Tải bản đầy đủ

truyền thuyết quán tiên dưới góc nhìn phân tâm học

TRUYỀN THUYẾT QUÁN TIÊN CỦA XUÂN THIỀU NHÌN
TỪ GÓC ĐỘ PHÂN TÂM HỌC
Phân tâm học là khoa học phân tích tâm lý chiều sâu của con người trong
tính bản chất của nó với hoàn cảnh và đặc biệt là vô thức và tình dục. Là ông tổ
của phân tâm học – Freud đã tạo nên bước tiến mới tronh ngành phân tích tâm
lí con người. Ngày nay phân tâm học đã ảnh hưởng sâu rộng đến tư tưởng của
con người hiện đại, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó, có văn học
nghệ thuật.
Nhiều nhà văn trẻ hiện đại đã vận dụng lí thuyết phân tâm học vào sáng
tác các tác phẩm văn học và coi đó là một thủ pháp nghệ thuật độc đáo. Họ đã
sử dụng các lý thuyết một cách nhuần nhuyễn, đa dạng, có biến hóa, tích hợp và
sáng tạo trên cơ sở nền tảng của lý thuyết Phân tâm học để đem lại hiệu quả
nghệ thuật mới mẻ cho tác phẩm.
Đối với văn học, từ hệ qui chiếu phân tâm học qua cách xây dựng tính
cách và hình tượng trong tác phẩm văn học ta nhận thấy nhiều điều mới lạ. Ta
có thể ít nhiều biết rằng nhà văn đã tự giác hoặc không tự giác đề cập đến vấn
đề sâu kín nhất của con người. Qua cách viết của nhà văn, các hình tượng, chi
tiết tác phẩm ta phần nào lí giải những câu hỏi mà trước đây ta không có câu trả
lời hoặc chỉ trả lời một cách cảm tính. Vì vậy tôi đã phân tích tác phẩm “ của
Nguyễn Bản nhìn từ góc độ phân tâm học”
1. Lý thuyết chung

Trước khi đi vào tác phẩm “Truyền thuyết quán Tiên” của nhà văn Xuân
Thiều từ góc nhìn tham chiếu phân tâm học, ta điểm qua một số khái niệm và
các phức cảm trong phân tâm học.


1.1 Khái niệm “Tâm thần bộ”
Khái niệm Tâm thần bộ có ba topiques hoạt động và chi phối lẫn nhau.
Ba topiques đó là: cái siêu ngã mà trung tâm là tiềm thức, cái tôi mà trung tâm
của nó là ý thức, cái đó mà trung tâm của nó là vô thức (được xem là bản năng
tính dục).
Cái đó tức là cái khát dục, mang bản chất ích kỉ, trẻ con; topique này bị
chi phối bởi nguyên tắc khoái lạc, không thể trì hoãn bởi những ham muốn tức
thời.
Cái tôi là bộ phận có tổ chức của nhân cách, là người hòa giải cái đó và
cái siêu tôi. Cái tôi tìm kiếm những giải pháp thỏa hiệp để dẹp yên xung đột
giữa cái đó và cái siêu tôi.
Cái siêu ngã là siêu thức, nó vượt lên trên bản năng tình dục và ý thức tự
ngã để duy trì truyền thống và các lý tưởng đạo đức xã hội. Nó vừa kiềm chế sự
thôi thúc của “khát vọng dục tính”, mặt khác thúc giục ý thức bảo trì đạo đức cá
nhân và xã hội.
Trong cuộc sống hằng ngày thì cái siêu ngã chi phối mọi hoạt động, còn
giữa cái tôi và cái đó luôn xảy ra những xung dột mâu thuẫn. Và chính những
mâu thuẫn đó đã dẫn đến ba hệ quả lớn. Hệ quả thứ nhất, nếu ý thức thắng vô
thức thì con người bình thường, sẽ có những hành vi chuẩn mực đi đúng với
đạo đức xã hội. Hệ quả thứ hai, nếu vô thức thắng ý thức thì bản năng tính dục
sẽ trỗi dậy, lấn áp ý thức của con người và dẫn đến những đòi hỏi xác thịt có khi
dẫn đến sự suy đồi tính dục. Hệ quả thứ ba là khi ý thức và vô thức tạm thời
hòa hoãn, cọ xát dằng co nhau thì dẫn đến tình trạng rối loạn tâm lí, bất bình
thường.
1.2 Các phức cảm liên quan


Sau khái niệm tâm thần bộ còn có những phức cảm cần làm rõ là: khái
niệm mặc cảm tính dục ấu thơ, khái niệm mặc cảm hoạn và khái niệm mặc cảm
Oedipe.
Mặc cảm tính dục ấu thơ là vấn đề rất quan trọng đối với lí thuyết của
phân tâm học. Freud cho rằng con người mang động cơ tính dục từ lúc mới sinh
ra. Nó quy định cư xử của con người cho đến già.
Liên quan chặt chẽ đến mặc cảm tính dục ấu thơ là khái niệm mặc cảm
Oedipe. Ông cho rằng mỗi con người là một Oedipe. Chuyện Oedipe làm vua


trong thần thoại Hi Lạp kể rằng vua Oedipe bị số phận giết cha, lấy mẹ, sau đó ,
tự trừng phạt mình bằng cách chọc mù đôi mắt, đi lang thang. Freud muốn nhấn
mạnh đến motip giết cha, lấy mẹ của Oedipe và cho rằng mỗi nhân cách đều có
ham muốn Oedipe và run sợ trước các ham muốn đó. Mặc cảm này có ở người
lớn chẳng qua là lặp lại mặc cảm ở một đứa trẻ. Ban đầu là quá trình tự thỏa
mãn, sau đó nó bỏ quá trình tự thỏa mãn và thay đối tượng từ thân thể mình
bằng một đối tượng bên ngoài. Khi đó đứa bé sẽ đồng nhất những đối tượng
khác trong hình ảnh người mẹ. Đó là bé trai, còn bé gái sẽ đồng nhất đối tượng
khác bằng hình ảnh của người cha. Ngoài ra mặc cảm Oedipe còn là tình cảm
của em trai dành cho chị gái, tình cảm của em gái dành cho anh trai và ngược
lại. Mặc cảm Oedipe có vị trí quan trọng trong lí thuyết phân tâm học, nó ảnh
hưởng sâu rộng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật.
Mặc cảm Oedipe liên quan chặt chẽ với một mặc cảm khác là mặc cảm
hoạn, một phản ứng đối với sự bó buộc do người cha đưa ra để ngăn cản những
biểu hiện tính dục của đứa con trai. Tuy nhiên ta cũng cần phải xem xét các
trường hợp khác trong đời sống xã hội. Vì khi nhắc đến hoạn, nó gợi cho ta sự
mất mát, tổn thương, xâm phạm đến tính toàn thể của cơ thể con người vì vậy


những trường hợp như: mất mát, khuyết lõm, chấn thương tinh thần, tai nạn...
cũng được coi là mặc cảm hoạn.
Đây là những lý thuyết chung nhất của bộ môn phân tâm học mà ta cần
phải nắm rõ. Chỉ có nắm rõ được các lý thuyết này thì ta mới có thể đi vào làm
rõ từng tác phẩm văn học cụ thể.
2.Tác phẩm “Truyền thuyết quán Tiên” của Xuân Thiều nhìn từ góc
độ phân tâm học
Phân tâm học đã mở rộng và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác và nó đã
đi vào văn học như một hệ quả tât yếu. Các nhà văn hiện đại Việt Nam đã tiếp
thu vận dụng các khái niệm và các phức cảm để viết nên tác phẩm của mình.
Đây là hiện tượng văn học đặc sắc với các nhà văn tiêu biểu như: Phạm Thị
Hoài, Nguyễn Bản, Võ Thị Hảo, Nguyễn Ngọc Tư, Y Ban, Đỗ Hoàng Diệu...vv.
Xuân Thiều là một hiện tượng văn học đặc sắc trên diễn đàn văn học
đương đại. Các sáng tác của Xuân Thiều khi ta phân tích ta nhận thấy một điều
đó là các sáng tác có nhuốm màu của phân tâm học. ta không thể khẳng định
rằng các sáng tác của ông có ý thức sử dụng phân tâm học nhưng ta có thể chắc
rằng các yếu tố của phân tâm học đã làm cho sáng tác của ông nổi bật hơn. Và
tác phẩm mang lại nhiều dấu ấn nhất là tác phẩm “Truyền thuyết quán Tiên”.
Tuyền thuyết quán Tiên là câu truyện kể về ba cô gái là Mùi, Phượng,
Tuyết Lan được đội trưởng Lâm cử lên một hang động để cử một cái quán cải
thiện bữa ăn cho đồng đội. Ông Lâm là người kỉ cương nhưng sơ sài, vô tâm về
lĩnh vực của tình cảm. Và cũng chính vậy mà ông đã gây ra bi kịch cho đồng
đội. Sau khi thành lập thì quán hoạt động rất tốt và cũng nảy sinh khá nhiều vấn
đầ. Đầu tiên là căn bệnh hysterie và mối quan hệ của Tuyết Lan và anh cu
Hon.Sau đó chính là vấn đề của Mùi và một chú khỉ - mang biệt danh dũng sĩ


thắt nơ trắng. Cũng chính trong câu chuyện này ta thấy được những bi kịch của
con người đặc biệt là người phụ nữ.
Tác phẩm được nhà văn Xuân Thiều phản ánh những bi kịch tâm lý của
con người trong chiến tranh do những quan niệm giản đơn và ấu trĩ của nội bộ
chúng ta gây ra dẫn đến nhiều đau xót có tính bản thể cho từng cá nhân con
người. Truyện ngắn khai thác yếu tố phân tâm học ở trạng thái dồn nén dẫn đến
căn bệnh hysterie của nhân vật Tuyết Lan. Căn bệnh này do ý thức và vô thức
có sự giằng co, hòa hoãn, thông đồng với nhau. Đó là trạng thái căng thẳng, ức
chế, đè nén dẫn đến triệu chững của bệnh thần kinh – dân gian gọi là bệnh
“thèm trai”. Tuyết Lan cũng năm bảy ngày lại lên cơn, đồng đội phải dõ dành
xoa bóp thường bị xua đuổi, có lúc Tuyết Lan còn ôm bạn ra cấu xé. Sau một
khoảng thời gian tiếp xúc với anh cu Hon thì căn bệnh đó đã giảm dần. Căn
bệnh thuyên giảm là do Tuyết Lan đã quan hệ với anh cu Hon.
Và cũng từ đây cô có mang, cô khát khao được làm mẹ, mông muốn được
sinh đứa trẻ ra nhưng số phận không mỉm cười với chị do sự ấu trĩ của quan
niệm một thời. Quan niệm ấu trĩ đó xuất phất từ chính trong nội bộ của ta, đó là
chính ủy, là ông Lâm. Khi nghe chuyện của Tuyết Lan ông Lâm đã phản ứng rất
mạnh, đôi mắt ông đỏ ngàu, tấm lưnng gù xuống như lưng gấu và “ ông gọi cu
Hon là thằng ôn dich, gọi Tuyết Lan là con đĩ rạc”. Cuối cùng ông đã lấy lập
trường cách mạng, suy nghĩ, ý chí của mình ra để đưa cu Hon đến chạm 41, còn
Tuyết Lan ông bắt phải nạo thai và đưa đến lấp bom ở ngầm Tà Khống. Khi đưa
ra quyết định này chính ông Lâm cũng nhận biết có một thói xấu khác đang hình
thành mà chính bản thân ông không có cách ngăn nó lại vì nó đã thấm vào trong
máu của từng con người.
Căn bệnh hysterie của Tuyết Lan chính là do sự uẩn ức của bản năng, cô
đã phải tự kìm hãm ham muốn của bản thân để thực hiện nghĩa vụ của bản thân,


cô không cho phép mình phạm sai lầm, cô đã cooe để quên nó đi nhưng trong
sâu thẳm cói lòng cô khát khao được đụng chạm với đàn ông và lên đến đỉnh
điểm chính là căn bệnh hysterie. Lí do ở đây chính là do sự trống vắng đàn ông
quá lâu nên cô đã phải đau khổ, ép xác, giấu sâu trong đáy lòng mình. Cô đã
dồn tình cảm của mình vào anh cu Hon – một con người “cù lần” và phải chấp
nhận bi kịch. Cô đã phải từ bỏ đứa con chưa thành hình của mình, trái tim của
cô như nát vụn mà cô không thể oán trách ai mà chỉ giám oán trách số phận.
Nạn nhân tiếp theo của quan niệm ấu trĩ này chính là nhân vật Phượng.
Phượng có một tình yêu thật đẹp, lung linh với Quỳnh. Thế nhưng tình yêu đó
không được mọi người ủng hộ mà luôn canh chừng, ngăn cản. Và người đại
diện tiêu biểu chính là Mùi. Chị lo sợ tình yêu của Phượng và Quỳnh đi quá đà
nên chị luôn phải để mắt tới đôi trẻ. Cũng có lúc chị tuột mất chúng nhưng cũng
kịp thời ngăn cản “Có thể do Mùi độ lượng và dễ dãi nên cô cậu đan rì rầm trò
chuyện trước cửa hàng, nhoàng một cái, đã thấy mất hút cả đôi. Mùi lo lắng và
im lặng đi tìm. Ra đến ngoài suối thì quả nhiên thấy đôi tình nhân đang ôm hôn
nhau trong một tư thế có phần lả lơi. Bất giác Mùi khẽ thở dài rồi cất tiếng gọi
Phượng. Lần ấy, Mùi đã nhắc nhở Phượng, rằng làm thân con gái phải biết giữ
gìn, Phượng chỉ đỏ mặt, không nói gì”. Không phải ngẫu nhiên mà Mùi lại lo
lắng cho tình yêu của Quỳnh và Phượng, thực chất sự lo lắng này là do cái quan
niệm ấu trĩ kia và một phần do“tấm gương của Tuyết Lan đã tầy liếp, Mùi càng
phải để mắt đến Phượng. Nó mà có làm sao thì chính Mùi cũng không dám nhìn
mặt ai nữa.” Và rồi sau này chị cũng đã phải hối hận vì cái chết của Quỳnh. Chị
từ giày vò mình khi thấy Phượng đau khổ và cũng tự thấy bản thân mình làm lên
bi kịch cho đồng đội.
Và rồi chính Mùi cũng là nạn nhân của một thời, chị là người tiếp tay
cho quan niệm kia và chính bản thân chị cũng phải chịu biết bao nhiêu bi kịch,


chị giày vò bản thân vì những điều mình gây ra cho đồng đội và cũng đau đớn
khi chính chị lại lặp lại nỗi đau của đồng đội. Chị là người phụ trách quán
Tiên, chị đã rất giứ gìn bản thân, luôn luôn tuân thủ những nguyên tắc mà
chính ủy, thủ trưởng đưa ra. Chị không chỉ biết giữ gìn cho bản thân mà luôn
nhắc nhở chị em của quán cũng phải biết giữ mình, phải thận trọng trước
những cám dỗ tình cảm. Tuy chị giữ mình, thận trọng trong hành động nhưng
đôi lúc chị cũng nhớ về quê hương “Ngắm nhìn quang cảnh yên tĩnh bên
dòng suối Nậm Bu, Mùi thẫn thờ mất một lúc như còn lưu luyến điều gì rồi
mới xắn quần lội xuống suối đánh răng rửa mặt. Nước trong leo lẻo soi rõ
những viên đá cuội màu trắng và đàn cá niên bơi tung tăng. Dòng nước mát
lịm vuốt ve trên bắp chân trần, và khi cúi xuống đãi mớ đỗ xanh, Mùi bỗng
nhớ cái bến sông La ở quê mình”. Và chị cũng nhớ về người chồng mới cưới.
Và chị càng nhớ hơn khi chị bắt gặp hành động của chú khỉ - dũng sĩ thắt nơ
trắng có hành động “nó lim dim cặp mắt, hai tay vòng trước ngực, khuỷu tay
tựa vào một cành ngang, mồm giẩu ra, môi chu như người ta hôn gió.”,
những hành động đó nó làm cho chị càng nhớ da diết và cũng chính chỗ đó đã
làm cho bản thân chị chạnh lòng bởi vì chị“là gái có chồng, dù chỉ ở với
chồng được đúng năm hôm trước lúc anh đi B. Mùi đã hiểu thế nào là đàn
ông. Hai năm đã trôi qua, cái cảm giác rạo rực trong vòng tay chồng, mỗi lần
nhớ lại dậy lên trong lòng Mùi một nỗi khao khát và bao giờ Mùi cũng cố xua
đi bằng nhiều cách, mà cách tốt nhất là công việc nặng nhọc”.
Và cũng từ đây Mùi đã không thể bình yên được nữa, chị hoảng sợ nên
đã nhờ người bắn chết chú khỉ. Dũng sĩ thắt nơ trắng đã chết dưới tay của Trần
Văn Thiệt, cũng là lúc chị bắt đầu đấu tranh giữa ý thức và vô thức để rồi đến
một đêm chị khóc rũ rượi trong đêm, không có cách gì để tự dỗ dành mình, chị
không thể kìm hãm được cơn ức chế của bản thân mình, chị đành phải phân


thân trong trạng thái vừa muốn được thỏa mãn sinh lý vừa dị ứng trước vòng
tay chân thành của đồng đội khi chính chị là người yêu cầu anh ấy ôm và hôn
mình. Trước hành động đó ta nhận thấy nhân vật Mùi đang giằng co trong tâm
tưởng, bản thân chị mong muốn được yêu thương, khát khao được ân ái, mong
muốn được gần gũi với đàn ông nhưng chị lại bị ý thức ngăn lại, ý thức không
cho phép chị đi trái lại với quy luật, làm sai những nguyên tắc mà trước giờ
được coi là chuẩn mực.
Và cũng qua đây ta thấy rằng con người dường như dần cách xa nhau, vì cái
quan niệm quái ác kia mà trái tim nồng ấm của con người không thể thổn thức
khi nhận thấy mạch đập của tình yêu, chính họ đang dần từ bỏ hạnh phúc của
chính mình.
Qua nhân vật dũng sĩ thắt nơ trắng Xuân Thiều dường như cho chúng ta
thấy rằng con người trong hoàn cảnh này họ không thể tinh tế, nhạy bén bằng
một con vật. Con người chỉ biết bắn, giết không hề quan tâm đến cảm nhận của
những người xung quanh. Chú khỉ đã có tình cảm với Mùi ngay từ khi Mùi đặt
chân đến sơn cốc này, nó tìm đủ mọi cách để bày tỏ tình cảm với chị nhưng lại
nhận lại một cái kết đau đớn. Tuy đau đớn và nhận được cái kết đó chính từ tay
chị Mùi nhung nó cúng không hề oán giận chị mà “Đôi mắt đồng thau đang
khép hờ lại vì đau đớn chợt bừng mở, và dường như khi nhận ra dáng quen, nó
nhìn Mùi trân trân. Một cái nhìn thật lạ lùng, dịu dàng, lưu luyến, nuối tiếc..”,
sau đó “từ đôi mắt đồng thau hai dòng nước mắt trào ra khiến Mùi hốt hoảng
đứng dậy quay mặt đi.”
Vì những hoản cảnh chiến tranh ác liệt mà con người trong thời chiến
phải chịu hàng loạt những đau thương, đó là hiểm nguy luôn thường trực, là
những mối tình dang dở, sự chia lìa của hạnh phúc, là tình cảm bị đè nén, bị
ngăn cản và không được tôn trọng. Trong hoàn cảnh đất nước đang gồng mình


lên chống trọi với những cuộc xâm lược thì con người trong hoàn cảnh này
phải dẹp bỏ cái cá nhân mà nếu có cá nhân thì phải hòa với cái cộng đồng. Cái
quan niệm này đã kéo dài trong suốt một thời gian dài và nó đã là bi kịch cho
bao nhiêu con người, bao nhiêu thế hệ mà tiêu biểu chính là ba cô gái của quán
Tiên. Bi kịch của họ chính là đại diện cho bi kịch của một lớp người mà đặc
biệt là số phận đau thương của người phụ nữ. Tất cả hạnh phúc của họ đã bị
kìm nén, ngay cả cái khát vọng làm mẹ – khát vọng chính đáng nhất của người
phụ nữ cũng bị tước bỏ. Trái tim, tâm hồn của con người dần chai sạn mà chính
bản thân họ cũng không thể nhận ra chính mình.
Xuân Thiều khắc họa thành công tâm lý con người trong thời chiến, ông
đã tìm ra nguyên nhân của tấm bi kịch kéo dài hàng chục năm. Cái quan niệm
ấu trĩ, bài trừ cá nhân đã bị Xuân Thiều vạch trần , mổ xẻ, phân tích để tìm ra
cách giải quyết. Và cúng nhờ các yếu tố phân tâm học tác phẩm đã tạo nên các
nhân vật một cách chân thật, giống như chính cuộc sống ngời hiện thực và
chính bản thân người đọc cũng nhận thấy các mặt trái của chiến tranh. Khi đọc
tác phẩm ta phần nào cảm thông cho những con người đã phải chịu biết bao đau
thương để giành chiến thắng cho toàn dân tộc.
3.Kết luận
Qua tham chiếu phân tâm học ta đã phần nào lí giải được những vấn đề
trong Truyền thuyết quán Tiên của nhà văn Xuân Thiều. Qua đây ta còn nhận
thấy nhà văn rất có ý thức khi sử dụng nhiều những thuyết, khuynh hướng khác
nhau để thể hiện cuộc sống và con người bằng hình tượng, góp phần cắt nghĩa
và lí giải những vấn đề xảy ra trong cuộc sống dù là quá khứ hay hôm nay, nhà
văn đã đi sâu khám phá các trạng thái tinh thần thầm kín của nhân vật từ đó đề
cập đến ngọn nguồn của nguyên nhân, tìm ra cách giải quyết vấn đề và đưa ra
giá trị cuộc sống và giá trị con người. Con người không còn là những con


người xa lạ trong thời buổi kinh tế thị trường, họ không còn coi bất ngờ may rủi
như là định mệnh mà là những con người “đầy những vết dập xóa trên thân thể
và trong tâm hồn” do chính họ gây ra. Nhờ vận dụng phân tâm học mà nhân
vật trong tác phẩm có chiều sâu và làm cho truyện ngắn Truyền thuyết quán
Tiên có phần hiện đại hơn những truyện ngắn cùng chủ đề trước đó.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×