Tải bản đầy đủ

Kiểu nhân vật cô đơn lác loài trong tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư và tiểu thuyết Sa Mạc của Le Clézio (Luận văn thạc sĩ)

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HUYỀN

KIỂU NHÂN VẬT CÔ ĐƠN LẠC LOÀI
TRONG TIỂU THUYẾT SÔNG CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
VÀ TIỂU THUYẾT SA MẠC CỦA LE CLÉZIO

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HOÁVIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HUYỀN

KIỂU NHÂN VẬT CÔ ĐƠN LẠC LOÀI

TRONG TIỂU THUYẾT SÔNG CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ
VÀ TIỂU THUYẾT SA MẠC CỦA LE CLÉZIO
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ THẮM

THÁI NGUYÊN - 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố.
Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn có xuất xứ rõ ràng.
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 4 năm 2018
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN THỊ HUYỀN

i


LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Kiểu nhân vật cô đơn lạc loài trong tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc
Tư và tiểu thuyết Sa mạc của Le Clezio” là nội dung tôi chọn để nghiên cứu và làm
luận văn tốt nghiệp sau hai năm theo học chương trình cao học chuyên ngành Văn
học Việt Nam tại khoa Ngữ văn - Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, dưới sự
hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Thắm.
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Thắm, người đã
trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn. Nhờ sự chỉ bảo tận tình của
cô mà luận văn của tôi mới được hoàn thành và có kết quả như ngày hôm nay.
Tiếp đó, tôi xin tỏ lòng cảm ơn chân thành đến tập thể các thầy, cô khoa Ngữ
văn - Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên; đặc biệt là các thầy cô trong bộ môn
Văn học Việt Nam, ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, phòng quản lí sau Đại học trường
Đại học sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên
cứu. Xin cảm ơn gia đình, bạn bè, lãnh đạo cơ quan, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động


viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, hoàn thành luận văn.
Dù đã cố gắng, nỗ lực hết mình để hoàn thành nhưng tôi nhận thấy luận văn
của mình vẫn không tránh khỏi hạn chế, sai sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được
những lời góp ý chân thành từ thầy cô và các bạn.
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 4 năm 2018
TÁC GIẢ

NGUYỄN THỊ HUYỀN

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................... ii
MỤC LỤC ................................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC BẢNG .......................................................................................... iv
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ....................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................................ 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 7
5. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................... 8
6. Đóng góp của luận văn ............................................................................................. 8
7. Cấu trúc của luận văn................................................................................................ 9
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .................................................................. 10
1.1.Tác giả Nguyễn Ngọc Tư...................................................................................... 10
1.1.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác ........................................................................ 10
1.1.2. Tiểu thuyết Sông ............................................................................................... 13
1.2. Tác giả Le Clézio ................................................................................................. 15
1.2.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác ........................................................................ 15
1.2.2. Tiểu thuyết Sa mạc ........................................................................................... 19
1.3. Nhân vật cô đơn lạc loài và kiểu nhân vật cô đơn lạc loài trong văn học. .......... 21
Chương 2. HÀNH TRÌNH KIẾM TÌM HẠNH PHÚC CỦA KIỂU NHÂN
VẬT CÔ ĐƠN LẠC LOÀI TRONG SÔNG VÀ SAMẠC ..................................... 29
2.1. Các kiểu loại nhân vật cô đơn, lạc loài trong Sông và Sa mạc ............................ 29
2.1.1. Nhân vật tự cô đơn ............................................................................................ 29
2.1.2. Nhân vật bị cô đơn ............................................................................................ 36
2.2. Không gian và thời gian của hành trình ............................................................... 42
2.2.1. Không gian nghệ thuật ...................................................................................... 42
2.2.2. Thời gian nghệ thuật ......................................................................................... 49
2.3. Cách phản ứng của các nhân vật trước nỗi cô đơn .............................................. 58

iii


Chương 3. NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG KIỂU NHÂN VẬT CÔ ĐƠN LẠC
LOÀI TRONG TIỂU THUYẾT SÔNG VÀ SA MẠC ........................................... 63
3.1. Nghệ thuật xây dựng ngoại hình .......................................................................... 63
3.2. Nghệ thuật xây dựng hành động .......................................................................... 79
3.3. Ngôn ngữ và tâm lí nhân vật ................................................................................ 85
3.3.1. Ngôn ngữ bên ngoài (đối thoại trực tiếp) ......................................................... 86
3.3.2. Ngôn ngữ bên trong (độc thoại và đối thoại nội tâm) ...................................... 90
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 98

iv


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1.

Chi tiết miêu tả hình ảnh đôi mắt, ánh nhìn của một số nhân vật cô đơn, lạc

loài trong Sông ......................................................................................... 65
Bảng 3.2. Chi tiết miêu tả hình ảnh đôi mắt, ánh nhìn của một số nhân vật cô
đơn, lạc loài trong Sa mạc ....................................................................... 70
Bảng 3.3. Hành động của nhân vật Hartani qua tác phẩm Sa mạc ......................... 81

iv


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Jean-Marie Gustave Le Clézio, người được Viện Hàn lâm Thụy Điển công
bố trao giải Nobel văn chương 2008 không phải là một cái tên xa lạ đối với những
người yêu văn chương. Ông là một trong những nhà văn hiện đại Pháp được dịch
nhiều nhất. Có thể coi ông là một trong những gương mặt nổi bật, tiêu biểu của tiểu
thuyết Pháp từ nửa sau thế kỉ XX cho đến nay. Ông thường được kể là một trong các
nhà văn tiên phong.
Trong nền văn học Việt Nam thời kì đổi mới, người yêu văn chương cũng như
giới phê bình nghiên cứu khoảng mười năm đầu thế kỷ XXI không còn xa lạ với cái
tên Nguyễn Ngọc Tư. Tên tuổi của chị gắn liền với những tác phẩm có dấu ấn với bạn
đọc và giới phê bình.
Hai nhà văn thuộc hai quốc gia, hai châu lục khác nhau nhưng đều là những
cây bút tài hoa trên văn đàn dân tộc mình. Trong sáng tác của họ thế giới nhân vật vô
cùng phong phú và đa dạng, tuy nhiên trong một số tác phẩm, cả hai nhà văn đều đề
cập đến kiểu nhân vật cô đơn, lạc loài. Kiểu nhân vật cô đơn, lạc loài giữa hai nhà
văn này có những điểm tương đồng và khác biệt .
1.2. Tiểu thuyết Sa mạc là tác phẩm được giải thưởng lớn Paul Morand đồng
thời được đánh giá là tinh hoa trong chặng đường sáng tác thứ hai của nhà văn Le
Clézio. Sa mạc là tác phẩm tiêu biểu cho tư tưởng nghệ thuật của Le Clézio. Qua tác
phẩm, nhà văn tiếp tục sứ mạng của mình là phản ánh thân phận con người trong thời
đại văn minh tiêu thụ. Cuộc tìm kiếm thiên đường của tự do và hạnh phúc, tình yêu
con người và cuộc sống là chủ đề chính trong tiểu thuyết Sa mạc và đó cũng là vấn đề
đặt ra cho toàn nhân loại. Tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư được đánh giá là
độc đáo, đầy tính thời sự mà cũng giàu chất thơ. Một dòng sông hư cấu nhưng lại
chảy qua những bãi bồi phù sa, ghềnh thác để chứng kiến bao thân phận con người,
những biến động của thời đại nổi nênh trong những giá trị khuất lấp, xói mòn bởi
những giả trá, phù phiếm và cả sự chênh vênh, bất cần trên điểm tựa chung nhất là
nỗi đau mà mỗi người phải gồng gánh.

1


1.3. Nhịp sống hối hả của cuộc sống hiện đại kéo theo nhiều hệ lụy. Sống gấp,
sống nhanh, sống vội vàng nhưng khi mọi thứ không theo ý muốn người ta lại dễ rơi
vào trạng thái cô đơn. Kiểu nhân vật cô đơn, lạc loài không phải là một đề tài mới mẻ
trong văn học. Họ luôn cảm thấy bơ vơ, lạc lõng. Họ là nạn nhân của những bi kịch, éo
le, ngang trái, bị số phận xô đẩy đến nỗi cô đơn. Quả thật, nỗi cô đơn của nhiều nhân
vật trong nhiều tác phẩm ở những quốc gia, châu lục khác nhau nhiều khi khó sẻ chia
và họ cứ sống chìm đắm rất lâu trong cái vỏ bọc của sự cô đơn ấy. Tác phẩm của hai
nhà văn đã góp thêm cách cảm nhận về sự cô đơn, lạc loài ấy một cách thấm thía.
Chúng tôi thấy sự so sánh giữa tiểu thuyết Sa mạc và Sông cũng có những khập khiễng
nhất định, mà khập khiễng lớn nhất là tầm vóc của hai nhà văn nhưng chúng tôi vẫn
nhìn thấy được sự thống nhất là cả hai đều có kiểu nhân vật cô đơn lạc loài và đó là lí
do để chúng tôi chọn hai tác phẩm này. Hiện tượng này xứng đáng là một đối tượng
cho một đề tài nghiên cứu kĩ càng hơn, hệ thống và đầy đủ hơn. Bởi vậy chúng tôi đã
lựa chọn nghiên cứu đề tài: Kiểu nhân vật cô đơn lạc loài trong tiểu thuyết Sông của
Nguyễn Ngọc Tư và tiểu thuyết Sa mạc của Le Clezio. Mặt khác, đề tài này còn góp
phần vào công việc nghiên cứu và học tập văn học Pháp ở Việt Nam. Từ đó, tăng
cường tình hữu nghị giữa hai nước Việt - Pháp trong bối cảnh giao lưu, hợp tác, cùng
phát triển hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. J.M.G. Le Clézio là tác giả thu hút được sự quan tâm, chú ý của đông đảo
giới nghiên cứu, phê bình và độc giả trên thế giới. Tác phẩm của ông là đối tượng
nghiên cứu của rất nhiều công trình tại Pháp và nhiều nước trên thế giới như Mỹ,
Canada, Hàn Quốc, Ý… Luận văn của chúng tôi sẽ giới thiệu khái quát một số tác
phẩm và các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước (chủ yếu là các tài liệu
bằng tiếng Việt) trong đó đề cập đến tiểu thuyết Sa mạc của Le Clézio.
Từ trước thời điểm Le Clézio được nhận giải Nobel năm 2008, tác phẩm của
ông đã rải rác được giới thiệu ở Việt Nam. Khảo sát theo thời gian, chúng tôi nhận
thấy tác phẩm cũng như các công trình nghiên cứu về ông ngày càng tăng lên về số
lượng, cụ thể hơn, chuyên sâu hơn về mặt lý luận, nghệ thuật. Trước những năm
2


2000, tác phẩm cũng như tài liệu về Le Clézio vô cùng ít ỏi. Độc giả Việt Nam biết
đến ông trước tiên qua bài viết giới thiệu về J.M.G. Le Clézio kèm theo một đoạn
trích từ tiểu thuyết Biên bản của tác giả Hoàng Ngọc Biên trong cuốn Tiểu thuyết của
các nhà văn Pháp hiện đại, in tại Sài Gòn năm 1969.
Từ năm 1992, cuốn Lịch sử văn học Pháp thế kỉ XX (Đặng Thị Hạnh chủ biên)
đã nhận định như sau về Le Clézio: “lối viết “vỡ tung”, sự xâm nhập các thể loại
trong tác phẩm của Le Clézio là một biểu hiện chấp nhận tất cả mọi lối biểu hiện của
sáng tác văn học hôm nay” [17, tr.153]. Về cuốn Sa mạc các tác giả đã khẳng định sự
nổi tiếng của nó: “Lối viết trần trụi, chữ nghĩa tẻ nhạt, nhưng số phận của một phụ nữ
da đen sớm thành đàn bà, Lalla, đã gợi biết bao tầng ý nghĩa cho con người hiện đại,
người lao động cư trú ở nước ngoài và phụ nữ đối mặt với “văn minh” công nghiệp.
Cuốn sách được dư luận đánh giá là “cuốn tiểu thuyết tuyệt nhất lâu lắm mới được
viết ra bằng tiếng Pháp” [17, tr.153].
Năm 1997, trên báo Lao động số 135 ra ngày 24/8/1997 đăng bài viết của tác
giả Huỳnh Phan Anh giới thiệu khuynh hướng đổi mới kỹ thuật tiểu thuyết và chủ đề
cuộc hành trình trong một số tác phẩm của Le Clézio trong đó có tiểu thuyết Sa mạc.
Vào năm 1999 xuất hiện bài nghiên cứu đầu tiên giới thiệu Le Clézio trong
một số Chuyên san về tiểu thuyết Pháp của Tạp chí văn học, trong đó ông được khẳng
định “đã chứng minh tài năng của mình”, là người được “xếp hạng” trong làng văn
học Pháp đương đại từ khi còn khá trẻ (30 tuổi) với tác phẩm Biên bản (giải thưởng
Renaudot). Tác giả Lộc Phương Thuỷ trong bài viết này đã giới thiệu nhà văn có
công “làm cho bức tranh toàn cảnh của văn học Pháp thế kỉ XX đỡ màu ảm đạm”. Bà
giúp người đọc hiểu rõ Le Clézio hơn không chỉ với tư cách một nhà tiểu thuyết mà
còn là người viết truyện ngắn, tiểu luận, dịch thuật. Hơn thế ông còn là người nghiên
cứu và giảng dạy ở Pháp và các nước khác như Mỹ, Mexique, Thái Lan…Tiểu thuyết
Sa mạc cũng được tác giả bài báo giới thiệu như một bằng chứng về một lối viết riêng
của Le Clézio: “điều đó được thể hiện không chỉ ở việc làm “vỡ tung” văn bản, mà
chủ yếu là việc xâm nhập các thể loại trong tác phẩm của ông. Trong tiểu thuyết của
ông có cả thơ, có tiểu luận, có sử thi, huyền thoại và cổ tích…” [36, tr. 38].
3


Năm 2001 tác giả Phùng Văn Tửu xuất bản cuốn Tiểu thuyết Pháp bên thềm
thế kỷ XXI trong đó có dành một số trang để giới thiệu về sự chuyển biến tinh thần
của Le Clézio thể hiện trong các tác phẩm ra đời những năm 80 như Sa mạc (1980),
Người tìm vàng (1985) đồng thời tác giả cũng đề cập đến chủ đề đi tìm miền đất hứa
ở thế giới quê hương cội nguồn và thiên nhiên hoang sơ tinh khiết.
Bài viết của tác giả Lê Thị Phong Tuyết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học
số 4-2004 với nhan đề Ba nhà tiểu thuyết tiêu biểu cuối thể kỉ XX nhấn mạnh chủ đề
tư tưởng của tiểu thuyết Sa mạc. Theo tác giả bài viết Sa mạc “thực sự là bản anh
hùng ca về cuộc đấu tranh của những con người bị giết hại, những con người phải di
cư. Nó cũng đồng thời tố cáo sự tàn bạo của chiến tranh, của chủ nghĩa thực dân. Đây
là sự chồng chéo hai thế giới: thế giới của sa mạc và thế giới của thành phố, của văn
minh. (...) Đây là bản anh hùng ca về “những người đàn ông, những người phụ nữ
của cát, của gió, của ánh sáng, của buổi đêm” [42].
Đề cập cụ thể về một số yếu tố nghệ thuật trong Sa mạc phải kể đến bài viết
Thời gian, không gian trong tiểu thuyết Sa mạc của Le Clézio đăng trên Tạp chí
Nghiên cứu văn học số 2/2006 của tác giả Nguyễn Thị Bình. Tác giả bài viết đã khảo
sát một cách hệ thống cấu trúc và không - thời gian trong tiểu thuyết Sa mạc và từ đó
đưa ra kết luận: “Với cách xử lí thời gian và không gian đặc sắc, Le Clézio đã làm nổi
bật những vấn đề bức thiết của con người, của xã hội và lịch sử. Và đặc biệt là mang
lại một sắc thái mới cho đề tài viễn du. Những cuộc hành trình của các nhân vật chính
là hành trình khám phá thế giới hiện thực của bản thân mình. Cái cá thể hoà nhập vào
cái chung, cái tôi tồn tại trong lòng cuộc đời sống động với vô vàn sắc thái đa dạng.
Mặt khác cuộc viễn du đó chính là quay trở về cội nguồn, để tìm thấy bản sắc của dân
tộc mình - một trong mối quan tâm của các nhà văn Pháp và chắc chắn cũng là của
các nhà văn Việt Nam” [5].
Tài liệu có liên quan nhiều nhất đến đề tài luận văn của chúng tôi là Luận án
tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Bình với đề tài Những cuộc hành trình trong tiểu
thuyết của J.M.G Le Clézio (2006). Trong luận án của mình, tác giả đi sâu khảo sát
các cuộc hành trình trong bốn tiểu thuyết của J.M.G Le Clézio: Cuốn sách của những
cuộc chạy trốn, Sa mạc, Người đi tìm vàng và Con cá vàng. Tiểu thuyết Sa mạc được
tác giả luận án đề cập về mặt cấu trúc tác phẩm, nhân vật và không gian như những
4


chủ thể của các cuộc hành trình. Trong đó nhân vật trong Sa mạc được khai thác ở hai
cấp độ đó là nhân vật chính thực hiện cuộc hành trình gồm Lalla, Nour và cộng đồng
du mục và nhân vật phụ tác động, định hướng những cuộc hành trình đó là những
nhân vật huyền thoại như Ma el Ainine, Al Azraq còn nhân vật Namman, Hartani lại
được xếp vào loại nhân vật khai sáng. Từ khảo sát, phân tích nhân vật, tác giả đi đến
những đánh giá về kỹ thuật xây dựng nhân vật độc đáo của tác giả đó là sự kết hợp
bút pháp hiện thực và trữ tình gắn liền với cuộc hành trình về thế giới cội nguồn.
Đồng thời tác giả luận án cũng nhận định: kiểu nhân vật độc đáo trong những cuộc
hành trình đã góp phần biến đổi cốt truyện của tiểu thuyết viễn du theo cách thức của
tiểu thuyết phản ánh quan niệm về thế giới, về tư tưởng.
Từ luận án này, tác giả Nguyễn Thị Bình đã sửa chữa và bổ sung để cho ra mắt
cuốn Tư tưởng nhân văn trong các tác phẩm của J.M.G Le Clézio (2010).
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về Le Clézio.
Trong công trình này, tác giả đã dành một phần không nhỏ (gần 1/3 số trang) để giới
thiệu những cách tân, đổi mới kỹ thuật tiểu thuyết của Le Clézio cùng với tư tưởng
nhân văn mà ông gửi gắm trong các tiểu thuyết chủ đề “viễn du” của mình. Tác giả
khẳng định: tất cả những cách tân táo bạo về kĩ thuật tiểu thuyết của Le Clézio nhằm
để phản ánh những suy ngẫm về thân phận con người, những cuộc hành trình tìm
kiếm tự do và hạnh phúc. Những chuyến di mải miết trong không gian vô tận để truy
tìm tình yêu con người trong xã hội hiện đại được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau.
Sự chối bỏ xã hội hiện đại, đi tìm cội nguồn, hướng tới thế giới lí tưởng được tiến
hành bằng những chuyến viễn du trong thế giới hiện thực hoặc trong tưởng tượng.
Những chuyến khởi hành đó chứa đựng sự dịch chuyển trong không gian, thời
gian và những biến đổi sâu sắc thế giới tinh thần của nhân vật. Tiểu thuyết Sa
mạc được tác giả xếp vào thể loại tiểu thuyết “viễn du” và được khảo cứu như là một
trong số những tiểu thuyết tiêu biểu thể hiện đặc sắc tư tưởng nhân văn của tác giả.
Cụ thể là chủ đề tư tưởng, cấu trúc của tác phẩm cũng như trong những cuộc hành
trình tìm kiếm tự do và hạnh phúc mà cá nhân Lalla và cộng đồng du mục thực hiện.
Ngoài ra cũng phải kể đến một số khóa luận tốt nghiệp Đại học nghiên cứu về
tác phẩm của Le Clézio như Khoá luận tốt nghiệp của các sinh viên:

5


Khúc Thị Hoa Phượng (2003), Nguyễn Thị Mỹ Liên (2006), Nguyễn Thị Lan
Anh (2009) sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc
gia Hà Nội. Các khóa luận trên phần nào đã đề cập đến những khía cạnh thi pháp
trong tác phẩm của Le Clézio như: Nghệ thuật xây dựng nhân vật; Người kể chuyện;
Lối viết và bút pháp trong các tập truyện ngắn Người chưa thấy biển, Mondo và
những chuyện khác, Vòng xoáy… Năm 2009, cũng tại trường Đại học này có thêm
khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang với đề tài Yếu tố huyền
thoại trong tiểu thuyết Sa mạc của Jean Marie Gustave Le Clézio. Trong khoá luận
của mình, tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang tập trung khai thác các yếu tố huyền thoại
thông qua cấu trúc tác phẩm, hệ thống nhân vật, không gian, thời gian cùng một số
mô típ biểu tượng có chứa yếu tố huyền ảo…
Nhìn chung các bài viết cũng như các công trình nghiên cứu trên phần nào đã
đề cập đến các vấn đề thi pháp và Nghệ thuật tự sự của Sa mạc song vẫn chưa được
khai thác cụ thể, chuyên sâu về kiểu nhân vật cô đơn lạc loài.
2.2. Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút trẻ được nhanh chóng nhìn nhận tài năng.
Chị trở thành cái tên quen thuộc, một gương mặt không xa lạ với độc giả cả nước.
Các bài báo viết về Nguyễn Ngọc Tư khá nhiều từ báo mạng đến báo viết,… Các bài
báo có nhiều ý kiến đa dạng, thậm chí là trái chiều và có khi đối lập nhau. Điều này
cho thấy Nguyễn Ngọc Tư và sáng tác của chị được dư luận chú ý quan tâm và ít
nhiều cũng là một hiện tượng nổi bật của văn học đương đại. Bên cạnh đó ta còn bắt
gặp một lượng không nhỏ các báo cáo khoa học, khoá luận tốt nghiệp, luận văn thạc
sĩ về tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư,
Nhìn lại lịch sử nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, có thể thấy, các
bài viết, các công trình nghiên cứu về tác phẩm của tác giả Nguyễn Ngọc Tư khá
phong phú, tuy nhiên chủ yếu mới dừng lại ở từng tác phẩm, hoặc đi vào một số khía
cạnh trong sáng tác của chị (phần nhiều là truyện ngắn). Tiêu biểu có thể kể đến:
Đoàn Ánh Dương (2007), “Cánh đồng bất tận, nhìn từ mô hình tự sự và ngôn
ngữ trần thuật”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 2, trang 96 - 109.
Lê Thị Cúc (2008), Khảo sát ngôn ngữ truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
trong hai tập truyện ngắn “Ngọn đèn không tắt” và “Cánh đồng bất tận”.
Nguyễn Thành Ngọc Bảo (2012), Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện
trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư...
6


Với luận văn này, chúng tôi sẽ cố gắng khảo sát một cách hệ thống, thấu đáo
kiểu nhân vật cô đơn lạc loài trong tiểu thuyết đầu tay - Sông của Nguyễn Ngọc Tư,
từ đó đúc rút những nét riêng độc đáo cả về nội dung tư tưởng và nghệ thuật thể hiện
trong sự đối sánh với tiểu thuyết Sa mạc của Le cle’zio, khẳng định những đóng góp
đáng quý của hai tác giả này với nền văn học dân tộc và văn học nhân loại.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi muốn chỉ ra kiểu nhân vật cô đơn lạc loài
được đề cập đến trong hai tác phẩm, đặc điểm của hành trình kiếm tìm hạnh phúc và
nghệ thuật xây dựng kiểu nhân vật cô đơn, lạc loài của Nguyễn Ngọc Tư và Le Clezio
trong Sông và Sa mạc. Qua đó giúp người đọc thấy được nét chung của con người cô
đơn, lạc loài trong văn học hậu hiện đại đồng thời giúp độc giả có được sự nhìn nhận
sâu sắc hơn về sự cô đơn lạc loài của con người trong xã hội hiện nay. Hơn thế nữa,
khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi cũng muốn mọi người nhìn nhận thấy văn học
Việt Nam đã có những bước tiến rất xa (về tư tưởng) so với giai đoạn trước, đang dần
từng bước vươn tầm khu vực và thế giới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi đi sâu nghiên cứu và tìm hiểu kiểu nhân vật cô
đơn lạc loài trong Sông và Sa mạc.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi sẽ tìm hiểu và nghiên cứu kiểu nhân vật cô đơn, lạc loài trong hai
tiểu thuyết:
+ Sông (2012) Nxb Trẻ- tiểu thuyết đầu tay đã được xuất bản và gây được ấn
tượng sâu sắc đối với độc giả của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.
+ Sa mạc(2010) Nxb Văn học, dịch giả Huỳnh Phan Anh - cuốn tiểu thuyết đã
mang về cho Le Clezio giải thưởng lớn Paul-Morand của Viện Hàn lâm Pháp và góp
phần quan trọng giúp ông đến với giải Nobel Văn học 2008.
Chúng tôi không có tham vọng tìm hiểu toàn bộ thế giới nhân vật trong tác
phẩm của Le Clézio và Nguyễn Ngọc Tư mà chỉ tập trung khai thác kiểu nhân vật cô
đơn, lạc loài thông qua một số phương diện cơ bản như: Hành trình tìm kiếm hạnh

7


phúc, nghệ thuật xây dựng nhân vật.Trong quá trình nghiên cứu, để phong phú hơn
cho các luận chứng của luận văn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu Sa mạc kết hợp so
sánh Sông và liên hệ thêm đến kiểu nhân vật này trong sáng tác của hai nhà văn.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp cơ bản sau:
Phương pháp phân tích,tổng hợp: Trên cơ sở thống kê, phân loại, phương
pháp phân tích, tổng hợp giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc và toàn diện về nhân
vật cô đơn, lạc loài được phản ánh qua hai tác phẩm.
Phương pháp khảo sát, thống kê: Để phân tích, lí giải kết quả cần tiến
hành việc thống kê, phân loại. Đây chính là phương pháp cần thiết cho việc tìm
hiểu và làm rõ nghệ thuật xây dựng kiểu nhân vật cô đơn lạc loài trong tiểu
thuyết Sông và Sa mạc.
Phương pháp so sánh, đối chiếu: giúp chúng tôi nhìn nhận, đánh giá sự giống
và khác nhau của kiểu nhân vật cô đơn lạc loài trong tác phẩm Sông và Sa mạc .
Phương pháp tổng phân hợp: Giúp người đọc đánh giá toàn diện và khái quát
được vấn đề đặt ra trong luận văn.
Phương pháp nghiên cứu lịch sử: nhằm tìm ra nguồn gốc xuất hiện, quá
trình phát triển và qua đó thấy được những đóng góp mới mẻ của các nhà văn về
đề tài này.
6. Đóng góp của luận văn
Tìm hiểu, khám phá những nét đặc sắc trong kiểu nhân vật cô đơn, lạc loài qua
Sa mạc của Le Clézio và Sông của Nguyễn Ngọc Tư cùng những đóng góp của hai nhà
văn trong quá trình đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết hậu hiện đại, chúng tôi hy vọng luận
văn có thể góp phần giới thiệu một cách đầy đủ hơn quan điểm cũng như sự nhìn nhận,
đánh giá của các nhà văn về số phận con người, về vấn đề con người cô đơn, lạc loài
đang diễn ra ở nhiều nơi trên nhiều nước và sự quan tâm đặc biệt của các nhà văn về họ
thể hiện trong sáng tác của mình với nhiều nỗi băn khoăn, trăn trở vẫn còn đau đáu.
Về mặt thực tiễn chúng tôi hy vọng luận văn sẽ là tư liệu tham khảo hữu ích,
thiết thực cho việc nghiên cứu, học tập văn học đương đại Việt Nam; văn học nước
ngoài, đặc biệt là văn học Pháp đương đại.

8


7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Hành trình kiếm tìm hạnh phúc của kiểu nhân vật cô đơn lạc loài
trong Sông và Sa mạc.
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng kiểu nhân vật cô đơn lạc loài trong tiểu thuyết
Sông và Sa mạc.

9


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1.Tác giả Nguyễn Ngọc Tư
1.1.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
Nếu là một người yêu văn chương và chịu khó theo dõi văn chương Việt Nam
mấy năm gần đây hẳn bạn không khỏi ấn tượng với cái tên Nguyễn Ngọc Tư. Nguyễn
Ngọc Tư sinh năm 1976 tại Bạc Liêu, 4 tuổi theo gia đình về sinh sống tại xã Tân
Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.Tuổi thơ của Nguyễn Ngọc Tư khá lam lũ và
vất vả, mới học hết lớp 9 thì gia đình chị đã xảy ra những biến cố, điều kiện kinh tế
gia đình lại khó khăn, chị đã buộc phải dừng lại việc học trên ghế nhà trường khi mới
mười lăm tuổi. Để giúp cha mẹ trang trải trong cuộc sống mưu sinh chị đã hái rau ra
chợ bán. Chính những ngày “vào đời sớm” cùng sự vất vảnhọc nhằn trên vùng đồng
bằng sông nước nhiều khó khăn cũng nhưnhững người dân chất phác, thật thà nơi đây
đã tạo nên một nguồn cảm hứng lớn trong sáng tác của chị.
Từ nhỏ Nguyễn Ngọc Tư đã có niềm đam mê viết lách, viết để thể hiện, viết
để trải nghiệm bản thân và cuộc sống, nhà văn đã tập tành viết nhật kí. Dưới sự động
viên của cha - ông Nguyễn Thái Thuận vốn là người có tấm lòng thương con, hiểu rõ
con gái có khiếu văn chương, người cha có vẻ thực tế, trải nghiệm như một người đã
từng cầm bút, thường không bỏ qua bất cứ cơ hội tốt nào để khuyến khích con mình
“Nghĩ gì, viết nấy. Viết điều gì con đã trải qua”. Cha của Nguyễn Ngọc Tư đã trở
thành người đầu tiên đọc và góp ý cho cô con gái út. Năm 1995, truyện ngắn Đổi
thay- một truyện ngắn được trích trong nhật ký của tác giả, đã được đăng trên Tạp chí
văn nghệ Cà Mau như một cơ duyên dẫn dắt Nguyễn Ngọc Tư đến với con đường văn
nghiệp. Sau ba tác phẩm được đăng trên tạp chí này, Nguyễn Ngọc Tư đã được nhận
làm văn thư và học làm phóng viên tại đây. Ngoài đời, Nguyễn Ngọc Tư được đánh
giá là một người phụ nữ chân chất, hồn nhiên và sống rất bản lĩnh. Chị lập gia đình
với Quang Hà - một chàng trai hiền lành, kiệm lời làm thợ kim hoàn khi mới 24 tuổi
và đến nay đã có hai cậu con trai. Chồng của Nguyễn Ngọc Tư biết vợ đang làm công
việc sáng tác nhưng anh không có thời gian đọc “những gì cô ấy viết”. Mãi đến khi
truyện Cánh đồng bất tận của vợ được báo đăng nhiều kỳ anh mới có dịp đọc hết.

10


Cảm thông với sự nhọc nhằn trong nghiệp cầm bút của vợ, sau giờ làm việc Quang
Hà sẵn sàng tình nguyện chia sẻ việc nhà với vợ. Hiện nay chị cùng gia đình đang
sống tại thành phố Cà Mau và chị đang làm việc cho tạp chí bán đảo Cà Mau.
Tác phẩm đầu tiên đánh dấu sự thành công của Nguyễn Ngọc Tư, đưa Ngọc
Tư chính thức bước vào làng văn đó là tập kí sự “Nỗi niềm sau cơn bão”, tác phẩm
được viết trong chuyến đi thực tế ở cửa biển Khánh Hội, sông Đốc sau khi đất Mũi
phải trải qua cơn bão số 5 khủng khiếp. Tác phẩm này đã đạt giải ba báo chí toàn
quốc năm 1997. Bằng sự nhạy cảm cùng khả năng cảm thụ cuộc sống và con người
rất tinh tế, thêm vào đó là tài năng thiên bẩm, Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện năng lực
bứt phá, dồi dào và mạnh mẽ khi đạt giải nhất cuộc thi Văn học tuổi 20 lần thứ II của
Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh với tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt (2000).
Năm 2001, tác phẩm này đoạt Giải B của Hội nhà văn Việt Nam rồi giải dành cho tác
giả trẻ nhất của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam
kèm theo nhiều bằng khen và tiền thưởng. Tập sách này đã được chọn in lại trong "Tủ
sách Vàng" của NXB Kim Đồng năm 2003, cũng trong năm này chị được tuyên
dương là một trong “Mười nhân vật trẻ xuất sắc tiêu biểu năm 2002”. Nguyễn Ngọc
Tư được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam khi mới 27 tuổi. Trong cuộc thi truyện
ngắn của báo văn nghệ năm 2004-2005 chị đạt giải ba với tác phẩm Đau gì như thể.
Những năm qua, bằng giọng văn tưng tửng mà tình cảm của mình chị tiếp tục gây
ngạc nhiên và đem lại nhiều thiện cảm cho bạn đọc. Nguyễn Ngọc Tư cũng là tác giả
trẻ nhất có tên trong tuyển tập truyện ngắn Việt Nam được dịch và in ở Mỹ, do đó chị
đã vinh dự được chọn lên hình chương trình Người đương thời năm 2005. Năm
2006,Nguyễn Ngọc Tư lại đạt luôn giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam với Cánh
đồng bất tận- tác phẩm ngay từ khi ra đời đã thực sự gây sóng gió trên văn đàn đương
thời và tạo ra không ít xôn xao trong dư luận. Nhưng cũng chính nhờ tác phẩm này
mà Nguyễn Ngọc Tư tiếp tục được nhận thêm giải thưởng Văn học Asean năm 2008.
Cánh đồng bất tận không chỉ đạt doanh số bán ra cao nhất năm 2005 mà năm 2010
được dựng thành phim, đây cũng là tác phẩm điện ảnh ăn khách ở các rạp chiếu phim
trong cả nước lúc đó. Có thể nói, thành công ở Cánh đồng bất tận không chỉ khiến
tên tuổi Nguyễn Ngọc Tư trở nên thân thuộc với độc giả yêu văn chương nước nhà
mà nó còn giúp cho Nguyễn Ngọc Tư có được tấm vé thông hành đến với độc giả
nhiều nước trên thế giới. Hiện tại nhiều truyện ngắn của chị được dịch ra tiếng Nhật,
tiếng Anh để giới thiệu với độc giả ở nước ngoài.

11


Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút chắc tay và viết nhiều thể loại như: Truyện
ngắn, tạp văn, thơ, tiểu thuyết...Nhưng thành công đặc biệt của chị phải kể đến là:
Truyện ngắn và tạp văn. Với gần hai thập niên cầm bút chị đã cho ra đời và xuất bản
rất nhiều tác phẩm, tiêu biểu có thể kể đến:
1. Đau gì như thể (truyện ngắn-giải ba cuộc thi truyện ngắn của báo văn nghệ
năm 2004-2005)
2. Cánh đồng bất tận (tập truyện ngắn, 2005)
3. Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (tập truyện ngắn, 2008)
4. Khói trời lộng lẫy (tập truyện ngắn, 2010)
5. Sông (tiểu thuyết, 2012)
6. Không ai qua sông (tập truyện ngắn, 2016)…
Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn có chân tài trong nền văn chương hiện đại
Việt Nam. Ngòi bút của chị dung dị mà không kém phần sâu sắc bởi nó là những cảm
xúc được thôi thúc từ trong lòng. Cảm hứng sáng tác của chị thường được lấy từ cuộc
sống và số phận của những nhân vật nhỏ bé, những đứa trẻ tội nghiệp, những người
đàn bà đáng thương, những nông dân nghèo quanh năm lam lũ, những nghệ sĩ bất
hạnh...trong chính vùng quê Nam Bộ của mình. Những con người, những kỉ niệm và
cuộc sống vùng Nam Bộ với biết bao lam lũ, vất vả nhưng cũng vô cùng thú vị đã
nuôi dưỡng tâm hồn, vun đắp vốn sống, tài năng và khơi dậy nguồn cảm hứng sáng
tác dồi dào của Nguyễn Ngọc Tư. Bởi thế, văn phong của Nguyễn Ngọc Tư mang
đậm chất Nam Bộ, làm xúc động biết bao trái tim bạn đọc. Nguyễn Ngọc Tư từng ví
truyện của mình “như trái sầu riêng” - nhiều người thích nhưng cũng không ít người
dị ứng. Mỗi trang văn của Nguyễn Ngọc Tư không đơn giản như một bức tranh để
ngắm mà ở mỗi câu, mỗi chữ đều ẩn chứa tiếng lòng, sự thổn thức về cuộc sống của
những số phận, những mảnh đời. Lối viết của Nguyễn Ngọc Tư không màu mè,
chẳng bóng bảy nhưng luôn tạo được dấu ấn đậm sâu, có sức hấp dẫn rất riêng, thậm
chí có sức ám ảnh lớn trong lòng độc giả.
Cầm bút tính đến nay được gần hai thập niên, Nguyễn Ngọc Tư đã liên tiếp đạt
được những thành công và ngày càng khẳng định được tài năng và vị thế của mình
trên văn đàn. Số lượng và chất lượng tác phẩm ngày càng được khẳng định ở nhiều
thể loại, cho thấy một sự nghiêm túc và nỗ lực không ngừng trong nghiệp viết. Chúng
ta hoàn toàn có thể hi vọng và tin tưởng Nguyễn Ngọc Tư sẽ còn mang đến nhiều bất
ngờ hơn nữa với những đứa con tinh thần của mình trong thời gian tới.
12


1.1.2. Tiểu thuyết Sông
Từ khi xuất hiện trên văn đàn, độc giả vốn quen với một Nguyễn Ngọc Tư của
truyện ngắn hay của những tản văn ám ảnh lòng người, có lẽ chúng ta sẽ cảm thấy thật
sự lạ lẫm và thích thú khi được tiếp xúc với một Nguyễn Ngọc Tư ở thể loại tiểu thuyết.
Sông chính là tiểu thuyết đầu tay của chị. Đọc Sông, ta sẽ được trải qua những câu
chuyện của các nhân vật trong một hành trình rầu rĩ dọc con sông Di - một con sông
huyền thoại qua sáng tạo của nhà văn. Ta đã từng bị hấp dẫn bởi cách cảm, cách nghĩ,
cách nhìn, cách viết và cả cách miêu tả tỉ mỉ, tinh tế của Nguyễn Ngọc Tư qua các tác
phẩm truyện ngắn hay tạp văn thì đến với Sông ta càng bị cuốn hút bởi ở bất cứ câu
chuyện nào của chị cũng đều có nét riêng, rất riêng của Nguyễn Ngọc Tư. Thử nghiệm
tiểu thuyết Sông chị đã từng băn khoăn bởi có thể không đạt được kết quả như mong
muốn nhưng bứt phá ở thể loại mới này như chính tác giả ban đầu đã từng chia sẻ là
"Vừa mới bước ra khỏi ngôi nhà ấm cúng kia thôi, gặp vài trận mưa đầu tiên". Thành
công nối tiếp thành công đã đến với chị trong chặng đường sáng tạo không có đích của
một nhà văn. Nhận xét về Sông, biên tập viên của Nxb Trẻ, cũng là người biên tập bản
thảo - Trần Ngọc Sinh cho biết: "Sông là một sự đổi mới toàn diện của Nguyễn Ngọc Tư.
Đẹp. Đáo để. Trần tục và hư ảo. Truyện kết thúc bằng dấu chấm hỏi về số phận một con
người - Không hề do dự, cô đã đẩy cái mầm ý tưởng vừa nhú lên sang tay người đọc, để
họ nuôi dưỡng chúng bằng trải nghiệm, qua việc đọc cuốn sách này".[44]
Ân là nhân vật chính với danh xưng "cậu" bỏ lại sau lưng mối tình đồng tính vừa
kết thúc do người yêu cưới vợ, bỏ lại công việc ở một công ty truyền thông, đi tìm quên
với lý do viết một cuốn sách về sông Di do "sếp" đặt hàng kèm lời nhắn gửi tìm giúp dấu
vết cô người tình tên Ánh, một người đã đi sông Di trước đó rồi không trở về.Bề ngoài,
Ân có đầy đủ những yếu tố để sống một cuộc đời bình lặng, an nhàn: Có cha mẹ, có học
thức, một công việc được trọng vọng, và có tiền, ngoài ra, là một cậu con trai thư sinh, dễ
gây thiện cảm. Chừng đó, đã đủ để Ân có thể sống yên ổn về mặt xã hội. Thế nhưng, nỗi
thất vọng với người tình đồng tính, là thời điểm, là cái cớ để Ân làm một cuộc soi lại
toàn bộ diện mạo bản thể mình. Hành trình đi ngược sông Di cũng là hành trình đào xới
lại tâm thức, lật lại từng kỷ niệm, những “tình tiết” trong cuộc đời Ân. Chuyến đi ngược
sông Di ấy, song song với những thước phim trong tâm thức Ân ngược về quá khứ.
Những mảnh đời, những kiếp sống, đời người, đời sông, đời của những khúc sông, đời
của những điều huyền bí và li kì dọc con sông dài dặc... Dòng sông chảy về xuôi, còn
những con người thì ngược lại thượng nguồn. Mỗi người đều có những thôi thúc sâu xa
mà chính họ cũng không biết chính xác nó là gì.
13


Xu đi để chụp hình hoa dại, thứ hoa không lai lịch, xuất xứnhưng đấy chỉ là
cái cớ, gã mồ côi lang thang tưởng đã khinh bạc đến tắt rụi mọi khát khao ấy, thỉnh
thoảng vẫn lộ ra nỗi cồn cào đau đáu về gốc gác của mình, mà dần đến đầu nguồn thì
nỗi đau đáu ấy càng tràn ra không kiềm giữ nổi.
Bối - kẻ nổi loạn không chịu được bầu không khí “thiếu kịch tính” trong gia
đình thì đi để tìm khoái thú trong những cơn giông với những tia sét kinh hồn. Ông
già đồng hành đi để tẩy rửa ký ức chết chóc. Cô gái trẻ đi để giải phóng mình khỏi sự
phụ thuộc với một bản thể khác không phải là mình…
Có những người không đủ bứt phá để đi, nhưng gửi theo những tín hiệu đau
đáu: ông sếp giám đốc xuất bản khắc khoải về Ánh cũng là nỗi khắc khoải về cuộc
sống thực sự mà ông ta tự đánh mất; Tú (người tình đồng tính của Ân) hướng về Ân
như nỗi cồn cào về cái mà anh ta đã quyết định từ bỏ trong thẳm sâu con người mình.
Chị San không đi nữa vì con người nổi loạn “điển hình” ấy đã tuyệt vọng, đã đầu hàng.
Dòng sông Di trở thành nơi bấu víu cho những kẻ không còn hy vọng gì ở
chính mình. Nhưng chính sông Di cũng mang trong mình những vết thương. Vết
thương của sông Di cũng là vết thương của những kiếp người nhỏ bé sống bám dọc
con sông ấy. Soi vào dòng tự sự của Ân suốt cuộc hành trình là cuộc sống của những
con người ven sông, mang hình bóng của những con người Nam Bộ vốn bao đời sống
dựa vào sông. Nghèo khổ, tăm tối, hận thù, yêu đương, phản bội, đĩ điếm, chết
chóc…Đó là thân phận những con người nhỏ bé sống bám lay lắt vào sông, vô tình
làm tổn thương sông và phải hứng chịu những trả thù tàn khốc của sông.Nhưng có lẽ
số phận của nhân vật chính Ân sau cùng mới để lại nhiều day dứt nhất. Phía cuối
hành trình, cậu cũng biến mất giữa dòng sông như thể chưa từng hiện hữu. Một cuộc
tìm lại hình hài khắc nghiệt khi cậu không có quyền thay đổi giới tính, không có
quyền lựa chọn hạnh phúc và nhen nhóm trong trái tim yêu thương ấy là sự ghen tị,
ích kỷ cũng nằm ở đỉnh điểm không thể tách rời. Sông chứng kiến tất cả và cũng cuốn
đi tất cả. Mạch truyện cứ chậm rãi như những dòng chảy nhưng lại có một sức thu hút
kỳ lạ, hành trình khám phá Sông không còn là của riêng các nhân vật. Hành trình đi
tìm lại con người thật của Ân, khao khát hạnh phúc của Xu, sự nổi loạn của San, vẻ
buông xuôi của Tú và niềm riêng của biết bao nhiêu con người trong tác phẩm cũng
có thể là của chung cho những thân phận trong thế giới phẳng này.

14


Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, một trong số ít người tiếp cận bản thảo
Sông sớm nhất, nhận xét: "Với việc cho nhân vật ra đi men theo dòng sông, Tư đã
làm được hai việc: vừa phản ánh hiện thực, kể, tả về những vùng đất dọc hành trình
vừa men theo dòng chảy tâm trạng để nhân vật bộc lộ mình”.[44]
Điểm hấp dẫn của Sông có lẽ là cái duyên riêng của Nguyễn Ngọc Tư. Sự mộc
mạc, chân chất hiện rõ trong từng câu chữ. Dù có cố gắng nổ lực bứt phá để thoát
khỏi cái bóng quá lớn của Cánh đồng bất tận, song chất đặc sản của cô vẫn còn đó.
Dù rằng nó không còn là đặc sản của chỉ miền Nam, mà là đặc sản của một thế hệ nhà
văn mới, tìm tòi và thử nghiệm, nhưng không phiêu lưu vô lối, bởi cô luôn lấy cội
nguồn hồn quê của mình làm nơi bấu víu.
1.2. Tác giả Le Clézio
1.2.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
Jean-Marie Gustave Le Clézio sinh ngày 13/4/1940 ở thành phố biển Nice,
miền Nam nước Pháp.Bố của Le Clézio là một bác sĩ người Anh còn mẹ là người
Pháp, bà là một nghệ sĩ piano, bà thích chơi những bản nhạc của Ravel. Trong thế
chiến II, gia đình phải ly tán vì người cha ông phải chuyển đến Nigeria làm bác sĩ
phẫu thuật cho quân đội Anh quốc. Vào lúc 7 tuổi, Le Clézio đến châu Phi để gặp
người cha của mình. Trong thời gian hai tháng lênh đênh trên biển, chuyến đi mà ông
gọi là chuyến đi khai tâm, ông viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên (Một chuyến đi dài, rất
tiếc là đã bị thất lạc) trong buồng tàu. Ông ở lại lục địa đen một năm. Cha của ông,
một con người tỉ mỉ cần mẫn, năng động và hay dậy sớm, thường chăm sóc bệnh
nhân hủi và dẫn đường cho ông trong chốn rừng sâu. Ông đã tưởng nhớ đến người
cha của mình trong cuốn Người Châu phi.
Le Clézio thường viết những tiểu thuyết phiêu lưu. Cảm hứng để viết những
tiểu thuyết này ông lấy từ những cuốn sách mình đọc của Verne, Loti, Kipling,
Conrad, London và Stevenson. Ông kể mình đã viết trước khi biết đọc và mỗi năm
ông viết hai cuốn: “Mẹ tôi đóng lại và tôi đóng bìa các tông, có đề tên nhà xuất bản:
Nhà xuất bản Sói đen.” Ông rất mê tủ sách nhà mình, thích nhất cuốn Từ điển hội
thoại hai mươi tập: “thời nhỏ tôi có những mối xúc cảm lớn lao là nhờ bà tôi, bà cho
tôi đọc cuốn sách kỳ diệu này”, ông nói với người viết tiểu sử cho mình, Gérard de
Cortanze. Ông ước mơ trở thành hoạ sĩ và viết... truyện tranh. Hình như ông cũng thử

15


sức với thể loại tiểu thuyết trinh thám. Sau này, ông tìm xem những bộ phim giúp
mình khám phá thế giới, những bộ phim của Ozu, Mizoguchi, Bergman, Pasolini. Bộ
phim thích nhất của ông: Cuộc phiêu lưu của Antonioni, một bộ phim về tình yêu, về
sự cô đơn và về... sự im lặng.
Mười bảy tuổi, Le Clézio đạt hai bằng tú tài. Cử nhân văn chương, ông bảo vệ
một khoá luận về chủ đề Sự cô đơn trong tác phẩm của Henri Michaux, tác giả mà
ông rất có cảm tình. Năm 1960, tại Luân đôn, ông lấy Marie-Rosalie, con gái sĩ quan
quân đội, sinh tại Varsovie, người đã sinh cho ông một đứa con gái một năm sau đó.
Năm 1963, Le Clézio viết Biên bản và gửi bản thảo cho Gallimard qua đường
bưu điện. Ông tuyên bố rằng cuốn sách này là “một kiểu trình bày cách nhìn nhận cuộc
sống của tôi”. Một số người tìm thấy trong đó hồi ức về Kẻ xa lạ của Camus. “Người
phát hiện” ra thần đồng văn chương này, đó là Georges Lambrichs, trước đây làm cho
NXB Minuit. Jean Giono và Raymond Queneau nhận lời ủng hộ tác giả 23 tuổi này
trước hội đồng chấm giải Goncourt. Năm đó, Le Clézio đã được trao giải thưởng văn học
danh giá Renaudot, được xếp hạng thứ hai sau giải thưởng Goncuort. Kể từ đó nhà văn
trẻ Le Clézio được lọt vào đội ngũ hàng đầu của làng văn học Pháp.
Ông tốt nghiệp Trường Văn học Nice (Collège littéraire universitaire de Nice)
sau đó còn tiếp tục học tại Luân Đôn và Bristol trước khi bắt đầu sự nghiệp giảng dạy
tại Hoa Kỳ. Năm 1967 Le Clézio nhập ngũ và làm việc tại Thái Lan một thời gian
ngắn. Ông nghĩ đến việc ẩn dật trong một nhà tu Phật giáo và tạo ra một vụ xì căng
đan khi lên tiếng tố cáo nạn bóc lột tình dục trẻ em trong một cuộc phỏng vấn trên
báo Figaro. Bị đuổi khỏi đất nước, ông doạ sẽ đào ngũ khỏi quân đội rồi quay lại Mêhi-cô. Bổ dụng: xếp phiếu tại thư viện của Viện Pháp Châu Mĩ La Tinh. Trong Biên
bản, người kể chuyện hình dung trước tương lai của mình: “Tôi cũng có thể đi du
lịch; tôi sẽ đi thăm nhiều thành phố mà tôi chưa biết, tôi sẽ kết bạn với ai đó trong
mỗi thành phố.” Nói thêm: “Có rất nhiều không gian nguyên thuỷ rộng lớn cần khám
phá.”. Năm 1970 nhà văn sống cùng với những người thổ dân ở Panama. Những
người da đỏ Mỹ đã dạy cho ông đạo lý ở đời. Ông đã cố chuyển tải điều đó trong tác
phẩm của mình. Và trước tiên là cảnh báo về những mối nguy của chủ nghĩa vật chất.
Vào năm 1971, ông cho xuất bản một tiểu luận về nghệ thuật tuyệt vời, Haï, tại nhà
xuất bản Skira ở Genève. Từ năm 1973 lúc thì sống ở Pháp, lúc ở Mĩ hay quần đảo
Mauritius, nơi có gốc gác của gia đình mình. Năm 1977, Le Clézio bảo vệ luận án
tiến sĩ về đề tài văn học dân gian Michoacán (miền Trung Mehico) tại Viện nghiên

16


cứu Mehico ở Perpignan, Pháp. Sau đó ông tham gia giảng dạy văn học Pháp tại Đại
học Albuquerque Hoa Kỳ trước khi trở thành nghiên cứu viên của Trung tâm Nghiên
cứu Khoa học Pháp (CNRS). Ông chuyển đến ở bang Mehicoở Michoacán, đắm chìm
trong những cuốn sách thiêng của người Mayas, là người đầu tiên dịch cuốn Quan hệ
của Michoacán và Những lời tiên tri của Chilam Balam. Ông gặp gỡ các nhà thơ sử
dụng ngôn ngữ nahuatl (ngôn ngữ của những người Aztèques) và say sưa nhân học. Vào
năm 1980, ông là nhà văn đầu tiên đoạn giải Paul-Morand của Viện Hàn Lâm Pháp, sau
khi đã thành công với cuốn Mondo và những câu chuyện khác (700 000 bản). Tiểu
thuyết Sa mạc (Désert) đánh dấu một trục địa lý mới: Sa mạc Sahara - Phương Tây, quê
gốc của Jemia, vợ của ông từ năm 1975, ông đã lý tưởng hoá câu chuyện về vợ mình qua
một bức chân dung rất đẹp của một cô gái nhập cư trẻ tuổi. Người ta tìm thấy Le Clézio
trên những hòn đảo ở Ấn Độ Dương, đi tìm bóng ma của người ông mình (Người đi tìm
vàng, Chuyến du hành về Rodrigues, Cách ly) Từ Châu Phi này đến Châu Phi khác,
trong cuốn Onitsha (1991) gợi cảm. Vào năm 2005, ông lên chiếc tàu mang tên La
Boudeuse, một con tàu ba buồm của Patrice Franceschi để đi tìm gặp một bộ lạc bị lãng
quên trong lòng Thái Bình Dương. Trở về, ông cho xuất bản cuốn Tiếp cận lục địa vô
hình (NXB Seuil), miêu tả những suy nghĩ về những tác hại của sự di dân, từ Gauguin
đến động Ouvéa. Tuy nhiên, ông nói rõ, “mục đích của văn chương không phải là đấu
tranh”. Ông không thực sự tin vào khả năng của các nhà văn trong việc thay đổi thế giới.
Năm 1980, Le Clézio trở thành người đầu tiên được Viện Hàn lâm Pháp
(Académie française) trao Giải Paul Morand. Năm 1994 trong một cuộc thăm dò, Le
Clézio đã được bầu là nhà văn Pháp còn sống vĩ đại nhất.
Năm 2008 ông được Viện Hàn lâm Thụy Điển trao Giải Nobel Văn học, ông là
người Pháp thứ hai được trao giải thưởng cao quý này trong thập niên 2000 (sau Cao
Hành Kiện vào năm 2000). Với giải Nobel này Le Clézio được đánh giá là: "Tác giả
của những xu hướng mới, những phiêu lưu đầy chất thơ và hứng khởi cảm tính, nhà
nghiên cứu bản thể con người ở bên ngoài nền văn minh đang hoành hành và ở bên
trong nó" [44]. Trong bất luận trường hợp nào, chủ đề căn bản trong sáng tác của Le
Clézio vẫn là tư tưởng, các bộ lạc da đỏ hoặc ở châu Phi có quyền ở mức độ cao hơn
hẳn được gọi là con người đích thực so với các cư dân ở các đô thị lớn: “Họ là những
người tự do cuối cùng vì chúng ta chỉ là nô lệ, điều này đã quá rõ ràng rồi. Chúng ta
đang sống một cuộc đời nô lệ trong thế giới của những nô lệ. Còn bộ lạc người da đỏ
ở Panama cho tới nay vẫn gìn giữ được sự tự do và họ biết được những gì có thể có
của những người tự do. Ai đó đang định cố gắng tước bỏ của họ sự hiểu biết đó” [44].

17


Và mặc dầu bị buộc tội là theo khuynh hướng thoát ly hay cổ suý cho huyền thoại về
“người hoang dã cao quý” nhưng Le Clézio vẫn luôn được người Pháp bình chọn làm
nhà văn vĩ đại nhất viết bằng tiếng Pháp còn sống.
Le Clézio không bao giờ giới hạn ở một thể loại: Ngoài tiểu thuyết và tiểu
luận, ông đã cho xuất bản chuyện kể, chuyện dài và tiểu sử (Diego và Frida, NXB
Stock), truyện ngắn, sách cho trẻ em (Du hành đến xứ sở các loài cây), sách in đẹp
(Người mây, NXB Stock), các bài báo và đề tựa, trong đó có lời đề tựa cuốn Hướng
dẫn xanh về Mehico. Đối với ông, “không có thể loại văn học”. Ông vẽ đầy ký hoạ
trong những cuốn sổ ghi chép của mình, ông còn vẽ tranh thuỷ mạc cho tác
phẩm Sirandanes. Nếu như một trong những vở kịch của ông đã được diễn ở Mehico,
ông đã khước từ tạm thời việc viết kịch: “Tôi không thể nào làm cho người ta nói”.
Mặc dù thường xuyên di chuyển và sống ở nhiều nơi trên thế giới, Jean-Marie
Gustave Le Clézio vẫn liên tục sáng tác. Tính đến nay Le Clézio đã cho xuất bản trên
30 tác phẩm thuộc nhiều thể loại, từ tiểu thuyết, truyện kể, bài luận, dịch thuật đến
các sách nghiên cứu khác, tiêu biểu có thể kể đến:
Vòng xoáy, Nguyễn Văn Qua - Lộc Phương Thủy dịch, NXB Văn học, 2008
Người chưa bao giờ thấy biển, NXB Hội nhà văn, 2000
Sa mạc, Huỳnh Phan Anh dịch, NXB Văn học, 2009.
Những nẻo đường đời và những bản tình ca(Tập truyện), Hồ Thanh Vân dịch,
NXB Hội nhà văn - Nhã Nam, 2010
Điệp khúc cơn đói, Bằng Quang dịch, NXB Phụ nữ liên kết công ty sách Nhã
Nam xuất bản 2012.
Qua những tác phẩm thuộc nhiều thể loại của mình, Le Clézio đã miêu tả sự tìm
tòi của ông về những thế giới rất nguyên sơ và rất dễ bị thương tổn của chúng đối với
hành vi tàn sát và điên rồ của những kẻ xâm nhập từ thế giới công nghiệp. Là một nhà
văn phiêu du, những thiên truyện của ông có thể lấy bối cảnh từ Mehico, sa mạc Sahara
hay Paris hoặc London, và đề cập đến những chủ để rất đa dạng. Ông hiện là một trong
những nhà văn Pháp rất nổi tiếng ngoài đất nước mình. Như một nhà biên niên sử thầm
lặng, Le Clézio đã vạch ra những thảm họa của đời sống hiện đại, đặc biệt là ở đô thị.
Đánh giá về ông, nhà phê bình Pháp Franz - Olivier Giesbert nói: “Jean - Marie
Le Clézio là một tượng đài lớn của Pháp ngự trị trên nền văn học chúng tôi. Bạn cần
phải đến gần bức tượng ấy để khám phá một nhà văn đa tài đầy nhiệt huyết, người khám
phá hầu như mọi thể loại, từ cái khiêm tốn nhất đến cái táo bạo nhất” [45].
18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×