Tải bản đầy đủ

Thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ)

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, khoảng cách giàu nghèo trong xã hội còn lớn, sự không ngang bằng
trong việc tiếp cận với các điều kiện giáo dục, y tế, văn hóa… và đặc biệt là tiếp cận
với các dịch vụ pháp lý còn có khoảng cách đáng kể. Bởi vậy, một số trường hợp
người dân không được hỗ trợ pháp lý hoặc không mời được luật sư bảo vệ quyền và

lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại dẫn đến việc họ dễ bị thiệt thòi trước pháp
luật. Bởi vậy, nhà nước hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý
cho công dân, nhất là cho người nghèo nhằm tạo điều kiện để người nghèo, người
có công với cách mạng và một số đối tượng yếu thế khác có cơ hội tiếp cận với các
dịch vụ pháp lý, củng cố lòng tin của Nhân dân vào pháp luật và góp phần thực hiện
công bằng xã hội.
Ở huyện Thăng Bình, tỷ lệ người nghèo còn khá cao, công tác hỗ trợ pháp lý

nói chung và hỗ trợ pháp lý cho người nghèo nói riêng thường xuyên nhận được sự
quan tâm lãnh đạo của Huyện ủy và UBND huyện, sự quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn

và tạo điều kiện của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh, cấp ủy và chính quyền các xã,
thị trấn phối hợp thực hiện tốt hỗ trợ pháp lý cho người nghèo. Bên cạnh đó, những

người thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý như trợ giúp viên pháp lý, luật sư cộng
tác viên… luôn nỗ lực, cố gắng khắc phục khó khăn trong việc tổ chức thực hiện

chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo nhất là hoạt động trợ giúp pháp lý lưu
động.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được thì hoạt động
thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo trên địa bàn huyện còn những
khó khăn, vướng mắc, hạn chế nhất định như: Hoạt động chính sách hỗ trợ pháp lý
cho người nghèo dàn trải theo nhiều hình thức, chưa đảm bảo đúng trọng tâm là

cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý theo vụ việc, nhất là vụ việc tham gia tố tụng để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo; Hệ thống tổ chức thực hiện
chính sách hỗ trợ pháp lý nói chung và cho người nghèo nói riêng chưa phù hợp và

1


hoạt động chưa hiệu quả so với yêu cầu thực tiễn; Trợ giúp viên pháp lý chưa thực
sự chuyên nghiệp trong hoạt động tham gia tố tụng; Kinh phí đảm bảo của công tác
thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý còn hạn chế, không thường xuyên và phân bổ
các khoản chi chưa hợp lý; Công tác xã hội hóa hoạt động thực hiện chính sách hỗ
trợ pháp lý cho người nghèo còn chậm.
Về mặt lý luận, hoạt động thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý đã được các nhà
khoa học nghiên cứu ở khía cạnh này hoặc khía cạnh khác. Tuy nhiên, ở huyện
Thăng Bình đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp về vấn đề thực

hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo.
Xuất phát từ thực trạng lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách hỗ trợ pháp
lý cho người nghèo đặc biệt là bảo vệ những người yếu thế trong xã hội, trong đó có
người nghèo ở huyện Thăng Bình cần triển khai nghiên cứu đề tài "Thực hiện chính

sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng
Nam''. Bởi lý do đó học viên chọn đề tài nói trên làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây nội dung của thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho
người nghèo đã được thể hiện trong những công trình khoa học và tài liệu nghiên

cứu dưới đây:
- Tạ Thị Minh Lý (2006), “Bàn về khái niệm trợ giúp pháp lý”, Tạp chí Dân


chủ và Pháp luật;
- TS. Trần Huy Liệu (2005), “Một số vấn đề về trợ giúp pháp lý cho người
nghèo và đối tượng chính sách”, Thông tin Khoa học pháp lý;

- Tạ Thị Minh Lý (2008), “Điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt
Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội;
- Nguyễn Văn Tùng (2007), “Quản lý Nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt
động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện

Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh;

2


- Trịnh Thị Thùy Anh (2012), “Trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu
số trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội;
- Nguyễn Bích Ngọc (2012), “Các giải pháp nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp
lý”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội;

- Đào Dư Long (2013), “Chất lượng trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện nay”,
Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội;
- Nguyễn Vân Thơ (2014), “Chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo ở
nước ta hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Chính sách công, Khoa Chính sách công, Học

viện khoa học xã hội;
Ngoài ra còn một số bài viết của các tác giả đăng trên tạp chí chuyên ngành về
Nhà nước và pháp luật. Các công trình trên chủ yếu nghiên cứu về quản lý nhà nước

về trợ giúp pháp lý, hoạt động trợ giúp pháp lý trong phạm vi toàn quốc, ở tầm vĩ
mô.
Nghiên cứu các công trình cho thấy ở tỉnh Quảng Nam nói chung và huyện
Thăng Bình nói riêng hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách

có hệ thống và cụ thể về thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo. Vì
vậy, đây có thể được coi là đóng góp mới, nghiên cứu về lý luận và thực tiễn hoạt
động trợ giúp pháp lý cho người nghèo ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận và
thực tiễn thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo trong thời kỳ mới
trên địa bàn huyện Thăng Bình, luận văn đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng hoạt
động thực hiện hỗ trợ pháp lý cho người nghèo ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng

Nam trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu, phân tích làm rõ cơ sở lý luận, xác định khái niệm, nội dung của
thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý, đối với người nghèo.

3


- Phân tích vai trò của thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo.
- Đánh giá về thực trạng hoạt động hỗ trợ pháp lý cho người nghèo trên địa
bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2012-2017. Trong đó tập trung
phân tích, đánh giá những ưu điểm, những khó khăn, hạn chế trong hoạt động thực

hiện hỗ trợ pháp lý cho người nghèo trên địa bàn và rút ra các nguyên nhân của
những thành tựu, hạn chế.
- Luận văn đề xuất các quan điểm và giải pháp cụ thể có tính khả thi nhằm
nâng cao chất lượng hoạt động thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo
trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, quy định của

pháp luật và thực tiễn thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý, vai trò, ý nghĩa của trợ
giúp pháp lý đối với người nghèo trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài luận văn được nghiên cứu dưới góc độ ngành chính sách công
- Phạm vi nghiên cứu: địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2012 đến năm 2017
Chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo đi vào cuộc sống bằng nhiều hình
thức, trong đó có thể chế hóa vào pháp luật, nhất là Luật trợ giúp pháp lý. Trong
khuôn khổ luận văn thạc sĩ chính sách công học viên chủ yếu nghiên cứu việc thực
hiện Luật trợ giúp pháp lý.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm, tư tưởng

chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước;
từng bước đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước theo yêu cầu xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì

4


Nhân dân, đặc biệt là quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hỗ trợ, giúp đỡ
người nghèo, người yếu thế trong xã hội, sớm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo

trong xã hội.
5.2. Phương pháp nghiên cứu

Cùng với phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, luận văn còn sử dụng nhiều phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích,
phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê để nghiên cứu
đề tài.

Luận văn đã tiến hành tổng hợp, rà soát, thống kê các văn bản quy phạm pháp
luật về trợ giúp pháp lý và văn bản pháp luật khác có liên quan; nghiên cứu các
chính sách lớn của Đảng và Nhà nước có liên hệ trực tiếp đến hoạt động trợ giúp
pháp lý; phân tích Báo cáo của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng
Nam về hoạt động trợ giúp pháp lý từ năm 2012 đến 2017.
6. Ý nghĩa luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần nhận thức những vấn đề lý luận về thực tiễn thực hiện
chính sách hỗ trợ pháp lý dưới hình thức trợ giúp pháp lý cho người nghèo trên địa
bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn đã góp phần nâng cao chất lượng hoạt động thực hiện chính sách hỗ
trợ pháp lý cho người nghèo trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
Đồng thời luận văn có giá trị tham khảo đối với công tác giảng dạy chính sách công
ở nước ta.

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm 3 chương chính sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho
người nghèo

5


Chương 2. Thực tiễn thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo tại

huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách hỗ trợ pháp
lý cho người nghèo tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO NGƯỜI NGHÈO

1.1. Khái niệm, vai trò và ý nghĩa của chính sách hỗ trợ pháp lý cho người
nghèo
1.1.1. Khái niệm hỗ trợ pháp lý cho người nghèo
Thuật ngữ “Trợ giúp pháp lý” xuất phát từ tiếng Anh là Legal aid. Theo từ
điển Anh – Việt của tác giả Lê Khả Kế, Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1997 thì
“Legal aid” được dịch là “Trợ cấp pháp lý”. Ngoài ra, trong một số tài liệu khác

dịch “Legal aid” là “hỗ trợ pháp luật”, “hỗ trợ pháp lý” hoặc “hỗ trợ tư pháp”… Có
rất nhiều cách dịch khác nhau về thuật ngữ này nhưng xuất phát từ bản chất và hình
thức hoạt động “legal aid” trên thế giới và thực tiễn hoạt động này ở Việt Nam
trong thời gian qua, thuật ngữ “Legal aid” được dịch là “Trợ giúp pháp lý” đang
được sử dụng chính thức trong các văn bản và sách báo ở Việt Nam hiện nay. Như

vậy, trong luận văn này, học viên coi “hỗ trợ pháp lý” là “Trợ giúp pháp lý” cho
phù hợp với cách gọi của pháp luật nước ta về vấn đề đang nghiên cứu.
Theo Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, 2001, thì khái
niệm "trợ giúp" được hiểu là "giúp đỡ" [34, tr.767], pháp lý tức là "nguyên lý về
pháp luật" [34, tr.1045]. Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Lân,
Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2005 thì "trợ giúp " là giúp đỡ" như nông
dân bị mất mùa do lũ lụt, Nhà nước cấp lúa giống, con giống cho nông dân để tiếp
tục sản xuất không thu tiền [15, tr.1923], còn về "pháp lý" là "nguyên lý của pháp
luật" [15, tr.1431]. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như ý, Nxb Văn hoá Thông tin, 1999, thì "trợ giúp" hiểu là "sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc
gì, đem lại cho ai cái gì, đang lúc khó khăn, đang lúc cần đến", thuật ngữ "pháp lý "
được hiểu là lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, nói một cách khái quát pháp lý là lí luận

6


[16]; theo Từ điển luật học, Nxb Tư pháp - Nxb Từ điển Bách khoa, 2006, thì pháp
lý: những khía cạnh, phương diện khác nhau của đời sống pháp luật của một quốc
gia, "pháp lý" chỉ những lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, giá trị pháp lý bắt buộc từ một
sự việc, hiện tượng xã hội, những nguyên lý, phạm trù, khái niệm lý luận về pháp
luật [5, tr.606]. Do vậy, dù là "giúp đỡ", "bảo trợ" hay là hỗ trợ cũng có thể được
hiểu là "trợ giúp". ở đây trợ giúp được hiểu là sự giúp đỡ cho ai đó đang gặp khó
khăn, nhằm làm giảm bớt khó khăn về một vấn đề mà họ đang cần, cái họ đang cần
ở đây là "pháp lý".

Nghiên cứu một số nước trên thế giới về khái niệm trợ giúp pháp lý như:
Vương quốc Anh, Hà Lan, Thụy Điển, Trung Quốc... xét thấy, các nhà khoa học
pháp lý đều lấy lí luận về dân chủ, nhân quyền làm nền tảng, họ đánh giá trợ giúp

pháp lý là một đảm bảo cho công dân có hoàn cảnh khó khăn, không có điều kiện
tiếp cận và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của
mình theo quy định của pháp luật. Mặc dù hình thức diễn đạt khác nhau về khái
niệm trợ giúp pháp lý, nhưng các khái niệm này đều thể hiện rõ 4 nội dung trợ giúp
cơ bản, đó là: pháp lý, kinh tế, xã hội và nhân đạo. Về kinh tế, giúp đỡ tất cả hoặc

một phần tài chính chi trả cho công dân có hoàn cảnh khó khăn khi tiếp cận với
pháp luật và dịch vụ pháp lý thu phí của Luật sư; về pháp lý giúp đỡ công dân giải
quyết các vụ liên quan đến pháp luật đụng chạm đến quyền, lợi ích thiết thực của
họ; tạo ra sự công bằng khi công dân có hoàn cảnh khó khăn tiếp cận với pháp luật;
về xã hội hoạt động trợ giúp pháp lý mang tính xã hội rộng rãi, thể hiện cụ thể là
luôn có sự tham gia đông đảo của các lực luợng trong xã hội trong việc phổ biến
pháp luật, tạo điều kiện cho người nghèo không ngừng nâng cao nhận thức về pháp
luật; về nhân đạo trợ giúp pháp lý đã thể hiện đậm nét tính nhân đạo và nhân văn
sâu sắc.
Ở Việt Nam, thuật ngữ "Trợ giúp pháp lý" chính thức được quy định trong

trong Quyết định 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành
lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách. Theo đó
thuật ngữ "Trợ giúp pháp lý" xuất hiện phổ biến trên các văn bản pháp luật, sách

7


báo và tạp chí. Trong quá trình xây dựng "Luật trợ giúp pháp lý" các nhà khoa học
nghiên cứu về trợ giúp pháp lý trên cơ sở tham khảo khái niệm "trợ giúp pháp lý"
của một số nước trên thế giới và các quan niệm về "trợ giúp pháp lý" ở Việt Nam để
đưa ra một số khái niệm về "trợ giúp pháp lý". Theo đó khái niệm "trợ giúp pháp
lý" được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, trợ giúp pháp lý được hiểu là việc thực hiện các dịch vụ

pháp lý miễn phí của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, người được hưởng
chính sách ưu đãi và một số đối tượng khác do pháp luật quy định. Bằng các hoạt
động tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia

thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng
trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội.
Theo nghĩa hẹp, trợ giúp pháp lý được hiểu là việc thực hiện các dịch vụ pháp

lý miễn phí của các tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước cho người nghèo và
người được hưởng chính sách ưu đãi thông qua hình thức tư vấn pháp luật, đại diện,

bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục
pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp
phần thực hiện công bằng xã hội.
Khái niệm "trợ giúp pháp lý" nêu trên đã chỉ rõ mục đích của hoạt động trợ
giúp pháp lý là nhằm hướng tới bảo đảm thực hiện công bằng xã hội, phù hợp với
điều kiện ngân sách Nhà nước phải chi trả cho hoạt động trợ giúp pháp lý. Tại điều

3 - Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá XI,
kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 quy định: Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp
dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của luật
này, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình,

nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào
việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng
ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.
1.1.2. Khái niệm chính sách và hỗ trợ pháp lý cho người nghèo

8


Chính sách trợ giúp pháp lý là quyết định mang tính định hướng cho hoạt
động hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý của Nhà nước đối với những đối
tượng nhất định thông qua việc xây dựng và cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho

họ nhằm đạt được mục đích nhất định.
Thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý là đưa chính sách đó ra thực hiện trên
thực tế, chẳng hạn như quy định vào pháp luật tổ chức thực hiện dịch vụ pháp lý
miễn phí cho những đối tượng nhất định.
Người nghèo trong xã hội là một hiện tượng xã hội: Có hai loại nghèo, nghèo

về vật chất và nghèo về tinh thần (về tri thức). Nghèo về vật chất thường có những
biểu hiện như thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu tiền chi tiêu, thiếu các vật dụng phục vụ cho
cuộc sống hàng ngày, nên các tiêu chuẩn về ăn, ở, mặc, đi lại, học hành không được
bảo đảm. Nghèo về tinh thần thường là việc bị hạn chế về nhận thức, hạn chế trong
việc hưởng thụ các giá trị nghệ thuật, thiếu hiểu biết, thiếu thông tin, hạn chế trong
việc tiếp cận các quyền, tiếp cận pháp luật...
Trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam,

việc phân hóa giàu nghèo là rất khó tránh khỏi. Nguyên nhân dẫn đến nghèo, về
khách quan, có thể từ tình trạng thiếu việc làm ở quy mô lớn, điều kiện thiên nhiên
khắc nghiệt tác động đến năng suất lao động, những khó khăn chung của tình hình
kinh tế, xã hội, môi trường, vị trí địa lý. Về chủ quan, có thể do năng lực tự thân,
điều kiện sức khỏe, sự cố gắng, nhận thức, kiến thức, kỹ năng lao động của từng
người cụ thể bị hạn chế... Mặc dù đã ở vào vị thế của các nước đang phát triển,
nhưng số người nghèo ở Việt Nam là không nhỏ và theo tiêu chuẩn của Liên Hợp

Quốc, thì số người nghèo ở Việt Nam đang có sự gia tăng.
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn có
mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, có chính sách giúp đỡ người nghèo,
những người có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống để người nghèo có điều kiện
phát triển toàn diện và có thể tự làm chủ được cuộc sống vật chất, tinh thần của
mình. Một trong những chính sách đó là chính sách hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ
giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo, giúp họ có thể tham gia các quan hệ pháp

9


luật, thực hiện nghĩa vụ công dân như mọi người khác để bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp, sự bình đẳng trước pháp luật cũng như bảo đảm trật tự chung của xã hội.
Về địa vị pháp lý của người nghèo, Luật Trợ giúp pháp lý và Nghị định số
07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi

hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý đã quy định: người nghèo là người
thuộc hộ nghèo, được xác định theo chuẩn nghèo do Thủ tướng chính phủ quy định
trong từng giai đoạn.
Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm thực hiện chính sách hỗ trợ
pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý cho người nghèo như sau: Đó là việc đưa
chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo ra thực hiện trên thực tế bằng cách từ
quy định của pháp luật cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người nghèo theo
quy định, giúp người nghèo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu

biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, góp phần vào việc phổ biến,
giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế
tranh chấp và vi phạm pháp luật.
1.2. Khái niệm và vai trò của thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho
người nghèo

Thực hiện tốt chính sách hỗ trợ pháp lý hay còn gọi trợ giúp pháp lý cho
người nghèo là thực hiện chính sách xã hội, bảo đảm công bằng xã hội.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: “Tăng trưởng kinh

tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần
của Nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, phấn đấu vì một xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc có điều
kiện phát triển toàn diện”. Thực tế qua 18 năm thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý
đã góp phần quan trọng trong việc hướng dẫn pháp luật cho người nghèo và đối
tượng khác, bảo đảm cho họ được tiếp cận, sử dụng pháp luật miễn phí góp phần

nâng cao nhận thức pháp luật cho người nghèo, giúp người nghèo bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình, tạo điều kiện để thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ công
lý, bảo vệ quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật.

10


Luận văn đầy đủ ở file: Luận văn Full
















Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×