến trúc, văn hóa và
âm nhạc.
Chương 3. Văn phong của Nguyễn Trương Qúy trong tản văn viết về Hà Nội.


CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT VỀ THỂ LOẠI TẢN VĂN VÀ TẢN VĂN CỦA
NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ
1.1. Khát quát về thể loại Tản văn
1.1.1. Khái niệm tản văn
Tản văn – một thể loại tưởng như không có thời hưng thịnh, tưởng như người
đọc chẳng có lúc nào phải đắn đo, và cũng chẳng đến nỗi có lúc phải đưa ra bàn tán,
ấy thế mà đã đến lúc mọi việc đều đã thay đổi và người đọc đã phải tìm đến những
cuốn tản văn, và những trang tản văn cũng đeo đuổi bám rễ và làm trắc ẩn những suy
nghĩ trong tâm hồn người đọc. Tuy vậy, cho đến nay cách gọi tản văn vẫn chưa thống
nhất về nội hàm ý nghĩa :
Theo Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê định nghĩa: “Tản văn: 1. Văn xuôi. 2. Loại
văn gồm các thể kí và các thể văn khác, ngoài truyện, thơ và kịch” [23,Tr.857].
Theo Từ điển Hán Việt, Đào Duy Anh định nghĩa: “Tản văn, văn xuôi không có
vần” [1,Tr. 233].
Từ điển thuật ngữ văn học – Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội, năm 1997 là cuốn
duy nhất đã xác định tản văn ngoài nghĩa là văn xuôi còn có nghĩa là một thể loại văn
học có những đặc trưng riêng biệt: “Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có
thể trữ tnh, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật, lối thể hiện đời
sống mang tính chất khám phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân
vật hoàn chỉnh, điều cốt yếu là tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý
nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tnh cảm, ý nghĩ của tác giả”[11,Tr. 329].
Trong cuốn Năm bài giảng về thể loại, Hoàng Ngọc Hiến quan niệm “Tản văn
là một tiểu loại kí ngắn gọn, hàm súc theo tùy hứng của tác giả có thể bộc lộ trữ tnh,
tự sự hoặc nghị luận, thường có mấy thứ đan quyện vào nhau”[14,Tr.32].
Trần Đình Sử trong bài viết “Tản văn hiện đại Việt Nam – Một thể loại bị lãng
quên” - lời giới thiệu cuốn Tản văn hiện đại Việt Nam có viết: “Tản văn là một thể loại
văn xuôi ngắn gọn, hàm súc. Nó không đòi hỏi phải có một cốt truyện đầy đủ hay phải
sáng tạo những nhân vật hoàn chỉnh. Cấu tứ tác phẩm được triển khai từ một vài tín
hiệu thẩm mỹ đóng vai trò trung tâm trong thế giới nghệ thuật. Đó có thể là
những hình ảnh, chi tiết hoặc một hiện tượng đời sống cụ thể”[47].


Có rất nhiều các quan niệm xoay quanh khái niệm tản văn tuy nhiên các quan
niệm trên đều thống nhất: tản văn là một thể loại văn xuôi có tính hàm súc, có thể
là trữ tình, tự sự, nghị luận đan xen và đều bộc lộ trực tiếp dấu ấn riêng, cái tôi tác
giả. Có lẽ cũng vì vậy, nhà văn trẻ Nguyễn Trương Qúy đã lựa chọn tản văn để chuyển
tải những cái tứ của đời sống. Tản văn cho phép tác giả thoải mái mổ xẻ và đưa ra
quan niệm riêng của mình.
1.1.2. Đặc trưng thể loại tản văn
Gần đây, Tiến sĩ Lê Trà My đã có những công trình nghiên cứu về thể loại tản
văn. Theo Tiến sĩ Lê Trà My thì tản văn có nhiều yếu tố tương đồng với những thể loại
như tạp văn, tạp bút… nhưng về cơ bản, tản văn vẫn có những đặc trưng riêng để
phân biệt với các thể loại khác của văn học.
1.1.2.1. Tản văn là những tác phẩm văn xuôi có dung lượng ngắn, hàm súc và
không có cốt truyện. Tản văn chủ yếu chú trọng vào chi tiết nên có thể coi đây là một
thể loại văn xuôi không đòi hỏi cốt truyện. Người viết tản văn thường lựa chọn vài ba
nét từ chất liệu cuộc sống, dựa vào đó để bày tỏ thế giới nội tâm cũng như cảm
xúc của mình về thế giới. Ví như từ một cành hoa mận mà gợi nhớ bao kí ức tuổi thơ
êm đềm, đầy ắp những kỉ niệm ngọt ngào thời thơ ấu bên gia đình (Một loài hoa
thương nhớ - Đỗ Bích Thúy);... chỉ là chuyện đi làm công sở cũng thành chuyện: “Tại
sao khi mới đi làm chúng ta ai cũng hăm hở? “Tưởng như bầu nhiệt huyết đang sôi
sục trong người chỉ chờ có cơ hội là được bộc lộ. Vậy mà chỉ sau vài ngày đi làm ở
công sở, chúng ta cứ chuội dần đi…”[24] Và thấy cái gì cũng như ngày càng có vẻ
chậm hơn… Tất cả những điều tưởng chừng như tủn mủn, lặt vặt ấy đều có thể là
cái cớ cho một tản văn ra đời. “Vấn đề còn lại chỉ là sức cảm, sức nghĩ, là độ rộng và
chiều sâu trong trường liên tưởng của người viết mà thôi. Nói gọn lại, tản văn là phải
tạo ra “một cái gì đó” có ý nghĩa tiếp sau cái cớ ban đầu kia; “một cái gì đó”, nói kiểu
công thức “chạm vào trái tim và khối óc người đọc” theo một cách riêng của văn
chương”[24,tr.40]. Với công phu tinh lọc như vậy, các chi tiết xuất hiện trong tản
văn thường rất hàm súc, giàu sức gợi. Có thể coi tản văn như là “thơ tứ tuyệt” của
văn xuôi.
1.1.2.2. Tản văn là loại tác phẩm được cấu tứ. Về phương diện kết cấu, tản văn
là loại tác phẩm trữ tình biểu lộ thế giới tinh thần của chủ thể. Nó không coi trọng


thông tin, sự kiện mà cốt là ở cách nhìn, cách lí giải sự kiện. Kết cấu tác phẩm tản văn
dựa trên sự liên tưởng kết nối các sự kiện, nhân vật, hình ảnh, chi tiết vào với
nhau. Các chi tiết trong tản văn thường không gắn kết thành một bức tranh đời sống
mang tính khách quan như trong các tác phẩm tự sự mà chúng chỉ là những tín hiệu
bộc lộ chủ thể nhà văn bởi nghệ thuật tản văn như đã nói là nghệ thuật biểu hiện.
Giả Bình Ao nói nghệ thuật tản văn là “nghệ thuật của biểu hiện chứ không phải đòi
bạn tái hiện”. Do vậy, quan hệ giữa các chi tiết thường là quan hệ liên tưởng nhờ sự
tưởng tượng phóng túng, bay bổng của nhà văn tạo nên ý tưởng độc đáo cho tác
phẩm. Cấu tứ trong tản văn chủ yếu dựa trên sự liên tưởng này. Tản văn có thể coi
là thể loại có vẻ dễ viết nhưng khó hay. Muốn tạo ra những tác phẩm tản văn hay đòi
hỏi trình độ người viết phải tạo ra một cấu tứ, một tổ chức mang tính nghệ thuật cao,
một vốn kiến thức đa ngành, liên ngành; cả nghệ thuật chơi chữ, mặc dù chỉ là tiểu
xảo nhưng lại có khả năng điểm xuyến làm sinh động ý tưởng.
1.1.2.3. Tản văn bộc lộ trực tiếp cái “tôi” của tác giả. Đây là đặc điểm nổi bật
nhất của tản văn so với các thể loại khác. Xét một cách khách quan, ở thể loại văn học
nào thì cái tôi nghệ sĩ của tác giả cũng ít nhiều in dấu trong tác phẩm. Ở truyện ngắn,
tiểu thuyết, cái tôi của nhà văn ẩn mình vào những hình tượng nhân vật. Ở thơ, cái
tôi nhà thơ có phần bộc lộ rõ hơn so với truyện ngắn và tiểu thuyết, tuy nhiên vẫn ẩn
mình dưới hình tượng nhân vật trữ tình. Ở tản văn, nhà văn trực tiếp cất lên tiếng
nói, như nói trực tiếp câu chuyện, quan điểm của chính mình. Ở tản văn, người viết
văn công khai với tư cách là chủ thể lời nói nghệ thuật và biến mình trở thành hình
tượng nhân vật. Nhà tản văn nổi tiếng người Trung Quốc Tiền Cốc Dung có từng viết
về đặc trưng của tản văn như sau: “Vốn dĩ mọi tác phẩm văn học đều in dấu tính
tình, phẩm cách của tác giả nhưng ở thơ, tiểu thuyết, kịch, tác giả thường ẩn mình
đi, bọc mình lại khiến bạn đọc không dễ gì thấy ngay được diện mạo thật của họ.
Còn tản văn thì không thế. Tác giả của chúng không hề tô điểm, trang sức mà cứ trần
trụi ra trong mắt bạn đọc. Hễ điều gì nói ra đều là những điều phát tự lòng mình,
không một chút giả dối, điểm tô. Tác giả dường như thủ thỉ tự nói một mình, tự thổ
lộ nỗi niềm, hoặc như trút bầu tâm sự với người quen cũ lâu ngày không gặp lại. Qua
tác phẩm của họ, bạn đọc thấy ngay được con người họ, thấy ngay được bản sắc, bản
tướng của họ. Cho nên


tản văn là tác phẩm thấy được tính tình tác giả rõ nhất, do vậy dễ viết nhất mà
cũng khó viết nhất. Những ai không thực sự có tính tình, hoặc không thực sự có lời
muốn ngỏ thì tốt nhất là không nên viết tản văn”[17]. Dựa trên nguyên tắc tự
biểu hiện, người viết tản văn thường có xu hướng lấy ngay chính cuộc sống của mình
ra làm chất liệu để xây dựng tác phẩm. Do đó, sức mạnh của tản văn trước hết là
nhân cách, bản lĩnh, tầm tư tưởng, cách nhìn, cách cảm và sự uyên bác của người cầm
bút.
1.1.2.4. Tản văn có cách thức biểu hiện đa dạng: Tản văn được xem là thể văn
tự do và phóng túng nhất. Vì “Tất cả các yếu tố của thể loại, đối với tản văn đều hết
sức tự do, bất luận là chọn đề tài, lập ý hay bố cục kết cấu, hay vận dụng thủ pháp
biểu hiện”[47]... Có nhiều phong cách viết tản văn khác nhau có cách viết nghiêm
túc, có khi là cười cợt,trữ tình, chính luận, triết lí... Cách viết tản văn cũng rất đa dạng:
tự sự, trữ tình, hoặc nghị luận, hoặc pha xen các cách viết khác nhau. Giả Bình Ao
từng nói: “Tản văn là nghệ thuật bay, nghệ thuật bơi, nó tự do thoải mái”. Tản văn
là thể văn cho phép người viết thỏa sức khai thác đề tài ở mọi lĩnh vực đời sống,
không hạn định bởi một khuôn mẫu nào. Trần Đình Sử trong Tản văn Việt Nam hiện
đại – một thể loại bị lãng quên có viết: “Tản văn nói được bao điều suy nghĩ, nung
nấu, cảm xúc trong lòng về con người, thế sự, đạo lí, về thiên nhiên, môi trường,
chính trị, văn nghệ...”[47]. Tính tự do của tản văn khiến tản văn có thể kết hợp nhiều
kiểu loại chi tiết từ chi tiết xác thực đến chi tiết hư ảo, hoang đường. Có thể nói,
chưa có thể loại nào đạt tới sự ngẫu hứng, phong phú và đa dạng như tản văn.
1.1.2.5. Giọng điệu tản văn: Tản văn được coi là thể loại văn ngẫu hứng, văn
chơi nên giọng điệu thường nhẩn nha, trò chuyện, tâm sự. Có người nói đọc tản văn
như “nghe những lời nhỏ nhẹ của mẹ, của vợ, của bạn thân quanh bàn trà, điếu
thuốc”.
Người viết tản văn có tâm thế nhàn tản, cái nhàn của con người biết thoát khỏi
những o ép đời thường, tìm tới sự thấu triệt sâu sắc của lẽ đời. Tản văn thích hợp với
sự ngâm ngợi, chiêm nghiệm, điềm tĩnh mà đằm sâu. Thủ thỉ đấy, nhẩn nha đấy
nhưng thâm trầm sâu sắc và đầy triết lí.
1.1.2.6. Theo tác giả Nguyễn Đức Dũng “Ngôn ngữ tản văn bóng bẩy, trong
sáng, súc tích, tươi mới, tự nhiên. Tản văn không lấy hiệu quả ở tình tiết, cũng không


lấy nhân vật để khắc họa sự hiểu biết, đồng thời cũng không yêu cầu có tình cảm
đặc


biệt mãnh liệt như thơ, đề tài của tản văn tuy rộng nhưng cái rộng lớn đa dạng của
nó là những điều bên ngoài mà tác giả tự mình nhìn thấy, nghe thấy, suy nghĩ,
mong muốn, xúc động từ cuộc sống thường nhật cho đến những hiện tượng khác.
Loại nội dung và yêu cầu thể loại nhàn nhã tự tại của nó rất hợp với ngôn ngữ tự
nhiên, tươi mới, gọn gàng, bóng bẩy. Tản văn miêu tả nhân vật phải sinh động như
cuộc sống, rõ ràng như đang hiện ra trước mắt, truyền đạt âm thanh phải giống
hệt; tình cảm biểu hiện thì phải chân thực thiết tha, tế nhị; thuyết lí nghị luận phải
vừa trang trọng vừa hài hước, thú vị, không cần kiểu cách mất tự nhiên, không cần
che đậy, tất cả phải lên xuống tự do như mạch đập của con người, như tiếng nước
chảy trong khe núi”[38]. Có thể nói tác giả Nguyễn Đức Dũng đã có những nhận
định tiêu biểu về ngôn ngữ của tản văn.
Trên đây là những đặc trưng của tản văn. Cũng căn cứ vào đặc trưng thể loại
tản văn chúng ta nhận thấy: Không thể nói tản văn như một thể loại thuần khiết,
trong đó có nhiều sự pha trộn, sự giao thoa của nhiều thể loại khác nhau. Cho nên
bản chất của tản văn là rất tự do, đường biên của nó có sự giãn nở tùy theo nhu cầu
sáng tạo của nghệ sĩ.
1.1.3. Phân loại tản văn
Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào thống nhất quan
điểm của các nhà nghiên cứu về phân loại tản văn. Bất kể từ góc độ nào, căn cứ nào
cũng có thể chia tản văn thành nhiều chủng loại khác nhau. Cũng như tác giả Nguyễn
Đức
Dũng đã căn cứ vào “đối tượng và hình thức thể hiện để chia tản văn thành ba loại:
tản văn tự sự, tản văn trữ tình, tản văn nghị luận.
Tản văn tự sự vẫn lấy sự kiện, nhân vật, cảnh vật làm nội dung biểu đạt chủ
yếu, lấy sự trần thuật miêu tả làm phương thức biểu đạt chủ yếu. Nó chú trọng kể
việc, ghi người, tả cảnh nhưng cũng không giống như kể việc ghi người tả cảnh trong
tiểu thuyết. Kể chuyện trong tản văn chỉ là trần thuật một số phiến đoạn của sự kiện;
ghi người chỉ là ghi một số mặt quan trọng của nhân vật, tả cảnh chỉ là tả một số
phương diện nào đó của cảnh vật; hơn nữa, những sự việc, con người, cảnh vật này
đại đa số


chỉ là những sự việc, con người, cảnh vật mà tác giả đã tiếp xúc qua, tác giả thường
lấy nhân xưng ngôi thứ nhất “Tôi” làm sợi dây liên kết những phiến đoạn của sự
kiện,


những mặt nào đó của nhân vật, phương diện nào đó của cảnh vật; thủ pháp miêu tả
thường là vận dụng lược thuật và phác họa, ngôn ngữ ít ỏi cốt chỉ vẽ ra tình trạng của
sự kiện, thần thái của nhân vật, đặc sắc của cảnh vật. Tản văn tự sự chia thành: tản
văn kí sự, tản văn ghi người, tản văn tả cảnh.
Tản văn trữ tình là tản văn lấy sự bộc lộ tư tưởng, tình cảm của tác giả làm chủ
đạo, điều căn bản của nó là bộc lộ tình cảm. Trữ tình ở đây đã chỉ ra nội dung chủ yếu
của nó là tình cảm, đồng thời cũng chỉ ra thủ pháp biểu hiện chủ yếu của nó là trữ
tình. “Tình” trong tản văn trữ tình chiếm vị trí vô cùng quan trọng. Tản văn trữ tình
ưu tú phải lấy “tình” làm sợi dây sắp đặt kết cấu, tính chủ quan của nó đặc biệt mãnh
liệt. Ở phương diện này, tản văn trữ tình và thơ trữ tình có điểm giống nhau, nhưng
tản văn trữ tình khác với thơ trữ tình ở chỗ không trực tiếp bộc lộ nỗi lòng mà phần
nhiều là sự việc nảy sinh tình cảm, mượn cảnh nói tình, lấy vật để nói chí, “tình” của
nó phải có cái dựa vào, tình thấm vào trong cảnh và vật rồi bộc lộ ra, tình cảm chủ
quan và cảnh vật khách quan nhập vào làm một. Ngoài ra tình cảm trong tản văn trữ
tình không tập trung như thơ trữ tình, nó thường là sự trải rộng của tư tưởng tình
cảm trong một tổ chức, sắp xếp hết sức công phu của tài liệu. Ngôn ngữ tản văn khác
ngôn ngữ thơ trữ tình là điều đã quá rõ ràng.
Tản văn nghị luận là tản văn lấy việc nói rõ đạo lí, biểu đạt điều mình nhìn thấy
làm nội dung chủ yếu, lấy nghị luận làm thủ pháp biểu hiện cơ bản. Tản văn nghị luận
bám chắc vào sự kiện, nhân vật, hiện tượng có ý nghĩa điển hình phong phú trong đời
sống, lấy sự đồng tình của bản thân nhà văn và những tư tưởng, kiến giải, chủ trương
làm cơ sở lập luận, dùng ngôn ngữ sinh động giàu tính văn học, dùng cách viết trong
sáng rõ ràng để khái quát đặc điểm, chỉ rõ bản chất, làm nổi bật quy luật, do đó,
tản văn nghị luận có tính khuynh hướng tư tưởng rõ ràng và sắc thái tình cảm mãnh
liệt.
Tản văn nghị luận bao gồm tạp văn, văn tiểu phẩm, tùy bút….”[38].
Ngoài ra, căn cứ theo đề tài,người ta cũng có thể chia tản văn thành các nhánh
: tản văn phong tục tập quán; tản văn sản vật, địa danh; tản văn sinh hoạt, thế sự;
tản văn chân dung, tản văn triết học; tản văn về các vấn đề văn học nghệ thuật …
Khi căn cứ vào phương diện nội dung, chủ đề thì tản văn lại có nhiều loại hình
khác nhau: Tản văn triết luận, tản văn hồi tưởng và tản văn cảm thời. Trong đó, Tản


văn triết luận thường là tác giả dùng thủ thuật phân thân để đối thoại với bạn đọc về
một vấn đề bàn luận nào đó. Lúc này tác giả nêu ra ý kiến của mình sau đó chờ bạn
đọc phản hồi và cùng đi đến những quan điểm thống nhất. Nhà văn Nguyễn Trương
Qúy có sử dụng thủ thuật này trong tản văn của mình ví dụ như khi nhà văn nói về
vấn đề thời tiết nóng ở Hà Nội chẳng hạn. Tác giả đã có sự thống kê những tác phẩm
văn chương đề cập đến thời tiết nắng nóng ở Hà Nội. Hay là những thống kê về
những biện pháp chống nóng ở Hà Nội. Lúc khác lại bàn tới việc khách du lịch đến Hà
Nội đúng vào cái dịp không may nhất “nắng – nóng” và họ đã có những hành vi, thái
độ như thế nào về vấn đề “nóng cháy mặt đường, rát mặt người” ở Hà Nội. Tản văn
hồi tưởng thường đậm màu sắc trữ tình với những hoài niệm về quá khứ. Điểm này
có thể thấy rõ trong tản văn của nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến hoặc nhà văn Trần
Chiến, Đỗ Phấn. Họ là những nhà văn đã từng đi qua cái thời Hà Nội tuy có diện tích
không lớn, cuộc sống không giàu sang như bây giờ nhưng cảnh Hà Nội thanh bình,
lãng mạn; người Hà Nội có nghèo nhưng vẫn có cốt cách, có cái sang mà mấy ai có
được. Hai nhà văn trẻ Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Trương Qúy lại thiên về tản văn cảm
thời thường là những suy ngẫm về những vấn đề thời cuộc, mang mầu sắc thế sự.
1.1.4. Mối liên hệ tản văn và kí
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
đồng chủ biên) là cuốn từ điển duy nhất đã xác định tản văn ngoài nghĩa là văn xuôi
còn có nghĩa dùng hiện nay là một thể loại văn học có đặc trưng riêng biệt: “Nghĩa
đen là văn xuôi, nhưng hiện nay tản văn được dùng để chỉ một phạm vi xác định,
không hoàn toàn khớp với thuật ngữ văn xuôi. Nếu văn xuôi theo nghĩa rộng chỉ loại
văn đối lập với văn vần, và trong nghĩa hẹp chỉ các tác phẩm văn phân biệt với kịch,
thơ, bao gồm một phạm vi rộng từ tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, ký, tiểu
phẩm, chính luận thì tản văn chỉ phạm vi văn xuôi hẹp hơn, không bao gồm các thể
loại truyện hư cấu”[11,Tr 293]. Cuốn sách cũng chỉ ra các đặc điểm riêng của nó nhằm
phân biệt với các thể loại khác: “Tản văn là loại văn xuôi gọn nhẹ, hàm súc, có thể trữ
tnh, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật. Lối thể hiện đời sống
của tản văn mang tính chấm phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp,
nhân vật hoàn chỉnh nhưng có cấu tứ độc đáo, có giọng điệu cốt cách cá nhân. Điều
cốt yếu là tản


văn tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp
tnh cảm, ý nghĩa mang đậm bản sắc cá tính của tác giả”[11,Tr 294].
Công trình nghiên cứu “Nghìn năm ký, tản văn về Thăng Long – Hà Nội”
(Nguyễn Đăng Điệp chủ biên) cung cấp cho chúng ta cái nhìn toàn diện về Ký – Tản
văn Hà Nội qua các thời kỳ. Công trình này cũng cho thấy văn học Thăng Long – Hà
Nội, trong đó có tản văn đã phát triển liên tục, góp phần khẳng định vị trí trung
tâm văn hóa, văn học của nước Việt ngàn năm văn hiến.
Từ thế kỉ X – XV: Thành tựu và vẻ đẹp riêng, độc đáo. Trong năm thế kỉ đầu,
tản văn Thăng Long đã thể hiện vẻ đẹp độc đáo của văn hóa lịch sử đương thời và đặt
nền móng cho sự phát triển vượt bậc của thể loại trong các giai đoạn tiếp theo.
Thế kỷ XVI – cuối thế kỷ XI: Giai đoạn này tản văn không có nhiều thành tựu
nổi bật nhưng đã tạo được một số tiền đề cho các giai đoạn sau tiếp tục kế thừa và
phát huy. Bắt nguồn từ cuộc sống đầy xáo trộn của chốn king thành Thăng Long dưới
thời Trịnh – Nguyễn phân tranh. Các nhà văn bắt đầu ý thức được rằng không thể
không phản ánh thế sự bể dâu bằng cái nhìn thế sự. Các tác phẩm thuật về những
điều tai nghe mắt thấy của xã hội đoạn trường, những biến đổi sâu sắc về giá trị,
trong các trang văn, ta vẫn thấy hình ảnh một đế đô Thăng Long hào hoa, thanh lịch.
Từ đầu thế kỷ XX đến 1945: Đậm chất trữ tình và đầy chất hiện thực. Giai đoạn
nay văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Pháp và văn minh Châu Âu, văn
hóa Việt Nam từng bước hội nhập nhưng không hòa tan. Tản văn viết về Thăng Long
giai đoạn này phân hóa thành hai nguồn cảm hứng: trữ tình và hiện thực.
Giai đoạn 1945 – 1975: Là giai đoạn văn học phản ảnh thời kỳ độc lập dân tộc,
tụ do sau bao nhiêu năm tháng sống trong cảnh xiềng xích nô lệ. Ngay sau niềm vui
Thủ Đô Hà Nội được giải phóng, tản văn Hà Nội đã tập trung miêu tả vẻ đẹp của cuộc
sống mới, con người mới.Tản văn giai đoạn này đã đạt được nhiều thành tựu nổi
bật với đội ngũ tác giả, nhà văn đông đảo và những tác phẩm phản ánh đúng không
khí thời đại như:Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyễn Tuân... Tuy vậy,Tản văn Hà Nội
giai đoạn này bên cạnh âm hưởng hào hùng, phơi phới niềm tin, vẫn vương nét u
buồn.
Ký, tản văn Thăng Long – Hà Nội từ 1975 đến nay: Giai đoạn này, Thủ đô Hà


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×