Tải bản đầy đủ

Văn tế Nôm nửa cuối thế kỷ XIX (Luận văn thạc sĩ)

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

ĐÀO VĂN HỢP

VĂN TẾ NÔM NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Thái Nguyên – 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

ĐÀO VĂN HỢP

VĂN TẾ NÔM NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mãsố: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Thị Tuyết Mai

Thái Nguyên – 2018


i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng. Các kết quả nghiên cứu trong luận
văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn

Đào Văn Hợp


ii

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban
Giám hiệu, Khoa Văn-Xã hội, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái
Nguyên và các thầy, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá
trình học tập.
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên
hướng dẫn – TS. Hoàng Thị Tuyết Mai đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo
trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã giúp
đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn

Đào Văn Hợp



iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................................ii
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề .................................................................................................................... 1
3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu..................................................................................... 9
3.1. Đối tượng nghiên cứu ..................................................................................................... 9
3.2. Mục tiêu nghiên cứu ....................................................................................................... 9
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 9
4.1.Nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................................................... 9
4.2. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................. 10
5. Phạm vi nghiên cứu ......................................................................................................... 11
6. Cấu trúc của luận văn....................................................................................................... 11
NỘI DUNG .......................................................................................................................... 12
CHƯƠNG I. BIẾN ĐỘNG LỊCH SỬ NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
CHUNG VỀ VĂN TẾ, VĂN TẾ NÔM .............................................................................. 12
1.1. Bối cảnh lịch sử nửa cuối thế kỷ XIX........................................................................... 12
1.1.1. Bối cảnh lịch sử quốc tế ............................................................................................. 12
1.1.2. Bối cảnh lịch sử trong nước ....................................................................................... 13
1.2. Những vấn đề chung về Văn tế ..................................................................................... 15
1.2.1. Định nghĩa về văn tế .................................................................................................. 15
1.2.2. Nguồn gốc của Văn tế ................................................................................................ 17
1.2.3. Đặc trưng thể loại của văn tế ..................................................................................... 18
1.3. Những vấn đề chung về Văn tế Nôm ............................................................................ 20
1.3.1. Khái lược về văn tế Nôm, nguồn gốc và đặc trưng thể loại ...................................... 20
1.3.2. Khái lược quá trình phát triển của Văn tế Nôm ........................................................ 21
1.3.3. Khái lược về chức năng và đặc điểm của văn tế Nôm ............................................... 25
CHƯƠNG II. VĂN TẾ NÔM NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX – TIẾNG KHÓC ĐA THANH30
2.1. Tiếng khóc bi hùng ....................................................................................................... 30
2.1.1. Những tiếng khóc thương đau đớn ............................................................................ 30
2.1.2. Ngợi ca vẻ đẹp anh hùng ........................................................................................... 35


iv

2.2. Tiếng khóc trữ tình ....................................................................................................... 41
2.2.1. Vẻ đẹp lúc sinh thời của người quá cố hiện lên qua tiếng khóc ................................ 41
2.2.2. Nỗi đau khi người thân ra đi...................................................................................... 43
2.3. Tiếng khóc trào phúng .................................................................................................. 45
2.3.1. Đả kích kẻ thù cùng bè lũ tay sai ............................................................................... 45
2.3.2. Tự trào lộng ............................................................................................................... 50
CHƯƠNG III. ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT CỦA VĂN TẾ NÔM NỬA CUỐI THẾ KỶ
XIX ...................................................................................................................................... 55
3.1. Sử dụng ngôn ngữ sáng tạo ........................................................................................... 55
3.2. Xây dựng hình tượng độc đáo....................................................................................... 66
3.3. Sử dụng giọng văn đặc sắc............................................................................................ 73
KẾT LUẬN.......................................................................................................................... 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................... 84
PHỤ LỤC 1 .......................................................................................................................... 91


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
- Văn học trung đại tồn tại và phát triển qua nghìn năm lịch sử, để lại
một di sản văn học đồ sộ, quý báu cho lịch sử văn học nước nhà. Văn tế là
một trong những thể loại văn học quan trọng trong di sản văn học đó. Đã có
một số công trình nghiên cứu đáng ghi nhận về văn tế nói chung, văn tế Nôm
nói riêng. Song, văn tế Nôm nửa cuối thế kỷ XIX cho đến nay vẫn là một
trong những mảnh đất văn học màu mỡ, giàu giá trị về nội dung và nghệ thuật
chưa được ai nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu. Đặc biệt là quá trình
dân tộc hóa và dân chủ hóa của Văn tế Nôm nửa cuối thế kỷ XIX. Vì vậy,
chúng tôi quyết định chọn đề tài “Văn tế Nôm nửa cuối thế kỷ XIX” để làm
sáng tỏ những giá trị về nội dung và nghệ thuật sâu sắc, độc đáo mà các tác
giả văn tế Nôm giai đoạn này đã để lại cho hậu thế chúng ta, góp phần hoàn
thiện hơn bức tranh nghiên cứu về văn tế nói chung, văn tế Nôm nói riêng.
- Việc nghiên cứu “Văn tế Nôm nửa cuối thế kỷ XIX” sẽ là một trong
những tiền đề thuận lợi giúp tôi và các đồng nghiệp của tôi hiện đang giảng
dạy Ngữ văn tại các trường Trung học phổ thông có cái nhìn hệ thống, chuyên
sâu mảng đề tài này, để có cách tiếp cận hợp lý, đúng đắn tác phẩm Văn tế
nghĩa sĩ Cần Giuộc. Đây sẽ là một trong những tài liệu bổ ích cho các bạn học
sinh, sinh viên.
2. Lịch sử vấn đề
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài, chúng tôi thấy thể loại
văn tế đã được xem xét ở các phương diện nguồn gốc, nội dung, nghệ thuật…
Tuy nhiên mức độ còn hạn chế. Số lượng tài liệu nghiên cứu liên quan cũng
còn khiêm tốn. Có một số công trình nghiên cứu của các tác giả như sau:


2

Dương Quảng Hàm trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu, Nxb Trẻ,
1943 cũng có nói định nghĩa về văn tế, các lối văn tế và trích dẫn một số bài
văn tế. Do tác giả là một trong những nhà nghiên cứu tiên phong về thể loại
này nên vấn đề nêu trong đó vẫn còn ngắn gọn và sơ lược.
Nguyễn Huyền Anh trong cuốn Việt Nam danh nhân tự điển do Hội
Văn hóa bình dân xuất bản năm 1960 cũng có các mục nói về tác giả và tác
phẩm của một số bài văn tế. Trong cuốn tự điển có bảy mục nói về tác giả, tác
phẩm văn tế. Do tính chất của một cuốn tự điển, tác giả chú trọng nhiều hơn
đến việc giới thiệu các tác giả, tác phẩm văn tế nên không có phần nào dành
cho việc nghiên cứu.
Trong cuốn Văn tế cổ và kim của tác giả Phong Châu – Nguyễn Văn
Phú, Nxb Văn hóa – Viện văn học, 1960 đã dành ra phần đầu để giới thiệu
qua một số đặc điểm về nội dung và hình thức nghệ thuật của văn tế. Về nội
dung, tác giả đã nói lên sự phát triển của văn tế đi từ đơn giản đến việc thể
hiện tình cảm mang tính chất xã hội, chứa đựng được cả một tinh thần nhân
đạo lớn lao. “Trong sự tiếc thương và ca ngợi công đức người quá cố, tác giả
các bài văn tế đã lồng vào để nói lên tâm trạng của mình trước thời cuộc. Cái
khóc ở đây không còn ở mức thuộc tình cảm cá nhân mà đã có tính chất xã
hội. Đó là cái khóc uất ức về nỗi nước mất nhà tan, nhân dân đồ thán, khóc
tiếc thương người hy sinh vì nghĩa lớn đồng thời cũng là nguyền rủa sự bóc
lột hà khắc, đàn áp tàn bạo của giai cấp thống trị, của kẻ thù”[5; 3]. Về hình
thức, văn tế được làm theo nhiều thể khác nhau như: thể phú, thể đường luật,
thể văn xuôi, văn vần… “Nghệ thuật văn tế mang rất nhiều dân tộc tính và về
mặt hình thức cũng có những nét riêng không đến nỗi quá gò bó như phú. Do
đó khả năng miêu tả, biểu hiện tình cảm cũng có phần nào được khoáng đạt
hơn”[5; 4]. Nhìn chung đây là một ý kiến quí báu, song chưa có cái nhìn toàn
diện về văn tế. Điều đáng chú ý là quyển sách này có tới 67 bài văn tế, đó là
tài sản tư liệu văn học vô giá cho hậu thế chúng ta.


3

Nguyễn Lộc trong giáo trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII
nửa đầu thế kỷ XIX, xuất bản năm 1976 có trích dẫn một số bài văn tế và nêu
lên những nhận xét xác đáng về từng tác phẩm. Ngoài ra, cuốn giáo trình Văn
học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX cùng xuất bản năm 1976, ông cũng nhắc
đến một số tác giả và tác phẩm văn tế tiêu biểu và đưa ra một số nhận định có
tính khái quát hơn về văn tế: Văn tế là một trong những thể loại “có tính chất
đại chúng, sáng tác nhanh phục vụ kịp thời”, văn tế là một trong những thể
loại “phát triển nhất của giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, văn tế thích hợp
trong việc diễn đạt những tình cảm lớn”[26; 27]. Tác giả cũng mạnh dạn đưa
ra những nhận định về hạn chế trong tư tưởng yêu nước của Nguyễn Đình
Chiểu là có hiện tượng chuyển từ tin tưởng hy vọng sang bi quan, thất vọng.
Tuy nhiên, tác giả chỉ bày tỏ sự cảm thông với Nguyễn Đình Chiểu mà chưa
đưa ra lý giải thỏa đáng cho hiện tượng trên.
Giáo trình Cơ sở ngữ văn Hán Nôm, Lê Trí Viễn chủ biên, Nxb Giáo
dục, năm 1986 cũng có một số dòng giới thiệu ngắn gọn, đề cập đến vấn đề
nội dung, nghệ thuật, thể tài của văn tế. Về nội dung, tác giả nhận định: Vì
mục đích của văn tế là nêu lên tính tình, công đức của người chết và tỏ lòng
thương tiếc của người sống nên nội dung văn tế coi như bị mục đích hạn chế,
văn tế nào cũng lấy cuộc đời người quá cố làm đối tượng, nên cái khác nhau
giữa những bài văn tế chỉ là sự khác nhau ở con người cụ thể, người đã chết,
người còn sống, và quan niệm giữa kẻ chết, người sống. Nhận định trên đúng
nhưng chưa đủ. Bởi vì, về mặt công thức, văn tế nào cũng lấy cuộc đời người
quá cố làm đối tượng, chỉ là nói về mặt công thức. Nhưng cuộc đời người quá
cố lại không ai giống ai thì đương nhiên việc diễn đạt trong văn tế cũng khác
nhau. Nghệ thuật diễn đạt văn tế cũng có nhiều dạng. Cho nên, nhận định trên
là chưa nhìn vấn đề một cách toàn diện.
Nhiều vấn đề thuộc về thể loại văn tế đã được Phạm Thế Ngũ trình bày
trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 2, Nxb Đồng Tháp, 1997.


4

Tác giả đã đưa ra nhiều lời bình và lời trích có giá trị về thể tài, vai trò, ý
nghĩa của văn tế. Về thể tài, ông cho rằng: văn tế có vần ở cuối nên có thể xếp
vào văn vận, và vì có đối nên cũng có thể xếp vào biền văn. Nói về sự phát
triển của văn tế, ông cho rằng, văn tế phát triển cao vào thời Tây Sơn. Tuy
nhiên về nhận định trên còn có rất nhiều những ý kiến khác nhau. Theo chúng
tôi, đó là nhận định chưa xác đáng.
Trong Đặc trưng thể loại của văn tế, Ngô Gia Võ, tạp chí Hán Nôm, số
1 năm 1998, sau khi nhắc lại một số thể loại chung của văn tế đã được công
bố và thừa nhận như: đối tượng, nội dung cơ bản, phương thức biểu cảm, thể
tài văn học, giá trị văn học, tác giả trình bày thêm một đặc trưng thể loại quan
trọng, đặc trưng này nằm ở ý thức và mục đích sáng tác của tác giả văn tế:
Mục đích của văn tế là viết để tế người chết, sau đó là người sống. Mặc dù
vậy, sự chi phối tâm lý sáng tạo và không gian nghệ thuật riêng của văn tế vẫn
là những cái có đầy đủ giá trị. Song, chúng tôi nghĩ rằng, vấn đề tác giả đưa ra
vẫn chủ yếu ở bình diện khái quát, chưa chi tiết và thuyết phục.
Giáo trình Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XX của Nguyễn
Phạm Hùng, Nxb ĐHQG Hà Nội xuất bản năm 2001 là quyển giáo trình viết
về Văn học Việt Nam theo thể loại. Quyển sách cũng đã trình bày khá đầy đủ
các thể loại tiêu biểu cho từng thời kì, trong đó có thể loại văn tế. Ông đã đưa
ra nhận định của mình về văn tế, cho rằng Nguyễn Đình Chiểu là tác giả nổi
tiếng nhất về văn tế và giới thiệu một số bài văn tế của tác giả này.
Với cách tiếp cận văn hóa học, Trần Nho Thìn đã có nhiều công trình
viết về văn học thế kỷ XVIII – XIX. Những công trình đó đã giúp chúng tôi
hiểu hơn quan niệm về cái chết trong văn học giai đoạn này. Công trình Văn
học trung đại Việt nam dưới góc nhìn văn hóa với những bài viết về Nguyễn
Du và Truyện Kiều như: Triết lý Truyện Kiều trong bối cảnh văn hóa xã hội
Việt Nam cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX; Nhân vật Truyện Kiều và vấn đề
tiếp cận nhân học văn hóa; Trần Nho Thìn đã đi sâu vào phân tích giá trị to


5

lớn của Truyện Kiều với một góc nhìn mới. Vấn đề cái chết lần đầu tiên được
định danh, nằm trong hệ thống các phạm trù giá trị văn hóa khi ông tiến hành
phân tích nhân vật trong Truyện Kiều với cách tiếp cận nhân học văn hóa với
hai khái niệm “Thân” và “Tâm”. Đây là một trong những tài liệu quan trọng
để chúng tôi tham khảo trong phần triển khai luận văn của mình. Qua những
tranh cãi khen chê trái chiều về nhân vật Kiều của các nhà Nho thời trung đại,
đặc biệt là chuyện Kiều không tự tử, chết để bảo toàn danh tiết theo quan
điểm truyền thống của Nho giáo, Trần Nho Thìn đã chỉ ra sự phân hóa quan
điểm đạo đức trong văn học thời kỳ trung đại về vấn đề cái chết. Bài viết còn
cung cấp những đánh giá và phân tích cụ thể về tiến trình vận động của quan
niệm về cái chết trong lịch sử tư tưởng và văn học trung đại.
Phạm Tuấn Vũ trong bài Cảm nhận về Văn tế Trương Quỳnh Như đăng
trên Tạp chí Văn học và tuổi trẻ, tập 64 năm 2001, đã có những nhận định khá
sắc sảo về giá trị của tác phẩm này, đồng thời người viết đã khai thác sự độc đáo
về nghệ thuật thể hiện của Phạm Thái trong cách tổ chức lời văn, sử dụng hình
ảnh và dùng phép đối xứng.
Đề tài Văn học quốc ngữ nửa sau thế kỷ XIX của Lại Văn Hùng – Chủ
nhiệm đề tài, Viện văn học Hà Nội năm 2010 đã trình bày khá đầy đủ về nội
dung và nghệ thuật của văn học quốc ngữ Nôm, văn học quốc ngữ La – tinh,
cùng với việc tuyển chọn những tác giả, tác phẩm tiêu biểu của thời kì văn
học này. Khi viết về thể loại Văn tế Nôm, nhóm tác giả đã nhận định “Văn tế
giai đoạn này hầu hết là văn tế phỏng theo thể phú. Cho nên, có người coi
văn tế là một biến thể của phú như Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn
Đình Chiểu, văn tế Nguyễn Tri Phương của Nguyễn Đôn Tiết, Văn tế Cao
Thắng của Võ Phát… Ngoài ra còn có những bài văn tế làm bằng thể luật
Đường như Văn tế Trương Công Định của Nguyễn Đình Chiểu, thể song thất
lục bát như bài Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến. Trong lịch sử văn
học Việt Nam, có lẽ chưa bao giờ thể loại văn tế được sáng tác nhiều và có số


6

lượng người tiếp nhận đông đảo như ở giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX.” [18;
89]. Đây là những gợi ý quý báu cho luận văn tiếp tục triển khai nghiên cứu.
Tác giả Hoàng Thị Tuyết Mai trong bài viết Thi pháp hoàng gia của
văn học thời Hồng Đức đăng trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An số 225 đã đi sâu
tìm hiểu và đề cập đến phương thức sáng tác văn học chữ Nôm thời Hồng
Đức với đại diện tiêu biểu là Lê Thánh Tông. Ở nội dung thứ 4 “Văn Nôm
biền ngẫu trong Thập giới cô hồn quốc ngữ văn – Nôm hóa cách thức thìn
giới”, tác giả bài viết chủ yếu khai thác ở mặt hình thức, kết cấu thơ văn Nôm
biền ngẫu, từ việc sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu, cách kết thúc mỗi đoạn bằng
những bài kệ, sử dụng điển cố, điển tích, cách sử dụng phép đối, sử dụng hình
ảnh, sáng tạo thanh luật, để đi đến khẳng định Thập giới cô hồn quốc ngữ văn
“là bước tiến về ngôn ngữ và thể loại của văn học Nôm trong diễn trình văn
học Nôm dân tộc” [60; 29]. Theo đó ta thấy, toàn bộ bài viết tập trung phân
tích, làm rõ các khía cạnh về mặt nghệ thuật cũng như những đóng góp to lớn
của Lê Thánh Tông đối với việc phát triển của văn Nôm nước nhà. Vấn đề về
nội dung các tác phẩm văn tế nói chung và Thập giới cô hồn quốc ngữ văn nói
riêng ít được nhắc đến trong bài viết này.
Một bài viết khác của tác giả Hoàng Thị Tuyết Mai: Biền văn Nôm (qua
Thập giới cô hồn quốc ngữ văn) – một di sản văn hóa phi vật thể đăng trên
Tạp chí Di sản văn hóa số 4 đề cập đến phương diện nghệ thuật trong Thập
giới cô hồn quốc ngữ văn. Ở bài viết này, tác giả đã cho người đọc thấy được
tác dụng của việc sử dụng thể biền văn trong việc truyền tải nội dung tác
phẩm. Tác giả đã tỉ mỉ làm rõ tác dụng của từng biện pháp nghệ thuật trong
tác phẩm. Theo tác giả “Thập giới cô hồn quốc ngữ văn sử dụng hầu hết các
phép đối của cổ nhân một cách khá linh hoạt, cân đối, mực thước và điền
nhã” [61; 87], các cặp đối hoàn chỉnh đã cho ta cái nhìn sắc nét về từng giới
người trong xã hội cũ, đồng thời làm nổi bật dấu ấn của tác giả, đó là “con


7

người trần thế với tâm hồn nhạy cảm, biết sẻ chia với kiếp người trong cuộc
thế vốn lắm khổ đau, nhiều thăng trầm” [61; 89]. Bên cạnh đó, tác giả cũng
cho người đọc thấy được khả năng dụng điển tài hoa của Lê Thánh Tông và
thanh luật hài hòa trong tác phẩm. Tác giả nêu rõ việc sử dụng thanh luật
trong tác phẩm: “Cách vận dụng linh hoạt, sáng tạo thanh luật, việc lựa chọn
hình ảnh, ví von, so sánh hết sức sắc sảo, chân thực và đầy tính thẩm mĩ, biền
văn Nôm trong Thập giới cô hồn quốc ngữ văn có sức ám ảnh, sức lôi cuốn
người đọc, sức cảm và sức lay động sâu sắc tới những ai từng lật giở những
trang biền văn Nôm vào loại tương đối cổ này” [61; 90]. Bài viết đã cho
người đọc thấy rõ thành công trong việc sử dụng biền văn của tác giả, từ đó
cho ta thấy Thập giới cô hôn quốc ngữ văn là một áng văn Nôm mẫu mực và
đặc sắc.
Trong khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Mười, Khoa Văn –
Xã hội, Trường Đại học khoa học – Đại học Thái Nguyên đã tập trung nghiên
cứu đề tài Quan niệm về cái chết trong Văn tế trung đại Việt Nam từ thế kỉ X
đến thế kỉ XIX, năm 2012, cũng đưa ra những nhận định rất xác đáng về Văn
tế giai đoạn này: “ văn tế Việt Nam cả nội dung và hình thức đều có những
thay đổi đáng kể và có nhiều thành tựu. Nhiều bài văn tế lấy đề tài từ các
quan hệ xã hội, thể hiện những tình cảm ở một tầm độ mới. Đây là thời kì đời
sống lịch sử chính trị, đời sống tư tưởng Việt Nam có những biến động sâu
sắc. Đây là thời kì có thế năng lớn cho việc mở rộng ý nghĩa xã hội của văn
tế. Hình ảnh người tướng sĩ, nghĩa sĩ trong các bài văn tế thời kì này là rất
phổ biến. Đến thời kì này có thể nói chính những người dân vô danh, thân
phận thấp hèn trong cơn khủng hoảng của lịch sử đã vụt đứng dậy thành
những anh hùng giữ nước. Họ theo đạo lý chết vinh hơn sống nhục, chết cho
nòi giống được thuần khiết”[69; 38]. Về phương diện nghệ thuật, khóa luận
cũng đề cập đến Văn tế trung đại Việt Nam được làm theo lối phú Đường


8

luật, và các thể khác như song thất lục bát, lối tán, văn vần hoặc văn xuôi.
Song, khóa luận chưa tập trung đi sâu tìm hiểu một cách hệ thống Văn tế
Nôm nửa cuối thế kỷ XIX.
Trong luận văn Thạc sĩ của Huỳnh Văn Minh, Khoa Văn học, Trường
Đại học khoa học xã hội và nhân văn – Đại học quốc gia Hà Nội đã nghiên
cứu đề tài Tìm hiểu đặc điểm của Văn tế Nôm và chữ Nôm qua một số bài Văn
tế thế kỷ XVIII-XIX. Luận văn cũng đã nghiên cứu khá rõ ràng, sâu sắc về khái
niệm, thể loại, phạm vi, đối tượng, chức năng, đặc điểm về nội dung và nghệ
thuật của Văn tế Nôm. Đặc biệt, tác giả đã đi sâu khảo cứu chữ Nôm trong
văn bản Văn tế Nôm thế kỷ XVIII-XIX một cách tỉ mỉ để thấy được những
nét riêng về chữ Nôm qua một số bài Văn tế trong giai đoạn này. Song, những
vấn đề về giá trị nội dung và nghệ thuật của Văn tế Nôm nửa cuối thế kỷ XIX
vẫn chỉ nghiên cứu ở mức khái quát, sơ lược.
Luận văn Thạc sĩ của Đinh Thị Thu Hằng, Khoa Ngữ văn, Trường Đại
học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu đề tài Đặc trưng nghệ
thuật của Văn tế Nôm trung đại. Luận văn đã nghiên cứu khá rõ nét về chức
năng, đặc điểm, quá trình phát triển của Văn tế Nôm trung đại; hình tượng
con người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ, thể tài, kết
cấu và giọng điệu của Văn tế Nôm trung đại. Song, nội dung nghiên cứu về
Văn tế Nôm nửa cuối thế kỷ XIX về nội dung và nghệ thuật còn sơ sài, chưa
đầy đủ, hệ thống.
Tóm lại, qua tìm hiểu chúng tôi thấy những nghiên cứu về văn tế còn
rất rải rác, chưa đầy đủ, sâu sắc, một số nhận định còn phiến diện, hoặc chỉ
nhìn ở một bộ phận nhỏ của văn tế. Đặc biệt chưa có tài liệu nào nói về Văn tế
Nôm nửa cuối thế kỷ XIX một cách chuyên sâu và hệ thống. Đây là một đề tài
mới, chưa có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu với cấp độ và quy trình
tương tự. Dù vậy, chúng tôi cũng thừa nhận đã tiếp thu không ít những thành
quả của các nhà nghiên cứu đi trước.


9

Chúng tôi hy vọng rằng đề tài này sẽ góp phần nhỏ bé vào việc nghiên
cứu một cách cụ thể và đầy đủ hơn vấn đề Văn tế Nôm nửa cuối thế kỷ XIX.
3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các bài văn tế Nôm tiêu biểu nửa cuối thế kỷ XIX (23 bài)
3.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Luận văn tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử thế giới và
Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX; những vấn đề chung về văn tế, văn tế Nôm
thời trung đại để có cái nhìn khách quan, toàn diện, phát hiện ra những giá trị
độc đáo, mới mẻ của văn tế Nôm nửa cuối thế kỷ XIX.
- Luận văn tiến hành nghiên cứu những giá trị về nội dung và nghệ
thuật của văn tế Nôm nửa cuối thế kỷ XIX (nghiên cứu 23 bài văn tế tiêu biểu
của giai đoạn này) để thấy được vai trò, đóng góp to lớn của văn tế Nôm giai
đoạn này cho văn tế Nôm nói riêng, văn tế và văn học trung đại nói chung.
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu về hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội giai đoạn nửa cuối thế
kỷ XIX.
- Nghiên cứu quá trình phát triển, những đặc điểm cơ bản của Văn tế,
Văn tế Nôm trung đại Việt Nam.
- Nghiên cứu quá trình phát triển, những đặc điểm cơ bản của văn tế
Nôm giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX .
- Nghiên cứu những giá trị về nội dung và nghệ thuật của văn tế Nôm giai
đoạn này.


10

4.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu một đối tượng văn học là một trong những công việc khó,
đòi hỏi người nghiên cứu phải có tinh thần làm việc nghiêm túc, khoa học,
công phu, sáng tạo, phải có một phông nền kiến thức văn hóa và văn học nhất
định …Một trong những yếu tố làm nên sự thành công của một công trình
khoa học văn học là người nghiên cứu phải hiểu rõ và sử dụng hiệu quả
những phương pháp nghiên cứu văn học của những nhà nghiên cứu đi trước.
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, chúng tôi đã sử dụng những phương
pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp xã hội học văn học: Phương pháp xã hội học văn học có
nhiệm vụ tìm hiểu các mối quan hệ giữa văn học với xã hội và xã hội ngôn
ngữ, đặt văn học trong bối cảnh hiện thực xã hội để lí giải, phân tích. Cách
tiếp cận này dựa trên những tri thức và các thao tác của xã hội học, nhìn nhận
vấn đề mang tính khách quan hơn và khoa học hơn.
- Phương pháp nghiên cứu văn học sử: Đặt vấn đề nghiên cứu trong
cái nhìn lịch sử. Từ lịch sử đưa ra những vấn đề để luận giải, tìm ra nguồn
gốc, căn nguyên của các hiện tượng, vấn đề.
- Cách tiếp cận liên ngành đối với vấn đề nghiên cứu: đây là cách tiếp
cận, xem xét đối tượng từ góc độ liên ngành để tìm ra các điểm nhìn toàn diện
và đảm bảo được tính chính xác cho các nhận định đưa ra. Trong luận văn,
chúng tôi có đặt vấn đề mối liên hệ giữa văn và sử.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Phương pháp nghiên cứu này
được sử dụng để nghiên cứu những tác giả, tác phẩm cụ thể, có tính đại diện.
- Phương pháp thi pháp học: được vận dụng xuyên suốt trong luận văn
nhằm minh họa cụ thể, sinh động những đặc trưng nghệ thuật của văn tế Nôm
nửa cuối thế kỷ XIX. Đây sẽ là nền tảng thuyết phục cho những nhận định


11

mang tính khái quát của từng đặc trưng nghệ thuật trong các chương, các
phần khác nhau.
5. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu văn tế Nôm nửa cuối thế kỷ XIX (khoảng những năm 1858
đến 1900), chúng tôi tập trung nghiên cứu hoàn cảnh lịch sử Việt Nam và thế
giới nửa cuối thế kỷ XIX để thấy được sự tác động của hoàn cảnh lịch sử giai
đoạn này đối với văn tế Nôm nửa cuối thế kỷ XIX. Bên cạnh đó, chúng tôi
nghiên cứu những vấn đề chung của văn tế, văn tế Nôm để có định hướng
đúng đắn khi nghiên cứu văn tế Nôm giai đoạn này. Phần quan trọng nhất của
luận văn là chúng tôi nghiên cứu 23 bài văn tế Nôm tiêu biểu giai đoạn nửa
cuối thế kỷ XIX để thấy được những giá trị sâu sắc, độc đáo, những đóng góp
quan trọng về nội dung và nghệ thuật của văn tế Nôm nửa cuối thế kỷ XIX
đối với văn tế nói riêng, nền văn học nước nhà nói chung.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn sẽ
gồm có 03 chương với những vấn đề cơ bản sau:
Chương 1. Biến động lịch sử nửa cuối thế kỷ XIX và những vấn đề
chung về Văn tế, Văn tế Nôm
Chương 2. Văn tế Nôm nửa cuối thế kỷ XIX – tiếng khóc đa thanh
Chương 3: Đặc sắc nghệ thuật của Văn tế Nôm nửa cuối thế kỷ XIX


12

NỘI DUNG
CHƯƠNG I. BIẾN ĐỘNG LỊCH SỬ NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN TẾ, VĂN TẾ NÔM
1.1. Bối cảnh lịch sử nửa cuối thế kỷ XIX
1.1.1. Bối cảnh lịch sử quốc tế
Từ những năm 60 của thế kỷ XVIII, cách mạng công nghiệp đã làm cho
sản xuất phát triển nhanh chóng, của cải ngày càng dồi dào. Công nghiệp hóa diễn
ra đầu tiên ở Anh, sau đó nhanh chóng phát triển ở nhiều nước châu Âu. Cách
mạng công nghiệp đã làm thay đổi bộ mặt của các nước tư bản: nhờ phát minh
máy móc, nhiều khu công nghiệp lớn, nhiều thành phố mọc lên, thu hút dòng
người từ nông thôn đến tìm việc làm, hàng hóa ngày càng nhiều, vv…
Bên cạnh những mặt tính cực mà cuộc cách mạng công nghiệp đem lại
cho châu Âu nói riêng, thế giới nói chung, nó đã tạo ra những hậu quả lớn. Về
mặt xã hội, là sự hình thành mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa hai giai cấp cơ
bản của xã hội tư bản: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản; về mặt chính trị, xã
hội tư bản đã hình thành Chủ nghĩa đế quốc thực dân. Trong thời kì cách
mạng công nghiệp, kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Anh, Pháp, Tây Ban Nha…
phát triển nhanh chóng làm tăng nhu cầu tranh giành thị trường, đẩy mạnh
việc xâm lược các nước trên thế giới nhằm vơ vét, bóc lột sức người sức của
của các nước thuộc địa, đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa công
nghiệp ở chính quốc. Đông Nam Á nằm giữa Ấn Độ và Trung Quốc, tiếp giáp
với Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, có một vị trí chiến lược quan trọng
và giàu tài nguyên, nên sớm bị tư bản phương Tây nhòm ngó. Năm 1824, Anh
bắt đầu xâm lược Miến Điện; đến cuối thế kỷ XIX, hoàn thành công cuộc
chinh phục nước này. Năm 1858, các nước Việt Nam, Cam-pu-chia, Lào lần
lượt bị Pháp đô hộ, Xiêm trở thành nơi tranh chấp thế lực giữa Anh và Pháp.
Châu Phi vào nửa đầu thế kỷ XIX còn là một lục địa bí hiểm đối với các nước


13

tư bản phương Tây, các nước này mới đặt được một số căn cứ thương mại ở
ven biển. Đến nửa sau thế kỷ XIX, thực dân phương Tây mới tìm cách đi sâu
vào đất liền. Kết quả là, hầu hết các nước châu Á, châu Phi lần lượt trở thành
thuộc địa hoặc phụ thuộc của thực dân phương Tây.
1.1.2. Bối cảnh lịch sử trong nước
Âm mưu xâm lược của tư bản Pháp đối với Việt Nam lâu dài và liên tục,
bắt nguồn từ những năm đầu thế kỷ XVII, và ngày càng được xúc tiến một cách
mạnh mẽ. Đặc biệt từ giữa thế kỷ XIX, chúng liên tiếp “tạo cớ” để tiến hành
cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam: phản đối triều đình nhà Nguyễn ngăn cản
“truyền bá văn minh công giáo”, không tiếp nhận quốc thư của Pháp, “làm nhục
quốc kì” Pháp…Đến chiều ngày 31 tháng 8 năm 1858, thực dân Pháp cùng liên
quân Tây Ban Nha đã bất ngờ nổ súng tấn công bán đảo Sơn Trà – Đà Nẵng, sau
đó chúng lần lượt tấn công 3 tỉnh miền Đông, 3 tỉnh miền Tây Nam Bộ. Chiến
tranh ngày càng lan rộng ra miền Trung, miền Bắc. Đến khoảng năm 1884, về
cơ bản, triều đình nhà Nguyễn đã chính thức thừa nhận Việt Nam là thuộc địa
của thực dân Pháp.
Tư bản Pháp lăm le nổ súng xâm lược đúng vào lúc chế độ phong kiến
Việt Nam đang đi sâu vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng. Chế độ phong
kiến Việt Nam đã khủng hoảng nặng từ cuối thế kỷ XVIII. Song, để duy trì
chế độ phong kiến của mình nhằm bảo vệ đặc quyền đặc lợi, phong kiến nhà
Nguyễn đã ra sức củng cố trật tự bằng mọi cách. Đối nội, chúng ra sức đàn áp
khủng bố các phong trào của quần chúng, huy động những lực lượng quân sự
to lớn vào việc dập tắt các cuộc khởi nghĩa nông dân trong biển máu. Đối
ngoại, chúng ra sức đẩy mạnh thủ đoạn xâm lược đối với các nước láng giềng
như Cao Miên, Lào làm cho quân lực bị tổn thất, tài chính quốc gia và tài lực
nhân dân bị khánh kiệt. Còn đối với các nước tư bản phương Tây thì chúng
thi hành ngày một thêm gắt gao chính sách bế quan tỏa cảng và cấm đạo, giết


14

đạo. Trước âm mưu xâm lược ngày càng ráo riết của bọn tư bản nước ngoài –
nhất là tư bản Pháp – phong kiến nhà Nguyễn tưởng làm như vậy là tránh
được nạn lớn. Trái lại, càng đóng chặt cửa và càng cấm đạo, giết đạo, lại càng
tạo thêm lí do cho thực dân Pháp nổ súng xâm lược sớm hơn mà thôi.
Chiều ngày 31 tháng 8 năm 1858, liên quân Pháp – Tây đã kéo tới dàn
trận tại cửa biển Đà Nẵng (Quảng Nam). Mờ sáng hôm sau (ngày 1-9-1858),
chúng đã cho người đưa tối hậu thư buộc trấn thủ Trần Hoàng phải trả lời
ngay trong vòng hai giờ. Không đợi hết hạn, chúng đã ra lệnh cho tàu chiến
bắn đại bác lên các đồn Điện Hải, An Hải của triều đình suốt trong ngày hôm
đó. Tiếp sau, chúng cho quân đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà. Ngày 9-2-1859, hạm
đội Pháp tập trung đầy đủ ở Vũng Tàu. Sáng hôm sau (mồng 10 tháng 2),
chúng bắt đầu công phá các pháo đài Phúc Thắng, Lương Thiện, Phúc Mĩ,
Danh Nghĩa thuộc các tỉnh Biên Hòa, Gia Định, có nhiệm vụ bảo vệ đường
thủy vào Gia Định. Sau đó, tàu chiến giặc ngược sông Cần Giờ, vừa tiến vừa
bắn phá các đồn hai bên bờ.
Trong khi triều đình hoang mang dao động thì nhân dân cả nước đã
ngay từ đầu sôi nổi chống giặc. Điển hình có các cuộc nổi dậy của Trương
Định ở Gò Công, Gia Định, Chợ Lớn, Tân An từ năm 1860 đến năm 1864; kế
đó là Võ Duy Dương ở Đồng Tháp Mười từ năm 1865 đến năm 1866;
Nguyễn Trung Trực ở Tân An và Rạch Giá từ năm 1861 đến năm 1868.
Ngoài ra, rất nhiều văn thân khác cũng tự động mộ quân chống Pháp, phối
hợp tác chiến với nghĩa quân Trương Định. Ngoài Bắc có Hoàng Tá Viêm
đóng quân ở Sơn Tây, củng cố lưc lượng đánh Pháp. Nhân dân Hà Nội, Sơn
Tây cũng nhất tề hưởng ứng nên địch rất lo sợ. Hưởng ứng “chiếu Cần
Vương” do Tôn Thất Thuyết khởi xướng, nhân dân ta ở khắp nơi, dưới sự
lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước đã sôi nổi đứng lên chống Pháp. Tiêu biểu là
các cuộc khởi nghĩa: ở Bình Định có khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng; ở
Quảng Bình có khởi nghĩa của Lê Trực và Nguyễn Phạm Tuân; ở Hải Dương


15

có khởi nghĩa của Nguyễn Thiện Thuật; ở Bắc Giang có khởi nghĩa Yên Thế;
ở Hưng Yên có khởi nghĩa Bãi Sậy; ở Thanh Hóa có khởi nghĩa Ba Đình,…
Mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế về tư tưởng và tổ chức nên các cuộc khởi
nghĩa trên đã lần lượt bị thất bại, song các phong trào đấu tranh vũ trang của
nhân dân khắp cả nước giữ một vị trí, ý nghĩa quan trọng trong phong trào
chống thực dân Pháp xâm lược nửa cuối thế kỉ XIX của nhân dân ta.
Tóm lại, bối cảnh lịch sử quốc tế và trong nước nửa cuối thế kỷ XIX đã
ảnh hưởng lớn tới đất nước và con người Việt Nam. Từ 31-8-1858, thực dân
Pháp đã xâm lược Việt Nam, biến nước ta từ một nước độc lập trở thành một
nước thuộc địa nửa phong kiến, từ một nước hòa bình trở thành một nước chìm
trong máu lửa chiến tranh, nhân dân ngày càng đói khổ lầm than, một cổ hai
tròng (thực dân Pháp và phong kiến tay sai). Đứng trước nỗi thống khổ ấy, nhiều
cuộc khởi nghĩa đánh đuổi thực dân Pháp đã nổi dậy khắp cả nước, nhất thời đã
làm cho kẻ thù phải run sợ. Song, trong hoàn cảnh đó, kẻ thù được trang bị vũ
khí hiện đại, khoa học kĩ thuật tiên tiến nên đã nhanh chóng dập tắt, nhấn chìm
các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta trong biển máu. Trong hoàn cảnh thẫm đẫm
nước mắt ấy, các bài văn tế Nôm nửa cuối thế kỷ XIX đã ra đời.
1.2. Những vấn đề chung về Văn tế
1.2.1. Định nghĩa về văn tế
Cho đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa về Văn tế, song xung quanh
những định nghĩa này vẫn còn nhiều vấn đề chưa thống nhất của các nhà
nghiên cứu văn tế. Chúng ta đã có một số định nghĩa tiêu biểu sau:
Trong Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm định nghĩa “Văn tế
(chữ nho là tế văn) là một bài văn đọc lúc tế một người chết để kể tính nết,
công đức của người ấy và tỏ lòng kính trọng thương tiếc của mình” [15; 131].
Khái niệm này ngắn gọn, đúng đắn, song chưa bao quát được toàn bộ mục


16

đích, đối tượng, nội dung, nghệ thuật của văn tế. (Thực tế nhiều bài văn tế
sống đã ra đời?).
Trong Văn tế cổ và kim do Phong Châu và Nguyễn Văn Phú sưu tầm,
chú thích và giới thiệu có đưa ra khái niệm về văn tế rộng hơn, đầy đủ hơn
khái niệm của Dương Quảng Hàm: Là “một loại văn trước kia chủ yếu dùng
vào việc hiếu để tỏ lòng thương tiếc hoặc ngợi ca công đức người đã chết (…)
Nghệ thuật văn tế mang rất nhiều dân tộc tính và về mặt hình thức cũng có
những nét riêng không đến nỗi quá gò bó như phú. Do đó khả năng miêu tả,
biểu hiện tình cảm cũng có phần nào được khoáng đạt hơn” [5; 3,4].
Trong Thơ ca Việt Nam – Hình thức và thể loại của Bùi Văn Nguyên
và Hà Văn Đức, có viết: “Theo sách Thọ Mai, thì “Văn tế” có một ý nghĩa rất
rộng, bao gồm nhiều loại văn dùng để tế thần, tế thánh, tế ma và cả loại văn
dùng để chúc mừng như chúc thọ, chúc việc thăng quan tiến chức… Dần dần,
từ “văn tế” dùng theo nghĩa hẹp, nghĩa là văn tế ma có mục đích kể tính nết,
công đức người chết và lòng thương mến của người sống đối với người chết
đó”[28; 332].
Trên cơ sở những nhận định nêu trên, chúng tôi xin được đưa ra nhận
định về văn tế như sau:
Văn tế là loại văn có nguồn gốc từ Trung Quốc, khi ra đời được dùng
vào việc tế lễ trời đất, thánh thần. Càng về sau, văn tế được dùng vào nhiều
mục đích, và cách diễn tả cũng ngày càng đa dạng, phong phú hơn. Bên cạnh
việc tế lễ trời đất, thánh thần, là loại văn thường được tuyên đọc trong ma
chay, cúng giỗ nhằm tái hiện cuộc đời người quá cố, biết ơn công đức của
người mất, qua đó tỏ lòng tiếc thương của người còn sống đối với người mất
(nếu đó là những người tốt), và ngược lại, văn tế cũng nhằm vạch trần, lên án,
bài trừ những thói hư tật xấu, con người xấu trong xã hội, thể hiện quan điểm
về con người, cuộc đời của người đứng tế trước mọi người.


17

1.2.2. Nguồn gốc của Văn tế
Văn tế có nguồn gốc từ Trung Hoa cổ đại, cho đến nay giới nghiên cứu
về văn tế vẫn chưa thể kết luận là nó ra đời vào thời điểm chính xác nào. Song
người ta đều thống nhất quan điểm văn tế ra đời vào thời kỳ nhà Hán, đánh
dấu bằng việc nhà vua đến tế ở núi Thái Sơn thì cho khắc bài văn tế lên ngọn
núi ấy. Mục đích, ý nghĩa đầu tiên của nó là luôn đi kèm với các hoạt động tế
lễ trời đất, thần linh để “cáo thần”, “hưởng thần” và “cầu xin phúc giáng”.
Các vị vua từ thời cổ đại cho đến thời phong kiến, dù ở Trung Quốc hay Việt
Nam cũng đều xem hoạt động tế lễ như là một hoạt động tất yếu hàng năm,
đặc biệt là những thời điểm bắt đầu một năm, một mùa, một vụ, một công
việc đại sự … và được ghi chép trong một phần của chính sử. Lúc mới ra đời,
văn tế chưa được coi là một văn bản nghệ thuật, chỉ là một văn bản dùng để tế
lễ. Càng về sau, cùng với sự phát triển về ý thức xã hội, sự mở rộng về đối
tượng, mục đích của văn tế, và sự đóng góp rất lớn của các tác giả văn tế những tâm hồn nghệ sĩ thực thụ đã nâng văn tế trở thành một thể loại văn học
với đúng những giá trị riêng biệt của nó về mục đích, đề tài, kết cấu, hình
tượng, phương thức thể hiện…
Văn tế vào Việt Nam bằng con đường “du nhập” từ văn tế Trung Quốc.
Cho đến nay cũng chưa ai khẳng định được bài văn tế đầu tiên ở nước ta là
bài nào. Song nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, bài văn tế bằng chữ Hán xuất
hiện sớm nhất có lẽ ở vào giai đoạn nhà Trần (thế kỷ XIII) với những bài như
Bài văn tế một vị công chúa của Mạc Đĩnh Chi. Có điều xoay quanh bài văn
tế này cũng còn khá nhiều giả thuyết khác nhau. Theo Bùi Văn Nguyên và Hà
Minh Đức trong Thơ ca Việt Nam – hình thức và thể loại thì đó lại là bài Văn
tế Hoàng hậu của Dương Ức đời Tống, văn bản hiện được tồn tại, ghi chép
trong Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn.


18

Giai đoạn từ nhà Lê (thế kỷ XVI) trở về sau, cùng với sự phát triển của
tinh thần thời đại, nội dung phản ánh của văn học nói chung ngày càng mở
rộng. Văn tế được chú ý hơn. Điểm qua giai đoạn này, ta thấy có các tác giả
và tác phẩm tiêu biểu như: Văn tế Nguyễn Bỉnh Khiêm của Đinh Thời Trung
(thế kỷ XVI), Văn tế Đoàn Thị Điểm của Nguyễn Kiều, Văn tế thập loại
chúng sinh của Nguyễn Du, Văn tế Trương Quỳnh Như của Phạm Thái… (thế
kỷ XVIII), Văn tế các tướng sĩ bỏ mình sau mấy trận đánh nhau với Pháp của
Lê Khắc Cẩn. Và rất nhiều tác giả, tác phẩm nổi tiếng về văn tế thế kỷ XIX
như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, vv…
Đến đầu thế kỷ XX, văn tế vẫn tồn tại và phát triển.
1.2.3. Đặc trưng thể loại của văn tế
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về cách phân chia thể loại của văn
tế. Theo Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại – về hình thức, văn tế được
quy vào hai loại: Văn tế thể tự do, Văn tế phỏng theo thể phú Đường luật.
Theo đó, Văn tế thể tự do là thể không gò bó theo một khuôn nào cả, dài ngắn
không nhất định, niêm luật không gò bó. Thể tự do có nhiều loại, hoặc theo
lối từ khúc như bài Văn tế hoàng hậu của Dương Ức đời Tống (Có người cho
là của Mạc Đĩnh Chi, nhân lúc đi sứ có làm bài văn này); hoặc theo lối lục
bát, như bài Chiêu hồn nước của Nguyễn Quyền; hoặc theo lối song thất lục
bát, như bài Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du; hoặc theo lối văn
xuôi như bài Văn tế Trương Quỳnh Như của Phạm Thái; hay bài Văn tế chị
của Nguyễn Hữu Chỉnh, Văn tế Ri – vi – e của Nguyễn Khuyến... Tóm lại,
văn tế theo thể tự do là loại văn tế được sáng tác dưới hình thức thơ (theo
nhiều thể khác nhau), hoặc dùng văn xuôi (chủ yếu là văn xuôi cổ) để sáng
tác, hoặc những biến thể của chính những thể thơ hay văn xuôi ấy. Hình thức
không gò bó, khá thoải mái, miễn là thể hiện được mục đích, đối tượng, nội
dung tế lễ một cách rõ ràng, cụ thể.


19

Điều đáng lưu ý là ngoài những bài văn tế được vận dụng theo các thể
thơ nêu trên, còn có rất nhiều bài văn tế được thể hiện bằng những hình thức
khác nhau, được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm dùng để viếng các bậc anh
hùng, nghĩa sĩ… nhưng ít thấy những nhà nghiên cứu nào xem nó thuộc về
thể loại “văn tế”. Một số bài được làm theo các thể Đường thi như Vãn
Nguyễn Duy – Định Biên tán lý được viết bằng chữ Hán của Nguyễn Thông;
một số bài “điếu” được viết bằng chữ Nôm của Nguyễn Đình Chiểu dùng để
khóc anh linh Trương Định (Điếu Trương Định), Phan Tòng (Điếu Phan
Tòng) lại được làm theo thể Thất ngôn luật thi. Và còn rất nhiều tác phẩm, tác
giả khác nữa đã được sưu tập trong Văn tế cổ và kim của Phong Châu và
Nguyễn Văn Phú, cùng các quyển sách khác. Xét về nội dung, mục đích, ý
nghĩa của những bài “điếu văn” nêu trên thì hoàn toàn có thể xem đó là những
bài văn tế thật sự. Đó cũng là một trong những tính chất “tự do” về mặt hình
thức của thể loại văn tế. Nói “tự do” là để đối lập với các bài văn tế được làm
theo lối phú với những khuôn mẫu đúc sẵn, những quy định về niêm luật chặt
chẽ, trong đó phú Đường luật là đại diện tiêu biểu cho thể loại này.
Phú là một thể loại văn học mà người Trung Hoa cổ đại đã sớm vận
dụng trong việc sáng tác văn chương. Theo các nhà nghiên cứu văn học Trung
Quốc, thể phú xuất hiện ở cuối giai đoạn Chiến quốc, và được định danh vào
thời nhà Hán. Phú chia làm hai loại: Phú cổ thể và phú cận thể. Phú cổ thể là
một thể loại được biến thể từ thơ cổ phong. Do vậy, phú cổ thể có kết cấu
theo lối mở, các đoạn mạch khá phóng túng, không chặt chẽ, có vần nhưng
không yêu cầu phải có đối, số vần cũng không gò bó theo một khuôn khổ nhất
định, chỉ cần có vần là được. Về số chữ trong mỗi dòng, có thể là bốn chữ,
năm chữ, bẩy chữ hoặc nhiều hơn theo lối trường đoản cú. Phú cận thể (phú
Đường luật) ra đời vào thời Đường, do đó mà người đời sau gọi là Đường
luật, phải tuân theo một số luật nhất định. Về phần vần có độc vận và liên vận.
Độc vận là trong suốt một bài Phú chỉ gieo một vần duy nhất, còn liên vận là


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×