Tải bản đầy đủ

Phát triển chăn nuôi bò sữa của nông hộ tại huyện đông anh, thành phố hà nội

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

THỊNH VINH

PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ SỮA CỦA NÔNG HỘ
TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016


HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

THỊNH VINH

PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ SỮA CỦA NÔNG HỘ
TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành


: Quản lý kinh tế

Mã số

: 60.34.04.10

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Trọng Bình

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng
dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2015

Tác giả luận văn

Thịnh Vinh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page ii


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã
nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động
viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng
và biết ơn sâu sắc TS.Vũ Trọng Bình đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công
sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề
tài.


Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào
tạo, Bộ môn Phát triển nông thôn, Khoa Quản lý kinh tế - Học viện Nông nghiệp
Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn
thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức UBND
huyện Đông Anh đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực
hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi
hoàn thành luận văn./.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2015

Học viên

Thịnh Vinh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 3


MỤC LỤC

Trang
Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii

Mục lục

iv

Danh mục chữ viết tắt

vii

Danh mục bảng

viii

Danh mục biểu đồ

ix

Danh mục sơ đồ

ix

Danh mục hình

ix

Danh mục hộp

ix

PHẦN I MỞ ĐẦU

1

1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

1

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

2

1.2.1. Mục tiêu chung

2

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

2

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

2

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

2

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

3

2.1. Cơ sở lý luận:

3

2.1.1. Một số khái niệm liên quan

3

2.1.2. Vai trò, đặc điểm, lợi ích kinh tế của ngành chăn nuôi bò sữa ở Việt
Nam
2.1.3. Đặc tính kinh tế kỹ thuật của bò sữa

3
9

2.1.4. Nội dung nghiên cứu phát triển chăn nuôi bò sữa

11

2.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển chăn nuôi bò sữa

20

2.2. Cơ sở thực tiễn

23

2.2.1. Tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa của một số nước trên thế giới

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

23

Page 4


2.2.2. Tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam

24

PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

32

3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

32

3.1.1. Điều kiện tự nhiên

32

3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

36

3.2. Phương pháp nghiên cứu

44

3.2.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

44

3.2.2. Phương pháp thu thập số liệu

45

3.2.3. Phương pháp xử lý số liệu

46

3.2.4. Phương pháp phân tích

46

3.2.5. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

47

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

48

4.1. Thực trạng phát triển chăn nuôi bò sữa của nông hộ tại huyện Đông Anh 48
4.1.1. Tổng quan chăn nuôi bò sữa tại huyện Đông Anh

48

4.1.2. Tình hình tiêu thụ sữa bò tại huyện Đông Anh

53

4.1.3. Tình hình sử dụng lao động trong chăn nuôi bò sữa tại Đông Anh

58

4.1.4. Thức ăn và dinh dưỡng trong chăn nuôi bò sữa

61

4.1.5. Chuồng trại trong chăn nuôi bò sữa

63

4.1.6. Hệ thống dịch vụ phục vụ chăn nuôi bò sữa huyện Đông Anh

64

4.1.7. Kết quả chăn nuôi bò sữa tại huyện Đông Anh

66

4.1.8. Tình hình môi trường tại các xã nghiên cứu

69

4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi bò sữa trên địa bàn huyện
Đông Anh

72

4.2.1. Một số chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi

72

4.2.2. Yếu tố tự nhiên

73

4.2.3. Yếu tố kinh tế - xã hội

74

4.2.4. Những yếu tố về kỹ thuật và tổ chức sản xuất

76

4.2.5 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển chăn nuôi bò sữa tại
huyện Đông Anh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

78

Page 5


4.3. Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển chăn nuôi bò sữa của nông hộ tại
huyện Đông Anh trong thời gian tới (từ năm 2015 đến năm 2020)

80

4.3.1 Giải pháp về kỹ thuật

80

4.3.2. Nhóm giải pháp về chính sách:

84

4.3.3. Giải pháp về xã hội

87

4.3.4. Giải pháp về môi trường

87

PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

89

5.1. Kết luận

89

5.2. Kiến nghị

90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

92

PHỤ LỤC

94

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 6


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BQ

Bình quân

CN-TTCN

Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp

CNBS

Chăn nuôi bò sữa

CNH – HĐH

Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

HTX

Hợp tác xã



Lao động

NN

Nông nghiệp

TM-DV

Thương mại – Dịch vụ

TTNT

Thụ tinh nhân tạo

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page vii


DANH MỤC BẢNG
Số bảng

Tên bảng

Trang

3.1.

Tổng hợp tình hình dân số từ năm 2010 đến năm 2014

41

3.2.

Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

45

4.1.

Quy mô chăn nuôi ở nhóm hộ điều tra

49

4.2.

Cơ cấu giống bò trong nhóm hộ điều tra

52

4.3.

Quy định chất lượng sản phẩm sữa tươi và tiêu chuẩn đánh giá chất
lượng sữa của nhà máy Vinamilk

56

4.4.

Tình hình tiêu thụ sữa Đông Anh qua các năm(2010 – 2014)

57

4.5.

Tình hình lao động huyện Đông Anh

58

4.6.

Tình hình nhân khẩu, lao động của nhóm hộ điều tra

60

4.7.

Kết quả chăn nuôi bò sữa tại huyện Đông Anh

67

4.8.

Chi phí bình quân trên một bò sữa trong một năm theo xã

69

4.9.

Kết quả và hiệu quả kinh tế của chăn nuôi bò sữa theo xã

69

4.10.

Môi trường mặt nước ở Đông Anh năm 2014.

70

4.11.

Tình hình xử lý chất thải trong chăn nuôi bò sữa của nhóm hộ điều tra. 71

4.12.

Tình hình lao động trong chăn nuôi bò sữa huyện Đông Anh

74

4.13.

Dự kiến vốn đầu tư trồng cỏ

85

4.14.

Dự kiến nhu cầu vốn để sản xuất thức ăn tinh

85

4.15.

Dự kiến kinh phí cho công tác lai tạo giống bò sữa

86

4.16.

Dự kiến vốn ngân sách đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng,

86

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 8


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số biểu đồ

Tên biểu đồ

Trang

2.1.

Số lượng đàn bò sữa của Việt Nam 2000-2014

26

2.2.

Sản lượng sữa của Việt Nam 2000-2014

27

4.1.

Số lượng bò sữa giai đoạn 2010 – 2014

48

4.2.

Sản lượng sữa bò huyện Đông Anh năm 2010 – 2014

50

4.3.

Năng suất sữa theo chu kỳ (tấn)

51

DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số sơ đồ
4.1.

Tên sơ đồ

Kênh tiêu thụ sữa tươi của các hộ

Trang
54

DANH MỤC HÌNH
Số hình
3.1.

Tên hình

Trang

Bản đồ Hành chính & Quy hoạch huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
32
DANH MỤC HỘP

Số hộp

Tên hộp

Trang

4.1.

Hoạt động cung cấp, hỗ trợ dịch vụ thú y cho bò sữa

64

4.2.

Hoạt động khuyến nông của huyện

.66

4.3.

Những thuận lợi về chăn nuôi bò sữa78

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 9


PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nước ta là một nước nông nghiệp, dân số Việt Nam sống dựa vào nông
nghiệp. Đặc biệt, trong những đợt suy thoái kinh tế (kể từ 2013 đến nay), nông
nghiệp thực sự trở thành bình phong trú ẩn cho nền kinh tế. Trong đó, chăn nuôi
được coi là một ngành sản xuất chủ yếu và quan trọng trong sản xuất nông
nghiệp. Cùng với ngành trồng trọt, chăn nuôi đã cung cấp nhiều sản phẩm có giá
trị kinh tế cao phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đem lại nguồn
thu đáng kể, góp phần xóa đói giảm nghèo, từng bước xây dựng đất nước.
Chăn nuôi bò sữa là một bộ phận có vị trí đặc biệt quan trọng của ngành
chăn nuôi. Bởi sữa là thực thẩm quý, giá trị dinh dưỡng cao, chứa các chất quan
trọng khác nhau đối với sự phát triển của cơ thể con người mà không có loại thực
phẩm nào có thể thay thế được.
Cùng với tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ của Thủ đô và đất nước, là một
huyện ngoại thành Hà Nội, Đông Anh cũng không nằm ngoài xu thế đó, đất nông
nghiệp đang ngày một thu hẹp nhường chỗ cho đất ở, hệ thống giao thông, các
khu đô thị mới, dẫn đến các tác động không nhỏ tới đời sống của nhân dân, nhất
là các hộ nông dân. Diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp khiến phần lớn người
dân không có trình độ phải thay đổi nghề để kiếm sống, nhưng cuộc sống rất bấp
bênh, thu nhập không ổn định. Vì vậy, giải pháp tạo công ăn việc làm ổn định tại
chỗ cho nhân dân là điều cần thiết. Huyện Đông Anh là vùng đất phù sa màu mỡ,
lại gần nhà máy sữa Hà Nội (Hà Nội Milk) có thể thu mua tất cả lượng sữa của
các hộ chăn nuôi, rất thuận lợi cho phát triển chăn nuôi bò sữa. Trong những năm
gần đây số lượng bò sữa tại huyện Đông Anh tăng khá nhanh nhưng vẫn còn
nhiều vấn đề đặt ra cho ngành sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao này là vấn
đề giống, vốn, kỹ thuật chăn nuôi, công tác thú ý phòng trừ dịch bệnh, thức ăn
cho chăn nuôi, vấn đề môi trường… Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phát
triển chăn nuôi bò sữa của nông hộ tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội”
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 1


1.2.

Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng chăn nuôi bò sữa của nông hộ tại huyện Đông Anh, từ
đó đề ra các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển chăn nuôi bò sữa của nông hộ tại
huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển chăn nuôi bò sữa;
- Phân tích thực trạng phát triển chăn nuôi bò sữa của nông hộ tại huyện
ông Anh;
- Các yếu tố ảnh hưởng phát triển chăn nuôi bò sữa của nông hộ tại địa
bàn huyện Đông Anh;
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển chăn nuôi bò sữa của các
nông hộ tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
1.3.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển chăn nuôi bò sữa của các nông hộ trên
địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về không gian
Địa bàn nghiên cứu tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
* Phạm vi về nội dung
- Nghiên cứu thực trạng phát triển chăn nuôi bò sữa của các nông hộ tại
Đông
Anh, thành phố Hà Nội.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi bò sữa của các nông hộ tại
huyện Đông Anh;
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển chăn nuôi bò sữa của các
nông hộ tại Đông Anh, thành phố Hà Nội.
* Phạm vi về thời gian
Từ năm 2010 đến năm 2015.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 2


PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Cơ sở lý luận:
2.1.1. Một số khái niệm liên quan
2.1.1.1. Khái niệm về phát triển
Phát triển là sự mở rộng sự lựa chọn của con người để đạt đến một cuộc
sống trường thọ, khỏe mạnh, có ý nghĩa và xứng đáng với con người”. Bên cạnh
đó một khái niệm khác cho rằng phát triển với ý nghĩa rộng hơn, bao gồm cả
những thuộc tính quan trọng, có liên quan đến hệ thống giá trị của con người, đó
là “Sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do của công dân
để củng cố niềm tin vào cuộc sống của con người, trong mối quan hệ với nhà
nước, với cộng đồng...”.
Sự phát triển bao gồm nhiều vấn đề rộng lớn và phức tạp. Tuy nhiên có
thể đi đến một định hướng tổng quát là: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên
tục làm tăng trưởng mức sống con người và phân phối công bằng những thành
quả tăng trưởng trong xã hội”
2.1.1.2. Khái niệm về chăn nuôi
Chăn nuôi là một ngành quan trọng của nông nghiệp hiện đại, nuôi lớn vật
nuôi để sản xuất những sản phẩm như: thực phẩm, lông, và sức lao động. Sản
phẩm từ chăn nuôi nhằm cung cấp lợi nhuận và phục vụ cho đời sống sinh hoạt
của con người. Chăn nuôi xuất hiện lâu đời trong nhiều nền văn hóa kể từ khi
loài người chuyển đổi từ lối sống săn bắn hái lượm sang định canh định cư.
(Đinh Văn Cải và cộng sự, 1995)
2.1.2. Vai trò, đặc điểm, lợi ích kinh tế của ngành chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam
* Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp,
sản phẩm chính của chăn nuôi không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con
người mà còn là nguồn nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến và là
nguồn hàng xuất khẩu quan trọng cho mỗi quốc gia. Theo quan niệm hiện đại,
vai trò ngành chăn nuôi được đánh giá bởi vị thế của nó trong việc biến đổi cơ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 3


cấu kinh tế quốc dân nói chung và cơ cấu nông nghiệp nói riêng.
Sữa bò là một trong những loại thực phẩm cao cấp và tương đối hoàn
chỉnh về mặt dinh dưỡng với hơn 20 loại axit amin, 18 loại axit béo, 25 loại muối
khoáng, 12 loại vitamin, 10 loại men, 4 loại đường và các yếu tố vi lượng cần
thiết cho cơ thể như: Fe, P, S...Nó có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường
thể lực và cải thiện nòi giống. (Đinh Văn Cải và cộng sự, 1995)
Ở những nước có điều kiện phát triển chăn nuôi bò sữa, việc cung cấp sữa
cho các khu công nghiệp, các thành phố là rất cần thiết để giảm lượng ngoại tệ
cần thiết để nhập khẩu sữa bột và bơ từ nước ngoài cho các nhà máy chế biến
sữa. Đồng thời, với lợi thế so sánh của mình, những nước đó là là nơi cung cấp
mặt hàng quan trọng này cho các quốc gia khác một cách hiệu quả.
Đối với Việt Nam ngoài những ý nghĩa trên , chăn nuôi bò sữa phát triển
còn góp phần quan trọng vào việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao
động và thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hiệu
quả.
* Chăn nuôi bò sữa đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn
Để phát triển bò sữa cần có hệ thống chuồng trại và các thiết bị cho chăn
nuôi, đặc biệt là con giống. Tất cả các yếu tố đều có giá trị rất lơn, ngoài các
khoản đầu tư ban đầu ra nó còn có các khoản đầu tư thường xuyên như: thức ăn,
điện, dụng cụ nhỏ, thú ý, phối giống... Vốn đầu tư ban đầu cho một con bò bắt
đầu khai thác cũng có thể lên đến 15-22 triệu đồng/con. Còn giống là bê thì 3
năm sau mới cho sữa và giá trị mỗi con bê từ 3-4 triệu động một con bê cái. Với
số vốn bỏ ra lớn như vậy nó ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của việc phát triển theo
quy mô. Vì vậy phát triển chăn nuôi bò sữa trong nông hộ không thể làm ồ ạt mà
phải chọn những hộ có khả năng kinh tế nhất định đủ đáp ứng yêu cầu trên làm
nòng cốt. Trong việc cho vay vốn chăn nuôi cũng tránh cho vay dàn trải, nên tập
chung cho một số hộ có khả năng chăn nuôi đủ để hộ mua giống và thức ăn, thời
gian vay cũng nên dài hơn ít nhất là 3 năm để họ có điều kiện trả nợ. (Đinh Văn
Cải và cộng sự, 1995)
* Tận dụng phế phẩm nông nghiệp vào chăn nuôi bò sữa

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 4


Cũng như các ngành khác của sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi bò sữa có
thể tận dụng được những phế phẩm của gia đình sản xuất ra như cám ngô, bã

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 5


đậu, rơm, lá và thân cây ngô non làm thức ăn cho bò sữa góp phần làm giảm chi
phí chăn nuôi. (Viện Chăn nuôi Quốc gia, 2001)
* Bò sữa là loại động vật có hệ thần kinh cao cấp
Đối tượng sản xuất của ngành chăn nuôi bò sữa là con bò sữa. Bò sữa rất
mẫn cảm với những tác động bên ngoài đặc biệt là các yếu tố về sinh thái môi
trường như nhiệt độ, độ ẩm, độ ẩm, thức ăn, các điều kiện vệ sinh...Nhìn chung
bò sữa thích hợp với vùng lạnh, ở các vùng này đã hình thành được những giống
bò cao sản, còn ở xứ nóng vốn có các giống bò năng suất thấp.
Thực tế chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam đã chứng minh đặc điểm trên qua
việc nhập 150 con bò sữa lang trắng đen về Đông Anh và 20 con về SaPa vào
năm 1960. Ở SaPa đàn bò phát triển tốt, còn ở Đông Anh điều kiện sinh thái
không phù hợp nên đàn bò cho sữa kém, sau khi chuyển đàn bò này về Mộc
Châu, nhóm bò này lại phát triển tốt, khả năng cho sữa lại phục hồi.
Chính vì bò sữa có hệ thần kinh cao cấp nên ngoài tác động của khí hậu
thời tiết bò sữa còn chịu tác động của sự chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, ngoài
việc chọn người lao động có trình độ tay nghề cao còn có sự say mê, yêu quý
động vật. Đặc biệt, trong khâu vắt sữa cần có sự chuyên môn hoá tránh sự ức chế
tới khả năng tiết sữa của bò. Nhiều thí nghiêm đã chứng minh nếu thay đổi giờ
ăn và cách chăm sóc, hoặc giờ vắt sữa cũng như người vắt sữa sẽ làm cho năng
suất sữa giảm. Nếu thay đổi nhiều lần, bò gần như mất khả năng cho sữa. Do đó,
ngành chăn nuôi bò sữa còn là ngành đòi hỏi tính chuyên môn hoá cao và một
quy trình chăm sóc rất nghiêm ngặt. Bên cạnh đó, giống và tuổi bò cũng ảnh
hưởng rất lớn đến sức sản xuất của nó. Nhìn chung những giống bò nhập có năng
suất sữa cao hơn bò nội, tuổi bò cho sữa cao nhất vào các chu kỳ 3,4 và giảm dần
sau đó. Vấn đề này tương đối khó khăn đối với các hộ gia đình bởi vì họ không
dễ gì có thể lựa chọn được những con giống thoả mãn đặc điểm trên. Do đó cần
quy hoạch vùng chăn nuôi sao cho phù hợp nhất với đặc tính của bò sữa, đồng
thời cần nhanh chóng nuôi thích nghi và tạo các giống bò ngoại nhập có năng
suất cao để cung cấp cho các hộ chăn nuôi (Viện Chăn nuôi Quốc gia, 2000)

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 6


* Đặc điểm đặc biệt của ngành chăn nuôi bò sữa là vừa sinh sản vừa
cho sữa
Vì lý do kinh tế, người ta thường cho bò phối ngay sau khi có hiện tượng
động dục trở lại (thường sau khi đẻ từ 2-3 tháng). Nếu phối giống có kết quả thì
hơn 9 tháng sau ta lại có lứa đẻ mới. Trong quá trình này, bò mẹ vừa mang thai
vừa cho sữa. Vì vậy, trước khi đẻ khoảng 2 tháng cần cho bò cạn sữa để vừa đảm
bảo cho bò mẹ có thể lực tốt, vừa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt và không
ảnh hưởng đến chu kỳ sau. Năng suất sữa thường tăng dần sau khi bò đẻ và đạt
cao nhất vào tháng thứ hai hoặc tháng thứ ba, sau đó lại cạn dần đến tháng thứ
mười thì cạn sữa, còn chu kỳ cho sữa cao nhất của bò là chu kỳ thứ ba hoặc thứ
tư, sau đó lại giảm dần, sau từ 6-8 chu kỳ (từ 8-10 năm) khả năng cho sữa cũng
giảm đi, lúc đó bò cần phải loại thải mới có hiệu quả. (Viện Chăn nuôi Quốc gia,
2000)
Để phát triển chăn nuôi bò sữa trong các hộ gia đình, ngoài việc tổ chức
tập huấn các vấn đề cơ bản cho người chăn nuôi để khai thác có hiệu quả đặc
điểm trên còn cần tổ chức công tác dịch vụ về thú y, về thụ tinh nhân tạo...
* Sản phẩm chính của chăn nuôi bò sữa yêu cầu vệ sinh chặt chẽ
Sữa là môi trường cực kỳ lý tưởng của các vi sinh vật. Ngay cả khi tuân
thủ tất cả các biện pháp vệ sinh, sữa vẫn chứa một lượng lớn tế bào và các vi
sinh vật. Các vi sinh vật trong sữa thường là các loại nấm và các vi khuẩn. Khi gặp
môi trường bất lợi, các vi sinh vật chuyển thành các bào tử có sức đề kháng rất
o

lớn, có thể tồn tại ở nhiệt độ 100 C trong nhiều phút. Gặp điều kiện thuận lợi,
chúng liên tục nhân đôi trong vòng 15-20 phút sau. (Viện Chăn nuôi Quốc gia,
2000)
* Ngành chăn nuôi bò sữa là ngành kinh tế sản xuất hàng hoá
Ngành chăn nuôi bò sữa có sản phẩm chính là sữa và bê con. Đây là 2 loại
sản phẩm chủ yếu được trao đổi trên thị trường. Vì vậy, ngành sản xuất này được
coi là ngành sản xuất hàng hoá. Sản phẩm sữa tươi thông qua chế biến và được
tiêu thụ rộng khắp trên thế giới.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 7


Ở Việt Nam, đây là ngành sản xuất hàng hoá còn rất non trẻ. Mặc dù sản
lượng sản xuất ra còn rất ít, song sản phẩm đó đã được trao đổi trên thị trường và

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 8


đã có vị trí tương đối quan trọng trong ngành công nghiệp chế biến sữa cũng
rất non trẻ này. Những quy luật hà khắc của thị trường đã chi phối khá mạnh mẽ
tới ngành sản xuất sữa cũng như công nghệ chế biến sữa. Vì vậy, sự can thiệp của
nhà nước sẽ góp phần quan trọng cho sự phát triển của ngành.
Với các hộ chăn nuôi bò sữa ở nước ta, nói chung việc tiêu thụ sữa còn
gặp rất nhiều khó khăn, phần vì lượng sữa sản xuất ra ở mỗi nông hộ chưa đủ lớn
nên chi phí tiêu thụ cao, phần vì vấn đề bảo quản sữa còn gặp rất nhiều khó khăn.
Do đó, cần quan tâm nhiều đến vấn đề bảo quản và các phương tiện vận chuyển
để có thể tiêu thụ tốt nhất lượng sữa sản xuất ra.
* Lợi ích kinh tế xã hội của việc chăn nuôi bò sữa trong gia đình
nông dân.
Sữa là loại thực phẩm cao cấp rất cần cho trẻ em thiếu sữa, người bệnh,
người già yếu và những người lao động nặng nhọc, người phụ nữ bị loãng xương.
Hiện nay, ở nước ta, như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Nha Trang, Đà Lạt,
Long An, … có rất nhiều gia đình đã và đang chăn nuôi bò sữa.
Đảng và Nhà nước ta đã thấy được lợi ích to lớn về mặt kinh tế xã hội của
việc chăn nuôi bò sữa, không những đối với gia đình chăn nuôi mà đối với toàn
xã hội. Quyết định 167/2001/QĐ-TTg ngày 26/10/2001 của Thủ tướng chính phủ
về một số biện pháp và chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa thời kỳ 2001-2010
đã chỉ rõ:
Điều 1: Phát triển chăn nuôi bò sữa nhằm đáp ững nhu cầu tiêu dùng trong
nước từng bước thay thế sữa nhập khẩu, tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông
dân, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn Đến năm
2010 đạt 100 nghìn bò sữa, đáp ứng 20% lượng sữa tiêu dùng trong nước, đến
năm 2010 đáp ứng trên 40% lượng sữa tiêu dùng. Sau những năm 2010 đạt 1,0
triệu tấn sữa.
Điều 2: Phát triển chăn nuôi bò sữa phải gắn với cơ sở chế biến sữa với
vùng chuyên canh tập trung nguyên liệu cho công nghiệp chế biến được tổ chức
chặt chẽ như: Mía đường, dứa, cao su, cà phê, chè…Và phát triển đồng cỏ ở nơi
có điều kiện về đất đai, lao động, khí hậu phù hợp, đảm bảo môi trường sinh thái
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 9


và vệ sinh môi trường. Cụ thể là: các phía Bắc: Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc,
Phú Thọ, Bắc Giang, Thái Nguyên, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Sơn La và
các huyện ngoại thành Hà Nội. Các huyện trung du thuộc vùng duyên hải miền
Trung: Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Phú Yên… Các phía
Nam: Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, Long An, Cần Thơ, An
Giang và các huyện ngoại thành TP Hồ Chí Minh. Các tỉnh Tây Nguyên: Lâm
Đồng, Đắc Lăk, Gia Lai, Kon Tum. Chăn nuôi bò sữa ở gia đình thông qua việc
xây dựng hợp tác xã sản xuất sữa ở nông thôn thường đem lại những lợi ích sau:
Nhà nước không phải đầu tư nhiều vốn như đối với chăn nuôi tập trung.
Ví dụ đầu tư cho những nông trường chăn nuôi hàng ngàn bò sữa;
Gia đình sử dụng được sức lao động phụ và tận dụng được phụ phế phẩm
trong nông nghiệp;
Động viên được các thành phần kinh tế (còn tồn tại trong thời kỳ quá độ
lên XHCN) như kinh tế tập thể trong đó có nòng cốt là HTX, kinh tế cá thể, tiểu
thủ ở nông thôn;
Chăn nuôi bò sữa tạo ra nhiều sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
trong nước tiến tới không dùng ngoại tệ để nhập sữa từ nước ngoài.
* Khó khăn gặp phải khi chăn nuôi bò sữa
Vốn đầu tư trong chăn nuôi tương đối cao;
Hệ thống giống chưa thật sự phát triển, nên nhiều khi chưa đáp ứng được
nhu cầu giống bò sữa;
Kỹ thuật chăn nuôi bò sữa phức tạp, đòi hỏi người chăn nuôi phải có nhiều
kinh nghiệm cũng như chịu khó học hỏi. Bởi chăn nuôi nói chung đặc biệt chăn
nuôi bò sữa nói riêng đòi hỏi nhiều khâu, nhiều quá trình phức tạp. Đòi hỏi người
chăn nuôi phải am hiểu kỹ thuật nếu không rất dễ thất bại trong chăn nuôi;
Khả năng quản lý của người chăn nuôi còn hạn chế ví dụ như phát hiện
thời gian động dục không chính xác; ghi chép về sức khỏe sinh sản; năng xuất
sữa; kiểm soát bệnh tật ....
Chăn nuôi bò sữa đòi hỏi phải có dịch vụ chuyên biệt như dịch vụ thụ tinh
nhân tạo; thú y; thu gom sữa ....
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page
10


Sữa khó bảo quan mặt khác lại không dễ để tự bán lẻ nên thường lệ thuộc
vào hệ thống thu gom của các đơn vị nhà máy chế biến sữa do đó tính chủ động
không cao;
Hiện nay, vấn đề môi trường khá nhức nhối, bò sữa lại là vật nuôi rất mẫn
cảm với điều kiện tự nhiên, môi trường. Không phải vùng nào cũng phát triển
chăn nuôi được bò sữa;
Giá cả sữa thường biến động và hiện nay chịu sự cạnh tranh từ các loại sữa
nhập ngoại.
2.1.3. Đặc tính kinh tế kỹ thuật của bò sữa
2.1.3.1. Đặc điểm chung
Con bò sữa ví như một cái máy sinh vật để sản xuất ra sữa. Nó dùng
nguyên liệu (thức ăn, uống nước…) để chế biến thành sữa thông qua các hệ
thống rất tinh xảo. Đã là máy thì các bộ phận phải tốt và thích hợp cho việc sản
xuất sữa, các bộ phận này lộ ra ngoài (ngoại hình) để phản ánh lên những bộ
phận bên trong (thể chất). Vậy con bò sữa tốt phải có những đặc điểm chủ yếu
như sau:
Nhìn toàn thể: Là một hình thể cân đối (đầu, cổ, thân và 4 chân) theo một
tỷ lệ nhất định. Kết hợp các bộ phận chặt chẽ, khoẻ mạnh, có hướng thiên về
ngoại hình bò hướng sữa (hình nêm).
Nhìn chi tiết từng bộ phận: Đầu cổ kết hợp chặt chẽ, ngực sâu rộng, lưng
thẳng, 4 chân thẳng, cân đối, mông úp, bụng to vừa phải, mông hông rộng, khấu
đuôi to, đuôi dài, bầu vú to, 4 vú đều, khoảng cách 4 vú rộng. Bầu vú nhìn phía
sau của bò tơ nhiều nếp nhăn, tĩnh mạch vú nổi rõ, ngoằn nghoèo, không có lông
ở vú, khoáy thông thường ở vào 1/3 từ u vai tới hông là tốt nhất. Khoáy càng tụt
về phía sau bò càng thưa đẻ. (Viện Chăn nuôi Quốc gia, 1995)
Phân biệt, chọn lọc con F1, F2:
+ Con lai F1: Nếu bò mẹ là lai Sind hoặc Sind thuần, bố là HF (giống Hà
Lan thuần), con sinh ra thường có ngoại hình: tai nhỏ, trán dô, mõm dài, sừng hơi
cong, có chấm trắng ở trán, đốm trắng ở đuôi chân hoặc bụng, vai phẳng (không
có u vai), mông dốc, có rốn. Nếu con bò mẹ dùng để lai là con bò vàng Việt Nam
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page
11


thì con sinh ra khác với con mẹ lai Sind là: Toàn thân mình tròn, chân nhỏ, đầu
thanh, mặt lõm, mồm ngắn.
+ Con lai F2 3/4 thường có màu lông loang màu đen trắng hoặc lang trắng
vàng, toàn thân thô kệch hơn con F1, đầu thô, mông ít dốc, không có rốn, tai nhỏ,
thân hình gần giống như bò HF thuần nhưng tầm vóc nhỏ hơn.
+ Con lai F2 5/8: Toàn thân đen, ít loang như bò F2 3/4 đầu thanh, thân
hình là trung gian giữa con F1 và F2 3/4.
2.1.3.2. Đặc điểm nguồn gốc các giống bò sữa ở Việt Nam
- Bò lai Sind:
Đây là kết quả của quá trình lai giữa bò đực Red sindhi của ấn Độ với các
giống bò vàng Việt Nam tạo thành quần thể bò lai Sind với tỷ lệ máu bò Red
Sind được nhập vào Việt Nam từ những năm 1920-1924 song nó được nhân rộng
vào thập kỷ 90. hiện nay đàn bò lai Sind chiếm khoảng 40% trong tổng đàn bò
nội và được phân bố hầu hết các tỉnh trong cả nước. Đa số bò lai Sind đều khoẻ
mạnh có màu lông vàng hoặc đỏ thẫm. Trọng lượng bò lai Sind con cái 280-320
kg, con đực 400-500 kg. Trọng lượng sơ sinh của bê 20-28 kg, sản lượng sữa
bình quân đạt 800-1.200kg. Tuổi phối giống lần đầu 15-18 tháng. Bò lai Sind
thích nghi tốt với khí hậu nóng ẩm, chịu đựng kham khổ, ít bệnh tật, chính vì vậy
ta đã dùng bò cái lai Sind làm nền để tạo ra giống bò sữa bằng cách phối với tinh
bò đực Holstein Friensian và nhiều giống bò sữa khác. Từ đó tạo ra giống bò lai
dễ nuôi, sinh sản tốt và khả năng cho sữa cao. (Viện Chăn nuôi Quốc gia, 1995)
- Bò thuần Holstein Friensian (HF):
Là giống bò nổi tiếng nhất thế giới do Hà Lan tạo ra từ thế kỷ thứ 17. Bò
cái có hình dạng đặc trưng cho giống bò sữa: Thân hình tam giác, đầu dài, thanh
nhẹ, trán phẳng, sừng thanh và cong. Cổ dài, khoẻ, cự ly chân rộng. Bầu vú phát
triển to, tĩnh mạch vú nổi rõ. Da mỏng, đàn hồi tốt, lông mịn. Màu sắc lang trắng
đen và lang trắng đỏ. Tuổi động dục lần đầu 12-15 tháng. Khối lượng cơ thể:
Con cái 550-750 kg; bê sơ sinh 35-40kg.Sản lượng sữa bình quân 3.800-4.200kg
(nuôi tại Việt Nam ) cá biệt có con 8.000kg. Tỷ lệ mỡ thấp, bình quân 3,42.
(Viện Chăn nuôi Quốc gia, 1995)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 10


- Bò lai hướng sữa:
+ Bò sữa F1 ( 1/2 máu HF): Bò lai F1 là kết quả lai đồi 1 giữa bò đực
Holstein Friensian với bò cái lai Sind. Bò lai F1 chịu đựng tương đối tốt điều
kiện nóng ẩm, ít bệnh tật, thành thục sinh dục sớm và mắn đẻ. Hầu hết bò lai F1
có màu lông đen, có con có vết lang trắng rất nhỏ ở dưới bụng, bốn chân, khấu
đuôi, lưng hoặc sướn hoặc trán. Động đực lúc 17-18 tháng tuổi, khối lượng cơ
thể con cái 380-450kg, bê sơ sinh 25-30kg, sản lượng sữa 2.500-3.000kg/chu kỳ.
Tỷ lệ mỡ sữa 3,8-4,2%.
+ Bò sữa F2 (3/4 máu HF): Bò lai F2 được tạo ra bằng cách cho lai tiếp bo
lai F1 với bò đực Holstein Friensian Bò lai F2 có màu lông lang trắng đen (gần
giống bò HF), động dục lần đầu lúc 13-18 tháng tuổi.
Khối lượng cơ thể khi trưởng thành con cái 400-500kg, bê sơ sinh 30-35kg.
Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, sản lượng sữa đạt trên 3000kg, tỷ lệ mỡ sữa 3,23,8%.
+ Bò sữa F3 (7/8 máu HF ): Được tạo ra bằng cách cho lai bò F2 với bò
đực ( HF ). Bò F3 có màu lông lang trắng đen. Bê sơ sinh có trọng lượng khoảng
30-35kg, bò cái trưởng thành có trọng lượng trung bình là 360-380kg. Trong điều
kiện chăm sóc nuôi dưỡng tốt năng suất sữa đạt 3.000- 4.500kg/chu kỳ (300-350
ngay), tỷ lệ mỡ đạt 3,2-3,8%. (Viện Chăn nuôi Quốc gia, 1995)
2.1.4. Nội dung nghiên cứu phát triển chăn nuôi bò
sữa
2.1.4.1. Về tăng trưởng đàn bò sữa
Nghiên cứu tình hình phát triển đàn bò sữa về số lượng và chất lượng, số
lượng
đàn bò là yếu tố đánh giá sự phát triển lớn nhỏ của, tăng giảm trong chăn
nuôi.
Quy mô đàn bò sữa đánh giá bước phát triển nhanh chậm, bởi lẽ khi quy
mô đàn bò sữa tăng chỉ ra một thực tế rằng giá trị kinh tế nói cụ thể là lợi nhuân
được đẩy lên cao thì người chăn nuôi sản xuất mới sẵn sàng tăng quy mô để đẩy
mạnh sản lượng sữa. Ngược lại nếu số lượng đàn bò có dấu hiệu giảm chỉ ra rằng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 11


người chăn nuôi sản xuất không muốn phát triển đàn bò mà thậm trí chuyển đổi
sang hướng chăn nuôi khác.
Sự khác biệt về quy mô, số lượng đàn bò là yếu tố chỉ ra sự phát triển, sự
tiến bộ của chăn nuôi bò sữa.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 12


Số lượng và chất lượng đàn bò sữa tăng lên do quá trình chọn lọc đàn tốt,
những bò không đủ chất lượng được loại thải, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và
chế độ dinh dưỡng được cải thiện, sản lượng sữa trên chu kỳ tăng lên. Qua đây
cũng chỉ ra các thời kỳ, giai đoạn phát triển tốt nhất của đàn bò sữa. Người chăn
nuôi có thể tăng hoặc giảm chu kỳ vắt sữa căn cứ vào lượng sữa họ khai thác
được.
Để phát triển được hộ chăn nuôi bò sữa rất cần sự xúc tiến đầu tư tới các
hộ có đủ điều kiện thông qua hội nghị hội thảo, thăm quan giới thiệu, đào tạo tập
huấn để hộ tự quyết định đi tới chăn nuôi bò sữa.
Giúp nông dân tiếp cận các nguồn vốn từ các tổ chức, hỗ trợ từ chính sách,
đầu tư trang thiết bị công nghiệp phục vụ chăn nuôi và xử lý môi trường.
Để nâng quy mô chăn nuôi bò sữa/hộ, nhằm phát triển đàn bò sữa, tăng
hiệu quả chăn nuôi cho hộ nông dân, rất cần sự thu hút doanh nghiệp liên quan
đầu tư phát triển vùng nguyên liệu, thu hút vốn để dân đầu tư và sự hỗ trợ một
phần từ phía nhà nước. (Đinh Văn Cải và cộng sự, 1995)
2.1.4.2. Về sản lượng sữa bò
Gắn liền với quy mô về số lượng đàn bò là sản lượng sữa; khi quy mô đàn
bò tăng thì yếu tố tất yếu là lượng sữa bò sẽ tăng, tùy thuộc vào số lượng đàn bò
sẽ quyết định tới tổng số lượng sữa bò thu được.
Sự tăng giảm sản lượng sữa bò chịu ảnh hưởng rất lớn bởi số lượng bò. Sản
lượng sửa phụ thuộc vào nhiều yếu tố không chỉ về số lượng bò sữa mà còn ảnh
bởi các yếu tố như giống, chế độ chăm sóc, dịch bệnh..., nghiên cứu về sản lượng
sữa để đánh giá mức hiệu quả trong chăn nuôi.
2.1.4.3. Về năng suất sữa bò
Năng suất sữa là yếu tố chịu ảnh hưởng của nhiều thành tố khác nhau, trong
đó yếu tố giống, chế độ chăm sóc là 2 thành tố quan trọng hàng đầu.
Sự thay đổi chế đố chăm sóc ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sản xuất ra
sữa của bò, khi có chế độ chăm sóc phù hợp công với giống tốt phù hợp với điều
kiện tự nhiên của vùng thì điều tất nhiên là năng suất sữa sẽ cao; còn ngược lại khi

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 13


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×