Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu truyện thơ nôm tày lưu tương

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRIỆU THỊ THANH HƯƠNG

NGHIÊN CỨU TRUYỆN THƠ NÔM TÀY
LƯU TƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRIỆU THỊ THANH HƯƠNG

NGHIÊN CỨU TRUYỆN THƠ NÔM TÀY
LƯU TƯƠNG

Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. DƯƠNG THU HẰNG

THÁI NGUYÊN - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn khoa học: “Nghiên cứu truyện thơ Nôm
Tày Lưu Tương” dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Dương Thu Hằng là kết quả
nghiên cứu của cá nhân tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung
thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác.
Thái Nguyên, ngày 05 tháng 7 năm 2018
Tác giả luận văn

Triệu Thị Thanh Hương

i


LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam được hoàn thành tại Đại
học Sư phạm Thái Nguyên. Có được luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân
thành và sâu sắc tới PGS.TS. Dương Thu Hằng, người đã trực tiếp hướng dẫn, dìu
dắt, giúp đỡ tôi với những chỉ dẫn khoa học quý báu trong suốt quá trình triển
khai, nghiên cứu và hoàn thành luận văn “Nghiên cứu truyện thơ Nôm Tày Lưu
Tương”.
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên,
Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, Khoa Sau đại học - Trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên, Trung tâm học liệu - Đại học Thái Nguyên, Thư viện Quốc
gia Việt Nam đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đã trực tếp giảng dạy, truyền đạt
những kiến thức khoa học chuyên ngành Văn học Việt Nam cho bản thân tôi
trong thời gian qua.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi
trong thời gian thực hiện luận văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh


nhất song do còn nhiều hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh
khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý
Thầy, Cô giáo để luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 05 tháng 7 năm 2018

ii


MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ......................................................................................................ii
MỤC LỤC ..........................................................................................................iii
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ..............................................................................................
1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu............................................................................... 1
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................
9
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .......................................................................
9
5. Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................
10
6. Đóng góp của luận văn ..................................................................................
10
7. Bố cục của luận văn .......................................................................................
11
NỘI DUNG ....................................................................................................... 12
Chương 1. KHÁI QUÁT CHUNG MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VĂN HÓA
TÀY VÀ TRUYỆN THƠ NÔM LƯU TƯƠNG ................................ 12
1.1.
1.1.1.
12

Khái quát về văn hóa Tày...................................................................... 12
Đặc điểm tự nhiên .................................................................................

1.1.2. Đặc điểm văn hóa - xã hội..................................................................... 13
1.2.

Truyện thơ Nôm Tày ............................................................................. 17

1.2.1. Khái quát chung..................................................................................... 17
1.2.2. Quá trình phát triển của truyện thơ Nôm Tày .......................................
20
1.3.

Truyện thơ Nôm Tày Lưu Tương .......................................................... 21
3


1.3.1.
21

Vấn đề văn bản ......................................................................................

1.3.2.
27

Tóm tắt cốt truyện .................................................................................

Chương 2. GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA TRUYỆN THƠ NÔM TÀY
LƯU TƯƠNG ....................................................................................... 30
2.1.
2.1.1.
30

Ca ngợi tài trí và sức mạnh của người anh hùng................................... 30
Ca ngợi tài trí của người anh hùng ........................................................

4


2.1.2. Ca ngợi sức mạnh của người anh hùng ................................................. 34
2.2.

Lưu giữ giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc Tày ........... 39

2.2.1. Niềm tin vào mẹ Hoa............................................................................. 39
2.2.2. Niềm tin vào thế giới siêu hình ............................................................. 41
2.2.3. Truyền thống sống tương thân, tương ái ...............................................
45
2.3.
50

Quan niệm tình yêu và hạnh phúc lứa đôi bao dung, phóng khoáng .........

2.3.1. Tình yêu vượt không gian, thời gian với công chúa Long cung ................
50
2.3.2. Tình yêu ân nghĩa nơi trần thế với công chúa con vua Sở.........................
54
Chương 3. GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA TRUYỆN THƠ NÔM TÀY
LƯU TƯƠNG ......................................................................................... 58

3.1.

Kết cấu ................................................................................................... 58

3.1.1. Mở lời - một sáng tạo mới ..................................................................... 59
3.1.2. Truyện lồng truyện ................................................................................ 60
3.1.3. Sự kết hợp tự sự - trữ tình ..................................................................... 64
3.2.

Nghệ thuật xây dựng nhân vật............................................................... 71

3.2.1. Hệ thống nhân vật trong truyện thơ Nôm Tày Lưu Tương ................... 71
3.2.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện thơ Nôm Tày Lưu Tương....
73
3.3.

Ngôn ngữ dân tộc Tày qua truyện thơ Nôm Lưu Tương....................... 80

3.3.1. Hệ thống từ ngữ, hình ảnh mang đậm bản sắc văn hóa Tày .................
80
3.3.2. Sự hòa điệu giữa tếng Tày và tiếng Kinh............................................. 87
KẾT LUẬN....................................................................................................... 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 96

4


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong kho tàng di sản văn hóa của dân tộc Tày, truyện thơ Nôm Tày là thể
loại xuất hiện khá muộn nhưng để lại giá trị quan trọng cần được bảo lưu và trao
truyền cho thế hệ sau. Trước nguy cơ mai một những nét đẹp văn hóa truyền
thống trong thời kỳ hội nhập, việc sưu tầm, phục dựng, công bố và nghiên cứu,
giới thiệu các truyện thơ Nôm Tày còn đang lưu truyền và có nguy cơ thất lạc
là một việc làm có ý nghĩa.
Văn bản truyện thơ Nôm Tày Lưu Tương do Nông Phúc Tước và Bế Sĩ Uông
sưu tầm, biên dịch (NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội 2013) là một trong những tác
phẩm thể hiện được sự đam mê, yêu thích và trách nhiệm đối với vốn di sản
truyền thống của các trí thức Tày hiện đại. Trải qua rất nhiều thử thách, khó khăn,
các tác giả đã quyết tâm hoàn thiện được tác phẩm để giới thiệu tới người đọc.
Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của truyện thơ Nôm này nếu được làm rõ sẽ
góp phần khẳng định rõ hơn vị trí của thể loại độc đáo trong kho tàng văn học, văn
hóa Tày.
Là một người con dân tộc Tày của quê hương Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn - nơi
đã lưu truyền truyện thơ Nôm Lưu Tương, chúng tôi mong muốn góp phần giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thông qua việc nghiên cứu và giới thiệu
tác phẩm đến đông đảo bạn đọc. Đặc biệt chúng tôi hy vọng có thể giới
thiệu tác phẩm này cho giáo viên và học sinh các trường phổ thông trong các giờ
dạy văn học địa phương trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
Vì những lý do nêu trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu
truyện thơ Nôm Tày Lưu Tương” để nghiên cứu.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1. Những công trình nghiên cứu chung về truyện thơ
Năm 1983, tác giả Võ Quang Nhơn trong cuốn Văn học dân gian các dân tộc
ít người ở Việt Nam [35] đã đánh giá cao vị trí của truyện thơ Nôm trong văn học
1


dân tộc các dân tộc ít người ở Việt Nam. Sách gồm bảy chương, trong đó ông đã
dành hẳn một chương để nói về truyện thơ - thể loại được coi là “một dấu
nối

2


giữa văn học truyền miệng và văn học thành văn” và “sự phân biệt giàu nghèo và
theo đó là sự xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp” là một trong những tiền
đề để truyện thơ ra đời [35, tr.393]. Về đề tài của truyện thơ, tác giả cho rằng
chúng rất phong phú, “chúng đề cập đến nhiều mặt trong hiện thực xã hội của
các dân tộc anh em: hoặc thân phận những đứa trẻ mồ côi; hoặc cuộc sống cực
nhục của những người lao động nghèo khổ; hoặc khát vọng lập công cứu nước
trả thù nhà của các chàng trai; hoặc các mốc lịch sử lớn trong đời sống các dân
tộc... Đặc biệt là đề tài về cuộc đấu tranh cho tự do yêu đương, cho quyền sống
của người phụ nữ trong lòng xã hội cũ là một đề tài khá phổ biến. Đó là khát
vọng dân chủ thiết tha, mãnh liệt của quần chúng trong lòng xã hội phong kiến
mà quyền sống con người bị chà đạp, bóp nghẹt nặng nề, được phản ánh vào
trong nền văn học truyền thống các dân tộc anh em” [35, tr.395-396].
Trên Tạp chí văn học năm 1997, số 7, Lê Trường Phát có bài viết “Về mô
hình cốt truyện của truyện thơ các dân tộc thiểu số” [39]. Tác giả nhận xét: Ở
truyện thơ Nôm của người Việt “mọi người hầu như đã nhất trí rằng phần lớn cốt
truyện của thể loại này được xây dựng theo mô hình “kết thúc có hậu” gồm ba
chặng: Gặp gỡ - Tai biến - Đoàn tụ. Nói “phần lớn” bởi lẽ mô hình cốt truyện này
chỉ áp dụng với những tác phẩm mà đề tài chủ đạo là tnh yêu đôi lứa. Tuy nhiên,
đây là đề tài chủ yếu, cơ bản của thể loại” [39, tr.52]. Ở truyện thơ các dân tộc
thiểu số, với 20 tác phẩm (của 05 dân tộc: Tày, Thái, Mường, H’mông, Chăm) đã
được dịch sang tiếng Việt tnh đến năm 1997, Lê Trường Phát nhận thấy loại tác
phẩm thể hiện đề tài tình yêu có kết thúc bi kịch (kết thúc không có hậu) chiếm
số lượng áp đảo. Trong số 20 tác phẩm có tới 13 tác phẩm thuộc kiểu kết
thúc bi kịch. Ông khẳng định: Ở truyện thơ các dân tộc thiểu số, “kiểu kết thúc
bi kịch mới phổ biến và têu biểu” [39, tr.54]. Nhưng “riêng ở nhóm truyện thơ
Tày - Nùng, tình hình ngược lại: kiểu “kết thúc có hậu” chiếm tỉ lệ lấn át” [39,
tr.54]. Sở dĩ có hiện tượng này, “chính là do vai trò tham gia sáng tạo tác
phẩm của các Nho sĩ, thầy đồ người Việt miền xuôi lên; họ mang theo ảnh
3


hưởng của truyện Nôm Việt vào truyện thơ Tày - Nùng. “Kết thúc có hậu” là
một cách để dân gian

4


tấn công (tất nhiên trong mơ ước) vào lễ giáo phong kiến (mà thực chất là tn
điều
Nho giáo) trong lĩnh vực tnh yêu và hôn nhân” [39, tr.54].
Tác giả Phan Đăng Nhật, năm 2004 có bài Truyện thơ, in trong cuốn sách
Truyện thơ Tày - nguồn gốc, quá trình phát triển và thi pháp thể loại của Vũ Anh
Tuấn [57]. Khi phân loại truyện thơ, ông đưa ra hai têu chí phân loại: Phân loại
truyện thơ theo phương thức diễn xướng, nguồn gốc tác phẩm. Truyện thơ được
chia làm 04 nhóm:
- Nhóm truyện thơ gắn với sinh hoạt nghi lễ dân gian.
- Nhóm truyện thơ kế thừa truyền thống tự sự của truyện cổ dân gian các dân
tộc.
- Nhóm truyện thơ kế thừa truyền thống trữ tình thơ ca dân gian các dân tộc.
- Nhóm truyện thơ thiên về khuynh hướng thuyết giáo đạo đức của
truyện
thơ Nôm Kinh.
Phân loại truyện thơ theo têu chí đề tài, theo cách này, truyện thơ được
ông chia làm 03 loại:
- Truyện thơ về tình yêu.
- Truyện thơ về người nghèo khổ.
- Truyện thơ về chính nghĩa.
Về vấn đề hình thành truyện thơ, Phan Đăng Nhật cho rằng “truyện thơ
ra đời do nhu cầu lịch sử - xã hội của thời đại của nó. Lúc bấy giờ trong xã hội các
dân tộc thiểu số đã xuất hiện nhiều mâu thuẫn. Mâu thuẫn giữa tnh yêu
chân chính của đôi lứa với đòi hỏi khắt khe, lạnh lùng nhiều khi tàn bạo của gia
đình và xã hội; mâu thuẫn giữa kẻ nghèo khó và kẻ giàu sang; mâu thuẫn
giữa chính nghĩa và phi nghĩa. Lúc này vấn đề thân phận của con người được
đặt ra và đòi hỏi phải đáp ứng thoả đáng” [57, tr.401].
2.2. Những công trình sưu tầm, nghiên cứu về truyện thơ Tày

5


Đầu tên, chúng ta biết đến 08 tác phẩm truyện thơ Tày (truyện Nam Kim
- Thị Đan, Lưu Đài - Hán Xuân, Kim Quế, Chim sáo, Trần Châu, Đính Quân,
Quảng Tân - Ngọc Lương, Vượt biển) trong bài “Mấy ý nghĩ về truyện thơ cổ Tày
- Nùng”, viết giới thiệu cho hai tập Truyện thơ Tày - Nùng, xuất bản năm 1964, do

6


nhà thơ Nông Quốc Chấn giới thiệu [11]. Bài viết đã có những nhận xét quan
trọng về những nét đặc biệt trong nền văn học cổ điển Tày - Nùng, về hai nội
dung chính của tám truyện thơ trên (một là, tnh cách anh hùng, chí khí dũng
cảm, tnh thần vượt mọi khó khăn gian khổ để vươn lên tới đích; hai là, thiết tha
với quyền sống con người lao động, yêu quý chính nghĩa và điều thiện, căm thù
phi nghĩa và tội ác, về những yếu tố têu cực (triết lý duy tâm không tưởng và tnh
giai cấp mơ hồ). Ngoài ra bài viết còn có những nhận xét quan trọng về hình thức
nghệ thuật của truyện thơ như: cách bố cục câu chuyện, bút pháp mô tả, thể thơ
và lời thơ.
Tác giả Lục Văn Pảo, năm 1992, trong Tạp chí Văn hóa dân gian, số 3 đã có
bài viết “Truyện Nôm Tày” [36]. Tác giả đã đưa ra những lý lẽ thuyết phục rằng
truyện thơ Tày là sản phẩm song trùng: Một mặt là sản phẩm của một loại
hình thức văn học dân tộc ra đời, song cũng là sản phẩm được sinh ra bởi chữ
Nôm. Không có chữ Nôm Tày thì không có truyện thơ Tày tồn tại như ngày nay.
Tác giả đã đưa ra một danh mục truyện thơ Nôm Tày được sưu tầm trong nhiều
năm, gồm có 47 truyện (Trong đó có 39 truyện thuộc nhóm truyện do người Tày
sáng tác, 06 truyện bắt nguồn từ các truyện Nôm Kinh, 2 truyện có nguồn gốc từ
truyện dân gian Trung Quốc). Quả thực, đây là số lượng tác phẩm có quy mô đồ
sộ mà ít dân tộc nào sánh được. Tuy nhiên danh mục này, còn có thể tếp tục bổ
sung. Bài viết đã khẳng định: “Xét về nội dung, những truyện thơ này phản ánh
cuộc sống của người Tày khá phong phú, đa dạng. Việc tm hiểu tư tưởng xã hội
người Tày trong lịch sử, nhất là bộ phận phong tục tập quán, nếp sống đã qua
thì kho tàng này
dường như chiếm địa vị độc tôn nếu không muốn nói là duy nhất...” [36,
tr.20].
Năm 2003, nhóm tác giả Triều Ân, An Định, Hoàng Quyết, Hoàng Thị Cành,
do Triều Ân chủ biên trong Chữ Nôm Tày và truyện thơ [6], có đưa ra những bằng
chứng nhằm giải thích sự kiện: “Truyện thơ Tày xuất hiện từ bao giờ?”. Nhóm tác
giả cho rằng “Suy nghĩ tìm tòi truyện thơ Tày xuất hiện từ bao giờ, ta thấy có nét
7


chung là xuất hiện từ sau khi có văn tự Nôm Tày (là thế kỉ thứ V); đi vào cụ thể
từng pho truyện ta sẽ thấy sự xuất hiện khác nhau về thời điểm ta cần đọc
xem xét nội dung truyện cũng như bối cảnh lịch sử, tương quan lịch sử của
truyện

8


đó” [6, tr.32-33]. Nhóm tác giả đã phân loại nguồn gốc truyện thơ Tày từ trước
năm 1945, và “tổng quát lại, ta biết truyện thơ Nôm Tày bắt nguồn từ xã
hội người Tày là chủ yếu (trừ truyện Sơn Bá - Chúc Anh Đài gốc Trung Quốc hoặc
có một vài truyện mượn tch hoặc truyện của người Việt để Tày hóa như Tống
Trân - Cúc Hoa, Phạm Tải - Ngọc Hoa...). Trong truyện thơ Nôm Tày, dù có mượn
tên nhân vật (như vua nước ngoài) mượn tên đất nước dưới miền xuôi hoặc dưới
âm phủ, ta hãy quên những tên rất thật ấy đi để thấy giá trị hiện thực, nhân
đạo... của truyện. Tên nhà vua, tên đất, lúc này chỉ còn có giá trị ước lệ, vay
mượn “cho có chuyện” mà thôi” [6, tr.35-36]. Nhóm tác giả đã giới thiệu 05
truyện thơ rất phổ biến và được hâm mộ trong dân tộc Tày, đó là Nàng
Kim, Nàng Hán, Nàng Quyển, Nàng Ngọc Long, Nàng Ngọc Dong và có những lời
nhận xét, phân tch về nội dung, nghệ thuật của 05 truyện thơ một cách xác đáng
với tư cách là những người am hiểu truyện thơ Nôm Tày. Sau đây là một vài lời
nhận xét chung nhất cho 05 truyện thơ này: “Qua 05 truyện thơ về các “Nàng”,
ta dễ nhận thấy một
điều là các nhân vật nữ thuộc tuyến chính nghĩa đều là những người phúc hậu,
người tốt, hiền lành. Dù tác giả (khuyết danh, dân gian) có xây dựng các nàng có
nguồn gốc từ đâu, là người trần thế hay tên nữ giáng trần, đều nhằm mục
đích gây được cảm tnh từ đầu cho người đọc, người nghe và “thông qua các
nhân vật “Nàng” truyện thơ ca ngợi tự do, nhất là tự do luyến ái, tự do hôn
nhân... Ở họ tnh yêu nào cũng trong sáng thuỷ chung, tnh phu thê nào cũng trọn
vẹn, tnh mẫu tử nào cũng thiết tha sâu sắc... Họ là những người có đạo đức, tôn
trọng chính nghĩa, lễ nghĩa, tu nhân tích đức...” [6, tr.88-89].
Tiếp tục, trong công trình Ba áng thơ Nôm Tày và thể loại năm 2004 [7],
Triều Ân có nói lại vài nét về truyện thơ Nôm và tác phẩm Thị Đan. Trong phần
truyện thơ Nôm Tày, tác giả nhắc lại thời điểm ra đời truyện thơ Tày, phân loại
nguồn gốc truyện thơ Nôm Tày cùng một vài đặc điểm nghệ thuật truyện thơ
Nôm Tày và giới thiệu ba thể loại với ba tác phẩm: Lượn cùng tác phẩm “Hồng
9


nhan tứ quý”; khúc hát then và tác phẩm “Khảm hải”; truyện thơ Nôm và tác
phẩm “Thị Đan”. Trong phần tác phẩm Thị Đan, Triều Ân đã kể lại nội dung
câu chuyện,

10


cùng với những lời nhận xét về nhân vật, giá trị nội dung của truyện: “Truyện thơ
Nôm “Thị Đan” có tnh nhân dân lại có tnh chiến đấu nữa. Tác phẩm đã nêu lên
được quan niệm, ước vọng về luyến ái theo nhân sinh quan của nhân gian.
Truyện thơ mang nội dung tố cáo chế độ phong kiến cũ hà khắc đã tỏa chiết tnh
cảm trai gái đồng thời mong muốn một luyến ái tự do, một hôn nhân nhân đạo”
[7, tr.40]. Tiếp đó, tác giả đưa ra những nét chung về nội dung ba áng thơ, đó là
nỗi đau đời của kiếp người xưa, một trong những nỗi đau là người phụ nữ với tập
tục cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy; nét chung thứ hai về nội dung là mơ ước và hy
vọng của người xưa, mà một trong những mơ ước đó là “muốn có một tnh yêu
trong sáng thuỷ chung trong một chế độ nào đó bênh vực, bảo vệ cuộc sống con
người với tất cả lòng nhân đạo, bênh vực tự do luyến ái, tự do hôn nhân” [7,
tr.46]; nét chung cuối cùng là những mặt têu cực về nội dung, cả ba thể loại
đều có chung quan niệm về cuộc sống nhân sinh, “quan niệm mọi sự an bài
đều do Bụt Cả, do trời, do số phận” [7, tr.50].
Trong Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn Sự tương đồng và khác biệt về
nội dung giữa truyện thơ Tày và truyện thơ Thái, năm 2009 [42], Triệu Thị
Phượng đã so sánh truyện thơ Tày với truyện thơ Thái và chỉ ra sự tương
đồng và khác biệt về đề tài, chủ đề, tư tưởng - tình cảm - thái độ của nhân vật
giữa truyện thơ Tày và truyện thơ Thái. Công trình đã phần nào cho chúng ta hiểu
thêm về mối quan hệ văn hóa giữa hai dân tộc Tày và Thái.
Năm 2006, trong Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn Tìm hiểu truyện thơ Tày Nhân
Lăng về phương diện thi pháp kết cấu cốt truyện và nhân vật, [53], Đỗ Thị Hùng
Thúy đã nêu một luận điểm đáng chú ý: “...Qua việc tm hiểu thi pháp kết cấu cốt
truyện thơ Nhân Lăng chúng tôi nhận thấy: Truyện thơ Nhân Lăng là sự lựa chọn,
lắp ghép các môtp khác nhau từ những truyện cổ khác nhau về người mồ côi của
người dân tộc Tày để tạo nên một kết cấu cốt truyện mới..." [53].
Một công trình có đóng góp không nhỏ vào việc nghiên cứu truyện thơ Tày,
đó là Truyện thơ Tày - nguồn gốc, quá trình phát triển và thi pháp thể loại năm
11


2004 của tác giả Vũ Anh Tuấn [57]. Tác giả đã nghiên cứu truyện thơ Tày từ

12


nguồn gốc thể loại, quá trình phát triển cho đến việc tìm hiểu các phương diện
của thi pháp thể loại (thi pháp cấu trúc, thi pháp nhân vật và đặc điểm thi pháp
lời văn nghệ thuật). Về nguồn gốc của truyện thơ Tày, tác giả phân tch cả nguồn
gốc nội sinh trong quá trình phát triển văn hóa tộc người và nguồn gốc ngoại
sinh trong quá trình tiếp biến văn hóa tộc người. Về quá trình phát triển, tác
giả nêu ra ba thời kì như sau:
Thời kì đầu tên là thời kì có số lượng áp đảo của loại truyện thơ về đề tài
tình yêu, trong đó “số lượng truyện thơ tình yêu kiểu trữ tnh - tự sự nghiêng về
đặc điểm trữ tnh giàu chất thơ biểu hiện tâm trạng têu biểu hơn là các
truyện thơ trữ tình nghiêng về đặc điểm tự sự” [57, tr.71]. Loại truyện thơ này kế
thừa truyền thống trữ tình của dân ca. Thời kì này vào khoảng trước thế kỷ thứ
XVII [57, tr.110].
Thời kì thứ hai là “sự hình thành và phát triển chủ yếu những truyện thơ
về sự nghèo khổ. Trong đó, phần lớn là những truyện cổ tch sinh hoạt được kể lại
bằng thơ” [57, tr.72]. Ở thời kì này, “truyện thơ tnh yêu tiếp tục phát triển nâng
cao, nhưng đây là thời điểm ý thức cá nhân về quyền sống đã trở thành khát
vọng cháy bỏng trong một thời đại phong kiến tỏa chiết mạnh mẽ. Do đó, màu
sắc lãng mạn nhạt dần để thay vào đó tnh phản kháng quyết liệt đến mức không
còn kết thúc có hậu ở những truyện mang đậm bản sắc tộc người” [57, tr.72].
Thời kì này là từ thế kỷ VXII trở đi [57, tr.114].
Thời kì thứ ba là thời kì “nở rộ khuynh hướng truyện thơ đề tài chính nghĩa
có cách kết thúc thiên về thuyết giáo đạo đức. Đây cũng là thời kì chữ Nôm Tày
đã hoàn chỉnh, thời kì giao lưu Tày - Kinh có tính đột biến và cũng là thời kì bùng
nổ đấu tranh giai cấp, cả cộng đồng Tày trực tếp tham gia vào làn sóng nông
dân khởi nghĩa” [57, tr.72-73]. Ở thời kì này, truyện thơ Tày “được mang một
hình thức tồn tại mới: thành văn. Người tếp nhận truyện thơ Tày đã có thể
hưởng thụ bằng những cách thức khác nhau: đọc, ngâm, kể, hát". Ở thời kì này,
“truyện thơ Nôm Tày đã được hoàn thiện và thật sự trở thành điểm nối giữa văn

13


học dân gian với văn học thành văn” [57, tr.73]. Thời kì này, theo tác giả, có lẽ bắt
đầu từ giữa thế kỷ XVIII trở đi [57, tr.117].

14


Có thể thấy, chuyên khảo Truyện thơ Tày, nguồn gốc, quá trình phát triển và
thi pháp thể loại của tác giả Vũ Anh Tuấn là một chuyên khảo có giá trị khoa học,
nghiên cứu một cách có hệ thống và công phu về truyện thơ Tày. Truyện thơ của
dân tộc Thái, dân tộc Mường cũng phong phú không kém và cũng đã được
công bố, sưu tầm không ít, nhưng cho đến nay giới nghiên cứu văn học dân
gian các dân tộc thiểu số nước ta chưa có được những công trình tương tự về
chúng như cuốn sách của nhà nghiên cứu Vũ Anh Tuấn.
2.3. Những công trình sưu tầm, nghiên cứu về truyện thơ Nôm Lưu Tương
Đối với truyện thơ Nôm Tày Lưu Tương do Nông Phúc Tước và Bế Sĩ Uông
sưu tầm, biên dịch (NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội 2013) đến nay chúng tôi chưa
tìm thấy một công trình nghiên cứu cụ thể nào. Duy chỉ có bài viết Nét đặc trưng
văn hóa trong truyện thơ Nôm Tày đăng trong Tạp chí Văn học nghệ thuật số 394,
tháng 4/2017 của tác giả Cao Thị Hảo [17] có đoạn viết về Lưu Tương như sau: đó
là lòng mến khách, sẵn sàng sẻ chia, giúp đỡ những người gặp hoàn cảnh
khó khăn là một trong những nét đẹp truyền thống của người Tày. Trong các tác
phẩm truyện thơ Nôm, ta thường gặp sự tương thân tương ái giữa người
với người. Trong Lưu Tương, khi vua Sở chạy giặc Phàn, bị lạc ở trong rừng
phải vào một nhà dân xin được giúp đỡ:
Vua vào đứng dưới chân thang
gác
Chắp tay xin cô bác chủ nhà
Chủ nhà đã chân tình nói lời cảm thông:
Ai đã lìa gia chương đều thấu
Dẫu nghèo đói chẳng chối khách nhờ
Mời ông hãy lên nhà ngồi nghỉ
Chủ nhà lên tiếng giục vợ con:
Cơm nguội liệu có còn hay hết
Nếu hết thì bắc bếp nấu ngay
15


[57, tr.162]

16


Lời nói, cử chỉ của ông chủ nhà đối với vua Sở thể hiện tình cảm, việc làm
của người dân nơi rừng sâu bản vắng, luôn sẵn lòng giúp đỡ người hoạn nạn. Đó
cũng là tấm lòng, cử chỉ thường thấy trong sự ứng xử giữa người với người ở
đồng bào dân tộc Tày xưa nay.
Như vậy, nhìn lại việc nghiên cứu truyện thơ Nôm Tày, có thể thấy một bề
dày lịch sử đáng ghi nhận. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên
cứu chuyên biệt và hệ thống về truyện Lưu Tương. Do vậy, với tư cách là một
người Tày sống ở Bắc Kạn - nơi tác phẩm đã và đang được lưu truyền, chúng tôi
lựa chọn Nghiên cứu truyện thơ Nôm Tày Lưu Tương là đề tài nghiên cứu với
mong muốn góp phần nhỏ bé của mình trong việc bảo tồn và phát huy những
giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc trong bối cảnh hội nhập hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện luận văn này, người viết hi vọng có thể làm rõ được những giá trị
nổi bật về nội dung và nghệ thuật của truyện thơ Nôm Tày Lưu Tương, nhằm giới
thiệu đến đông đảo bạn đọc về một truyện thơ têu biểu của dân tộc Tày được
lưu truyền ở tỉnh Bắc Kạn hiện còn ít người biết đến. Qua đó, góp phần bảo
tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của người Tày trong thời kỳ
hội nhập và phát triển hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải những vấn đề lý luận, thực tễn liên quan đến khái niệm truyện
thơ Nôm Tày, quá trình hình thành và phát triển truyện thơ Nôm Tày, giới thiệu
những vấn đề về tác phẩm Lưu Tương: văn bản, biên dịch, quá trình xuất bản…
- Làm rõ những giá trị của tác phẩm trên phương diện nội dung và nghệ thuật.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là văn bản truyện thơ Nôm Tày Lưu
Tương.
4.2. Phạm vi nghiên cứu

17


Phạm vi nghiên cứu của luận văn này là vấn đề văn bản, giá trị nội dung và
giá trị nghệ thuật của truyện thơ Nôm Tày Lưu Tương (NXB Văn hóa dân tộc, Hà

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×