Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm nông học của cây thuốc ngũ vị tử ngọc linh (schisandra sphenanthera) tại hà nội

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ LAN ANH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA
CÂY THUỐC NGŨ VỊ TỬ NGỌC LINH (Schisandra
sphenanthera) TẠI HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

HÀ NỘI, NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT


HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ LAN ANH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA
CÂY THUỐC NGŨ VỊ TỬ NGỌC LINH (Schisandra
sphenanthera) TẠI HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN HẠNH HOA

HÀ NỘI, NĂM 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn thạc
sỹ nông nghiệp này là trung thực, chưa từng được sử dụng trong bất kỳ tài liệu
nào trước đây.
Tôi cũng xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
thạc sỹ này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã
được ghi rõ nguồn gốc.
Học viên

Nguyễn Thị Lan Anh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page i


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sỹ nông nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản
thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ đạo tận tình của các Thầy giáo, Cô giáo.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo TS. Nguyễn Hạnh Hoa - Bộ
môn Thực vật - Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã hướng
dẫn tận tình, chỉ bảo cặn kẽ cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Thạc sỹ Phạm Thị Thu Thủy – Trung tâm


chuyển giao khoa học công nghệ và phát triển dược liệu– Viện Dược Liệu Hà
Nội. Người đã hướng dẫn và hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ
này.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến các Thầy giáo, Cô giáo cùng toàn thể các
cán bộ nhân viên trong Bộ môn Thực vật - Khoa Nông học - Học viện Nông
nghiệp Việt Nam đã quan tâm giúp đỡ tôi và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong
quá trình tôi thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy giáo, Cô giáo trong
Khoa Nông học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện để tôi
hoàn thành luận văn thạc sỹ.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn động
viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ này.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2016

Học viên

Nguyễn Thị Lan Anh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page ii


M
Lờ i
i
Lờ ii
i
M iii
ục
Da vi
nh
Da vii
nh
Da vii
nh i
M 1

1. 1
Đặ
2. 2
M
2.1 2
.
2.2 2
.
3. 2
Ý
3.1 2
.
3.2 2
.
4. 3
Ph
C 4
H
1.1y
. Ngũ
1.2 5
.
1.3 6
.
1.4 7
.
1.4 7
.1.
1.4 9
.2.
1.4 10
.3.
1.5 13
.
1.5 13
.1.
1.5 13
.2.
1.5 13
.3.
1.5 14
.4.
1.5 14
.5.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 3


1.5.6.
1
Mật
4
1.5.7.
1
Kỹ
5
1.5.8.
1
Phòng 5
1.5.9.
1
Thu
6
1.6 .
1
Những 6
1.6.1.
1
Tình
6
1.6.2.
1
Tình
7
1.6.3.
Nhu
CHƯ
2
ƠNG
2
2.1 Đ 2
.
ố 2
2.1 Đ 2
.1 ố 2
2.1 V 2
.2 ậ 2
2.2 Đ 2
.
ị 2
2.2 Đ 2
.1. ị 2
2.2 T 2
.2. h 2
2.3 N 2
.
ộ 2
2.3 N 2
.1. g 2
2.3 B 2
.2. ư 4
2.3 P 2
.3. h 6
CHƯƠNG
3: KẾT
3.1.
2
Đặc
8
3.1.1.
2
Đặc
8
3.1.2.
3
Đặc
7
3.2.
4
Một số 0
3.2.1.
4
Khả
0
3.2.2.
4
Động
3
3.2.3.
4
Động
4
3.2.4.
4
Động
6
3.2.5.
Ảnh
N4
ũ 6
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 4


3.2.6.

Ảnh hưởng của điều kiện sinh thái đến sự phát triển đường kính cây
Ngũ vị tử.

49

3.2.7.

Ảnh hưởng của phân bón đến sự tăng trường kích thước lá Ngũ vị tử. 49

3.2.8.

Ảnh hưởng của điều kiện sinh thái đến sự tăng trường kích thước lá
của cây Ngũ vị tử.

53

3.2.9.

Ảnh hưởng của phân bón đến sự hình thành số nhánh cây Ngũ vị tử. 55

3.2.10.

Ảnh hưởng của điều kiện sinh thái đến sự hình thành số nhánh cây
Ngũ vị tử.

56

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

59

1.

Kết luận

59

1.1.

Đặc điểm hình thái của cây Ngũ vị tử

59

1.2.

Đặc điểm cấu tạo giải phẫu cây Ngũ vị tử

59

1.3.

Một số đặc điểm nông học của cây Ngũ vị tử.

59

2.

Kiến nghị

60

TÀI LIỆU THAM KHẢO

61

PHỤ LỤC

62

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 5


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CC

Chiều dài

CR

Chiều rộng

CT

Công thức

ĐC

Đối chứng

ĐK

Đường kính

KHCN

Khoa học công nghệ

TG

Thời gian

TGBĐ

Thời gian bắt đầu

TGKT

Thời gian kết thúc

UBND

Ủy ban nhân dân

YHCT

Y học cổ truyền

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 6


DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Kích thước các phần mô trong cấu tạo giải phẫu rễ sơ cấp của cây
Ngũ vị tử Ngọc linh.

29

Bảng 3.2: Kích thước các phần mô trong cấu tạo giải phẫu rễ thứ cấp của cây
Ngũ vị tử Ngọc linh.

30

Bảng 3.3: Kích thước các phần mô trong cấu tạo giải phẫu thân sơ cấp của cây
Ngũ vị tử Ngọc linh.

32

Bảng 3.4: Kích thước các phần mô trong phiến lá và gân chính của lá cây Ngũ
vị tử Ngọc linh.

35

Bảng 3.5. Ảnh hưởng của giá thể đến tỷ lệ nảy mầm của hạt Ngũ vị tử.

40

Bảng 3.6. Ảnh hưởng của độ sâu gieo hạt đến tỷ lệ nảy mầm của hạt Ngũ vị tử.
42
Bảng 3.7. Sự phát triển chiều cao thân chính của cây Ngũ vị tử.

43

Bảng 3.8. Động thái ra lá của cây Ngũ vị tử

45

Bảng 3.9: Động thái vươn leo của cây Ngũ vị tử .

46

Bảng 3.10. Ảnh hưởng của phân bón tới sự phát triển đường kính thân cây
Ngũ vị tử .

47

Bảng 3.11. Ảnh hưởng của điều kiện sinh thái tới sự phát triển đường kính
thân cây Ngũ vị tử .

49

Bảng 3.12. Ảnh hưởng của phân bón đến sự phát triển chiều dài lá cây Ngũ vị tử. 50
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của phân bón đến sự phát triển chiều rộng lá cây Ngũ
vị tử.

51

Bảng 3.14. Ảnh hưởng của điều kiện sinh thái tới sự phát triển chiều dài lá cây
Ngũ vị tử .

53

Bảng 3.15. Ảnh hưởng của điều kiện sinh thái tới sự phát triển chiều rộng lá
cây Ngũ vị tử .

54

Bảng 3.16: Ảnh hưởng của phân bón đến sự hình thành số nhánh cây Ngũ vị tử. 55
Bảng 3.17. Ảnh hưởng của điều kiện sinh thái tới sự hình thành số nhánh cây
Ngũ vị tử .
Bảng 3.18: Tỷ lệ cây sống trên đồng ruộng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

56
57

Page vii


DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ


nh

nh

nh

nh

nh

nh

nh

nh

nh

nh

nh

nh

nh

nh

nh

nh

nh

nh

nh

28
31
31
33
34
35
37
37
38
38
38
39
40
41
42
44
45
46

N47
tử
Hình 3.19: Ảnh hưởng của phân bón đến sự phát triển chiều dài lá cây Ngũ vị tử. 50
Hình 3.20: Ảnh hưởng của phân bón đến sự phát triển chiều rộng lá cây Ngũ
vị tử.

52

Hình 3.21: Ảnh hưởng của phân bón đến sự hình thành số nhánh cây Ngũ vị tử. 55

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page viii


MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một quốc gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng
và ẩm, nên có nguồn tài nguyên động, thực vật đa dạng và phong phú, trong đó
có rất nhiều loài cây cỏ được chúng ta sử dụng để làm thuốc, điều trị bệnh cho
con người. Theo số liệu điều tra của Viện Dược Liệu (2007), ở nước ta có
khoảng 3.948 loài thực vật được dùng làm thuốc, chúng không chỉ đa dạng về
đặc điểm hình thái mà còn rất đa dạng về kiểu gen và đặc điểm phân bố.
Dược liệu ở nước ta không những là cơ sở của nền y học cổ truyền mà còn
có vị trí rất quan trọng trong nền y học hiện đại, có rất nhiều loài cây thuốc đã
tham gia vào cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp, góp phần tạo nguồn nguyên
liệu cho ngành công nghiệp Dược. Trong số những cây được dùng để làm thuốc
thì cây Ngũ vị tử được biết đến với rất nhiều công dụng, xuất hiện nhiều trong
các bài thuốc dân gian. Ngũ vị tử là loài nằm trong danh mục các loài đang được
lưu giữ trong hệ thống bảo tồn nguồn gen và giống cây thuốc.
Ngũ vị tử được biết đến là một vị thuốc kinh điển đã được sử dụng rộng
rãi trong y học cổ truyền, nay đang là nguyên liệu cho nhiều loại thuốc của ngành
công nghiệp dược liệu, nên sản lượng tiêu thụ hàng năm lớn. Ngũ vị tử là vị
thuốc y học cổ truyền phương đông, dùng chữa ho lâu ngày, phế hư, ho tức ngực,
hen suyễn, mỏi mệt, di tinh, tân dịch thương tổn, đoản khí, mạch hư, nội nhiệt
tiêu khát, mất ngủ...
Việt Nam lâu nay vẫn phải nhập khẩu Ngũ vị tử từ Trung Quốc với số
lượng lớn và mức giá cao. Việc phát triển một loài Ngũ vị tử mọc hoang ở núi
Ngọc Linh, tỉnh Kon Tum và Quảng Nam đã mở ra hy vọng có thể thay thế vị
thuốc nhập khẩu. Đây là cây thuốc lâu năm có khả năng phát triển tạo vùng
nguyên liệu dược thay thế nhập khẩu gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái
cho vùng núi cao. Tuy là cây thuốc rất có giá trị nhưng hầu như chưa có những
nghiên cứu một cách có hệ thống về các đặc điểm nông sinh học. Để có những
thông tin chính xác và chi tiết về đặc điểm hình thái, giải phẫu thực vật học, đặc

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 1


điểm nông sinh học của cây thuốc Ngũ vị tử và tìm hiểu khả năng sinh trưởng
của cây trong điều kiện đồng bằng Bắc bộ chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài
“Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của cây thuốc Ngũ vị tử Ngọc Linh
(Schisandra sphenanthera) tại Hà Nội”.
2. Mục đích, yêu cầu
2.1. Mục đích
- Xác định đặc điểm hình thái, giải phẫu của cây thuốc Ngũ vị tử Ngọc
Linh. Trên cơ sở đó tuyển chọn giống tốt nhất cho sản xuất.
- Xác định được giá thể, độ sâu gieo hạt, và lượng phân bón thúc thích hợp
cho cây Ngũ vị tử Ngọc linh có khả năng nảy mầm và sinh trưởng tốt nhất.
2.2. Yêu cầu
- Đánh giá các đặc điểm hình thái và giải phẫu, từ đó xác định chính xác
định cây giống Ngũ vị tử Ngọc linh chuẩn xác.
- Chọn phương pháp giải phẫu phù hợp, từ đó xác định chính xác cấu tạo
giải phẫu các bộ phận của cây.
- Bố trí thí nghiệm đúng phương pháp, thực hiện đầy đủ các biện pháp kĩ
thuật gieo trồng và các chỉ tiêu theo dõi để có kết quả số liệu chính xác.
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học.
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học phục vụ cho việc phân
loại cây dược liệu, góp phần xây dựng qui trình chọn và nhân giống cây thuốc
Ngũ vị tử Ngọc linh, phục vụ nhu cầu chữa bệnh của người dân.
Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung thêm tài liệu cho công tác nghiên
cứu khoa học, tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo cho các cán bộ kỹ thuật nông
nghiệp.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn.
Hiện nay nhu cầu tiêu dùng Ngũ vị tử để làm thuốc ngày càng tăng. Tuy
nhiên chúng ta vẫn phải nhập từ Trung Quốc là chủ yếu. Trong khi đó quỹ đất
trồng và nguồn lao động nông nghiệp ở vùng cao rất lớn là cơ hội để người dân
sản xuất Ngũ vị tử theo hướng sản xuất hàng hóa, cải thiện và phát triển kinh tế

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 2


hộ gia đình.
Đề tài cũng góp phần bảo tồn đa dạng sinh học các loài thực vật, giữ gìn
và phát triển nguồn gen cây Ngũ vị tử trong điều kiện biến đổi khí hậu xảy ra.
4. Phạm vi giới hạn của đề tài.
Do điều kiện thời gian nên thí nghiệm về phân bón cho cây Ngũ vị tử
Ngọc linh tại Hà Nội và tại Kontum mới chỉ theo dõi được ở thời kì đầu giai đoạn
sinh trưởng sinh dưỡng của cây.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 3


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nguồn gốc, vị trí phân loại và phân bố sinh thái của cây Ngũ vị tử.
Cây Ngũ vị tử có tên khoa học là Schisandra sp., thuộc họ Ngũ vị
(Schisandraceae).Bộ Hồi (Illiciales). Phân lớp: Hoàng liên (Rancunulidae). Lớp:
2 lá mầm (Dicotyledones). Ngành hạt kín: Angiospermae.
Ngũ vị tử còn được gọi là Huyền cập, Ngũ mai tử, Sơn hoa tiêu, Ngũ vị.
Tử là hột và tên Ngũ vị do hột có 5 vị mặn, ngọt, đắng, cay, chua. Vị chính là
mặn và chua.
Theo dược điển Trung Quốc cây thuốc Ngũ vị tử gồm 2 chi làSchisandra
chinensisBaill.(Ngũ vị tử Bắc)vàKadsura japonica L. (Ngũ vị tử Nam).
Theo sách Từ điển bách khoa dược học (1999) thì Ngũ vị tử bắc mọc ở
Trung Quốc (Hắc Long Giang, Cát Lâm, Liêu Ninh, Hà Bắc, Sơn Tây, Hồ Bắc,
Thiểm Tây, Cam Túc, Nội Mông),Ngũ vị tử Nam phân bố ở độ cao từ 700-2000
m, ở các vùng phía Nam và Tây Nam Trung Quốc như An Huy, Quý Châu, Hà
Nam, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tô, Thiểm Tây, Sơn Tây, Tứ Xuyên, Vân Nam,
Chiết Giang.Ngoài ra Ngũ vị tử còn phân bố ở Nga (Viễn Đông), Triều Tiên
(Ngũ vị tử Triều Tiên được coi là loại tốt).
Ở Việt Nam, theo Nguyễn Tiến Bân(2005) trong danh mục các loài thực
vật Việt Nam tác giả có giới thiệu 5 loài thuộc chi Kadsura, 5 loài thuộc chi
Schisandra. Loài Schisandra chinensis (Ngũ vị tử Bắc) chưa được phát hiện mọc
hoang, có nêu loài này đã được nhập trồng vào Phong Thổ(Lai Châu) và Sapa
(Lào Cai).
Theo Phạm Hoàng Hộ (1999) trong Cây cỏ Việt Nam, tác giả giới thiệu 4
loài thuộc chi Kadsura và 4 loài thuộc chi Schisandra, trong đó có loài
Schisandra grandiflora (Wall.)Hook.f.& Thoms chỉ ghi phân bố ở miền Bắc
không rõ địa danh nào. Theo Petelot, trong thực vật chí Đông Dương có giới
thiệu loài cây Nắm cơm với tên khoa học là Kadsura longipedunculata, mọc
hoang ở rừng dạng dây leo trên các cây to trên các địa phận thuộc Lào Cai
(Sapa), Hưng Yên, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế,

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 4


đã được dùng làm thuốc có tên Ngũ vị tử nam. Loài Schisandra perulata mọc
hoang, dạng leo phân bố ở Ô Quý hồ, Sa Pa - Lào Cai. Loài này không thấy giới
thiệu làm thuốc.
Theo Đỗ Xuân Bích và cộng sự (2005),thì Ngũ vị tử Bắc (S.chinensis
Baill.) đã được phát hiện ở một số vùng núi cao giáp biên giới Trung Quốc, như
Lào Cai (Sa Pa, Bát Xát); Lai Châu (Phong Thổ, Sìn Hồ). Loài này còn gặp nhiều
ở Trung Quốc.
Loài

Ngũ

vị

tử

Ngọc

Linhcó

tên

khoa

học

là:

Schisandra

sphenanthera Rehd. et Wils.thuộc Ngũ vị tử nam được phát hiện tại dãy Ngọc
Linh thuộc hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam ở độ cao 1.200 – 1.600 m.Ở Kon
Tum, Ngũ vị tử phân bố ở các huyện Ngọc Lây, Đaktô, Tumơrông, Konblông. Ở
Quảng Nam phân bố chủ yếu ở nam Trà My cây tái sinh tự nhiên bằng hạt. Cây
Ngũ vị tử Ngọc Linh được quan tâm phát hiện năm 2001 và đánh giá phân loại
định danh năm 2004 là loài (Schisandra sphenanthera Rehd.et Wils.) thuộc họ
Ngũ vị Schisandraceae, là một trong hai loài được sử dụng làm dược liệu Ngũ
vị tử(Dược điển Việt Nam,
2002. Cây thuốc và động vật làm thuốc tỉnh Kontum, 2007).
1.2. Yêu cầu sinh thái của cây Ngũ vị tử.
Ngũ vị tử thuộc loại dây leo, sống lâu năm,ưa sống ở nơi có khí hậu ẩm
mát núi cao từ 1200 - 1600 m. Cây thường mọc trùm lên các bụi hoặc cây gỗ nhỏ
ở ven rừng ẩm, bờ nương rẫy hoặc mọc lẫn ở các kiểu rừng non đang tái
sinh.Trong điều kiện môi trường có nhiều ánh sáng, độ che phủ >20%, ẩm độ
mát mẻ thích hợp cho sự hình thành nụ hoa Ngũ vị tử và số lượng hoa cái tăng
đáng kể. Do đó trồng Ngũ vị tử đồng thời chú ý đến cả 2 yếu tố độ ẩm không khí
môi trường và ánh sáng. Phát triển ở dưới tán rừng tự nhiên nên giữ lại những
cây có tán lá rộng, rừng cây gỗ to có bóng mát, độ che phủ từ 30-40% là điều
kiện lý tưởng nhất cho cây Ngũ vị tử sinh trưởng và phát triển. Trong tự nhiên
o

cây Ngũ vị tử có thể chịu được nhiệt độ thấp tới -42 C. Ngũ vị tử là cây ưa đất
màu mỡ, ẩm, đất mùn có tầng canh tác sâu, đất dễ thoát nước, không chịu được
ngập nước. Ngũ vị tử thường phân bố ở ven rừng, các rừng thưa hoặc những nơi
rừng nguyên sinh bị chặt phá. Phân bố ở các khu rừng gỗ lớn như rừng Dẻ, Óc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 5


Chó, Vân Sam …và những khu rừng ít rụng lá. Ở những khu rừng rụng lá vào
mùa lạnh hoặc dưới tán rừng Thông ít thấy có phân bố của Ngũ vị tử.
Vào các thời điểm hạn hán hoặc thời tiết lạnh Ngũ vị tử ở những vùng đất
trống thường bị bệnh ở phần gốc cây, làm cây chết dẫn tới sản lượng quả giảm
sút nghiêm trọng.
Ở Việt Nam cây mọc ở vùng Xà Xén (Xã Sa Pa, huyện Sa Pa, tỉnh Lào
Cai) thấy ra hoa khoảng 2 năm sau khi trồng, quả nhiều, hàng năm đến cuối mùa
thu quả chín, rụng xung quanh gốc cây mẹ. Quả Ngũ vị tử khi chín còn được một
số loài chim, sóc ăn và phát tán hạt giống đi khắp nơi.Ngũ vị tử tái sinh tự nhiên
chủ yếu từ hạt, có chồi ngủ qua đông và sẽ mọc ra đồng loạt vào đầu mùa xuân
năm sau.Cây còn có khả năng tái sinh khỏe sau khi bị chặt.Trồng được bằng cách
giâm cành vào mùa đông hoặc đầu mùa xuân.Ngũ vị tử là cây thuốc có vùng
phân bố hạn chế ở Việt Nam. Do đó cần nghiên cứu bảo vệ và phát triển trồng
thêm (Đỗ Xuân Bích và cộng sự, 2005).
1.3. Đặc điểm thực vật học.
Theo Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến (1978) thì cây Ngũ vị tửthuộc họ
Ngũ vịSchisandraceae. Là cây thân leo,có lá đơn, mọc cách, thường có điểm
tuyến trong suốt, không có lá kèm. Hoa đơn tính, thường mọc đơn độc ở nách lá,
có 2đến nhiều hàng bao hoa, rất giống nhau, tương đối nhỏ. Nhị 4-80, dính 1
phần hay toàn bộ thành dạng cầu nạc. Lá noãn 12-300, cái nọ tách rời cái kia, có
2-5 noãn rất ít khi tới 11. Hoa mọc thành chùm trên đế hoa ngắn nhưng khi kết
quả thì xếp rời trên đế hoa kéo dài (Schisandra) hoặc mọc cụm lại thành dạng
cầu nạc (Kadsura). Họ Ngũ vị gồm 2 chi, 47 loài phân bố ở Đông Nam Á đến
Mã Lai và Nam Mỹ.
Ngũ vị tử Ngọc Linh (Schisandra sphenanthera Rehd.et Wils.) là loại cây
thân leo gỗ, dài 3 – 5m rụng lá vào mùa khô (tháng 10-11). Toàn cây không lông,
rất ít gặp trên gân, mặt dưới lá non có lông nhỏ mềm thưa thớt. Khi cây đâm chồi
(tháng 2) vẩy chồi có lông mềm. Cành nhỏ có mầu hồng cánh gián (hồng xỉn), bì
khổng nhiều và rõ, cành già bì khổng không rõ và lớp bần thô sần xùi.Thân cành
có nốt sần, cành non hơi có cạnh. Lá mọc so le, hình trứng đảo, rộng hơn về phía

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 6


cuối lá,gốc hình nêm, đỉnh nhọn, kích thước lá trung bình dài 5-11 cm, rộng 3-7
cm. Mặt trên lá xanh đậm, mặt dưới lá nhạt mầu hơn. Mép lá có răng cưa thô về
phía cuối lá. Lá có gân hình lông chim.Cuống lá mầu hồng nhạt, dài 2-3 cm. Gân
lá 4-5 đôi, lồi ở mặt dưới, hơi lõm ở mặt trên. Hoa đơn tính, khác gốc, tràng có 69 cánh, màu vàng trắng,có mùi thơm, nhị 5. Hoa mọc ở nách lá, cuống dài 2-4
cm, gốc có phiến bao (vẩy) dài 3-4 mm. Bao hoa nhiều, không phân biệt. Cánh
hoa 5-9 mầu cam, hình trứng đảo dạng tròn dài, kích thước 6-12 x 5-8 mm. Hoa
đực nhị nhiều, thành bó hình trứng đảo, đường kính 4-5mm. Đế hoa lồi hình trụ
tròn, nhị nhiều, ô phấn hướng nội, 2 ô. Hoa cái có 30-60 tâm bì tập hợp thành bó
hình cầu dạng trứng, đường kính 5cm. Trục đế hoa tập hợp quả dài 6-17 cm,
đường kính 4mm, cuống quả dài 5-10cm(Phạm Hoàng Hộ, 1999 và Nguyễn Bá
Hoạt, 2006).
Quả mọng khi chín có mầu hồng sau đỏ sẫm, hình cầu dạng trứng, đường
kính 5-7mm. Hạt tròn màu vàng, hình thận dài 4mm, rộng 3,8mm, rốn hạt hình
chữ v, vỏ hạt lưng có vân sần sùi. Cây thường ra hoa tháng 4-7, ra quả tháng 810.Quả Ngũ vị tử được thu hái vào mùa thu khi chín, phơi khô ngoài nắng hoặc
chỉ phơi khô sau khi đã đồ, loại bỏ cuống và tạp chất. Những quả màu đỏ hay đỏ
tím, thịt dày, mẫm được coi là tốt. Ngũ vị tử Bắc (Schizandra) có quả xếp thành
bông thưa. Ngũ vị Nam (Kadsura) có quả xếp thành đầu hình cầu. Khi chế biến,
lấy dao đồng bổ đôi, tẩm mật đồ ba giờ, ngâm nước một đêm, sấy khô. Làm
thuốc bổ thì dùng Ngũ vị tử chín, làm thuốc ho thì dùng sống. (Võ Văn Chi và
Dương Đức Tiến,1978. Từ điển Bách khoa dược học,1999).
Để phân biệt giữa Ngũ vị tử Bắcvà Ngũ vị tử Namcó thể dựa vào một số
chỉ tiêu đánh giá hình thái như lá non của 2 loài, nhị hoa, màu sắc hoa. Lá non
của loài Ngũ vị tử Bắc có lông tơ, nhị hoa 4-5 nhị mảnh bao phấn nứt ngoài; hoa
có màu trắng sữa hoặc màu nhạt. Loài Ngũ vị tử Nam lá nhẵn, nhị 9-12, nhị hoa
to, bao phấn nứt trong; hoa có màu vàng cam(Đỗ Xuân Bích và cộng sự, 2005).
1.4. Thành phần hóa học và Tác dụng dược lí.
1.4.1. Thành phần hóa học.
Bộ phận sử dụng làm thuốc là quả chín của cây Ngũ vị tử. Ngũ vị tử Bắc

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 7


có chứa tinh dầu (ở vỏ cây 2,6 - 3,2%; hạt 1,6 - 1,9%; thân 0,2 - 0,7%), có mùi
chanh với thành phần chủ yếu gồm: 30% hợp chất sesquiterpesssn, 20% andehyt
và xeton quả chứa 11% axit xitric, 7 - 8,5% axit malic, 0,8% axit tartric, Vitamin
C và chừng 0,12% schisandrin (C22H32O7).Thành phần chính của Ngũ vị tử là các
dẫn chất của dibenzo [a, c] cycloocten. Hàm lượng của nhóm lignan này trong
hạt Ngũ vị tử dao động từ 7,2 – 19,2%, cao nhất vào tháng 5 và tháng 6 từ 1,3 –
10,3% trong cành.Thịt quả chứa 1,5% đường, tanin, chất màu, hạt chứa khoảng
34% chất béo gồm glyxerit của axit oleic và linoleic. Trong tro có sắt, photpho,
mangan, silic và canxi.
Có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học của Ngũ vị tử cho thấy: Hột
chứa đường khử, alkaloid và ester acid béo.Không có flavon, glycosid hay tanin
trong hột hay trái.Khoảng 2% trọng lượng hột gồm lignin với sườn dibenzocyclooctan (schizandrin, deoxyschizandrin và những hợp chất liên hệ như
schizandrol và schizanderer)(Đỗ Xuân Bích và cộng sự,2005).
Quả và hạt Ngũ vị tử Ngọc linh có thành phần hóa học gần tương tự ngũ
vị tử Bắc: các dẫn chất của dibenzo [a,c] cyclooctadien thuộc nhóm lignan:
schisandrin, deoxyschisandrin, schisandrin B, schisandrin C, gomisin B, gomisin
C. Quả còn chứa đường, tanin, các chất mầu, tinh dầu, các acid hữu cơ (acid
citric, acid malic, acid tartric), vitamin C, vitamin E. Hạt chứa các chất béo, chất
vô cơ.
Ngoài ra, đã tìm thấy và xác định trong Ngũ vị tử Kon Tum có gomisin B,
các chất khác như anthraglycosid, carotenoid, phytosterol, flavonoid, polyphenol
và tinh dầu (Sở KHCN tỉnh Kontum, 2007).
Hạt chứa dầu béo 33%, dầu dễ bay hơi 1,6%, có chứa các nhóm
lignans. Vỏ và hạt giống có chứa 5% lignans, vỏ rễ có chứa 4,88-12,4%, vỏ cây
có chứa 5,6-9,9%, và tập trung cao nhất vào tháng 6-7 đây là thời kỳ cây ra hoa
và do đó vỏ cây có các thành phần hoạt tính tương tự như trái cây, được sử dụng
cùng một mục đích. Quả Ngũ vị tử có chứa 17 loại axit amin, trong đó có 7 loại
axit amin thiết yếu chiếm 17,7% và các nguyên tố vô cơ theo thứ
tự kali, canxi, magiê, sắt, mangan.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 8


1.4.2. Tác dụng dược lí.
-Theo Đông y Ngũ vị tử có vị chua, ngọt, mặn, tính ôn, không độc vào hai
kinh phế thận. Nhân hạt có vị cay và đắng, có tác dụng làm ngừng sự phóng
thích, nạp lại khí, tăng sự tiết dịch, bổ thận và làm ra mồ hôi. Quả ăn được.
Thường dùng chữa hen suyễn, ho lâu, ho khan, nhiều mồ hôi, ra mồ hôi trộm, di
tinh liệt dương và mệt mỏi biếng hoạt động. Đặc biệt, hoạt chất chiết từ Ngũ vị tử
có tác dụng chữa viêm gan B rất hiệu nghiệm.
Quả Ngũ vị tử chứa các lignan có tác dụng làm giảm tổn thương gan trong
các trường hợp viêm gan virus mạn tính. Ngũ vị tử được dùng để điều trị viêm
gan mãn tính có hoạt độ transaminase huyết thanh cao, tổn thương gan, mệt nhọc,
đổ mồ hôi đêm, mất ngủ, stress mạnh, hay quên, hồi hộp và tiêu chảy mạn tính.
Ngũ vị tử có hoạt tính chống đông máu trong thử nghiệm in vitro. Lignan
từ Ngũ vị tử có hoạt tính đối kháng với yếu tố hoạt hóa tiểu cầu, yếu tố này có
vai trò trong nhiều tác dụng trên người như hạ huyết áp, tăng độ thẩm thấu mao
mạch, viêm cấp, hen suyễn, tính quá mẫn cảm của tim, loét dạ dày ruột, sốt do
nội độc tố, dị ứng da và sự loại bỏ bộ phận cấy ghép.
- Theo Dược sỹ Lê Văn Nhân và Dược sỹ Trần Việt Hưng thì Ngũ vị tử
còn được dùng trong những lĩnh vực khác như tác dụng lên hệ thần kinh, chữa
bệnh đường hô hấp, đường tiêu hóa, tính thích ứng (adaptogen)…
- Trong y học cổ truyền Trung Quốc, Ngũ vị tử được dùng để hồi phục sức
khỏe, làm thuốc bổ, thuốc làm săn, trị lỵ, bệnh lậu, cảm lạnh, say sóng, viêm phế
quản hen phế quản, phối hợp với các dược liệu khác. Ngày uống 5-15g quả và
hạt dưới dạng thuốc hãm với nước nóng, thuốc sắc, bột và rượu thuốc (Đỗ Xuân
Bích và cộng sự, 2005).
- Theo dược điển Trung Quốc Ngũ vị tử có tác dụng dược lý như sau: Tác
dụng chống viêm, bảo vệ và tăng cường chức năng tim, tăng cường trí thông
minh, chống hen suyễn. Thải loại các gốc tự do, chống oxy hoá mạnh và tăng
cường miễn dịch. Làm chậm quá trình lão hóa, chậm các bệnh liên quan đến lão
hoá như suy tim, bệnh Alzheimer và bệnh Parkinson. Tăng cường và nuôi dưỡng
chức năng thận.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 9


+ Đối với hệ thần kinh:Ngũ vị tử là chất kích thích thần kinh, tăng phản xạ
đáp ứng và cải thiện mức tỉnh táo. Tại Trung Quốc, Ngũ vị tử được dùng để chữa
bệnh tâm thần như trầm cảm, bứt rứt hay mất trí nhớ. Ngũ vị tử kết hợp với
những dược thảo khác cải thiện trí nhớ khi thử nghiệm trên động vật. Từ đó có
thể ứng dụng để chữa chứng sa sút trí tuệ ở người. Ngũ vị tử kết hợp với Táo gai
(Ziziphus spinosa) và Đương quy (Angelica sinensis) tăng sinh tế bào thần kinh
và có thể ngăn ngừa tế bào thần kinh suy thoái. Ngoài ra còn chống tính co giật
do cafein và tăng tác dụng của strychnin.Ngũ vị tử làm sáng mắt, giúp nhìn rõ và
tăng giác quan xúc giác.Bên cạnh đó nó còn được dùng làm thuốc an thần để trị
mất ngủ.
+ Đối với hệ hô hấp:Ngũ vị tử được dùng để chữa bệnh đường hô hấp như
thở hổn hển, khò khè và ho.
+ Đối với hệ tiêu hóa: Ngũ vị tử được dùng để chữa tiêu chảy và kiết lỵ.
Ngũ vị tử còn được dùng để cân bằng mức tân dịch, cải thiện khả năng tình dục,
chữa ngứa, kích thích co bóp tử cung .
Độc tính:Ngũ vị tử có khả năng tác động lên hệ thần kinh trung ương. Vì
dược liệu này có tác dụng hoạt động enzym gan và dạ dày. Ngũ vị tử có thể can
thiệp và chuyển hóa các chất thuốc khác khi uống chung. Toàn bộ phổ tác dụng
trên gan chưa được nghiên cứu sâu rộng và an toàn chưa được nêu rõ. Tuy nhiên,
các nghiên cứu không báo cáo phản ứng phụ.
Kiêng kỵ: Không dùng Ngũ vị tử cho người đang cảm, sốt cao, đang lên
sởi hoặc sốt phát ban.
1.4.3. Một số bài thuốc từ cây Ngũ vị tử.
* Theo Trung Dược Học Ngũ vị tử dùng để điều trị gan viêm nhiễm trùng
không vàng da: Thử nghiệm cho 102 bệnh nhân viêm gan uống bột Ngũ vị tử, tỉ
lệ có hiệu quả là 76 người. Thời gian trung bình để chức năng gan trở lại bình
thường là 25 ngày. Không có tác dụng phụ.
* Theo Nam dược thần hiệu Ngũ vị tử được dùng trong các bài thuốc sau:
+ Chữa thận hư, đái trắng đục, đau eo lưng, cứng xương sống:Ngũ vị tử 1
lạng, sấy khô tán nhỏ, làm thành viên bằng hạt đậu xanh, uống mỗi lần 30 viên với
giấm.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 10


+ Chữa liệt dương:Ngũ vị tử 100g sấy khô, tán nhỏ, uống mỗi lần 4g, ngày
uống 3 lần.
+ Chữa ho, suyễn:Ngũ vị tử và Phèn phi bằng nhau, tán bột, dùng mỗi lần
12g cho vào giữa phổi lợn luộc, ăn hàng ngày thì tiêu đờm, bớt ho hen.
* Theo Đỗ Xuân Bích và cộng sự (2005) Ngũ vị tử dùng để chữa các bệnh
sau:
+ Chữa tỳ thận dương hư di tả: Ngũ vị tử 6g, Nhục đậu khấu, Ngô thù du
mỗi vị 4g. Các vị tán nhỏ, luyện viên với Đại táo và Sinh khương. Mỗi lần uống
10g, ngày 1 lần, hòa với ít nước muối làm thang.
+ Điều trị suy nhược cơ thể do phế khí hư: Ngũ vị tử 10g, Thục địa, Tử
uyển, Tang bạch bì, mỗi vị 12g, Đảng sâm, Hoàng kỳ, mỗi vị 10g.Sắc uống ngày
một thang.
+ Chữa người già phổi yếu, suyễn, khó thở:Ngũ vị tử 6g, Mạch môn 16g,
Sa sâm bắc, Ngưu tất mỗi vị 12g.Tất cả sắc rồi uống ngày một thang .
+ Chữa suy nhược cơ thể do mất máu, thiếu máu: Ngũ vị tử 6g, Đảng sâm
16g, Huyền sâm, Địa hoàng mỗi vị 12g, Thiên môn, Mạch môn, mỗi vị 10g, Đan
sâm, Phục linh, Viễn chí, Đương quy, Bá tử nhân, Toan táo nhân, mỗi vị 8g, Cát
cánh 6g. Sắc uống ngày một thang .
+ Chữa hen phế quản: Ngũ vị tử 8g, Tế tân, Tử uyển, Khoản đông hoa,
Đại táo, mỗi vị 12g, Ma hoàng 10g, Bán hạ chế 8g, Xạ can 6g, Gừng sống 4g.
Sắc uống ngày một thang.
+ Điều trị hỗ trợ nhồi máu cơ tim (kết hợp với cấp cứu của y học hiện
đại): Ngũ vị tử, Nhân sâm, Mạch môn, mỗi vị 8g, Cam thảo 6g. Sắc uống.
+ Chữa suy tim: Ngũ vị tử 12g, Đan sâm, Long cốt, mỗi vị 16g, Hoàng kỳ,
Phụ tử chế, Mạch môn, Đương quy, Trạch tả, Mã đề, mỗi vị 12g, Nhân sâm,
Hồng hoa, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
+ Chữa thiếu máu: Ngũ vị tử 10g, Đảng sâm 16g, Phục linh, Hoàng kỳ,
Thục địa. Bạch thược, Đại táo, mỗi vị 12g, Đương quy, Viễn chí, mỗi vị 10g,
Bạch truật 8g, Quế tâm, Cam thảo, Trần bì, mỗi vị 6g, Gừng 2g. Sắc uống ngày
một thang.
+ Điều trị hỗ trợ tai biến mạch máu não (kết hợp với cấp cứu của y học
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 11


hiện đại): Ngũ vị tử 8g, Mạch môn, Long cốt, Mẫu lệ, mỗi vị 12g, Nhân sâm,
Phụ tử chế, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
+ Chữa chóng mặt, ù tai, mất ngủ, hay quên: Ngũ vị tử 8g, Toan táo nhân,
Hoài sơn, Long nhãn, mỗi vị 12g, Đương quy 8g. Sắc uống ngày một thang.
+ Chữa bế kinh: Ngũ vị tử 40g, Bạch thược 120g, Cam thảo, Hoàng kỳ, A
giao, Bán hạ chế, Phục linh, Đương quy, Sa sâm, Thục địa, mỗi vị 40g. tán nhỏ,
ngày uống 12-20g.
* Ngoài ra Ngũ vị tử còn được dùng trong các bài thuốc chữa bệnh sau:
+ Cơ thể hư nhược, ra nhiều mồ hôi (tự ra nhiều mồ hôi hoặc mồ hôi
trộm): Bá tử nhân 125g, Bán hạ khúc 125g, Mẫu lệ, Nhân sâm, Ma hoàng căn,
Bạch truật, Ngũ vị tử mỗi vị 63g, Đại táo 30 quả. Đại táo nấu nhừ, loại bỏ hạt,
nghiền nát. Các vị khác nghiền chung thành bột mịn, nhào với nước đặc đại táo
để làm hoàn to bằng hạt ngô. Có thể làm dưới dạng bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần
20-30 viên.
+ Chứng phế hư, ho hen suyễn: Đảng sâm 12g, Mạch môn đông 12g, Ngũ
vị tử 6g, Tang phiêu tiêu 12g. Sắc uống.
+ Ích thận, cố tinh: Tang phiêu tiêu 12g, Ngũ vị tử 8g, Long cốt 12g, Phụ tử
12g. Tất cả làm thành viên hoàn, hoặc sắc uống. Chữa thận dương hư, hoạt
tinh.
+ Chứng tân dịch không đủ, miệng khô, khát nước: Đảng sâm 12g, Mạch môn
đông12g, Ngũ vị tử 6g. Sắc uống.
+ Di mộng tinh: Ngũ vị tử 100g, Hồ đào nhân 250g. Ngũ vị tử ngâm nước
nửa ngày cho mềm, bóc tách bỏ hạt, đem sao cùng hồ đào, để nguội tán thành bột
mịn.Mỗi lần uống 9g với nước sôi hoặc nước hồ nước cơm.
+ Viêm gan mạn tính: Ngũ vị tử sao khô tán mịn, mỗi lần uống 3g, ngày 3
lần. Đợt dùng 30 ngày, uống với nước sôi hoặc nước cơm, thêm chút muối
đường.Đơn thuốc này làm thành viên bằng đậu xanh, uống 30 viên với một chút
dấm. Tốt với người thận hư, đái trắng đục, đau eo lưng, cứng xương sống.
*Một số món ăn - rượu thuốc chữa bệnh có Ngũ vị tử:
+ Rượu Ngũ vị tử: Ngũ vị tử 40g, rượu 200ml. Ngâm 2 lần, mỗi lần 100ml
trong 10 ngày, lọc riêng, sau loại bỏ bã thuốc, trộn hai thứ rượu thuốc với nhau,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 12


có thể thêm ít nước cất cho loãng, mỗi lần uống 2,5ml, ngày 3 lần. Dùng cho các
bệnh nhân suy nhược thần kinh.
+ Rượu nhân sâm, Ngũ vị, Câu kỷ: Nhân sâm 10 - 20g, Ngũ vị tử 30g,
Câu kỷ tử 30g, rượu 500ml. Ngâm 7 ngày. Uống trước khi đi ngủ 15 - 20ml. Dùng
cho các trường hợpsuy nhược thần kinh, hồi hộp, đánh trống ngực, mất ngủ.
+Tim lợn hầm Ngũ vị tử: tim lợn 1 cái, Ngũ vị tử 9g. Rạch tim lợn, rửa
sạch, cho ngũ vị tử vào trong, khâu kín, hấp cách thủy. Dùng cho các bệnh nhân
hồi hộp loạn nhịp tim, mất ngủ, thở gấp, vã mồ hôi, kích ứng, khát nước.
1.5. Kĩ thuật gieo trồng.
Quy trình kỹ thuật trồng Ngũ vị tử Ngọc Linh (Schisandra sphenanthera
Rehd. et Wils.) có giàn leo(Trần Thị Liên,2012).
1.5.1.Giống
Ngũ vị tử có thể trồng cây con từ hạt hoặc từ cây giâm cành. Số lượng cây
giống cho 1 ha sản xuất: là 2200 cây/ha, khoảng cách trồng là 3 m x 1,5m. Cây
giống đạt các tiêu chuẩn giống cơ sở.Cây trồng từ hạt có tiêu chuẩn chiều cao 10
- 15 cm, có 3 - 4 đôi lá thật, đường kính thân từ 0,3 - 0,5cm cây khỏe, không bị
sâu bệnh. Hạt được gieo trong bầu hoặc trong vườn ươm, lượng hạt cần cho 1 ha
là 0,5 - 1,0 kg/ha, với khối lượng 1000 hạt là 45 – 50g.
Cây trồng từ hom giâm có tiêu chuẩn chiều cao 20 – 25cm, đường kính
thân từ 0,8 - 1,0 cm. Hom sử dụng làm cây giống là hom bánh tẻ, không sâu
bệnh, chiều dài hom giâm là 30 – 35cm. Hom được giâm trên nền cát ẩm, có lưới
đen che phủ.
1.5.2. Thời vụ trồng
Thời vụ chính là tháng 4 hàng năm cho khu vực vùng núi Trà Linh của
tỉnh Kon Tum. Hoặc có thể trồng trong khoảng tháng 5 và tháng 6.
1.5.3. Đất trồng và kỹ thuật làm đất
Ngũ vị tử có thể phát triển tốt nhất ở vùng đất có cấu trúc tơi, xốp, nhiều
mùn giàu dinh dưỡng, độ ẩm cao, dễ thoát nước, pH 5,0 - 6,5. Cây phát triển tốt
ở điều kiện độ cao 1.300 - 1.600m có điều kiện tưới tiêu tốt. Ngũ vị tử là cây ưa
bóng nên trồng dưới tán rừng có độ che phủ từ 50 - 75% ánh sáng.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 13


Đất vườn ươm tốt nhất là loại đất nhẹ, có điều kiện tưới tiêu tốt. Đất vườn
ươm cần cày sâu, bừa kỹ, nhặt hết cỏ dại, lên luống rộng từ 100 - 110 cm, cao 20
- 25 cm, rãnh thoát nước lớn.Đất trồng cây con cần cày bừa kỹ, đập đất nhỏ tơi,
sạch cỏ. Bổ hốc với khoảng cách 1.5m x 3m để trồng.
1.5.4. Kỹ thuật làm giàn
leo
Ngũ vị tử là cây thân leo, nên làm giàn là biện pháp tối ưu, giúp tăng chỉ
số diện tích lá, giúp cây tận dụng hết nguồn sáng, tăng hiệu suất quang hợp, phát
triển thân lá. Từ đó tăng năng suất cá thể, tăng năng suất hoa, quả. Loại giàn phù
hợp cho Ngũ vị tử là giàn ngang.
*Cách làm giàn như sau:
Làm giàn leo: chọn gỗ tốt hoặc tre đực to đã ngâm làm cọc giàn. Cọc giàn
bằng bê tông hay xi măng cốt thép thì càng tốt vì sau nhiều năm không phải sửa.
Chôn cọc xong, buộc xà dọc và ngang, mỗi xà cách nhau không quá 2m. Tốt nhất
là dùng dây thép mạ kẽm đường kính 3mm căng thành giàn.
Trồng cây con: Đào hốc ở bốn góc giàn, mỗi hốc có đường kính 40cm 50cm, không đào sát cọc giàn quá sẽ làm cho cọc yếu đi. Bón lót phân chuồng
vào đáy hốc. Trồng cây Ngũ vị tử con vào các hốc, chú ý trước khi lấp đất và nén
chặt, tiếp tục tưới cây giữ ẩm. Buộc que tre từ gốc cây mới trồng nối với cọc giàn
leo. Khi cây bén rễ, ngọn vươn dài, điều chỉnh cho cây leo vào que tre và vào cọc
giàn leo. Khi cây đã lên mặt giàn, thường xuyên điều chỉnh cho các ngọn cây bò
lan tỏa ra kín giàn, tạo thành bóng mát đều đặn.
1.5.5. Phân bón và cách bón
phân
* Lượng phân bón:
Lượng phân bón thích hợp nhất đối với cây Ngũ vị tử là: (80 tấn mùn núi
+ 300 kg N + 200 kg P2O5 + 100 kg K2O)/ha.
* Cách bón phân:
Bón lót: Toàn bộ phân chuồng hoai mục + lân.Phân vô cơ còn lại chia đều
cho từng năm để bón thúc.
1.5.6. Mật độ, khoảng
cách
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 14


Khoảng cách: Cây được trồng với khoảng cách cây cách cây 1,5m; hàng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 15


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×