Tải bản đầy đủ

Khoa luan Tot Nghiep 58QLC

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo
trong Bộ môn Quy hoạch đất đai, Khoa Quản lý đất đai; Ban Quản lý đào tạo
đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND xã Tân Sơn, huyện Mai Châu;
Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Mai Châu, Phòng Tài nguyên và Môi
trường huyện Mai Châu đã giúp đỡ, tạo điều kiện và cung cấp những số liệu,
tài liệu cần thiết để nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Đỗ Văn Nhạ người đã
dành nhiều thời gian tâm huyết, trực tiếp hướng dẫn tận tình, chỉ bảo và tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài và hoàn
chỉnh bản Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý đất đai.
Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên,
khích lệ, sẻ chia, giúp đỡ và đồng hành cùng tôi trong cuộc sống và trong quá
trình học tập, nghiên cứu./.
Hà Nội, ngày

tháng


Tác giả

Hà Thị Hiền

i

năm 2017


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN...........................................................................................................i
MỤC LỤC................................................................................................................ ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT...............................................................................v
DANH MỤC CÁC BẢNG......................................................................................vi
DANH MỤC CÁC HÌNH.....................................................................................vii
MỞ ĐẦU..................................................................................................................1

1.Tính cấp thiết của đề tài.............................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.................................................................2
3. Yêu cầu nghiên cứu của đề tài...................................................................2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀİ LİỆU.................................................................3

1.1. Cơ sở lý luận của quy hoạch xây dựng nông thôn mới..........................3
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản.................................................................3
1.1.2. Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới ở nước ta.....................6
1.1.3. Lý luận về quy hoạch xây dựng nông thôn mới...............................8
1.1.4. Nguyên tắc, nội dung và tiêu chí xây dựng nông thôn mới.............8
1.1.5. Vai trò của xây dựng nông thôn mới trong sự nghiệp phát triển
kinh tế- xã hội của đất nước....................................................................11
1.1.6. Căn cứ pháp lý lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới...............12
1.2. Cơ sở thực tiễn của quy hoạch xây dựng nông thôn mới.....................13
1.2.1. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về xây dựng nông thôn
mới...........................................................................................................13
1.2.2. Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.............................18
1.2.3. Tình hình quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Hòa Bình. 21
1.2.4. Tình hình quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại huyện Mai Châu
.................................................................................................................22
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......................24

ii




2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................24
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu....................................................................24
2.1.2. Phạm vi nghiện cứu.......................................................................24
2.2. Nội dung nghiên cứu............................................................................24
2.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Tân Sơn..............................24
2.2.2. Đánh giá tình hình quản lý sử dụng đất xã Tân Sơn, huyện Mai
Châu, tỉnh Hòa Bình................................................................................25
2.2.3. Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng Nông thôn mới
tại xã Tân Sơn..........................................................................................25
2.2.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thực hiện quy hoạch
xây dựng nông thôn mới..........................................................................25
2.3. Phương pháp nghiên cứu......................................................................25
2.3.1. Phương pháp điều tra thu thập số liệu..........................................25
2.3.2. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu..................................26
2.3.3. Phương pháp so sánh....................................................................26
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN.......................................................27

3.1. Đánh gıá các đıều kıện tự nhıên, kınh tế- xã hộı xã Tân Sơn...............27
3.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường...............................27
3.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội...........................................30
3.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã đối
với việc thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới......................35
3.2. Đánh giá tình hình quản lý sử dụng đất xã Tân Sơn, huyện Mai Châu,
tỉnh Hòa Bình..............................................................................................37
3.2.1. Tình hình quản lý đất đai..............................................................37
3.2.2. Tình hình biến động đất đai..........................................................41
3.2.3. Hiện trạng sử đất xã Tân Sơn năm 2016.......................................43
3.3. Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng Nông thôn mới Tân
Sơn – huyện Mai Châu – tỉnh Hòa Bình.....................................................46
3.3.1. Đánh giá tình hình thực hiện chương trình Nông thôn mới theo 19
tiêu chí.....................................................................................................46
iii


3.3.2. Khái quát về phương án quy hoạch xây dựng Nông thôn mới......57
3.3.3. Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng Nông thôn mới
.................................................................................................................60
3.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thực hiện quy hoạch xây
dựng Nông thôn mới trên địa bàn xã Tân Sơn...........................................69
3.4.1. Giải pháp về công tác triển khai quy hoạch..................................69
3.4.2. Giải pháp về vốn...........................................................................70
3.4.3. Công tác tuyên truyền, vận động...................................................70
3.4.4. Giải pháp về thị trường tiêu thụ....................................................71
3.4.5. Giải pháp về quản lý đất đai.........................................................71
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...............................................................................73

1. Kết luận...................................................................................................73
2. Kiến nghị.................................................................................................74
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................75

iv


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Bộ NN & PTNT
Bộ VH- TT- DL
BCĐ; BQL
CN- TTCN
CSVC; CSHT
ĐVT
HĐND, UBND
HTX
KT- XH
KH- KT
MTQG
NTM
SX-KD
THCS
TM- DV

Nghĩa tiếng Việt
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Bộ Văn hóa- Thể thao- Du lịch
Ban chỉ đạo; Ban quản lý
Công nghiệp- Tiểu thủ công nghiệp
Cơ sở vật chất; Cơ sở hạ tầng
Đơn vị tính
Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
Hợp tác xã
Kinh tế- xã hội
Khoa học- kỹ thuật
Mục tiêu quốc gia
Nông thôn mới
Sản xuất- kinh doanh
Trung học cơ sở
Thương mại- Dịch vụ

v


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 : Thực trạng phát triển kinh tế xã Tân Sơn năm 2016...............................30
Bảng 3.2: Hiện trạng dân số xã Tân Sơn.................................................................33
Bảng 3.3: Cơ cấu lao động xã Tân Sơn...................................................................33
Bảng 3.4: Tình hình biến động đất đai từ năm 2005 đến năm 2010.........................42
Bảng 3.5: Tình hình biến động đất đai từ năm 2011 đến năm 2015 và năm 2016. . .44
Bảng 3.6:Hiện trạng sử dụng đất năm 2016 của xã Tân Sơn...................................46
Bảng 3.7: Hiện trạng đường giao thông nông thôn trên địa bàn xã Tân Sơn...........49
Bảng 3. 8: Hiện trạng hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã Tân Sơn............................50
Bảng 3. 9: Hiện trạng trường học trên địa bàn xã Tân Sơn......................................51
Bảng 3.10: Kết quả đạt được trong quá trình xây dựng NTM.................................57
Bảng 3.11: Quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp trong quy hoạch NTM.............60
Bảng 3.12:Quy hoạcth hệ thống giao thông giao thông, thủy lợi xã Tân Sơn..........60
Bảng 3.13 : Phương án quy hoạch các công trình hạ tầng xã Tân Sơn....................61
Bảng 3.14: Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất xã Tân Sơn đến năm 2016. . .64
Bảng 3.15: Kết quả thực hiện vùng sản xuất trong quy hoạch NTM xã Tân Sơn đến
năm 2016........................................................................................................66
Bảng 3.16: Kết quả thực hiện quy hoạch hệ thống giao thông xã Tân Sơn..............69
Bảng 3.17: Kết quả thực hiện các công trình trong quy hoạch NTM xã Tân Sơn đến
năm 2016........................................................................................................70

vi


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Biểu đồ cơ cấu kinh tế xã Tân Sơn giai đoạn 2011- 2016........................31
Hình 3.2: Đường quốc lộ 6 thuộc địa phận xã Tân Sơn...........................................49
Hình 4.3 :Trường Mần Non và Trường Tiểu học xã Tân Sơn..................................51
Hình 4.4: Bưu điện xã Tâm Sơn..............................................................................52
Hình 3.5 :Trạm y tế xã Tân Sơn...............................................................................54
Hình 3.6: Uỷ ban nhân dân xã Tân Sơn...................................................................55

vii


MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện Nghị quyết số 26 – NQ/TW ngày 5/8/2008 của Ban chấp hành TW
Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định số 491/QĐ – TTg
ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia nông
thôn mới; Quyết định số 800/QĐ – TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về
ban hành chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 –
2020. Đây là một chương trình tổng thể phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh
quốc phòng ở các địa phương, trong đó công tác xây dựng Nông thôn mới là vấn đề
cốt lõi quan trọng.
Những năm qua, nông nghiệp, nông thôn và nông dân nước ta đã đạt được
những thành tựu khá toàn diện và to lớn. Tuy nhiên, những thành tựu đạt được đó
còn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng. Nông
nghiệp phát triển còn kém bền vững, việc phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản
xuất chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vẫn còn chậm, phổ biến là sản xuất
nhỏ, phân tán. Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề trong nông thôn phát triển
chậm, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất hàng hóa. Đời sống vật chất, tinh
thần của người dân nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao ở các vùng đồng bào dân
tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; Khoảng cách giàu, nghèo giữa thành thị và nông
thôn có xu hướng tăng, phát sinh nhiều vấn đề xã hội.
Tân Sơn là một xã vùng cao nằm phía Bắc của huyện Mai Châu – tỉnh Hòa
Bình. So với mặt bằng chung của cả nước nói chung và khu vực huyện Mai Châu
nói riêng thì Tân Sơn chưa phát tiển, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn,
nền sản xuất chủ yếu thuần nông, thu nhập thấp. Trong những năm qua, được sự
quan tâm của Đảng và Nhà nước, cùng với sự chỉ đạo sát sao của Đảng bộ huyện
Mai Châu, xã Tân Sơn đã có nhiều thay đổi tích cực, đời sống người dân được nâng
cao, cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế
của huyện. Công tác rà soát, đánh giá thực trạng nông thôn mới tại xã theo Bộ tiêu
chí Quốc gia có tác dụng thiết thực đến đời sống của người dân, chỉ ra được tình

1


hình thực hiện các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới, thực hiện quy hoạch xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn, tìm hiểu nguyên nhân, từ đó nghiên cứu và đề
xuất một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả quy hoạch xây dựng nông thôn
mới.
Xuất phát từ những vấn đề đó tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá tình hình thực
hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Tân Sơn - huyện Mai Châu – tỉnh
Hòa Bình”.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đánh giá tình hình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã Tân
Sơn, huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình.
Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Tân
Sơn, huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện quy hoạch xây dựng
nông thôn mới trong giai đoạn tiếp theo trên địa bàn xã Tân Sơn - huyện Mai Châu,
tỉnh Hòa Bình.
3. Yêu cầu nghiên cứu của đề tài
Đánh giá đầy đủ các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, thực trạng phát triển
nông thôn và thực trạng việc lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã
Tân Sơn. Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa
bàn xã Tân Sơn.

2


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀİ LİỆU
1.1. Cơ sở lý luận của quy hoạch xây dựng nông thôn mới
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Nông thôn
Hiện nay vẫn chưa có khái niệm chuẩn xác về nông thôn và có nhiều quan
điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng nông thôn được coi là khu vực địa lý nơi
để cộng đồng gắn bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng, bảo vệ môi
trường và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Một số quan
điểm khác cho rằng nông thôn là nơi có mật độ dân số thấp hơn so với thành thị.
Vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, nguồn sinh kế chính
của cư dân trong vùng là sản xuất nông nghiệp. Quan điểm khác lại cho rằng nên
dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng
nông thôn vì cho rằng vùng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và tiếp cận thị
trường thấp hơn so với thành thị. Hay dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển cơ sở hạ
tầng, nghĩa là cơ sở hạ tầng của vùng nông thôn không phát triển bằng đô thị.
Như vậy khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, nó thay đổi theo
thời gian và tiến trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới. Trong
điều kiện hiện nay của Việt Nam chúng ta có thể hiểu nông thôn là vùng sinh sống
của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào
các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị
nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác.
Vũ Thị Bình (2006) đã nêu rõ “Nông thôn là vùng khác với vùng đô thị là ở
đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân làm nghề chính là nông nghiệp, có mật
độ dân cư thấp hơn, có cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có mức độ phúc lợi xã
hội thua kém hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng
hóa thấp hơn”.

3


1.1.1.2. Phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với nhiều quan
điểm khác nhau. Ở Việt Nam, thuật ngữ phát triển nông thôn được đề cập đến từ rất
lâu và có sự thay đổi qua từng thời kỳ.
Ngân hàng thế giới (1975) đã định nghĩa rằng: “Phát triển nông thôn là một chiến
lược nhằm cải thiện các điều kiện sống về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể người nghèo ở vùng nông thôn. Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân
sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển”.
Vũ Thị Bình (2006) đã nêu rõ: “Phát triển nông thôn là một quá trình thay
đổi bền vững có chủ ý về xã hội, kinh tế, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao
chất lượng đời sống của người dân địa phương”.
Có quan điểm cho rằng, phát triển nông thôn là phát triển toàn diện các mặt
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trong từng giai đoạn việc cộng đồng lựa chọn
những lĩnh vực ưu tiên là một trong những hoạt động mang lại hiệu quả thiết thực.
Phát triển nông thôn bao gồm: Phát triển giáo dục; Các hoạt động góp phần bảo vệ
sức khỏe và vệ sinh môi trường; Phát triển cơ sở hạ tầng; Phát triển sản xuất và tạo
thu nhập; Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên; Phát triển
an sinh xã hội; Phát triển dân chủ cơ sở, bình đẳng giới; Phát triển văn hóa; Phát
triển con người.
Phát triển vùng nông thôn phải đảm bảo tính bền vững nhằm tạo sự phát triển
lâu dài ổn định không những cho vùng nông thôn mà còn đối với cả quốc gia. Trong
điều kiện Việt Nam, Mai Thanh Cúc và Quyền Đình Hà (2005) nêu rõ: “Phát triển
nông thôn là quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, văn hóa, xã
hội và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn.
Quá trình này trước hết là do chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực
của nhà nước và các tổ chức khác”.
1.1.1.3. Nông thôn mới (NTM)
Trước tiên, NTM phải là nông thôn, chứ không phải là thị xã, thị trấn hay thành
phố, nông thôn mới khác với nông thôn truyền thống. Nếu so sánh giữa NTM và nông
thôn truyền thống, thì NTM phải bao hàm cơ cấu và chức năng mới. Công nghiệp hóa,

4


hiện đại hóa là động lực cơ bản trong xây dựng NTM. Xây dựng nông thôn mới XHCN
phải lấy việc đẩy mạnh dịch chuyển lao động nông thôn làm cơ sở, chứ không phải lấy
việc cố định người nông dân làm mục tiêu.
Khái niệm Nông thôn mới mang đặc trưng của mỗi vùng nông thôn khác
nhau. Mô hình NTM là mô hình cấp xã, thôn được phát triển toàn diện theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ và văn minh. Mô hình NTM được quy định
bởi các tính chất: Đáp ứng yêu cầu phát triển, có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và
cảnh quan môi trường; Đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị,
văn hóa xã hội; Tiến bộ hơn so với mô hình cũ; Chứa đựng các đặc điểm chung, có
thể phổ biến và vận dụng trên toàn lãnh thổ.
Theo cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới” (Nhà xuất bản Lao
động, 2010), đặc trưng của Nông thôn mới thời kỳ CNH –HĐH, giai đoạn 20102020, bao gổm:
(1) Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn
được nâng cao;
(2) Nông thôn phát triển theo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng, kinh tế, xã hội hiện
đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;
(3) Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy;
(4) An ninh tốt, quản lý dân chủ;
(5) Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao.
Nghị quyết 26/TQ– TW của BCH Trung ương Đảng khóa X đã đề ra chủ
trương xây dựng NTM phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân,
phát triển nông nghiệp và nông thôn. Nghị quyết đã xác định rõ mục tiêu: “Xây
dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình
thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp,
dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; Xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân
tộc, dân trí được nâng cao; Môi trường sinh thái được bảo vệ, hệ thống chính trị ở
nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường…”. Như vậy, hiểu một cách
chung nhất của mục đích xây dựng mô hình nông thôn mới là hướng đến một nông
thôn năng động, có nền sản xuất nông nghiệp hiện đại, có kết cấu hạ tầng gần giống

5


đô thị. Đây là quá trình lâu dài và liên tục, là một trong những nội dung quan trọng
cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo trong đường lối, chủ trương phát triển đất nước và
các địa phương.
Mỗi vùng, mỗi khu vực sẽ có mô hình xây dựng NTM phù hợp. Cụ thể như
đối với công tác xây dựng NTM tại các tỉnh miền núi phía Bắc ở nước ta, tính “đặc
thù” của các tỉnh miền núi phía Bắc là diện tích mỗi tỉnh rất lớn khoảng cách giữa các
thôn, bản khá xa trong khi hạ tầng cơ sở, giao thông đi lại khó khăn, tài liệu đo đạc,
khảo sát gốc phần lớn là thiếu nên ảnh hưởng tới quy hoạch, địa hình hiểm trở gây
khó khăn cho xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư phát triển kinh tế- xã hội, giao thương
và sản xuất trong vùng. Hơn nữa, dân cư miền núi phía Bắc sinh sống phân tán, trình
độ dân trí thấp, nhiều tập tục lạc hậu, nặng nề cũng ảnh hưởng tới việc xây dựng
NTM. Do vậy, để khắc phục những khó khăn, hạn chế đó, mô hình nông thôn mới
cho khu vực miền núi muốn được thực hiện có hiệu quả cần có cơ chế chính sách phù
hợp với điều kiện, đặc điểm của vùng cũng như từng địa phương. Quá trình nghiên
cứu, xây dựng cơ chế, chính sách đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới cần chú trọng
địa bàn thôn,xóm, bản vì đây là địa bàn quan trọng, nơi cư trú chủ yếu của đồng bào
các dân tộc. Trong đầu tư cần ưu tiên thực hiện trước các tiêu chí xây dựng nông thôn
mới ở các thôn, bản như đường giao thông, thủy lợi, an ninh trật tự, môi trường,
trường học, giảm tỷ lệ hộ nghèo…
Phan Xuân Sơn và Nguyễn Cánh (2008) nêu rõ: “Mô hình NTM là tổng thể
những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp
ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được
xây dựng so với mô hình nông thôn cũ ở tính tiên tiến về mọi mặt.”
1.1.2. Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới ở nước ta
Để hướng tới mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trở thành quốc
gia phát triển giảm khoảng cách giàu nghèo, Nhà nước cần quan tâm phát triển nông
nghiệp, nông thôn. Nông sản là sản phẩm thiết yếu cho toàn xã hội và ở Việt Nam
khu vực nông thôn chiếm đến 70% dân số. Thực hiện đường lối mới của Đảng và
Nhà nước, nông nghiệp được xem như mặt trận hàng đầu, chú trọng đến các chương
trình lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, phát triển kinh tế

6


trang trại, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, xây dựng đời sống văn
hóa ở khu dân cư, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở…Các chủ trương của Đảng,
chính sách của Nhà nước đã và đang đưa nền nông nghiệp tự túc sang nền công
nghiệp hàng hóa. Nền nông nghiệp nước ta còn nhiều những hạn chế cần được giải
quyết để đáp ứng kịp xu thế toàn cầu. Trong đó:
Thứ nhất, nông thôn phát triển tự phát, thiếu quy hoạch. Có khoảng 23% xã
có quy hoạch nhưng thiếu đồng bộ, tầm nhìn ngắn, chất lượng chưa cao. Công tác
quản lý quy hoạch chưa được các cấp quan tâm đúng mức.
Thứ hai, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội ở nông thôn còn lạc hậu, không đáp
ứng được mục tiêu phát triển lâu dài. Hệ thống thủy lợi chưa đáp ứng được nhu cầu
sản xuất nông nghiệp và dân sinh. Giao thông chất lượng thấp, phần lớn chưa đạt
được tiêu chuẩn quy định, chủ yếu phục vụ dân sinh, nhiều vùng giao thông chưa
phục vụ tốt sản xuất, lưu thông hàng hóa, phần lớn chưa đạt tiêu chuẩn quy định. Hệ
thống lưới điện hạ thế chất lượng thấp, quản lý lưới điện nông thôn còn yếu, tổn hao
điện năng cao, nông thôn phải chịu mức giá điện cao. Hệ thống các trường mầm
non, tiểu học, trung học cơ sở ở nông thôn có tỷ lệ đạt tiêu chuẩn về cơ sở vật chất
còn thấp, hầu hết các nông thôn chưa có khu thể thao theo quy định. Hệ thống thông
tin liên lạc, kho tàng, chợ đều rất thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của nền nông
nghiệp sản xuất hàng hóa.
Thứ ba, quan hệ sản xuất chậm đổi mới, đời sống người dân còn thấp. Kinh tế hộ
phổ biến ở quy mô nhỏ. Kinh tế tập thể phát triển chậm, hầu hết các xã có hợp tác xã
nhưng chỉ hoạt động dưới hình thức, chất lượng yếu và kém. Tỷ lệ hộ nghèo khu vực
nông thôn còn cao, chênh lệch giữa nông thôn và thành thị ngày càng lớn.
Thứ tư, về văn hóa môi trường y tế giáo dục: Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn
thấp. Mức hưởng thụ về văn hóa của người dân còn thấp, phát sinh nhiều vấn đề
bức xúc, bản sắc văn hóa dân tộc dần bị mai một, tệ nạn xã hội có xu hướng gia
tăng. Hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển. Môi trường sống bị ô nhiễm. Số trạm
y tế đạt tiêu chuẩn thấp, y tế dự phòng của xã còn hạn chế.
Thứ năm, hệ thống chính trị tại cấp xã còn yếu về trình độ và năng lực điều
hành. Nhiều cán bộ xã chưa qua đào tạo, trình độ đại học chỉ khoảng 10%. Vậy xây

7


dựng nông thôn mới là một mô hình phát triển cả nôngnghiệp và nông thôn, đi sau
giải quyết nhiều lĩnh vực, có sự liên kết giữa các lĩnh vực với nhau tạo nên khối
thống nhất vững mạnh.
1.1.3. Lý luận về quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Quy hoạch xây dựng NTM là bố trí, sắp xếp địa điểm, diện tích sử dụng các
khu chức năng trên địa bàn xã; khu phát triển dân cư; hạ tầng kinh tế - xã hội; các
khu sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ… theo chuẩn NTM.
Nội dung quy hoạch đi vào ba vấn đề trọng tâm: Đó là quy hoạch sử dụng
đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ; Xác định nhu cầu sử dụng đất cho bố trí vùng sản
xuất và hạ tầng kỹ thuật thiết yếu phục vụ sản xuất hàng hóa nông nghiệp, công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; bố trí hệ thống thủy lợi kết hợp với giao
thông; quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện
có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp; quy hoạch phát
triển các hạ tầng kinh tế - xã hội – môi trường theo chuẩn mới, bao gồm bố trí mạng
lưới giao thông, điện, trường học các cấp, trạm xá, trung tâm văn hóa thể thao xã,
nhà văn hóa và khu thể thao thôn, bưu điện và hệ thống thông tin liên lạc, chợ,
nghĩa trang, bãi xử lý rác, hệ thống cấp nước sạch, hệ thống thoát nước thải, công
viên cây xanh, hồ nước sinh thái.
Như vây quy hoạch chung xây dựng nông thôn mới là nhằm đánh giá các
điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và đưa ra định hướng phát triển về kinh tế, xã hội,
về không gian nông thôn, về mạng lưới dân cư, cơ sở hạ tầng; khai thác tiềm năng
thế mạnh vốn có của địa phương, khắc phục những ảnh hưởng bất lợi của thời tiết,
đảm bảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đề ra.
1.1.4. Nguyên tắc, nội dung và tiêu chí xây dựng nông thôn mới
a. Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
Theo Điều 2 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHDT-BTC,
ngày 13 tháng 4 năm 2011 (liên bộ NN & PTNT, Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính) về
hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của

8


Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn
2010 – 2020 đã đề ra 6 nguyên tắc trong xây dựng NTM như sau:
(1) Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng NTM phải hướng
tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới ban
hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ.
(2) Phát huy vai trò chủ thể của người dân và cộng đồng dân cư địa phương
là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn,
chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện. Các hoạt động cụ
thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ
chức thực hiện.
(3) Kế thừa và lồng ghép các chương trình MTQG, chương trình hỗ trợ có
mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn.
(4) Thực hiện Chương trình xây dựng NTM phải gắn với kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy
hoạch xây dựng Nông thôn mới đã được cấp có thẩm quyền xây dựng.
(5) Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường
phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự án
của Chương trình xây dựng Nông thôn mới; phát huy vai trò làm chủ của người dân
và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực
hiện và giám sát đánh giá.
(6) Xây dựng Nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn
xã hội; cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng
quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây
dựng Nông thôn mới.
b. Nội dung xây dựng nông thôn mới
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM là một chương trình tổng thể
về phát triển KT- XH, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm 11 nội dung sau:
1. Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
2. Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội

9


3. Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
4. Giảm nghèo và an sinh xã hội
5. Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
6. Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn
7. Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn
8. Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn.
9. Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
10. Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã
hội trên địa bàn
11. Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn
c. Tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Căn cứ quyết định số 491/QĐ – TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng Chinh
Phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới.
* Các tiêu chí gồm 5 nhóm:
Nhóm 1: Quy hoạch (1 tiêu chí: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch)
Nhóm 2: Hạ tầng kinh tế xã hội gồm 8 tiêu chí: Giao thông; Thủy lợi; Điện
nông thôn; Trường học, Cơ sở vật chất văn hóa; Chợ nông thôn; Bưu điện; Nhà ở
dân cư.
Nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất gồm 4 tiêu chí: Thu nhập; Hộ nghèo;
Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên; Hình thức tổ chức sản xuất.
Nhóm 4: Văn hóa – Xã hội – Môi trường gồm 4 tiêu chí: Giáo dục; Y tế; Văn
hóa; Môi trường.
Nhóm 5: Hệ thống chính trị gồm 2 tiêu chí: Hệ thống tổ chức chính trị xã hội
vững mạnh và An ninh trật tự xã hội.
Để thực hiện được các nhóm tiêu chí xây dựng NTM Bộ NN & PTNT ban
hành thông tư số 41/2013/TT– BNNPTNT hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc
gia về NTM. Bộ Xây dựng ban hành Thông tư số 31/2009/TT- BXD; Thông tư số
32/2009/TT– BXD hướng dẫn thực hiện Tiêu chuẩn kỹ thuật và Quy chuẩn quốc gia
về quy hoạch xây dựng nông thôn mới.

10


d. Vị trí và phạm vi của xây dựng NTM
Xây dựng nông thôn mới NTM có thể tạm coi là một bộ phận, hợp phần của
tổng thể PTNT. Nếu căn cứ vào diễn giải ngôn từ, nông thôn mới sẽ khác biệt với
nông thôn hiện nay hoặc với nông thôn trước kia. Sự khác biệt đó hàm ý sự thay đổi
theo hướng tích cực của vùng nông thôn. Các thay đổi có thể về bộ mặt nông thôn
thể hiện ra bên ngoài nói chung, nhưng cũng có thể là các thay đổi về chất lượng, về
tinh thần tạo ra động lực thúc đẩy PTNT tại vùng phạm vi địa lý nhất định. Nếu
PTNT là vấn đề phát triển chung, có sự thống nhất tương đối và có thể chia sẻ giữa
các nước khác nhau trên thế giới, thì xây dựng NTM có tính chất đặc thù. Không
nhiều nước sử dụng và phát triển nội dung này thành công trong PTNT.
Xây dựng NTM tập trung vào tổ chức thực hiện các nội dung PTNT tại cấp
cơ sở. Việc quản lý và thực hiện trên cơ sở cấp quản lý chính quyền tiếp xúc trực
tiếp với cộng đồng dân cư. Nó có giới hạn về phạm vi địa lý với vùng diện tích
tương đối nhỏ, tương ứng với phạm vi sinh sống của mỗi cộng đồng dân cư nông
thôn. Xây dựng NTM là một quá trình liên tục, lâu dài. Các nội dung sẽ bao trùm tất
cả các hoạt động PTNT tại cấp cơ sở. Có nhiều bên với vai trò khác nhau sẽ tham
gia vào quá trình xây dựng NTM, đó là người dân, Nhà nước, các tổ chức và cá
nhân khác.
1.1.5. Vai trò của xây dựng nông thôn mới trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã
hội của đất nước
- Về kinh tế: Hướng đến nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, thị trường
hội nhập. Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng của nông thôn phải hiện đại, tạo điều
kiện cho sản xuất, giao lưu buôn bán.
Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, khuyến khích mọi người
tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, giảm bớt sự phân hoaa giàu
nghèo và khoảng cách mức sống giữa nông thôn và thành thị. Xây dựng các hợp tác
xã theo mô hình kinh doanh đa ngành. Hỗ trợ ứng dụng khoa học kĩ thuật, công
nghệ tiên tiến vào sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn. Sản xuất
hàng hóa có chất lượng cao, mang nét đặc trưng của từng địa phương. Chú ý đến
các ngành chăm sóc cây trồng vật nuôi, trang thiết bị sản xuất, thu hoạch, chế biến

11


và bảo quản nông sản, chế biến nông sản sau thu hoạch vừa có khả năng tận dụng
nhiều lao động vừa đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
- Về chính trị: Phát huy tinh thần dân chủ trên cơ sở chấp hành luật pháp, tôn
trọng đạo lý bản sắc địa phương. Tôn trọng hoạt động của đoàn thể, các tổ chức,
hiệp hội vì cộng đồng, đoàn kết xây dựng nông thôn mới. Ngoài ra, đối với riêng
khu vực miền núi (các tỉnh miền núi phía Bắc) là khu vực có vị trí chiến lược đặc
biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh; địa bàn cư trú chủ yếu
của đồng bào các dân tộc thiểu số. Vì vậy, triển khai thực hiện Chương trình MTQG
xây dựng NTM không chỉ góp phần nâng cao chất lượng đời sống của đồng bào mà
còn thiết thực củng cố thế trận quốc phòng an ninh.
- Về văn hóa – xã hội: Chung tay xây dựng văn hóa đời sống dân cư, các làng
xã văn minh, văn hóa, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính
đáng.
- Về con người: Xây dựng hình tượng người nông dân tiêu biểu, gương mẫu.
Tích cực sản xuất, chấp hành kỉ cương, ham học hỏi, giỏi làm kinh tế và sẵn sàng
giúp đỡ mọi người.
Người nông dân và các cộng đồng nông thôn là trung tâm của mọi chiến lược
phát triển nông nghiệp, nông thôn. Đưa nông dân vào sản xuất hàng hóa, doanh
nhân hóa nông dân, doanh nghiệp hóa các cộng đồng dân cư, thị trường hóa nông
thôn.
- Về môi trường nông thôn: Xây dựng môi trường nông thôn trong lành, đảm
bảo môi trường nước trong sạch. Các khu rừng đầu nguồn được bảo vệ nghiêm
ngặt. Chất thải phải được xử lý trước khi vào môi trường. Phát huy tinh thần tự
nguyện và chấp hành luật pháp của mỗi người dân.
1.1.6. Căn cứ pháp lý lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới
- Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2010 – 2020.

12


- Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 02/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt Chương trình rà soát quy hoạch xây dựng NTM.
- Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ
Sửa đổi một số tiêu chí của bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
- Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về NTM;
- Thông tư số 07/2010/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo bộ tiêu
chí quốc gia về nông thôn mới.
- Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày
13/4/2011 của liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Kế hoạch Đầu tư,
Bộ Tài chính về việc hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/QĐTTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình mục
tiêu Quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020.
- Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04/10/2013 về hướng dẫn thực
hiện Bộ tiêu chí quốc gia về NTM.
- TTLT số 13/2011/TTLT-BXD- BNNPTNT-BTNMT ngày 30/10/2011 Quy
định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới.
- Tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn theo Thông tư số 31/2009/TTBXD ngày 10/9/2009 của Bộ Xây dựng.
- Sổ tay hướng dẫn lập Quy hoạch xây dựng nông thôn của Bộ Xây dựng.
- Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới của Bộ NN & PTNT.
1.2. Cơ sở thực tiễn của quy hoạch xây dựng nông thôn mới
1.2.1. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về xây dựng nông thôn mới
Phát triển nông nghiệp để xây dựng một nông thôn mới trong giai đoạn hiện
nay, từ các góc cạnh khác nhau, đang là mối quan tâm chung của cả cộng đồng thế
giới. Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này là bài học cho
Việt Nam.

13


1.2.1.1. Hàn Quốc: Phong trào Làng mới
Vào cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX, Hàn Quốc là nước nghèo, lạc hậu, người
dân khổ cực, thiếu đói triền miên. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp trong
khi lũ lụt, hạn hán thường xuyên xảy ra. Thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 85
USD... Mặc dù đã có nhiều biện pháp để tăng năng suất lương thực nhưng nhìn
chung nông thôn Hàn Quốc còn rất lạc hậu. Xã hội bị phân chia thành hai khối có
đời sống tinh thần khác hẳn nhau. Trong khi một bộ phận dân cư thành thị tích cực
học tập, với quyết tâm đổi đời thì đại bộ phận nông dân vẫn sống trong cảnh nghèo
nàn, mang trong mình tư tưởng bi quan, ỷ lại, lối thoát duy nhất của họ là rời bỏ quê
hương, di chuyển về đô thị (Đức Huy, 2009).
Nguyên tắc cơ bản của Phong trào Làng mới là: nhà nước hỗ trợ vật tư cùng
với sự đóng góp của nhân dân. Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần
cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó và hợp tác (hiệp lực cộng đồng). Năm 1970, sau
những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã
chính thức phát động phong trào SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ. Họ thi
đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở
rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng. Phương
thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn, áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt
hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu. Chính phủ
khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải
thiện thu nhập cho nông dân (Tuấn Anh, 2012).
Để thực hiện các nội dung đó, Hàn Quốc chia thành các giai đoạn sau:
Năm thứ nhất: Chính phủ cấp cho 32 ngàn xã, mỗi xã 355 bao xi măng và
giao cho chính quyền xã tổ chức thực hiện. Các hoạt động khác được lấy từ ngân
sách địa phương và lực lượng lao động sẵn có. Sau một năm, 16 ngàn xã (50%) đạt
mục tiêu đề ra.
Năm thứ hai: Chính phủ tiếp tục cấp thêm cho những xã tự vươn lên bằng
chính sức mình 500 bao xi măng và 1 tấn thép. Kết quả là nhà tranh vách đất được
thay bằng nhà gạch, đường xá được mở rộng, đê điều được tu bổ, cầu cống được

14


xây dựng... Đặc biệt, chương trình này đã giúp cho người dân nông thôn xóa được
mặc cảm, tự vươn lên, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế và đô thị.
Năm thứ ba: Chính phủ chia 32 ngàn xã làm 3 loại: Cơ sở - Tự lực – Tự lập
để hỗ trợ kinh phí dựa trên cấp độ phát triển của từng loại và tiếp tục phát triển các
dự án sau phù hợp với yêu cầu nông thôn mới.
Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu. Chỉ sau 8
năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành. Trong
8 năm từ 1971- 1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631 km đường làng nối với
đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322 m đường; cứng hóa đường
ngõ xóm 42.220 km, trung bình mỗi làng là 1.280 m; xây dựng được 68.797 cầu
(Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839 km đê, kè, xây
24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng. Đặc biệt, vì không có quỹ bồi
thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do
dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận và ghi công lao đóng góp của các hộ cho phong trào
(Tuấn Anh, 2012).
Sau 7 năm từ khi triển khai thực hiện Phong trào Làng mới, thu nhập bình quân
của hộ dân tăng lên khoảng 3 lần từ 1000 USD/người/năm tăng lên 3000
USD/người/năm vào năm 1978. Toàn bộ nhà ở nông thôn đã được ngói hoa và hệ
thống giao thông nông thôn đã được xây dựng hoàn chỉnh (Tuấn Anh, 2012).
Mô hình nông thôn mới đã đem lại cho Hàn Quốc sự cải thiện rõ rệt. Hạ tầng
cơ sở nông thôn cải thiện, thu nhỏ khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, trình độ
tổ chức nông dân được nâng cao. Đặc biệt xây dựng được niềm tin của người nông
dân, ý chí sản xuất phát triển kinh tế, tinh thần người dân mạnh mẽ. Đến đầu những
năm 80, quá trình hiện đại hóa nông thôn đã hoàn thành, Hàn Quốc chuyển chiến
lược phát triển sang một giai đoạn mới.
Có thể nói, Phong trào Làng mới của Hàn Quốc sẽ đem lại bài học kinh
nghiệm quý giá không chỉ đối với Việt Nam mà còn nhiều nước trên thế giới, chúng
ta có thể học tập và áp dụng vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam, trong vấn đề bảo vệ
môi trường và bảo vệ rừng khi mà chất lượng môi trường ở nước ta ngày càng giảm,
tình trạng chặt phá rừng vẫn tiếp diễn và ngày càng khó kiểm soát, nên sự chung tay

15


của cả cộng đồng để bảo vệ môi trường và bảo vệ rừng là rất cần thiết. Tuy nhiên,
cần phải xem xét một cách cẩn thận, kỹ lưỡng để áp dụng những bài học đó vào
hoàn cảnh thực tế của nước ta.
1.2.1.2. Mô hình nông thôn mới ở Trung Quốc
Trung Quốc xuất phát từ một nước nông nghiệp, người lao động sống chủ
yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Nên cải cách nông thôn là sự đột phá quan trọng
trong cuộc cải cách kinh tế. Từ đầu những năm 80 của thế kỉ 20, Trung Quốc chọn
hướng phát triển nông thôn bằng cách phát huy những công xưởng nông thôn thừa
kế được của các công xã nhân dân trước đây. Thay đổi sở hữu và phương thức quản
lý để phát triển mô hình: công nghiệp hưng trấn. Các lĩnh vực như: chế biến nông
lâm sản, hàng công nghiệp nhẹ, máy móc nông cụ phục vụ sản xuất nông
nghiệp...ngày càng được đẩy mạnh. (Tuấn Anh, 2012).
Nguyên tắc của Trung Quốc là quy hoạch đi trước, định ra các biện pháp
thích hợp cho từng nơi, đột phá trọng điểm, làm mẫu chỉ đường. Chính phủ hỗ trợ
nông dân xây dựng. Với mục tiêu: “ly nông bất ly hương”, Trung Quốc đồng thời
thực hiện 3 chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
Chương trình đốm lửa: Trang bị cho hàng triệu nông dân các tư tưởng tiến bộ
khoa học, bồi dưỡng nhân tài đốm lửa, nâng cao tố chất nông dân. Sau 15 năm thực
hiện, chương trình đa bồi dưỡng được 60 triệu thanh niên nông thôn thành một đội
ngũ cán bộ khoa học cốt cán, tạo động lực thúc đẩy nông thôn phát triển, theo kịp so
với thành thị.
Chương trình được mùa: Chương trình này giúp đại bộ phận nông dân áp
dụng khoa học tiên tiến, phương thức quản lý hiện đại để phát triển nông nghiệp,
nông thôn. Trong 15 năm sản lượng lương thực của Trung Quốc đã tăng lên 3 lần so
với những năm đầu 70. Mục tiêu phát triển nông nghiệp là sản xuất các nông sản
chuyên dụng, phát triển chất lượng tăng cường chế biến nông sản.
Chương trình giúp đỡ vùng nghèo: Mục tiêu là nâng cao sức sống của các vùng
nghèo, vùng miền núi, dân tộc ít người, mở rộng ứng dụng thành tựu khoa học tiên
tiến, phổ cập tri thức khoa học công nghệ và bồi dưỡng khoa học cho cán bộ thôn, tăng
sản lượng lương thực và thu nhập nông dân. (Tuấn Anh, 2012).

16


Qua đây có thể thấy, Trung Quốc đã nỗ lực đổi mới nông thôn một cách triệt để
trên cơ sở coi trong vấn đề “tam nông” với những chương trình đa dạng nhằm phát
triển cả công nghiệp, nông nghiệp, mối quan hệ tương tác hỗ trợ lẫn nhau giữa chúng,
đặc biệt là sự hỗ trợ từ thành thị đối với nông thôn. Việc phát triển hài hòa mối quan hệ
này sẽ là bài học kinh nghiệm quý giá không chỉ với Việt Nam mà còn là kinh nghiệm
đáng quý đối với nhiều nước trên thế giới.
1.2.1.3. Nhật Bản: “Mỗi làng một sản phẩm”
Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản) đã
hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” (OVOP), với mục
tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát
triển chung của cả nước Nhật Bản. Đó là địa phương hóa rồi hướng tới toàn cầu, tự
chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực. Trong đó nhấn mạnh đến
vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu
thụ sản phẩm. Câu chuyện từ những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng các
thương hiệu đặc sản nổi tiếng của Nhật Bản như nấm hương khô, rượu Shochu lúa
mạch, chanh Kabosu,… cho thấy những bài học sâu sắc đúc kết không chỉ từ thành
công mà cả từ thất bại. Chỉ tính riêng 20 năm kể từ năm 1979 – 1999, phng trào
OVOP “Mỗi làng, một sản phẩm” của đất nước mặt trời mọc đã tạo ra được 329 sản
phẩm bình dị và đơn giản như nấm, cam, cá khô, chè, măng…được sản suất với
chất lượng và giá bán rất cao.
Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, phong trào “Mỗi làng một sản
phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ. Sự thành công của phong trào này
đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà
còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên thế giới. Một số quốc gia, nhất là những
quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã thu được những thành công nhất định trong
phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào “Mỗi
làng một sản phẩm”.
Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được những
người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người, nhiều khu

17


vực và quốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn, nhất là phát triển
nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất nước mình (Tuấn Anh, 2012).
1.2.2. Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
1.2.2.1. Tình hình xây dựng Nông thôn mới trên phạm vi toàn quốc
Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết về phát triển nông
nghiệp, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống của người nông dân. Trực tiếp
và toàn diện nhất là Nghị quyết số 26-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 7, khóa X, về
nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó có nhiệm vụ xây dựng NTM.
a. Về tổ chức bộ máy, triển khai chương trình
Ngay trong những năm đầu triển khai, Chương trình mục tiêu quốc gia về
xây dựng nông thôn mới đã nhanh chóng trở thành phong trào của cả nước. Nhiệm
vụ về xây dựng nông thôn mới được xác định rõ trong nghị quyết đại hội Đảng các
cấp từ tỉnh đến huyện và xã. Ban Bí thư Trung ương khóa X đã trực tiếp chỉ đạo
Chương trình thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới cấp xã tại 11 xã điểm ở 11
tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng, miền. Bộ máy quản lý và điều hành Chương
trình xây dựng nông thôn mới đã được hình thành từ Trung ương xuống địa phương.
Các bộ, ngành đã ban hành 25 loại văn bản hướng dẫn địa phương về tổ chức bộ
máy quản lý, điều hành, quy hoạch nông thôn mới. Đến nay, 100% số huyện đã
thành lập Ban chỉ đạo cấp huyện; 100% số xã đã thành lập Ban chỉ đạo cấp xã; Trên
80% số xã ngoài việc thành lập Ban chỉ đạo cấp xã còn thành lập Ban phát triển
thôn, bản để chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới (Lê
Nguyễn, 2016).
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã triển khai cuộc vận động
“Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn
mới”. Ngày 08-6-2011, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức phát động thi đua “Cả
nước chung sức xây dựng nông thôn mới”.
Thực hiện đường lối của Đảng, trong những năm qua, phong trào xây dựng
nông thôn mới đã diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương trên cả nước, thu hút sự
tham gia của cả cộng đồng, phát huy được sức mạnh của cả xã hội.
b. Về bộ phận giúp việc Ban chỉ đạo

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×