Tải bản đầy đủ

ĐỀ CƯƠNG ĐẠO ĐỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐẠO ĐỨC

Câu 1. Trình bày khái niệm, chuẩn mực và chức năng của
đạo đức







Khái niệmĐạo đức.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một
hệ thống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó cá
nhân tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp, hài hòa với
lợi ích của những người xung quanh, đảm bảo cho xã hội phát
triển ổn định, tốt đẹp. Các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực được
thực hiện bởi niềm tin cá nhân, truyền thống, sức mạnh của dư
luận xã hội.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nó cũng giống như các
hình thái khác; nó bị chi phối bởi các điều kiện kinh tế- xã hội của
một giai đoạn lịch sử nhất định.
- Các hình thái ý thức xã hội bao gồm: Đạo đức, pháp luật,

khoa học, tôn giáo, triết học, giáo dục, chính trị, nghệ thuật.
Nó bao gồm toàn bộ đời sống tinh thần của con người, phản
ánh sự tồn tại xã hội loài người trong một giai đoạn nhất định.
Đặc trưng của đạo đức là sự tự nguyện, tự giác của con người,
khác với quy tắc, pháp luật (mang tính cưỡng chế, bắt buộc)
Hệ giá trị của đạo đức phụ thuộc vào mối tương quan giữa lợi ích
cá nhân với lợi ích cộng đồng, xã hội.
 Các chuẩn mực đạo đức
- Chuẩn mực đạo đức là những phép tắc mang tính quy phạm,
tính khuôn mẫu trong quan hệ ứng xử giữa con người với con
người, con người với xã hội. Đó là những yêu cầu được thực
hiện bằng những tiêu chuẩn cụ thể làm cơ sở cho việc đánh
giá hành vi của con người.
- Hệ thống các chuẩn mực đạo đức bao gồm:
+ Chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hành vi có giá trị tích cực:
phải làm, nên làm
+ Chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hành vi có giá trị tiêu cực:
không được làm, không nên làm
+ Chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hành vi có giá trị trung
hòa: có thể làm







Chức năng của đạo đức.
Chức năng điều chỉnh hành vi.
Là chức năng cơ bản, quan trọng nhất của đạo đức
- Đạo đức là mộtphương thức nhằm điều chỉnh hànhvi. Sự
điều chỉnh hànhvi làm cá nhân vàxã hội cùng tồn tạivà phát triển,
bảo đảmquan hệ lợi ích cánhân và cộng đồng.
- Thông qua hệ thống các chuẩn mực đạo đức xã hội, cá
nhân sẽ tự điều chỉnh hành vi của mình và góp phần điều chỉnh xã
hội để phù hợp, hài hòa với những người xung quanh, để xã hội
phát triển ổn định.
- Điều chỉnh hành vi dựa trên Dư luận xã hội và lương tâm
+ Dựa trên dư luận xã hội, xã hội có thể đồng tình, cổ vũ
hoặc có thể phê phán, lên án, trách cứ,chê cười từ đó có thể mang


lại kết quả tích cực, làm cho các nhân tiến bộ hơn, có thể từ bỏ
thói hư, tật xấu, cái ác và hướng đến cái tốt, cái thiện; hoặc là kết
quả tiêu cực, cá nhân sẽ cảm thấy không công bằng, không khách
quan từ đó đem đến ảnh hưởng tiêu cực đến cá nhân
+ Về mặt lương tâm, đó là những gì thuộc thế giới nội tâm
của cá nhân, cá nhân tự tích lũy dần để điều chỉnh những hành vi
một cách tự nguyện, tự giác.
Chức năng nhận thức (giáo dục).
-Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức giúp con người
nhận thức về thế giới xung quanh liên quan đến cách ứng xử của
mình với người khác, với cộng đồng, xã hội.Mỗi một người phải
nhận thức được rằng, mình là một thành viên trong xã hội nên
phải cư xử theo những quy tắc, chuẩn mực đạo đức mà xã hội yêu
cầu, những việc mình làm không được phép gây tổn hại cho người
khác, cho cộng đồng và xã hội.. Với nhận thức đúng đắn, con
người biết dược sự cần thiết của việc thực hiện hành vi đạo đức
phù hợp, những hành vi, việc làm được khuyến khích, nhận được
sự đồng tình của những người cung quanh, của cả cộng đồng, xã
hội, những hành vi bị lên án…




Ở cấp độ cao hơn, đạo đức giúp con người hiểu được vai trò của
đạo đức trong sự phát triển xã hội, trong việc mang lại hạnh phúc
cho cá nhân, cho gia đình và cả xã hội nói chung.
Với vai trò nhận thức như trên, không phải sinh ra con người
đã có những nhận thức đó. Con người muốn hành động đúng để
hướng đến cái thiện thì cần có tác động của giáo dục; giáo dục ở
đây có thể hiểu đó là quá trình giáo dục từ gia đình, nhà trường,
ngoài xã hội, đó là những tác động, những định hướng cho sự hình
thành và phát triển nhân cách và quá trình tự giáo dục, trong mỗi
cá nhân, ai cũng có nhu cầu khẳng định bản thân, đây là động lực
và là yếu tố quyết định giúp cá nhân tự hoàn thiện mình về mặt
đạo đức.
Chức năng kiểm tra, đánh giá.
- Bất kì một hành vi đạo đức nào cũng được đánh giá, từ những
người xung quanh và từ bản thân mình. “ Thước đo” cơ bản của sự
đánh giá này là những quy tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội, ngoài
ra, việc đánh giá còn dựa vào điều kiện thực hiện động cơ, kết
quả..
- Đánh giá từ xã hội có thể là khen ngợi, đồng tình (Nếu hành vi
ffos phù hợp vs các quy tắc, chuẩn mwucj đạo đức, mang lại
những kết quả tốt đẹp, có lợi), ngược lại, sẽ bị lên án, phê
phán( nếu hành vi này trái ngược lại các quy tắc, chuẩn mực đạo
đức, mang lại những điều xấu, có hại)
- Đánh giá từ bản thân chính là chính là “tòa án lương tâm”
- Ngoài ra, đạo đức còn giúp con người đánh giá hành vi của
những người xq. Phụ thuộc và quy tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội,
ý thức đạo đức lương tâm, trách nhiệm.
Dựa trên các chuẩn mực đạo đức xã hội,cá nhân và cộng
đồng đưa ra sự đồng tình hoặc phản đối
Dẫn đến dự điều chỉnh hành vi của người được đánh giá.
Mối quan hệ giữa ba chức năng
Câu 2. Phân tích mối quan hệ giữa đạo đức với các hình
thái ý thức xã hội khác (với chính trị, khoa học, pháp luật,
nghệ thuật)
















1. Mối quan hệ giữa đạo đức và chính trị
Khái niệmĐạo đức.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một
hệ thống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó cá
nhân tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp hài hòa với
lợi ích của những người xung quanh, đảm bảo cho xã hội phát
triển ổn định, tốt đẹp. Các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực được
thực hiện bởi niềm tin cá nhân, các giá trị văn hóa và sức mạnh
của dư luận xã hội.
Chính trị: Theo quan điểm của đạo đức học Mác-Lê- nin, nói đến
chính trị là nói đến sự tồn tại giai cấp và các quan hệ giai cấp
chính trị. Chính trị thể hiện tập trung nhất vào những lợi ích con
người và trước hết là lợi ích kinh tế.
CT là hệ thống những mục đích, phương tiện của các giai cấp tập
đoàn khác nhau trong xã hội, xoay quanh một vấn đề trọng tâm là
vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực Nhà nước.
Đạo đức và chính trị có mối quan hệbiện chứng, qua
lại với nhau.
2. Mối quan hệ giữa đạo đức và khoa học
Khái niệmĐạo đức.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ
thống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó cá nhân
tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp hài hòa với lợi
ích của những người xung quanh, đảm bảo cho xã hội phát triển
ổn định, tốt đẹp. Các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực được thực
hiện bởi niềm tin cá nhân, các giá trị văn hóa và sức mạnh của dư
luận xã hội.
Khái niệm Khoa học:
Khoa học là hệ thống tri thức về thế giới, là sự tự nhận thức,
khám phá của con người đối với quy luật hiện tượng khách quan:
Quy luật tự nhiên, xã hội, tư duy, nhận thức của con người.
Đạo đức vàkhoa học có mối quanhệ biện chứng, chúng gắn bó
với nhau, khôngthể tách rời nhau




Ý thức đạo đức giúp con người kiểm soát, định hướng nhắm làm
cho khoa học phục vụ cuộc sống:

 Theo quan điểm đạo đứchọc Mác-xít, giữa đạo đứcvà khoa học

luôn cómối quanhệ biện chứng khăng khít.Những mâu thuẫn,
những xungđột giữa tiến bộ khoahọc công nghệ và tiếnbộ đạo đức
trong xãhội tư bản đang diễnra ngày càng gay gắtlà sự phản ánh
nhữngmâu thuẫn ngày sâu sắcgiữa giai cấp tư sảnvà giai cấp vô
sản.
 Chính trong các xã hộitư sản, giai cấp tưsản một mặt sử dụngcác

thành quả của khoa học công nghệ như mộtcông cụ xâm lược,
đànáp, bóc lột, nhưng mặtkhác họ cũng đang lợidụng những
thành quả đóđể mong điều hòa làmgiảm bớt những mâu thuẫnxã
hội nhằm củng cốđịa vị thống trị củamình.
 Như vậy, việc giải quyếtcơ bản và toàn diệnnhững xung đột gay

gắtgiữa tiến bộ khoa họccông nghệ và tiến bộđạo đức chỉ diễn
ratrong điều kiện một xãhội không có giai cấpđối kháng, không có
chếđộ người bóc lột người,chế độ sở hữu cánhân.
 Ở đó những thành quảcủa khoa học công nghệsẽ để xã hội

sửdụng như một phương thứcgiải phóng con người, nângcao các
giá trị nhânphẩm, làm cho con ngườiđược sống ngày càng tựdo,
hạnh phúc hơn, đồngthời hạn chế những tácđộng bất lợi được
cuộcsống của xã hội conngười mang tính tự pháttừ bản thân tiến
bộkhoa học công nghệ.
VD: Sinh sản vô tính.


Trong mỗi con người, đức – trí thống nhất với nhau.

 Trong điều kiện nước ta,Đảng và Nhà nước tachủ trương đưa nước

tabước vào một thời kỳmới, thời kỳ đẩy nhanhquá trình công
nghiệp hóa,hiện đại hóa.


 Trong thời kỳ này, khoahọc công nghệ đóng vaitrò hết sức cơ

bản.Để phát huy những thànhquả của khoa học côngnghệ trong
điều kiện mới,tất cả các tiến bộkhoa học công nghệ đềuđược diễn
ra trong phạmvi của chiến lược chínhsách phát triển khoa
họccông nghệ quốc gia mộtcách toàn diện.
 Chiến lược này đi từphát triển tiềm lực conngười, sử dụng phân

phốicác nguồn lực tài nguyênquốc gia, kết hợp pháttriển toàn
diện với lựachọn các ngành mũi nhọn,kết hợp giữa chính sáchphát
triển công nghiệp vớibảo vệ tài nguyên, môitrường.







3. Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật
Khái niệmĐạo đức.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ
thống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó cá nhân
tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp hài hòa với lợi
ích của những người xung quanh, đảm bảo cho xã hội phát triển
ổn định, tốt đẹp. Các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực được thực
hiện bởi niềm tin cá nhân, các giá trị văn hóa và sức mạnh của dư
luận xã hội.
Khái niệm Pháp luật
Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự do nhà nước ban hành
theo một hình thức thủ tục pháp lý nhất định và được bảo
đảm thực hiện bằng các biện pháp xã hội.

 Ý thức đạo đức vàý thức pháp luật cómối quan hệ biện chứngvới

nhau


Giống nhau: chứcnăng chung là điều chỉnhcác mối quan hệ
xãhội bằng các quy tắc chuẩn mực nhằm bảo toàn vàphát triển xã
hội. Tuynhiên giữa chúng có nhữngđiểm khác nhau

 Pháp luật thường được thựchiện thông qua nhà nước,do nhà nước

soạn thảo,phổbiến và thi hành trongtoàn xã hội. Còn đạođức được


bảo đảm dolương tâm con người dosự phê phán của dưluận xã
hội.
 Phạm vi đạo đức cónội dung bao quát vàrộng hơn pháp luật.

Luậtpháp điều chỉnh một sốmặt của đời sống xãhội, đạo đức xâm
nhậpvào tất cả các hoạtđộng xã hội, trong mọiquan hệ kể cả
đốivới chính bản thân mỗingười.
 Trong thực tế có nhữnghiện tượng pháp luật trừngtrị nhưng đạo

đức khônglên ánvà có hiện tượng đạođức lên án nhưng phápluật
không trừng trị.
 Luật pháp căn cứ vàokết quả hành vi cònđạo đức căn cứ vàođộng

cơ hành vi.
 Để đảm bảo cho luậtpháp được chấp hành nhànước áp dụng chủ

yếucác hình thức cưỡng bứchình phạt, còn đạo đứcthì được bảo
đảm bằnggiáo dục, thuyết phục, ủnghộ hoặc lên án củadư luật xã
hội vàsự kiểm soát của lươngtâm con người.
 - Quan hệ giữa đạođức với luật pháp:
-




Đạo đức và pháp luậtphù hợp với nhau khiý chí của giai cấpthống
trị phù hợp vớilợi ích xã hội vàcộng đồng dân cư. Trongxã hội có
giai cấpđối kháng thì đạo đứcvà pháp luật thường cómâu thuẫn
với nhau vìđạo đức phản ánh quanhệ lợi ích của quầnchúng nhân
dân lao độngcòn pháp luật bảo vệlợi ích của giai cấpthống trị mà
lợi íchcủahai giai cấp đối khángluôn mâu thuẫn với nhau.
4. Mối quan hệ giữa đạo đức và nghệ thuật
Khái niệmĐạo đức.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ
thống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó cá nhân
tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp hài hòa với lợi
ích của những người xung quanh, đảm bảo cho xã hội phát triển
ổn định, tốt đẹp. Các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực được thực


hiện bởi niềm tin cá nhân, các giá trị văn hóa và sức mạnh của dư
luận xã hội.
 Khái niệm Nghệ thuật: Nghệ thuật là một hìnhthái ý thức xã

hội,nó phản ánh tồn tạixã hội. Trung tâmmà nghệ thuật phản
ánhlà phản ánh cái đẹp,nghệ thuật là nơi hộitụ cái đẹp. Nghệ
thuậtđem lại cho con ngườinhững khoái cảm thẩm mỹ,những giá
trị tinh thần.
 Do vậy, giữa đạo đứcvà nghệ thuật có mốiquan hệ chặt chẽ

nhau.Cái đẹp là hiện tượngcủa cái thiện và chỉcó cái thiện mới
cóthể đẹp. Thậm chí, khinghệ thuật miêu tảcái ác, cái xấu xacũng
nhằm mục đích đạtđến cái đẹp, cái thiện.
 Nghệ thuật là phương thứctồn tại của ý thức,một hoạt động sáng

tạođộc đáo, một hình thứcgiao tiếp đặc biệt củacon người, nó có
tácdụng định hướng, thay đổi,tô điểm làm đẹp chobản thân con
người, cácchuẩn mực đạo đức xãhội tạo nên thị hiếuthẩm mỹ của
con người.
-

Ví dụ: “tốt gỗ hơntốt nước sơn. Xấu người,đẹp nết còn hơn
đẹpngười”, “Chồng lớn, vợ béthì xinh, chồng nhỏ vợlớn ra tình chị
em”.

 - Nghệ thuật gắn liềnvới tâm tư, tình cảm,khơi dậy những ước

mơ,khát vọng tốtđẹp, trang phục, giao tiếp.
 - Nghệ thuật là hoạtđộng sáng tạo, tác giảkhông chỉ đổ mồ

hôi,công sức mà cònthể hiện cả: tư tưởngtình cảm, sự nghiền
ngẫmvề cuộc đời, là phươngtiện giao tiếp làm đẹpcho quan hệ
người -người ngày càng đẹp hơn.Nghệ thuật có tác dụnggiáo dục
sâu sắc vànghỉ ngơi giải trí độcđáo.
 - Đạo đức đặt racho nghệ thuật một nhiệmvụ:


 Nghệ thuật có nhiệm vụquan trọng là giáo dụcvà hoàn thiện nhân

cáchcon người. Nghệ thuật sởdĩ sống được, đứng vữngđược là do
nhiều yếutố nhưng yếu tố quantrọng nhất là hướng thiện,đề cao
cái thiện.Cái thiện là khao khátcủa nhân dân lao động.Do đó tác
phẩm nghệthuật nào làm tốt giáodục đạo đức thì sẽtồn tại mãi.
 - Nghệ thuật có tácdụng trở lại đạo đức:
 Nghệ thuật cung cấp chocon người tình cảm đạođức tốt đẹp. Nghệ

thuậtcó lợi thếlà phản ánh bằng hìnhtượng nghệ thuật, do vậynó
sẽ dễ đi vàolòng người. Đối tượng vàmục đích phản ánh củanghệ
thuật là con người,nên nó rất gần vớiđạo đức, ảnh hưởng đếnđạo
đức.
 Đạo đức và nghệ thuậtgiúp cho con người tránhcái xấu, học hỏi

hướngtới cái đẹpvà làm theo cái đẹp,tiến tới tự giác làmđiều tốt.
Tương quan giữađạo đức và nghệ thuậtlà mối tương quan giữacái
thiện và cái đẹp.Cái này làm tiền đềcho cái kia và bổsung cho
nhau cùng pháttriển. Nghệ thuật còn làmchức năng giáo dục
chânchính, giáo dục và hoànthiện nhân cách con người,ngược lại
đời sống đạođức là nguồn chất liệulàm nền móng cho sángtác
nghệ thuật.
 Nghệ thuật chân chính phảilấy cuộc sống, lấy đạođức làm điểm

xuất phátvì nó làcơ sở, là nguồn cảmhứng của nghệ thuật
pháttriển.
 Do đó, nghệ thuật mangchức năng giáo dục, trongđó có cả vị

tríhết sức quan trọng tronggiáo dục đạo đức, làmcho việc chuyển
tải cáclý tưởng, nguyên tắc đạođứctới mọi đối tượng mộtcách nhẹ
nhàng, nhưng lạihết sức sâu sắc.

Câu 3. Phạm trù đạo đức là gì? Nội dung, ý nghĩa của phạm
trù hạnh phúc, nghĩa vụ, lương tâm?


 Phạm trù đạo đức là những khái niệmđạo đức cơ bản phản ánh

những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản, bản chất
của các hiện tượng đạo đức trong đời sống xã hội.


Hệ thống các kháiniệm, phạm trù đạo đứchọc cung cấp phương
tiệnvà công cụđể các chủ thể phản ánh các hiện tượng đạođức
hết sức phức tạp,đa dạng trong đời sốnghiện thực, đồng thời
nócòn làm phát triển khảnăng tư duy khoa họcmột cách hệ
thốngvà có căn cứ.

 Đặc điểm của Phạm trù đạo đức: Các phạm trù đạo đức cũng

giống như các phạm trù của khoa học khác về tính khái quát, tính
phổ biến và nổi lên những quan hệ cơ bản. Bên cạnh đó cũng có
một số đặc trưng riêng biệt như:
+ Phạm trù đạo đức chứa đựng nội dung thông báo và nội dung
đánh giá có tính giai cấp và tính lịch sử, nó cung cấp cho con
người tri thức về thế giới, đặc biệt là mối quan hệ tự nhiên và xã
hội, mang lại những giá trị lịch sử nhất định. VD: Thiện, ác, hạnh
phúc…
+ Các phạm trù đạo đức thường có tính phân cực rõ ràng, là phủ
định hoặc khẳng định. Đólà sự phân cực giữathiện và ác, giữa
hạnhphúc và bất hạnh, lươngtâm và vô lương tâm....
+ Nội dung các phạmtrù đạo đức học là kết quả phản ánhcủa đời
sống hiện thực,nó chứa đựng nhữngquan niệm giá trị nhưniềm tin
bên trong đãđược thăng hoa thành nhữngtình cảm thiêng liêng
caocả.
1. Phạm trù Hạnh phúc:Hạnh phúc là mối quantâm hàng đầu của

đạo đức học, của nhânloại từ thời cổ đạiđến nay. Bởi lẽ quan niệm
về hạnh phúccủa con người có ýnghĩa hết sức quan trọngtrong đời
sống tinh thầnnói chung và đời sốngđạo đức nói riêng. Nólà một
trongnhững nền tảngtinh thần giúp con ngườixây dựng những lý
tưởng,mục tiêu, thái độ sống.Nó cũng là hạt nhân,là thước đo,


định hướngđể con người thiết lậpcác khái niệm thiện, ác,phẩm giá
và hàng loạtcác khái niệm nhân bảnkhác.
- Có nhiều quan niệm khácnhau về hạnh phúc. có thể tómtắt các
quan niệm trướcchủ nghĩa Mác về hạnhphúc theo 3xu hướng sau:
+ Thứ nhất, cho hạnhphúc của con người làsự thỏa mãn thường
xuyênnhững nhu cầu vật chấtnhư ăn, ở, mặc, khỏamạnh, sống
lâu... Để cósự thỏa mãn đó conngười phải giàu có, củacải dư thừa.
 Xu hướng này có từthời cổ đại Hy Lạpvà phát triển mạnh

torngTK XVII – XVIII ởchâu âu gắn liền vớisự đi lên của
giaicấp tư sản.
+ Xu hướng thứ 2,ngược lại với xu hướngtrên, cho hạnh phúc
đíchthực của con người làsự thỏa mãn các nhucầu tinh thần mà
bảnchất của nó là sựthanh thản, yên tĩnh tâmhồn, tránh mọi xúc
động,lo âu, suy nghĩ, trăntrở, sống với tự nhiên,vô tư hiền hòa,
tránhxa mọi âm mưu quỉkế và thói thâm độccủa người đời.
 Xu thế này dẫn đếnnhững mâu thuẫn cả vềlý thuyết lẫn thực

tiễn.
+ Biểu hiện sự khủnghoảng của con người vềquan niệm hạnh
phúc trongxã hội
tư sản hiện đại làsự xuất hiện của chủ nghĩa hiện sinh, xem
cuộcđời chỉ là sự biđát và đau khổ. Theocác đại biểu hiện sinhthì
trong hiện thực chỉtoàn nổi đau khổ, cònhạnh phúc chỉ có trongtrí
tưởng tượng mà thôi.
 hạnh phúc theo quan điểm đạo đức học Mácxít:

- Hạnh phúc theo nghĩa rộnglà sự đánh giá chungnhất đời sống
của conngười làsự tổng hợp những yếutố xã hội của conngười có
tính lịch sử, xã hội. hạnh phúc đíchthực của con người làsống và


hoạt động đểtạo ra nhiều giá trịvật chất, tinh thần nhằmthỏa mãn
các nhu cầuxã hội, là cảm xúcvui sướng khi thỏa mãnnhu cầu đạo
đức caocả.
- Hạnh phúc theo nghĩahẹp là cảm xúc thanh thản vuisướng của
con người khi thỏa mãn cácnhu cầu đạođức cao cả, chân chính,
lành mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần trong những điều kiện lịch
sử xã hội nhất định. Do đó,hạnh phúc bao gồm 2yếu tố:
+ Mặt khách quan củahạnh phúc chính là nhucầu phát triển của
xãhội mà chủthể nhận thức biến thànhtình cảm, trách nhiệm.
+ Mặt chủ quan lànổ lực hăng say hoạtđộng của con người
vươntới những thành quả phùhợp nhu cầu xã hội.
+ Thỏa mãn nhu cầuđạo đức cao cả nghĩalà khi nhu cầu thỏamãn
mang lại cho chủthể sự thanh thản củalương tâm, tự hào vềcuộc
sống, nâng cao ýthức nghĩa vụ. Loại nhucầu này thỏa mãn
manglại hạnh phúc.
Trong cuộc sống không phảibất cứ nhu cầu nàothỏa mãn cũng là
hạnhphúc, có khi nhu cầuthỏa mãn mang lại sựcắn rứt lương tâm.
Hơnnữa nhu cầu luôn lớnlên, tức
là nhu cầu này thỏamãn thì xuất hiện nhucầu khác, cảm giác vềsự
thỏa mãn nhu cầunày không bền.
- Hạnh phúc có tínhlịch sử xã hội:
Thời đại khác nhau, hoàncảnh khác nhau thì quanniệm về hạnh
phúc cũngkhác
nhau.
VD: khi năng suất laođộng thấp thì người tacần thỏa mãn nhu
cầuno để tồn tại.


Khi năng suất phát triểnthì xuất hiện nhu cầuăn ngon, mặc đẹp.
khicó tích lũy thì xuấthiện nhu cầu du lịch,thưởng thức văn hóa,
nghệthuật.
- Hạnh phúc cá nhânlà sự thống nhất lâubền giữa khỏe mạnh,
đápứng nhu cầuvề vật chất, sự thỏamãn về đời sống tinhthần.
hạnh phúc gia đìnhlà cảm giác vui sướngcủa cuộc sống do giađình
mang lại, đó làsự tin yêu, quan tâm,chăm sóc lẫn nhau vàtạo điều
kiện cho từngthành viên của gia đìnhphát triển phù hợp vớisự tiến
bộ của xãhội.
- hạnh phúc chỉ cóđược trong hoạt động thựctiễn mà chủ yếu
nhấtlà thực tiễn sản xuấtvật chất. Trong thực tế,để thỏa mãn
những nhucầu sống của mình conngười phải lao động sảnxuất của
cải vật chấtxã hội. Cùng với quátrình sản xuất ra củacải vật chất
để duytrì và phát triển cuộcsống xã hội, con ngườicũng đồng thời
sản xuấtra cácgiá trị tinh thần. Nhưvậy, con người không
nhữngsản xuất ra của cảivật chất mà còn nhậnthức, suy nghĩ cảm
nhậnvề quá trình sản xuấtvà hướng thụ các giátrị xã hội đó.
Quađó, con người nhận ravà suy nghĩ về niềmsung sướng hạnh
phúc vànổi bất hạnh đau khổcủa mình.
- Quá trình lao độngsản xuất và hoạt độngxã hội của con
ngườichẳng những là quá trìnhcon người sản xuất ragiá trị vật
chất vàtinh thần nhằm thỏa mãncác nhu cầu của bảnthân con
người và xãhội, đồng thời cũng làquá trình nảy sinh, pháttriển các
nhu cầu.
- Nhờ có lao động,con người chẳng những đãcó được những sản
phẩmcó thể thỏa mãn nhữngnhu cầu sống của mìnhmà còn làm
cho nhữngnhu cầu nguyên thủy mangtính động vật trở
thànhnhững nhu cầu mang tínhngười. Quá trình đó cứphát triển
làm cho nhữngnhu cầu của con ngườingày càng phong phú,
đadạng, sâu sắc cả vềvật chất lẫn tinh thần.


Quá trình lao động sảnxuất và hoạt động xãhội không những tạo
racác giá trị
vật chất và tinh thần,phát triển các nhu cầumà còn tạo nên
nhữngphương thức thỏa mãn
các nhu cầu đó ngàycàng phong phú, sâu sắc,giàu cảm xúc và
nângcao tính văn hóa củabản thân quá trình hưởngthụ xã hội.
Đó cũng là quá trìnhmỗi chủ thể hoạt độnghoàn thiện thể chất,
nângcao năng lực hoạt động,làm p[hong phú tri thức,tinh thần, tư
tưởng, cảmxúc, phát triển và làmgiàu các quan hệ xãhội một cách
tích cực.
Kết quả đó đưa lạicho con người niềm vui,niềm tự hào sung
sướng,nâng cao ý thức phẩmgiá con người, tin tưởngvào xã hội và
conngười, gắn bó mỗi cánhân với cộng đồng trongtình thương
yêu, quí trọnglẫn nhau, đó chính làhạnh phúc của con người.
Như vậy hạnh phúc obao giờ được đặt ranhư mục tiêu trực
tiếp,cuối cùng mà nó
chỉ đến với con ngườinhư một tặng thưởng kèmtheo những giá trị
vậtchất, tinh thần mà
họ đã tạo ra vìxã hội.
Do đó, hạnh phúc khôngphải là cái gì cósẵn để con người cóthể
nhận lấy một cáchthụ động mà phải dochính bản thân họ sángtạo
ra. Đó là lẽvì sao, sự lười biếng,thói ỷ lại, trì trệ,hưởng thụ một
chiều trongthực tế là kẻ thhùcủa hạnh phúc.
Trong đời sống xã hộicon người, về cơ bảncó thể phân ra 2loại nhu
cầu: nhu cầuvật chất và nhu cầutinh thần. Nhu cầu vậtchất
thường cấp bách nhưngcó tính lập lại cao,nhu cầu tinh thần cótính
phát triển và sâusắc.


Trong các nhu cầu tinhthần thì nhu cầu đạođức có thể coi lànhu
cầu có tính xãhội cao, sâu sắc nhấtvà mang tính giáo dụccao
nhất. Chính vì thế,những hoạt động của conngười thỏa mãn
những nhucầu đạo đức xã hộilàm cho con người đạtđến hạnh
phúc cao nhất.
hạnh phúc được quan niệmnhư vậy không loại trừhoàn toàn mọi
nổi đaukhổ. Nhiều khi chính nổiđau khổ hay sự khổnão của con
người cũngtham gia vào làm thànhmột mặt của hạnh phúc.Những
nổi đau khổ, đaukhổ có tính tích cựclà những trăn trở trongsáng
tạo, đau khổ vìnổi đau khổ của ngườikhác, những gian truân,
khổải, vượt qua khó khăntrong lao động và cuộcsống.
Niềm vui, niềm hạnh phúcmà con người nhận đượcphụ thuộc rất
nhiều vàonhững trăn trở và đaukhổ mà họ phải trảiqua, đau khổ ở
mứcđộ càng cao, mục đíchtrong sáng, hướng tới cáitốt đẹp, cái
thiện, cáicao cả càng lớn laobao nhiêu, thì niềm vui,niềm hạnh
phúc mà họnhận được sau khi đãhoàn thành công việc cànglớn
bấy nhiêu.

2. Phạm trù lương tâm

Phạm trù lương tâm : các nhà đạo đức học đềuthống
nhất với nhau rằng lương tâm là đặc trưng của đời sống cá nhân,
là phạmtrù có tính phổ biến làm nên đạo đức của con người.
Lương tâm được bắt nguồn từsự nhận thức nghĩa vụ đạo đức của
con người và được quy định bỡi hoạt động củacá nhân trong
những điều kiện lịch sử – xã hội cụ thể.
a. Lương tâm là gì?
Trong cuộc sống, những người có đạo đức luôn tựxem
xét, đánh giá các mối quan hệ giữa bản thân với những người
xung quanh, vớixã hội. Trên cơ sở đánh giá hành vi của mình, cá
nhân tự giác điều chỉnh hànhvi cho phù hợp với các chuẩn mực
đạo đức… Đó là lương tâm.


Xu hướng tiêu biểu của con người là hành động hướng thiện,mong
muốn làm điều thiện và tự đ1nh giá, phán xử hành vi của mình.
Có được nhữngđiều đó là nhờ có lương tâm. Lương tâm là thế giới
nội tâm sâu kín bên trong,nó có tác dụng điều chỉnh ý thức, hành
vi của con người, nhờ có lương tâm màđạo đức xã hội mới bảo tồn
và phát triển. lương tâm giúp con người hối cải vàđiều chỉnh lỗi
lầm. Người có lương tâm dù bất kỳ ở đâu và trong bất kỳ
hoàncảnh nào cũng giữ được nhân cách tốt đẹp của mình. Do đó
lương tâm hướng conngười đến những điều tốt đẹp và đấu tranh
chống lại cái ác. Nếu người không cólương tâm thì họ không thể
thực hiện tốt nghĩa vụ đạo đức, ngược lại họ sẳnsàng làm điều ác,
tàn bạo.
Vậy lương tâm là gì?
“Lương” là tốt lành.
“Tâm” là lòng.
Lương tâm là năng lực tự đánh giá và điềuchỉnh hành vi đạo đức
của bản thân trong mối quan hệ với người khác và với xãhội
b. Một số quan niệm về phạm trù lương tâm trong lịch sử
Một số quan niệm vềlương tâm của đạo đức học của các nhà triết
học trước Mác
– Platon: lương tâm là sự mách bảo của thần linh thượng đếdo đó
nó tồn tại vĩnh viễn.
– Locko: lương tâm là khả năng khống chế những dục vọng
củamình, và tuân theo sự hướng dẫn tuyệt đối của lý trí.
– Kant: lương tâm là sự thao thức của tinh thần, gắn với conngười
như là bẩm sinh.
– Heghen: lương tâm là sản phẩm của tinh thần, là ý thứcđược
điều thiện và lẽ công bằng.
Nhìn chung, các nhà đạo đức học trước Mác đều khẳng địnhlương
tâm là một phạm trù của đạo đức học, là yếu tố cấu thành đạo
đức nhưng lýgiải về lương tâm chưa khoa học.
Quan niệm về lương tâmcủa đạo đức học Mác
Lương tâm là ý thức trách nhiệm và tình cảm đạo đức cá nhânvề
sự tự đánh giá hành vi và cách cư xử của mình trong đời sống xã


hội, hoặclương tâm là năng lực tự đánh giá hành vi đạo đức của
tình cảm đạo đức.
Lương tâm được xem như một loại cảm xúc đặc biệt thể hiện
ranhư thước đo mức độ trưởng thành đạo đức cá nhân và đạo đức
xã hội.
Lương tâm vừa là ý thức vừa là tình cảm con người, càng cóthiện
tâm, thiện ý và càng hành động tốt bao nhiêu thì lương tâm càng
yên ổnbấy nhiêu và ngược lại. Do đó, lương tâm là ngọn nguồn
của hạnh phúc.
c. Nguồn gốc của lương tâm
Sự hình thành lương tâm là một quá trình phát triển lâu dàitừ ý
thức đến tình cảm đạo đức:
– Con người ý thức được cái cần phải làm vì sợ xấu hổ trướcngười
khác và trước dư luận xã hội.
– Con người ý thức được cái cần phải làm nếu không làm thìkhông
chỉ sợ người khác và xã hội chê cười mà cơ bản là tự xấu hổ với
chínhmình, đạt tới trình độ tự xấu hổ sẽ làm xuất hiện lương tâm.
– Lương tâm xuất hiện khi ý thức, tình cảm, trách nhiệmtrước điều
thiện và lẽ công bằng. Do đó lương tâm có thể xuất hiện từ lúc
bắtđầu dự kiến hành vi cho đến khi kết thúc hành vi. Nhưng sự
thức tỉnh của lươngtâm tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
của mỗi người.
– Sự hình thành cảm xúc lương tâm gắn liền với nhận thức
conngười về lẽ sống, lý tưởng, hạnh phúc của con người, đặc biệt
là với ý thức nghĩavụ đạo đức. nghĩa vụ đạo đức là ý thức trách
nhiệm trước xã hội và người khác,còn lương tâm là ý thức trách
nhiệm trước bản thân mình. Có thể xem ý thứcnghĩa vụ đạo đức là
nền tảng, là cơ sở hình thành lương tâm của con người.
Lương tâm luôn tồn tại ở 2 trạngthái
Khi thực hiệnnhững hành vi phù hợp với các quy tắc,
chuẩn mực đạo đức của xã hội, thì cánhân cảm thấy hài lòng,
thoả mãn với chính mình. Đó là trạng thái thanh thản của lương
tâm.


Khi cá nhân có các hành vi sailầm, vi phạm các chuẩn mực đạo
đức, họ cảm thấy ăn năn và hối hận. Đó là trạngthía cắn rứt lương
tâm.
Lương tâm dùtồn tại ở trạng thái nào cũng có ý nghĩa
tích cực đối với cá nhân. Trạng tháithanh thản của lương tâm giúp
con người tự tin hơn vào bản thân và phát huyđược tính tichs cực
trong hành vi của mình. Trạng thái cắn rứt lương tâm giúpcá nhân
điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với yêu cầu của xã hội.
Một cánhân làm điều ác nhưng lại không biết ăn năn, hối hận hay
xấu hổ, không cắn rứtlương tâm thì bị coi là vô lương tâm.
Lương tâm làđặc trưng của cá nhân nên nó có tính chủ
quan nghĩa là lương tâm phụ thuộc bởinăng lực, khả năng, tình
cảm và trí tuệ của mỗi con người. Nhưng lương tâm còncó tính
chất giai cấp tức là do lập trường quan điểm giai cấp chi phối ý
thức đạođức và tình cảm đạo đức đồng thời lương tâm còn có tính
nhân loại phổ biến đólà sự công bằng và các giá trị phổ quát…
d. Vai trò của lương tâm trong sự điều chỉnh hành vi đạo
đức của cánhân
Lương tâm trong sạch khi hành viphù hợp với chuẩn mực
đạo đức được xã hội công nhận, tức ý thức được sự lươngthiện của
mình và tạo ra cảm giác vững tâm về nhân phẩm, danh dự, tạo ra
sựthanh thản cho tâm hồn.
Nếu cảm giác lương tâm khôngtrong sạch khi chủ thể
hành động không đúng chuẩn mực đã được công nhận, dẫnđến
cảm giác lương tâm không trong sạch chính là sự cắn rứt lương
tâm. Tình cảmlương tâm là sự hài hòa giữa khát vọng hạnh phúc
và tận tâm với nghĩa vụ. Thựchiện nghĩa vụ một cách trung thực
là ngọn nguồn cơ bản của niềm vui hạnh phúccủa con người. Nếu
lương tâm cắn rứt dằn vật thì bất hạnh sẽ lớn hơn nhiều.
Kant cho rằng sự tự đánh giá củalương tâm như là sự xét
xử trước tòa. Màn kịch nội tâm là đấu tranh giữa nhânvật hành
động và nhân vật phán xử. Ngược lại, kẻ nào có năng lực tự đánh
giá hành vi, kìm chế hànhvi vì lợi ích của mình chà đạp lên tất cả
đó là những kẻ vô lương.


Sự hình thành lương tâm phải làmột quá trình phấn đấu
rèn luyện bền bỉ, lâu dài. lương tâm hết sức nhạy cảm,tinh tế và
thường trực giúp con người cảm nhận nên gọi là giác quan thứ
6.Người ta cho rằng lương tâm thường không mắc sai lầm, nhưng
tiếng nói của nónhiều khi lại hết sức yếu ớt đến nổi con người có
thể dập tắt nó không khókhăn. Vì vậy, vấn đề rèn luyện, giáo dục
lương tâm phải là công việc thườngxuyên cho suốt cả cuộc đời.
Trong đời sống xã hội, đòi hỏi tất yếu mỗi người phảiý thức được ý
nghĩa, mục đích hoạt động của mình trong quá khứ, hiện tại
vàtương lai. Những hoạt động đó bao giờ cũng có sự chi phối của
những quan hệgiữa các cá nhân, cá nhân và xã hội. Những mối
quan hệ đó qui định giới hạnnhất định nhằm đảm bảo lợi ích của
cộng đồng và xã hội. Những qui định này tựgiác tạo thành động
lực cho phát triển xã hội. Đó là các qui tắc, chuẩn mựchoàn toàn
tự giác trong hành động của mỗi cá nhân trong tất cả các quan hệ
xãhội. Nói cách khác, đó chính là đạo đức của con người trong xã
hội.
Phạm trù Nghĩa vụ
Nghĩa vụ đạo đức đã xuất hiện rất sớm và nó tồn tại với thời
gian, tồn tại qua các giai đoạn phát triển của lịch sử loài
người. Điều đó cho thấy, ở bất kỳ chế độ xã hội nào, ở thời
kỳ phát triển xã hội nào thì nghĩa vụ cũng rất cần thiết.
Theo quan điểm của đạo đức học Mác-lê nin, nghĩa vụ là ý
thức, tình cảm của cá nhân, khi cần thiết tự nguyện đem
nhu cầu và lượi ích của bản thân để phục vụ cho lợi ích của
gia đình, dân tộc.
Nghĩa vụ đạo đức là ý thức và tình cảm của con người tự
nguyện, tự giác thực hiện các hành động của mình theo các
chuẩn mực chung của xã hội. Nghĩa vụ đạo đức của con
người có mối liên hệ chặt chẽ với nghĩa vụ pháp lý. Nghĩa vụ
đạo đức và nghĩa vụ pháp lý của con người đều có chung
mục đích là nhằm điều chỉnh hành vi của con người cho phù
hợp với qui tắc, chuẩn mực chung của xã hội.













Nghĩa vụ không hình thành một cách tự nhiên, nhất thời mà
nó được hình thành và hoàn thiện trong cả quá trình giáo
dục, tự giáo dục, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn của
mỗi cá nhân, thậm chí qua quá trình đấu tranh, thử thách
của cuộc sống.
Trong đời sống xã hội, cá nhân đồng thời thực hiện nhều
nghĩa vụ cùng một lúc, nhiều lúc, thực hiện các nghĩa vụ có
những mâu thuẫn cần sự lựa chọn giải quyết, vì thế cần xác
định được 2 yếu tố:
- Thứ nhất: Thực hiện nghĩa vụ nào là quan trọng nhất
trong thời điểm đó
- Thứ hai: Lợi ích của việc thực hiện các nghĩa vụ mà
không đi ngược lại với lợi ích của xã hội
Ví dụ:



Ý nghĩa của phạm trù nghĩa vụ:
- Thực hiện nghĩa vụ là yêu cầu tất yếu khách quan
- Giáo dục nghĩa vụ là quá trình lâu dài hình thành từng
bước, dựa trên sự gương mẫu, tình cảm yêu thương
đoàn kết của con người với con người

Câu 4: khái niệm đặc điểm của các giá trị truyền thống


phương tiện thông tin đại chúng nhằm tạo ra dư luận thông tin đại
chúng nhằm tạo ra dư luận xã hội lành mạnh, ủng hộ cá nhân,
hành vi tốt, lên án những hành vi phi đạo đức


Câu 5: Khái niệm, biểu hiện của truyền thống yêu nước,
nhân nghĩa



Lòng nhân nghĩa: Nhân nghĩa là truyền thống rất cao
thượng của dân tộc ta, nó thể hiện đạo đức của thế hệ
từ ngàn xưa cho đến nay và duy trì, phát triển
Khái niệm: Nhân nghĩa là lóng thương người và sự đối xử với
người khác theo điều phải. Tình yêu thương sâu sắc giữa con
người với con người. Đó là tình yêu thương kính trọng đối với







phẩm giá con người và sự tận tụy phục vụ lợi ích con người, làm
cho những lí tưởng cao đẹp nhất của họ về tự do, hạnh phúc trở
thành hiện thực.
Biểu hiện của lòng nhân nghĩa


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×