Tải bản đầy đủ

Truyện ngắn chí phèo từ góc nhìn thi pháp học

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
1. Thi pháp và thi pháp học
1.1. Thi pháp
Cho đến nay từ “thi pháp” đã khá quen thuộc với những người học tập nghiên
cứu hoặc quan tâm đến văn học. Trên sách báo văn nghệ, người ta nhắc đến nhiều thi
pháp tác phẩm, thi pháp tác giả, thi pháp thể loại, thi pháp thời kì… Có nhiều cách hiểu
khác nhau về thi pháp, nhưng chung quy có hai cách:
 Một là: coi thi pháp là nguyên tắc, biện pháp chung tạo ra tác phẩm nghệ thuật.
Thông thường gọi là “phương pháp làm thơ, làm văn”. Lí thuyết mang tính cổ điển,
được lưu truyền nhằm bồi dưỡng nhà văn.
 Hai là: hiểu thi pháp là nguyên tắc, biện pháp sáng tạo cụ thể, tạo thành đặc sắc
nghệ thuật của một tác giả, tác phẩm, trào lưu, thể loại...
Cách thứ 1 gần với mĩ học, lý thuyết văn học, cách thứ 2 gần với phê bình thưởng
thức tiếp nhận những hiện tượng văn học nghệ thuật. Tóm lại, thi pháp là phương diện
hình thức của một hiện tượng văn học (tác giả, tác phẩm, trào lưu, giai đoạn, nền văn
học…). Thi pháp đi nghiên cứu những quy luật, đặc điểm của hình thức nghệ thuật, đặc
biệt là tính quy luật thống nhất của hình thức nghệ thuật với những quan điểm thẩm mỹ
của nhà văn.
1.2.


Thi pháp học

Thi pháp học là khoa học nghiên cứu về thi pháp, tức là nghiên cứu về các
nguyên tắc nghệ thuật của tác phẩm (thời gian, không gian, quan niệm về con người,
logic kết cấu tác phẩm bao gồm giọng điệu, ngôn ngữ, thể loại, hình ảnh biểu tượng…).
Nói cách khác, thi pháp học là một khoa học ứng dụng trong văn học, gần gũi với
phân tích phê bình và nghiên cứu văn học:
• Lí luận văn học thiên về nghiên cứu các quy luật chung của hiện tượng văn học;
còn thi pháp học thiên về nghiên cứu các tác phẩm, thể loại, tác giả, phong cách, trào
lưu, ngôn ngữ, nguyên tắc đặc thù tạo thành hiện tượng văn học cụ thể mà thôi.
• Phê bình văn học có thể đi từ những góc độ khác nhau mà phát hiện khám phá
1


nội dung và đánh giá chúng; Còn thi pháp học thiên về phát hiện, khám phá các quy luật
hình thức nghệ thuật.
Những đặc tính của thi pháp học nói trên bắt đầu từ thời cổ đại Hy Lạp, qua
phương Tây đến Nga rồi đến Việt Nam. Viện sĩ Khravchenko (Nga) phân loại :
+ Thi pháp học lí thuyết: nghiên cứu cấu trúc, hình thức của tác phẩm văn học.
+Thi pháp học lịch sử: nghiên cứu sự tiến hoá của phương thức phương tiện
chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng và nghiên cứu sự hoạt động của chức năng thẩm mĩ
của chúng và số phận lịch sử của các khám phá nghệ thuật.
Nhìn chung, thi pháp học là một bộ phận chuyên biệt của nghiên cứu văn học,
chuyên nghiên cứu tính đặc thù và nguyên tắc nghệ thụât của văn học.
2. Định hướng nghiên cứu tác phẩm văn học theo hướng thi pháp học
2.1. Thi pháp nhân vật - Quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm cơ bản nhằm thể hiện khả năng
khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người của nhà văn. Có thể
nói, nó giống như là một “chiếc chìa khóa vàng” góp phần gợi mở cho chúng ta tất cả
những gì bí ẩn trong sáng tạo nghệ thuật của mỗi người nghệ sĩ nói chung và từng thời
đại nói riêng. Tuy nhiên, cho đến nay, mặc dù được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm
hiểu, song khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người vẫn còn nhiều cách định nghĩa
và diễn đạt khác nhau. Cụ thể như sau:
Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: “Quan niệm nghệ thuật về con người là một
cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của
nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình”. Tức, quan niệm nghệ
thuật về con người sẽ đi vào phân tích, mổ xẻ đối tượng con người đã được hóa thân
thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học của tác
giả, từ đó, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó.
Vì vậy, chúng ta sẽ thấy được giá trị của hình tượng nghệ thuật trong các tác phẩm.


Giáo sư Huỳnh Như Phương cũng góp tiếng nói của mình bằng một cách nhìn
khá bao quát: “Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện tầm nhìn của nhà văn và
chiều sâu triết lí của tác phẩm”.
2


Cũng với vấn đề về quan niệm nghệ thuật về con người, Từ điển Thuật ngữ văn
học định nghĩa như sau: “Quan niệm nghệ thuật về con người là hình thức bên trong, là
hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức tác phẩm. Nó gắn với các phạm trù khác như
phương pháp sáng tác, phong cách của nhà văn, làm thành thước đo của hình thức văn
học và cơ sở của tư duy nghệ thuật.”
Nhìn chung, tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng những khái niệm trên đều nói
lên được cái cốt lõi của vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người. Từ đó, chúng ta có
thể đi đến khái quát cách hiểu quan niệm nghệ thuật về con người như sau: Quan niệm
nghệ thuật về con người được hiểu là cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách cắt nghĩa lí
giải về con người của nhà văn. Đó là quan niệm mà nhà văn thể hiện trong từng tác
phẩm. Quan niệm ấy bao giờ cũng gắn liền với cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan
sáng tạo của chủ thể, ngay cả khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối
tượng.
Như vậy, vì trung tâm của văn học là con người nên con người cũng chính là đối
tượng thẫm mĩ thể hiện quan niệm của tác giả về cuộc sống. Người sáng tác sẽ
là người vận động, suy nghĩ về con người, cho con người, nêu ra những tư tưởng mới
để hiểu về con người. Bởi người ta không thể miêu tả và tạo nên chiều sâu, tính độc đáo
của hình tượng con người trong văn học nếu không hiểu biết, cảm nhận và có các
phương tiện, biện pháp nhất định.
Từ việc hướng đến xác định khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người, có thể
khẳng định rằng, chúng ta sẽ không thể hiểu một cách đầy đủ những đổi thay trong nội
dung phản ánh cũng như nghệ thuật biểu hiện của văn học, nếu không quan tâm tới sự
vận động của con người trong văn học, đặc biệt là vấn đề quan niệm nghệ thuật của các
tác giả về con người trong văn học. Nói cách khác, nếu bỏ qua quan niệm nghệ thuật về
con người sẽ dẫn tới cách hiểu đơn giản về bản chất phản ánh của nghệ thuật, hạ thấp
yêu cầu sáng tạo thẩm mĩ của nghệ thuật. Cho nên, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về
con người là điều hết sức quan trọng. Đây được xem là cơ sở lí luận để chúng ta nghiên
cứu tác phẩm văn học dưới góc độ thi pháp học.
2.2.

Thi pháp không gian nghệ thuật
3


“Nếu hiểu thơ ca là sự cảm nhận thế giới và con người thì thời gian, không gian
chính là hình thức để con người cảm nhận thế giới và con người” (Trần Đình Sử). Mọi
sự vật, hiện tượng đều được gắn với hệ tọa độ không - thời gian xác định, nên những
cảm nhận của con người về thế giới đều bắt đầu từ sự đổi thay của không gian, thời
gian. Và từ sự đổi thay của không gian - thời gian, con người nhận ra sự đổi thay trong
chính mình.
Khi bàn về không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học, Lê Bá Hán trong
cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa: “Không gian nghệ thuật là hình thức
bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó”.
Trần Đình Sử lí giải thêm: “không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại cùng thế
giới nghệ thuật”. Ông còn khẳng định một cách hết sức chắc chắn: “không có hình
tượng nghệ thuật nào không có không gian, không có một nhân vật nào không nào
không có một nền cảnh nào đó”, và “không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của
nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống”.
Như vậy, không gian nghệ thuật là phương thức tồn tại và triển khai của thế giới
nghệ thuật. Không gian nghệ thuật trở thành phương tiện chiếm lĩnh đời sống, “mang ý
nghĩa biểu tượng nghệ thuật”. Và sự miêu tả, trần thuật bên trong tác phẩm văn học bao
giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, ta xác định được vị trí của chủ thể trong không thời gian, thể hiện ở phương hướng nhìn, diễn ra trong một trường nhìn nhất định. Căn
cứ vào điểm nhìn mà xác định được vị trí của chủ thể trong không - thời gian, thể hiện ở
phương hướng nhìn, khoảng cách nhìn, ở đặc điểm của khách thể được nhìn. Điểm nhìn
không gian được thể hiện qua các từ chỉ phương vị (phương hướng, vị trí), để tạo thành
“viễn cảnh nghệ thuật”.
Tóm lại, không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ thuật.
Không gian nghệ không những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn
ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy những quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của
tác giả hay một giai đoạn văn học. Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc

4


đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật. Vì vậy không thể
tách hình tượng ra khỏi không gian mà nó tồn tại.
2.3.

Thi pháp thời gian nghệ thuật

Thời gian nghệ thuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật, thể hiện phương thức
tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật. Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “thời
gian nghệ thuật là hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể
của nó”.
Cũng như không gian nghệ thuật, sự miêu tả, trần thuật trong văn học nghệ thuật
bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian. Và cái được trần
thuật bao giờ cũng diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian trần thuật. Sự phối
hợp giữa hai yếu tố này tạo thành thời gian nghệ thuật.
Khác với thời gian khách quan (tự nhiên) được đo bằng đồng hồ và lịch, thời gian
nghệ thuật có thể đảo ngược, quay về quá khứ, vươn tới tương lai, có thể dồn nén một
thời gian dài trong chốc lát, cũng có thể kéo dài thời gian ấy đến vô tận. Thời gian nghệ
thuật được đo bằng nhiều thước đo khác nhau, bằng sự lặp lại đều đặn của các hiện
tượng đời sống được ý thức: sự sống, cái chết, gặp gỡ, chia tay… tạo nên nhịp điệu
trong tác phẩm.
Như vậy, thời gian nghệ thuật gắn liền với tổ chức bên trong của hình tượng nghệ
thuật. Gắn với phương thức, phương tiện thể hiện, mỗi thể loại văn học có kiểu thời
gian nghệ thuật riêng. Phạm trù thời gian nghệ thuật cung cấp một cơ sở để phân tích
cấu trúc bên trong của hình tượng văn học, cũng như nghiên cứu loại hình các hiện
tượng nghệ thuật trong lịch sử.

2.4.

Thi pháp kết cấu

Kết cấu là “toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm”. Tổ chức tác
phẩm không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở những tương quan bên ngoài giữa các
5


bộ phận, chương đoạn mà còn bao hàm sự liên kết bên trong, nghệ thuật kiến trúc nội
dung cụ thể của tác phẩm.
Bố cục là một phương diện của kết cấu. Ngoài bố cục, kết cấu còn bao gồm: tổ
chức hệ thống tính cách, tổ chức thời gian và không gian nghệ thuật trong tác phẩm;
nghệ thuật tổ chức những liên kết cụ thể của thành phần cốt truyện, nghệ thuật trình
bày, bố trí các yếu tố bên ngoài cốt truyện… sao cho toàn bộ tác phẩm thực sự trở thành
một chỉnh thể nghệ thuật.
Bất cứ tác phẩm văn học nào cũng có một kết cấu nhất định. Kết cấu là phương
tiện cơ bản và tất yếu của khái quát nghệ thuật. Kết cấu bộc lộ chủ đề và tư tưởng của
tác phẩm; triển khai, trình bày hấp dẫn cốt truyện; cấu trúc hợp lí hệ thống tính cách; tổ
chức điểm nhìn trần thuật của tác giả và tạo ra tính toàn vẹn của tác phẩm như là một
hiện tượng thẩm mỹ.
2.5.

Thi pháp ngôn ngữ - Lời văn nghệ thuật

Lời văn nghệ thuật là dạng phát ngôn được tổ chứa một cách nghệ thuật, tạo
thành cơ sở ngôn từ của văn bản nghệ thuật, là hình thức ngôn từ nghệ thuật của tác
phẩm văn học.
Lời thơ, lời trần thuật, lời nhân vật, lời thoại trong kịch và các dạng của chúng
đều là bộ phận tạo thành lời văn nghệ thuật. Khác với lời nói hằng ngày, lời văn nghệ
thuật có tính chất cố định, tính độc lập, hoàn chỉnh trong bản thân nó, có tính vĩnh viễn.
Tính hình tượng của lời văn nghệ thuật có được do bản chất của hình tượng tác phẩm:
mọi hiện tượng, cảnh vật, con nguời trong văn học đều muốn nói lên bằng lời văn nghệ
thuật. Do đó, lời văn nghệ thuật phục tùng cấu trúc hình tượng của tác phẩm, phục tùng
đặc điểm của ý thức nghệ thuật, tư duy nghệ thuật và có tính tổ chức rất cao.
CHƯƠNG 2
TRUYỆN NGẮN “CHÍ PHÈO” TỪ GÓC NHÌN THI PHÁP HỌC
1. Quan niệm nghệ thuật về con người của Nam Cao trong truyện ngắn
“Chí Phèo”
6


Trong sự nghiệp văn chương của Nam Cao, Chí Phèo được xem là truyện ngắn
xuất sắc viết về người nông dân trong xã hội cũ. Không chỉ có giá trị về tư tưởng, tác
phẩm còn ghi dấu sự độc đáo, mới mẻ trong nghệ thuật thể hiện. Bên cạnh kết cấu mới
mẻ, cốt truyện hấp dẫn, ngôn ngữ sống động... truyện ngắn này cũng thể hiện sự hiện
đại, sáng tạo trong quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả qua hình tượng Chí
Phèo. Với những khám phá về con người tha hóa, con người bi kịch, con người cô đơn,
con người tự ý thức và con người với bản thể tự nhiên, truyện ngắn Chí Phèo đã chạm
tới được nghệ thuật văn xuôi hiện đại.
1.1.

Con người tha hóa

Vũ Tuấn Anh đã từng cho rằng “Với Nam Cao, đời là một tấm áo cũ bị xé rách tả
tơi (…). Không có gì nguyên vẹn, ngay ngắn, tròn trịa, đẹp đẽ trong văn Nam Cao”. Có
lẽ, đọc văn Nam Cao, ta cảm thấy đau đớn không nguôi trước những số phận người,
những con người đang trượt dài trên con đường của sự tha hóa nhân cách. Hướng ngòi
bút vào khám phá chiều sâu cuộc sống, len vào những ngõ hẻm đường quê để cảm
thông với con người, Nam Cao đã xót xa khi phát hiện ra sự tha hóa con người đang
diễn ra khắp nơi. Kiểu con người tha hóa đó, ta gặp trong hình ảnh của Lang Rận, của
người cha trong Trẻ con không ăn thịt chó, của bà cái Đĩ trong Một bữa no… và với
Chí Phèo, nó hiện thân trong nhân vật Chí Phèo, Năm Thọ, Binh Chức.
Sự tha hóa của Chí Phèo bắt đầu khi hắn bước ra khỏi ngưỡng cửa nhà tù trở về
làng Vũ Đại. Thế nhưng, cái anh Chí hiền lành, chân chất ở tuổi hai mươi thưở xưa đã
không còn nữa. Thay vào đó là một Chí Phèo biến dạng, tha hóa về cả nhân tính lẫn
nhân hình.
Trước đây, hắn là một thằng “hiền lành như đất” và cũng ý thức rất rõ về nhân
cách, rất giàu lòng tự trọng. Nhưng khi trở về Chí Phèo trong một bộ dạng khác: dị
dạng, méo mó, trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại” - nỗi khiếp sợ của bao người.
Dường như, sau bảy tám năm ở tù về, Chí Phèo đã trượt dài trên đường ray của sự tha
hóa: tha hóa nhân hình, tha hóa nhân tính, tha hóa cả những suy nghĩ. Nhân hình của
Chí không còn là nhân hình của một người bình thường “Trông đặc như thằng sắng cá!
Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng câng, hai mắt
7


gườm gườm trông gớm chết! (...). Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng,
phượng với một ông thầy tướng cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế. Trông gớm chết!”.
Đó là nhân hình của một người dị dạng, không giống người. Xưa kia Chí cũng là
một anh canh điền trẻ trai, khỏe mạnh, bình thường. Thế nhưng, bây giờ Chí là sản
phẩm của sự tha hóa triệt để “Cái mặt hắn không trẻ cũng không già: nó không còn
phải là mặt người, nó là mặt của một con vật lạ, nhìn mặt những con vật có bao giờ
biết tuổi ? Cái mặt hắn vàng vàng mà lại muốn xạm màu gio; nó vằn dọc vằn ngang,
không thứ tự, biết bao nhiêu là vết sẹo”. Rõ ràng, Chí đã bị cướp mất hình hài của một
con người. Phải chăng, cái ngoại hình dữ tợn bị tha hóa kia cũng là sự phản ánh cho đời
sống nội tâm, cho phần nhân tính bên trong cũng đã bị hủy hoại, tha hóa không kém gì
cái hình hài bên ngoài? Nhân tính của hắn là nhân tính của một “con quỹ dữ”. Hắn bây
giờ không phải là anh canh điền “hiền lành như đất” mà “hắn là con quỷ dữ của làng Vũ
Ðại, tác quái cho bao nhiêu dân làng.(...) hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao
nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao
nhiêu người lương thiện”. Cuộc đời của hắn bây giờ là triền miên trong những cơn say,
triền miên trong những cảnh ức hiếp, đâm chém, rạch mặt, ăn vạ...
Những suy nghĩ, những ngộ nhận của hắn cũng phản ánh nội tâm của một con
người bị tha hóa hoàn toàn. Không phải Bá Kiến xảo quyệt, không phải nhà tù thực dân
hủy hoại hắn hoàn toàn mà chính hắn cũng đang từng ngày hủy hoại mình mà không
hay không biết. Hắn vênh vang đắc chí khi nghĩ rằng “Không vây cánh, không họ hàng
thân thích; anh em không có, đến bố mẹ cũng không... Ờ, thế mà dám độc lực chọi nhau
với lý trưởng, chánh tổng, bá hộ tiên chỉ làng Vũ Ðại” và “hắn thấy hắn oai thêm bậc
nữa”. Hắn tự đắc: "anh hùng làng này cóc có thằng nào bằng ta!". Suy nghĩ đó của Chí
phản ánh sự tha hóa đến tận cùng về nhân cách. Bây giờ, hắn sống trong trạng thái mơ
hồ, lù mờ về thời gian và cuộc sống “Vết những mảnh chai của bao nhiêu lần ăn vạ kêu
làng, bao nhiêu lần, hắn nhớ làm sao nổi? Bao nhiêu việc ức hiếp, phá phách, đâm
chém, mưu hại người ta giao cho hắn làm! Những việc ấy chính là cuộc đời của hắn;
cuộc đời mà hắn cũng chả biết đã dài bao nhiêu năm rồi”. Đối với hắn không còn khái

8


niệm ngày tháng nữa mà đời là một cơn say dài kéo lê từ ngày này qua ngày khác. Hắn
không còn ý thức bình thường của một con người.
Có thể thấy, nhân vật Chí Phèo là nhân vật điển hình cho mẫu con người tha hóa
trong truyện Nam Cao. Chí tha hóa nhân hình, tha hóa nhân tính, tha hóa suy nghĩ và
mơ hồ về cuộc sống... Thực tế, Chí Phèo là con người nhưng đã tha hóa đến bên bờ vực
ranh giới của cuộc sống con vật. Sự tha hóa đó của nhân vật Nam Cao phản ánh nỗi đau
của cuộc đời, của số phận con người trong xã hội cũ. Dĩ nhiên không thể đổ lỗi hết cho
hoàn cảnh bởi con người có khả năng chống lại hoàn cảnh nhưng xã hội cũ xấu xa, độc
ác, nham hiểm với những con người như Bá Kiến đã không cho người ta sống cuộc
sống như một con người. Xã hội đó đã đẩy người ta xuống bùn đen, tha hóa hình hài,
nhân cách. Thể hiện sự tha hóa của Chí Phèo, trang văn Nam Cao đã mở ra một bức
tranh hiện thực đầy rẫy bất công, u tối. Nó phản ánh cái nhìn đầy cảm thông và thăm
thẳm chiều sâu nhân văn về người nông dân trong xã hội cũ của nhà văn.
1.2.

Con người bi kịch

Cuộc đời Chí Phèo là một chuỗi ngày dài đầy bi kịch: bi kịch trong thân phận
một đứa trẻ mồ côi đi ở đợ; bi kịch bị tha hóa nhân hình, nhân tính…Thế nhưng, bi kịch
lớn nhất và đau đớn nhất chính là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo.
Khi Chí Phèo xuất hiện giữa trang văn Nam Cao với tiếng chửi cứ kéo dài ra mãi
thì cũng là lúc bi kịch cuộc đời Chí rõ ràng hiện ra trong từng câu chữ. Cùng với quá
trình tha hóa, Chí Phèo đã sống cuộc đời bi kịch bị tước đoạt mất quyền làm người. Trở
về làng Vũ Đại sau bảy tám năm ở tù, Chí Phèo trở thành con người bị đồng loại xa
lánh, chối bỏ, phải sống “bên lề cuộc đời, ngoài rìa xã hội”. Chí Phèo đang tồn tại mà
như không hề tồn tại vì hắn chỉ là một tên lưu manh, dù sống cũng như đã chết vì “ngay
đến cái thẻ có biên tuổi hắn cũng không có trong sổ làng, người ta vẫn khai hắn vào
hạng lưu tán, lâu năm không về làng”. Thế là, hắn trở về trong nhân hình, nhân tính của
con quỷ dữ đã không được đồng loại chấp nhận . Cuộc đời hắn bây giờ chỉ là triền miên
những cơn say, kéo dài không dứt những tiếng chửi. Hắn chửi trời, chửi đời, chửi làng
Vũ Đại, chửi người đẻ ra hắn. Nhưng bi kịch thay, hắn chửi nhưng chẳng ai thèm chửi
lại với hắn, ai cũng tự nhủ “chắc nó trừ mình ra”. Thậm chí, dù khi hắn rạch mặt ăn vạ,
9


kêu làng “như một người bị đâm” để gây sự chú ý ở đồng loại thì cũng chỉ làm Thị Nở
kinh ngạc còn cả làng “không ai ra điều”, đáp lại chỉ là tiếng sủa của những con chó. Bị
xã hội xa lánh, không chấp nhận quyền làm người thì dù Chí Phèo có chửi, có khóc la,
có uống rượu kêu làng, có rạch mặt ăn vạ thì cũng chẳng ích gì. Chí Phèo đã bị xã hội
chối bỏ.
Thế nhưng, bi kịch đó chỉ được ý thức sâu sắc và thấm thía nỗi đau khi Thị Nở
xuất hiện trong cuộc đời hắn. Trong cái đêm mà “trăng tỏa trên sông, và sông gợn biết
bao nhiêu gợn vàng”, Chí Phèo gặp Thị đang “ngồi tênh hênh” trong vườn chuối và hắn
thấy “cái gì rộn rạo ran khắp người”, rối hắn “run run”. Lần đầu tiên sau bao ngày dài
triền miên trong vô thức, không ý niệm ngày tháng và cảm xúc cuộc sống, Chí Phèo có
những cảm giác con người. Việc ân ái với Thị Nở, những cử chỉ săn sóc của Thị đã làm
sống dậy trong Chí không chỉ cái bản năng người đàn ông mà cả những cảm xúc, những
ước mơ rất thật của con người.
Sau những ngày đắm mình trong những cơn say dài, Chí tỉnh dậy trong trạng thái
hoàn toàn tỉnh táo, thấy “bâng khuâng” và lòng “mơ hồ buồn”. Những âm vọng cuộc
sống thường nhật bình dị dội vào lòng hắn: “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có
tiếng nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá”, cả tiếng trò
chuyện của những người đi buôn vải... Những âm thanh giản dị. tha thiết gọi về trong
hắn những cảm xúc con người. Chí Phèo nhìn lại cuộc đời, nhớ về niềm ao ước một mái
gia đình trong quá khứ, sợ sự cô độc và khát khao mãnh liệt được làm người lương
thiện. “Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở
đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại không thể được.
Họ sẽ lại nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương
thiện...?”.
Nhưng chua xót thay, bà cô Thị Nở đã xuất hiện và dập tắt đi trong Chí cái khát
khao lương thiện mới vừa nhen nhóm. Ngay một người đàn bà “mả hủi” không chồng
như bà cô Thị Nở cũng không cấp nhận Chí, thì những người khác sao có thể “mở
đường” cho Chí. Ngay cả một người đàn bà “ngẩn ngơ như những người đần trong cổ
tích và xấu ma chê quỷ hờn” mà “người ta tránh thị như tránh con vật nào rất tởm”,
10


Chí cũng không thể kết thân sống cùng thì có xã hội nào chấp nhận Chí? Chí cố gắng
níu giữ, nhưng cái gạt tay của Thị Nở chỉ đưa Chí rơi vào sự tuyệt vọng đau đớn.
Chí Phèo vật vã trong bi kịch tinh thần của con người sinh ra là người nhưng
không được chấp nhận làm người. Chí Phèo “ôm mặt khóc rưng rức” trong “thoang
thoảng thấy hơi cháo hành” như thấm thía sâu sắc nỗi đau. Và lần này, không như mọi
lần, Chí Phèo “càng uống càng tỉnh ra. Tỉnh ra, chao ơi buồn”. Hắn xách dao đến nhà
Bá Kiến, tìm đến nguồn gốc bi kịch cuộc đời hắn với ý thức nỗi đau bằng câu nói nhức
nhối “Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt
này? Tao không thể là người lương thiện nữa. Biết không!”.
Chí Phèo giết Bá Kiến trả thù và tự kết liễu cuộc đời mình. Cái chết của Chí Phèo
kết thúc cho một chuỗi ngày dài trong bi kịch bị xã hội chối bỏ quyền làm người nhưng
cũng mở ra thăm thẳm những nỗi đau của bức tranh hiện thực cuộc sống. Nó càng khoét
sâu thêm sự nhức nhối trong bi kịch tinh thần của Chí Phèo. Thèm lương thiện và
thoáng thấy con đường trở về cuộc sống làm người, nhưng Chí Phèo phải tự kết liễu
cuộc đời và chết ngay trên ngưỡng cửa về với cuộc đời. Bởi lẽ, hắn không thể về lại
cuộc sống cũ, nhưng cũng không thể bước qua ngưỡng cửa đó để hòa nhập cuộc sống
con người vì không ai đưa tay ra mở đường cho hắn.
Vì vậy, cái chết Chí Phèo như một tất yếu. Chết vì khát khao làm người mà
không thể làm người. Chí Phèo chết nhưng cái bóng ngật ngưỡng của Chí trong những
cơn say, những tiếng chửi của Chí và cái chết đau đớn của Chí cứ bám riết tâm trí người
đọc về nỗi đau của con người không được là người. Khám phá ra bản tính tốt đẹp đằng
sau hình hài quỷ dữ của Chí Phèo, phát hiện ra bi kịch bị từ chối làm người của Chí
Phèo cho thấy ngòi bút sắc lạnh của Nam Cao tuy có vẻ lạnh lùng, tàn nhẫn nhưng đầy
chan chứa yêu thương và thông cảm trước cuộc đời người nông dân trong xã hội cũ.
1.3.

Con người cô đơn

Bi kịch của cuộc đời bị tha hóa, bị chối bỏ làm người của nhân vật Chí Phèo làm
ta xót xa, nhưng có lẽ, nhức nhối khôn nguôi đó chính là nỗi cô đơn tận cùng trong kiếp
con người của Chí. Đó là nỗi đau lớn nhất, xa xót nhất. Chưa bao giờ trong văn học thời
bấy giờ có hình tượng con người cô đơn như vậy. Hình tượng con người cô đơn là sự
11


độc đáo trong quan niệm nghệ thuật về con người và mang tính nhân văn sâu sắc của
Nam Cao.
Ngòi bút tinh tế của Nam Cao đã khám phá sâu thẳm vào những ngõ ngách tâm lí
của con người và ngầm ẩn cảm thông cho cuộc đời cô đơn của Chí Phèo. Có thế, tác giả
mới thấu hiểu và để cho Chí Phèo tự nghiệm ra “cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói
rét và ốm đau”. Chí Phèo sống “ngật ngưỡng” trong văn Nam Cao một kiếp sống cô
độc: cô độc từ lúc sinh ra cho đến khi chết đi, cô độc trong thời gian cho đến không
gian sống, cô độc trong mọi mối quan hệ người. Xuất hiện trên cõi đời, Chí Phèo là một
đứa trẻ mồ côi, dù qua tay bao người nuôi nhưng cuối cùng cũng không có nổi một mái
ấm gia đình và khi bác phó cối chết, Chí lại sống cuộc đời mồ côi bơ vơ. Lớn lên, cuộc
đời Chí cũng chẳng có gì sáng sủa. Chí chưa từng có một mối quan hệ người nào đúng
nghĩa. Cuộc sống gia đình có “chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải” đó chỉ là mơ ước.
Trong các mối quan hệ còn lại: với bá Kiến, với bà Ba, với Thị Nở, bà cô Thị Nở
và với dân làng Vũ Đại, Chí hoàn toàn cô độc vì hắn không được yêu thương, không
được nhìn nhận như một con người. Với Bá Kiến, Chí Phèo chỉ là công cụ đâm thuê,
chém mướn. Với bà Ba, Chí là công cụ thỏa mãn bản năng phi nhân tính. Với bà cô Thị
Nở, Chí không phải là người. Với cả làng Vũ đại, Chí là “con quỷ dữ”. Chỉ có trong
quan hệ Thị Nở, Chí được năm ngày sống như một con người, có người yêu thương
nhưng quãng thời gian ngắn ngủi đó chỉ làm Chí càng ý thức rõ hơn về sự cô độc, về
nỗi đau của chính mình. Vì vậy, có thể nói cuộc đời Chí Phèo là một chuỗi dài ngày
tháng cô đơn.
Sống trong xã hội của con người, Chí không được chấp nhận làm người nên cuộc
đời hắn thật cô độc. Khi đã bước vào con đường lưu manh hóa, Chí chỉ biết đập mặt ăn
vạ, giết người, cướp của… Còn ngoài ra, cuộc sống hắn hoàn toàn cô độc. Vì vậy, Chí
triền miên trong những cơn say từ ngày này qua ngày khác, triền miên trong những
tiếng chửi trời, chứi đời, chửi làng Vũ Đại, chửi người sinh ra hắn. Phải chăng, những
tiếng chửi kia là khát khao được đối thoại? Phải chăng, những cơn say kia là Chí đang
trốn mình tìm quên đi nỗi cô đơn cùng cực? Còn gì đau đớn hơn, cô đơn hơn khi là

12


người nhưng không được làm người; là người nhưng không một ai trò chuyện, không
một ai yêu thương. Cuộc đời con người đáng sợ nhất là sự cô đơn.
Có một nhà văn đã từng viết “Cô đơn là cho đi mà không người nhận, muốn
nhận mà không có ai cho. Cô đơn là chờ đợi, mà cái mình chờ chẳng bao giờ đến. Như
hai bờ sống nhìn nhau mà vẫn nghìn trùng xa cách bởi dòng sông, nên cô đơn là gần
nhau mà vẫn cách biệt. Không phải cách biệt không gian mà cách biệt của cõi lòng”.
Chí Phèo sống một cuộc đời cô đơn như thế mà cả cô đơn hơn thế. Bởi có người cô đơn
trong lòng khi họ vẫn được trò chuyện với mọi người, vẫn sống trong mái gia đình. Còn
Chí Phèo cô đơn ngay ở không gian sống cách biệt không người lại qua, “bãi dâu bên
sông”. Không người trò chuyện, Chí đã chọn cách đối thoại dễ chạm lòng người, dễ
được đối thoại nhất là tiếng chửi, chỉ để mong được chửi lại. Nhưng không có người
trực tiếp để chửi nên Chí chửi vu vơ: chửi trời, chửi đời, chửi người. Tiếng chửi của Chí
Phèo chỉ được đáp trả bằng sự im lặng của mọi người và tiếng sủa của những con chó:
“hắn kêu làng thì không ai cần động dạng, họ lạu bạu chửi rồi lại ngủ, hắn kêu làng
cũng như người khác buồn, hát ngao. Đáp lại hắn chỉ có lũ chó cắn xao lên trong xóm”.
Khi hắn rạch mặt ăn vạ thì cũng chỉ có “ba con chó dữ với một thằng say rượụ”. Những
tín hiệu đối thoại thấp hèn nhất của Chí Phèo không được đáp trả, hắn chỉ càng thêm cô
độc trong kiếp làm người không giống người.
Khi Thị Nở đến, tình yêu và sự chăm sóc của thị như những tia nắng sưởi ấm cõi
lòng giá băng, cô độc của Chí. Thế nhưng vừa thắp lên đã vội tắt. Nó làm Chí càng ý
thức rõ và đau đớn hơn nỗi cô đơn trong kiếp làm người của mình. Người ta càng cô
đơn hơn khi ý thức sâu sắc về nó. Chí tìm đến Bá Kiến trong sự tuyệt vọng, trả thù và
kết liễu đời mình. Và ngay cả khi chết, Chí vẫn cô đơn. Làng Vũ Đại vốn không xem
Chí là người thì dửng dưng bàn tán. Vì vậy, lúc còn sống hay cả khi chết đi rồi, Chí
Phèo hoàn toàn cô đơn. Cuộc đời cô đơn của Chí Phèo nhức nhối trong trang văn Nam
Cao làm ta càng xót xa thêm về số phận người nông dân trong xã hội cũ.
1.4.

Con người tự ý thức

Kiểu con người tự ý thức xuất hiện đậm đặc trong văn Nam Cao ở mảng đề tài trí
thức với nhân vật Hộ trong “Đời thừa”, Điền trong “Giăng sáng”… Thế nhưng, đọc
13


truyện ngắn “Chí Phèo”, ta vẫn thấy thấp thoáng bóng dáng kiểu con người này ở nhân
vật Chí Phèo.
Nhân vật của Nam Cao khi chênh vênh trên ranh giới thiện - ác, người - vật, vô
thức – ý thức, thường tự ý thức để khẳng định vẻ đẹp nhân cách của mình. Ý thức là cái
giúp phân biệt con người với loài vật. Tự ý thức là trình độ cao của ý thức, thể hiện khi
con người tự suy ngẫm, nhìn vào cõi lòng mình để hướng tới sự hoàn thiện. Nhân vật
Chí Phèo sống cuộc đời dằng dặc trong vô thức với bản năng của con quỷ dữ nhưng
cũng có những khoảng lặng ý thức tự ngẫm về cuộc đời mình.
Lần đầu tiên Chí Phèo ý thức được về cuộc đời mình là khi Thị Nở xuất hiện
trong cuộc đời hắn. Trước đó, trong những cơn say, Chí buông tiếng chửi thì dường như
hắn cũng có ý thức, cũng biết tức vì không ai chửi lại nhưng đó chỉ là ý thức mơ hồ.
Khi Thị Nở đến cùng tình yêu, sự chăm sóc thì những cảm xúc, những ước mơ khao
khát, những suy ngẫm về cuộc đời rất rõ ràng xuất hiện trong đầu Chí. Đó là ý thức rất
người của Chí Phèo, ý thức hoàn toàn tỉnh táo. Nghĩ về mơ ước quá khứ xa xôi, hắn
“nao nao buồn”; nghĩ về hiện tại ốm đau, hắn cảm thấy cô độc. Những âm thanh bình dị
cuộc sống như tiếng chim hót, tiếng gõ mái chèo đuổi cá, tiếng trò chuyện của người đi
chợ... dội vào lòng Chí Phèo, bật lên thành tiếng thở dài “Chao ôi là buồn!”. Cảm nhận
sâu sắc nỗi buồn đó vì Chí Phèo đã ý thức được quãng đời tăm tối trong lốt con quỷ dữ
của mình, ý thức được sự cô đơn và nỗi buồn bị đồng loại xa lánh. Chưa bao giờ, hắn ý
thức giá trị con người như thế. Ý thức được là người thì phải được sống trong những
mối quan hệ con người. Vì vậy, hắn khát khao lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi
người thông qua Thị Nở. Lần ý thức này mở ra trong Chí hi vọng, mơ ước, khát khao về
những điều tốt đẹp.
Thế nhưng, càng hi vọng bao nhiêu thì nỗi đau đớn tuyệt vọng khi không đạt
được càng thẳm sâu bấy nhiêu. Khi sự can ngăn của bà cô Thị Nở buông ra, Thị Nở bỏ
mặc hắn níu kéo, thì nẻo về cuộc đời lương thiện của Chí Phèo hoàn toàn bị cắt đứt.
Lần này là lần thứ hai Chí Phèo ý thức được nỗi đau, ý thức được bi kịch cuộc đời. Ý
thức thẳm sâu về kẻ thù đã gây nên bi kịch cuộc đời mình đã đưa chân Chí Phèo đến
nhà Bá Kiến. Sự tự ý thức đó thể hiện rõ trong câu nói đầy đau đớn “Ai cho tao lương
14


thiện?”. Một người tưởng đã mất hết tính người đã ý thức được sâu sắc bi kịch không
được làm người của mình. Và giết chết kẻ thù, tự kết liễu đời mình cũng chính là Chí
Phèo ý thức được hắn không thể làm người lương thiện được và cũng không thể sống
như trước nữa.
Chính trong sự tự ý thức đầy đau đớn đó, nhân vật Nam Cao tỏa sáng vẻ đẹp
nhân cách. Nam Cao đã phát hiện ra vẻ đẹp tâm hồn lương thiện còn sót lại ở Chí Phèo
như một sự khẳng định vẻ đẹp con người với tấm lòng nhân đạo sâu sắc. Sự tự ý thức
đã khơi nguồn trong ta những cái nhìn mới đầy tính nhân văn về con người. Con người
dù tha hóa đến mất nhân tính nhân hình như Chí Phèo thì vẫn có những phút lóe sáng vẻ
đẹp nhân cách. Nam Cao không hề đánh mất niềm tin vào con người. Chính trên bờ vực
của sự tha hóa, sự tự ý thức đã kéo nhân vật đứng vững, không tăm tối mãi trong cuộc
sống như thú vật. Cái nhìn mang vẻ đẹp đầy nhân bản của Nam Cao làm ta thêm yêu
mến những trang văn sống động, chân thật như những trang đời.
1.5.

Con người với bản thể tự nhiên.

Bàn về nhân vật Chí Phèo, Nguyễn Quang Trung cho rằng chỗ tuyệt bút của Nam
Cao là ông đã xây dựng nhân vật Chí Phèo với “sự lưỡng hóa về tính cách”. Sự lưỡng
hóa tính cách giữa đôi bờ say tỉnh của vô thức và ý thức, giữa thiện và ác đó cũng chính
là bản thể tự nhiên của con người. Đó cũng là một phát hiện độc đáo trong quan niệm
nghệ thuật về con người của Nam Cao.
Con người sinh ra trên đời không ai tốt hay xấu hoàn toàn. Thiện hay ác do chủ
quan cá nhân cùng với sự tác động hoàn cảnh tạo nên. Nhân vật Chí Phèo của Nam Cao
là sự đan xen bản tính thiện ác theo từng giai đoạn. Từ một anh canh điền lương thiện,
Chí đánh mất nhân tính, biến dạng nhân hình thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại; từ kẻ
tha hóa, Chí mơ ước được làm người lương thiện. Dù phần ác đó chiếm phần nhiều và
che khuất đi bản tính hiền lành tự nhiên của con người Chí Phèo nhưng có thể thấy, Chí
Phèo có tính cách hoàn toàn hợp tự nhiên. Chí Phèo hung dữ, tưởng không còn là người
cũng có những phút run run khi thấy Thị Nở, cũng biết làm tình, biết nũng nịu như trẻ
con. Trước Chí Phèo, Nam Cao đã phát hiện ra rằng “Ôi sao mà hắn hiền! Ai dám bảo
đó là thằng Chí Phèo vẫn đập đầu, rạch mặt và đâm chém người? Ðó là cái bản tính
15


của hắn, ngày thường bị lấp đi”. Sự đan xen thiện - ác, phần người và phần thú trong
con người Chí cũng hiện hữu trong tất cả chúng ta - những ai tồn tại với hai tiếng “con
người”. Chỉ có điều, sự nổi lên của phần người hay phần thú đó là do tác động hoàn
cảnh và khả năng mỗi người. Phát hiện ra bản thể tự nhiên trong con người Chí Phèo
thể hiện sự mới mẻ, giàu ý nghĩa trong quan niệm nghệ thuật về con người của Nam
Cao so với văn học thời bấy giờ. Nó cũng giúp chúng ta nhìn lại mình và nhân đạo hơn
trong việc đánh giá một con người.
Sự sáng tạo và ý nghĩa nhân văn trong quan niệm nghệ thuật về con người của
Nam Cao trong truyện ngắn Chí Phèo. Nam Cao đã từng khẳng định “Một tác phẩm
thật giá trị phải vượt lên trên tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho
cả loài người”. Truyện ngắn Chí Phèo của ông đã làm được điều đó, hoàn toàn xứng
đáng được xem là một tác phẩm giá trị về nội dung lẫn nghệ thuật. Bên cạnh sự thành
công ở những bình diện khác của thi pháp như ngôn ngữ, giọng điệu, xây dựng nhân
vật… quan niệm nghệ thuật về con người của Nam Cao thể hiện qua nhân vật Chí Phèo
đã phần nào cho thấy sự đổi mới đầy sáng tạo trong nghệ thuật thể hiện cũng như chiều
sâu nhân văn trong cách nhìn con người. Cùng với những quan niệm về con người như
đã nói, Nam Cao đã không dẫm lên lối mòn cũ của những nhà văn hiện thực đi trước
trong cách khám phá hiện thực và con người. Ông đã tự khai thông cho mình một con
đường riêng tuy vất vả, khó khăn nhưng đầy dấu ấn sáng tạo. Nếu như Ngô Tất Tố,
Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan... khám phá hiện thực chủ yếu trên những xung đột
xã hội, giai cấp trực tiếp, thì Nam Cao đi sâu vào những xung đột tâm lí nhân vật. Viết
về người nông dân, văn học hiện thực thời bấy giờ chỉ quen nhìn con người trong con
người nguyên phiến, thuần nhất về tính cách. Văn học thể hiện nỗi khổ con người chủ
yếu để bộc lộ sự thông cảm và ngợi ca phẩm chất tốt đẹp của nhân vật. Chị Dậu, anh
Pha dù bị dồn đẩy, bức ép của hoàn cảnh xã hội đen tối nhưng luôn giữ vững nhân cách.
Thế nhưng, ở con người Chí Phèo, Nam Cao không chỉ phát hiện ra nỗi bi kịch, sự tha
hóa mà còn thấy những khoảng lặng cô đơn, sự tự ý thức đầy đau đớn và cả con người

16


mang bản tính thiện - ác tự nhiên. Đó là một cách nhìn con người hoàn toàn mới mẻ và
sáng tạo của Nam Cao.
2. Không gian nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo
Trong truyện ngắn Chí Phèo có thể thấy tác giả đã tạo ra hai không gian mang
tính chất đối lập rõ ràng, chúng vừa đan xen vào nhau vừa tách biệt nhau nhằm thể hiện
ý đồ tư tưởng của nhà văn. Đó là không gian làng Vũ Đại và không gian “năm sào vườn
ở bãi sông” của Chí Phèo.
2.1.

Không gian làng Vũ Đại

Không gian làng Vũ Đại chính là một bức tranh xã hội thu nhỏ, nơi ngự trị của
những bè cánh, âm mưu toan tính bóc lột dân nghèo của bọn cường hào ác bá, nơi “xa
phủ xa tỉnh”, “quần ngư tranh thực”, nơi người lao động bị bóc lột cùng kiệt đến độ
phải bỏ làng mà đi hoặc “è cổ nuôi bọn lý hào”. Nơi ấy nhan nhản những bộ mặt nhan
hiểm như Bá Kiến, Đội Tảo, Tư Đạm, Bát Tùng… chúng là những kẻ chuyên đục
khoét, ức hiếp dân thành nghề. Đó là một vùng nông thôn có cái vắng lặng, hoang vu
của một vùng quê xơ xác vì nghèo đói và những người dân đang vật lộn từng ngày với
cuộc sống, ở đó những người dân thấp cổ bé họng như Chí Phèo, Thị Nở…muốn thoát
ra khỏi đó nhưng đành bất lực bởi không gian cư trú như sợi dây vô hình trói buộc họ,
buộc họ phải chấp nhận thực tại của mình.
Không gian ấy quá nặng nề đè lên đôi vai nhân vật, các nhân vật muốn thoát khỏi
không gian ngột ngạt ấy để đi tìm đến một nơi nào đó rộng lớn, tự do hơn nhưng đành
bất lực. Trên nền cuộc sống ao tù, trầm lặng đó dường như chỉ có hình ảnh Chí Phèo
bước chênh vênh trên con đường về mà thôi. Chính tại không gian của xã hội thu nhỏ
đó, Nam Cao đã phản ánh được hiện thực cuộc sống của xã hội Việt Nam giai đoạn
1930-1945.
Trong suốt thiên truyện, rất nhiều lần Nam Cao nhắc đến và lặp lại không gian
nhà Bá Kiến, đó là nơi Chí rạch mặt ăn vạ và cũng là nơi dập tắt chút ánh sáng vừa loé
lên trong cuộc đời Chí, Chí giết Bá Kiến đồng thời kết thúc cuộc đời mình cũng tại đây.
Đó phải chăng chỉ là sự tình cờ?

17


Đây chính là dụng ý của tác giả, chính qua việc liên tiếp lặp lại hình tượng không
gian này đã giúp khắc họa rõ nét cuộc sống quẩn quanh, ngột ngạt, không lối thoát của
Chí, khẳng định không gian nhà Bá Kiến chính là nơi dung túng, gián tiếp đưa Chí dấn
sâu vào con đường tội lỗi. Qua đó, tác giả cũng muốn nhấn mạnh, khẳng định rằng:
Không ai khác, chính giai cấp phong kiến là kẻ thù của người nông dân là nguyên nhân
chính gây ra những cảnh đời bi thảm như Chí.
Khác với một số tác phẩm cùng thời, không gian trong Chí Phèo là không gian
được xác định cụ thể, nó được gọi dưới cái tên làng Vũ Đại. Phải chăng qua đây Nam
Cao muốn khẳng định với độc giả tấn bi kịch của Chí Phèo là một hiện tượng có thật và
điển hình trong xã hội đương thời. Nó sảy ra tại chính làng Vũ Đại, một không gian
thực tế rất rõ ràng chứ không hề chung chung khái quát ở một địa danh mơ hồ nào cả.
2.2.

Không gian “lò gạch cũ” và “năm sào vườn ở bãi sông”

Bên cạnh không gian của làng Vũ đại còn có không gian riêng tư, không gian
sinh hoạt của Chí phèo. Trước hết là không gian ở cái lò gạch cũ: “một anh đi thả lươn,
một buổi sáng tinh sương, đã thấy hắn trần truồng và xám ngắt trong một cái váy đẹp
đẽ bên cái lò gạch bỏ không”.
Đó như là không gian định mệnh của Chí, và phải chăng cũng là điềm báo trước
của Nam Cao về một cuộc đời cô độc cay đắng của Chí về sau. Chí bị bỏ rơi bị cự tuyệt
ngay khi vừa mới chào đời. Với không gian này tự nó đã mang một sức mạnh tố cáo sâu
sắc.
Tiếp nữa, là không gian ở túp lều ven sông và không gian ở vườn chuối. Đó là
nơi ở của Chí, một miếng đất nhỏ chông như chính kiếp sống của Chí Phèo, Bá kiến
cho Chí mảnh đất đó cũng đã bao hàm một sự ruồng bỏ. Không gian của túp lều tranh là
một không gian thật nhỏ nhoi so với cái không gian của làng Vũ Đại. Thế mà, cái nhỏ
nhoi của không gian ấy lại là nơi nảy nở tình yêu, tình người, là nơi mà Chí đón nhận
bát cháo hành của Thị Nở_bát cháo đánh thức bản tính “Người” trong Chí.
Chính việc xây dựng thành công hai hình tượng không gian đối lập đó đã tạo nên
ý nghĩa nhân văn sâu sắc nâng tác phẩm lên một tầng cao mới.
3. Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo
18


3.1.

Thời gian đa chiều

Chí Phèo - con quỷ dữ của cả làng Vũ Đại, một kẻ cùng hơn cả những người bần
cùng xuất hiện ngay thiên truyện với bộ dạng say khướt và tiếng chửi rủa. Trong tác
phẩm Nam Cao đã sử dụng thời gian đa chiều khác với thời gian hiện thực. Quá khứ,
tương lai và hiện tại đan xen lẫn nhau, soi chiếu cho nhau, Theo giáo sư tiến sĩ Đào Duy
Hiệp, đó là bút pháp “đơn trước”, “ngoái lại”.
Mở đầu câu chuyện là thời gian hiện tại của Chí Phèo, một hiện thực thảm khốc:
Chí giờ đây là một con quỷ, là một kẻ nát rượu chuyên rạch mặt ăn vạ, bị tha hóa cả về
ngoại hình lẫn nhân phẩm, thậm chí hắn không được thừa nhận là con người. Do đâu lại
như vậy? Để giải đáp thắc mắc này Nam Cao đã đưa người đọc trở về quá khứ của Chí,
khi anh vẫn còn là một người trai lực điền hai mươi tuổi, khỏe mạnh, tháo vác ôm ấp
giấc mơ giản dị là có một gia đình nhỏ “chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải”. Tuy
rằng nghèo đói nhưng anh sống lương thiện hiền lành vậy mà chỉ vì một chút ghen
tuông Bá Kiến đã đẩy Chí vào tù, biến Chí từ một anh nông dân hiền lành chất phác
thành một con sâu rượu, một kẻ côn đồ, nỗi sợ hãi của cả làng Vũ Đại. Nếu như hiện tại
là nơi số phận nghèo khổ, cay đắng của nhân vật đang diễn ra thì quá khứ hiện lên vừa
đối lập vừa mang nỗi buồn, sự hối tiếc. Còn tương lai lại là khoảng thời gian chứa đựng
sự cùng quẩn, bế tắc nhưng cũng qua đó gửi gắm nhiều mong ước. Việc đảo lộn trật tự
thời gian như vậy khiến cho câu chuyện tiến triển một cách bất ngờ, hấp dẫn, thôi thúc
độc giả đi tìm và lý giải nguyên do bi kịch của Chí Phèo. Qua đó ý nghĩa tố cáo xã hội
càng mạnh mẽ hơn. Mỗi chiều thời gian đều là một sự cố ý của nhà văn muốn cho
người đọc cảm nhận được sự tương phản, sự khác biệt giữa những khoảng thời gian đó,
đồng thời gắn liền với nó là sự thay đổi số phận nhân vật.
3.2.

Thời gian mang tính nhịp điệu

Bên cạnh chiều hướng thời gian, Nam Cao cũng rất chú ý đến nhịp điệu, sự vận
động của thời gian trong tác phẩm. Khi nghiên cứu về vấn đề này thì Giáo sư tiến sĩ
Đào Duy Hiệp đã dùng hai khái niệm “thời sai” và “khoảng ngưng”.
Những câu chuyện rạch mặt ăn vạ, say, chửi… nói chung là những nhịp điệu
“làm trò” hóa ra không còn quan trọng mà phần những nhịp “thức tỉnh” mới đáng lưu
19


tâm. Nhịp điệu thời gian là sự tổ chức các yếu tố thời gian, đó là việc xử lý mối liên hệ
giữa thời gian thực tế và thời gian nghệ thuật. Thời gian thực tế diễn ra theo tuyến tính,
theo trình tự, liên tục, đều đặn. Thời gian nghệ thuật có chỗ đảo trình tự, đứt đoạn, trình
bày song song, lúc nhanh lúc chậm, có lúc dừng lại, đi vào một mạch rẽ nào đó. Nhịp
điệu thời gian trong Chí Phèo cũng vậy! Sự gối đầu chồng chéo các sự kiện, tạo nên
một nhịp điệu gấp khúc đầy đau đớn, xót xa. Chí bị đẩy vào tù, khi ra tù thì trở thành
tay sai cho bá Kiến, rồi may mắn Chí gặp được Thị Nở - kim chỉ nam cho Chí trở về
cuộc sống con người. Nhưng ngay sau đó Chí đã bị xã hội cự tuyệt, dẫn đến hành động
cầm giao giết Bá Kiến. Những bi kịch biến cố đó liên tục nối tiếp nhau trong cuộc đời
Chí Phèo đã góp phần phơi bày hiện thực, tố cáo xã hội đương thời.

3.3.

Thời gian tâm tưởng

Phối xen với nhịp điệu gấp gáp mang tính định mệnh ấy, còn có những đoạn tả
chân dung, tả cảnh, tả tình chậm rãi như những khoảng thư giãn, hứa hẹn những đổi
thay mới. Hay nói cách khác, đó chính là thời gian tâm tưởng của nhân vật.
Chẳng hạn như đoạn miêu tả ánh trăng và gió nơi vườn chuối của Chí Phèo thật
sự rất lãng mạn! Nam Cao đã dành ra một khoảng lặng để cho Chí cảm nhận về cuộc
sống tươi đẹp bên ngoài mà trước kia Chí không nhận ra: “Tiếng chim hót ngoài kia vui
vẻ quá! Có tiếng nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá”.
Khoảng lặng này đã khiến Chí Phèo có dịp nhìn lại cuộc đời mình sau chuỗi dài những
tháng ngày chìm đắm trong men rượu, thức tỉnh Chí Phèo trở lại với cuộc sống đúng
nghĩa là một con người. Đồng thời hé lộ bản chất lương thiện trong con người Chí, hắn
cũng biết rung động trước vẻ đẹp của tự nhiên và say đắm trong tình yêu với Thị Nở
chứ không hoàn toàn là một con quỷ dữ chỉ biết đập phá, chém giết. Nếu như ngày ấy
người ta cho Chí một cơ hội, thì bi kịch của Chí Phèo chắc chắn đã không sảy ra.
3.4.

Thời gian mang tính ước lượng, phiếm chỉ

Ngoài ra, các từ chỉ thời gian trong tác phẩm chỉ được nhà văn sử dụng một cách
phiếm chỉ, chung chung và mờ nhạt. Thời gian với Chí Phèo không được xác định cụ
20


thể, nó chỉ là sự ước lượng, không ai biết được nó sảy ra khi nào và trong bao lâu.
Chẳng hạn như: Chỉ biết một hôm, rồi một hôm, một buổi sáng tinh sương, đêm hôm ấy,
Chí bị người ta giải lên huyện rồi biệt tăm đến bảy tám năm. Ngay cả tuổi của mình
Chí cũng không còn nhớ rõ. Hồi ấy, hắn mới đâu hăm bảy hay hăm tám tuổi… Bây giờ
thì hắn đã thành người không tuổi rồi. Ba mươi tám hay ba mươi chín? Bốn mươi hay
là ngoài bốn mươi? (…) cuộc đời mà hắn cũng chả biết đã dài bao nhiêu năm rồi. Bởi
vì ngay đến cái thẻ có biên tuổi hắn cũng không có, trong sổ làng người ta vẫn khai hắn
vào hạng dân lưu tán, lâu năm không về làng. Hắn nhớ mang máng rằng có lần hắn hai
mươi tuổi, rồi hắn đi ở tù, rồi hình như hắn hăm nhăm không biết có đúng không? Bởi
từ đấy thì đối với hắn không còn ngày tháng nữa. Bởi vì từ đấy hắn bao giờ cũng say.
Đây là một dụng ý nghệ thuật của nhà văn, mang nặng sức tố cáo xã hội, cuộc
sống của Chí giờ đây không khác gì cuộc sống của một “con thú”. Chí sống mà mất hết
ý niệm về thời gian, ý thức về cuộc sống xung quanh. Chí bị tước đoạt cả cái quyền cơ
bản nhất - quyền được làm một con người theo đúng nghĩa của nó. Sử dụng thời gian
phiếm chỉ nhưng Nam Cao lại rất nhiều lần nhắc đến và nhấn mạnh quãng thời gian
“năm hai mươi tuổi” của Chí, mục đích của tác giả phải chăng muốn khơi gợi cho
người đọc nhớ về quá khứ của Chí Phèo, khi Chí vẫn còn là một anh nông dân hiền
lành, lương thiện để rồi so sánh với cuộc sống bế tắc hiện tại của Chí, từ đó mỗi người
tự tìm ra câu trả lời cho nguyên nhân bi kịch của Chí Phèo.
3.5.

Thời gian trần thuật của tác giả

Một điểm đáng chú ý nữa trong thời gian nghệ thuật là thời gian trần thuật của tác
giả. Trong suốt thời lượng của tác phẩm Nam Cao đã dành ra ít nhất một nửa số trang
để tái hiện sáu ngày cuối cùng của cuộc đời Chí Phèo. Và trong sáu ngày ấy Chí đã
được sống trọn vẹn theo đúng nghĩa của một con người, sống trong tình yêu và niềm
hạnh phúc. Đây chính là ý đồ của nhà văn, nhằm nhấn mạnh tấn bi kịch của Chí Phèo.
Đồng thời tác giả cũng muốn khẳng định với người đọc rằng nếu xã hội nhân đạo hơn
với Chí, thì hắn hoàn toàn có thể sống một cuộc sống lương thiện, bình dị như bao
người dân làng Vũ Đại khác.
4. Kết cấu của tác phẩm Chí Phèo
21


4.1.

Về phương diện cốt truyện

Truyện ngắn truyền thống thường có kết cấu cốt truyện theo trình tự tuyến tính,
sự kiện xảy ra trước kể trước, sự kiện xảy ra sau kể sau. Trong truyện ngắn Chí Phèo
Nam Cao sử dụng kiểu cốt truyện gấp khúc; trật tự chuyện kể bị đảo ngược, sự việc xảy
ra trước được kể sau, sự việc xảy ra sau nhảy cóc lên trước, quan hệ nhân – quả không
còn được duy trì.
Truyện được mở đầu bằng một tình huống ở thì hiện tại, khi nhân vật trung tâm –
Chí Phèo đã bị tha hóa và trở thành con quỹ dữ của làng Vũ Đại. Việc đảo lộn trật tự sự
kiện, đưa hình tượng Chí Phèo ở đỉnh điểm của sự tha hóa lên đầu truyện đã tạo ra hiệu
ứng thẩm mỹ nhất định.
Thứ nhất, nhà văn muốn thể hiện ý đồ nhấn mạnh, khắc sâu bi kịch đời sống hiện
tại của nhân vật Chí Phèo, hướng nhãn lực người đọc tập trung vào khám phá cuộc đời
chí Phèo – nơi quy tụ tư tưởng nghệ thuật của nhà văn trong truyện ngắn này. Thứ hai,
nhà văn đã ngầm ý đặt ra cho người đọc một câu hỏi cần được giải đáp: vì sao Chí Phèo
lại trở nên hư đốn như vậy? Thứ ba, hiện tại hết sức bi kịch của Chí Phèo được đặt
trong quan hệ đối trọng với quá khứ hiền lương của nhân vật này sẽ giúp tác giả lên án
sự tàn nhẫn của chế độ xã hội. Thứ tư, việc đảo lộn trật tự sự kiện trong cốt truyện có
tác dụng hiện tại hóa những chuyện được kể.
4.2.

Về kết cấu nhân vật

Nam Cao mở đầu cuộc đời Chí Phèo bằng hình ảnh đứa trẻ bị bỏ rơi bên cái lò
gạch cũ, và khi Chí Phèo chết, cái xuất xứ đau thương của Chí Phèo lại một lần nữa
hiển hiện qua chi tiết Thị Nở nhìn xuống bụng của mình và nghĩ đến hình ảnh cái lò gạh
cũ bỏ không. Chí Phèo chết thì một Chí Phèo con lại sắp sửa ra đời. Nam cao đã nhìn
thấy bi kịch của người nông dân nhưng ông vẫn chưa nhìn thấy hướng mở để giải
phóng người nông dân ra khỏi bi kịch đó.
Nếu so sánh truyện Chí Phèo của Nam Cao với Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) và
Vợ nhặt (Kim Lân) chúng ta sẽ thấy rõ hơn sự bế tắc của người nông dân trong sáng tác
của Nam Cao. Nếu Tô Hoài và Kim Lân bước đầu đã hé lộ đường thoát cho người nông
dân bằng cách đi theo cách mạng, thì ở Chí Phèo người nông dân vẫn còn trong vùng
22


luẩn quẩn. Đó chính là hạn chế của thời đại được Nam cao phản ánh trong tác phẩm của
mình.
4.3.

Về kết cấu thời gian nghệ thuật

Trong tác phẩm Chí Phèo, giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật
có một độ chênh khá lớn. Thời gian được trần thuật là cả cuộc đời của Chí Phèo, còn
thời gian trần thuật tính từ khi “Hắn vừa đi vừa chửi…” cho đến kết thúc truyện chỉ vẻn
vẹn sáu ngày. Nếu thời gian trần thuật được Nam Cao bắt đầu từ chỗ “Hắn vừa đi vừa
chửi” cho đến câu kết thúc truyện, thì thời gian được trần thuật lại có thể được người
đọc kể lại bắt đầu từ xuất xứ của Chí Phèo cho đến lúc nhân vật này giết chết Bá Kiến
và tự kết liễu đời mình.
Nhịp độ thời gian trần thuật trong tác phẩm Chí Phèo thay đổi trong từng đoạn
văn, từng tình huống. Những đoạn miêu tả cảnh Chí Phèo say rượu dưới trăng thì thời
gian như được kéo dài ra. Cảnh Chí Phèo giết Bá Kiến lại được tác giả thể hiện với tốc
độ cực nhanh. Những lúc tác giả miêu tả về hình dạng các nhân vật thì thời gian chậm
lại, dường như là dừng lại (đoạn văn kể Chí Phèo ngay sau khi ở tù về). Những đoạn nói
về quãng đời quá khứ của Chí Phèo, Năm Thọ, Binh Chức thì tác giả lại lướt qua rất
nhanh. Chẳng hạn như đoạn “Không biết tù mấy năm, nhưng hắn đi biệt tăm đến bảy
tám năm, rồi một hôm hắn lại lù lù ở đâu trở về. Hắn về lớp này trông khác hẳn, mới
đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông đặc như thằng săng đá”. Trong trường hợp này tác
giả đã dùng hình thức tĩnh lược, sự tĩnh lược này thể hiện một cách gián tiếp qua sự
thay đổi của Chí Phèo so với lúc chưa đi ở tù.
Chỉ cần vài câu ngắn gọn thế nhưng Nam Cao đó giúp người đọc hình dung được
cả một quãng đời của Chí Phèo, đồng thời cũng đã thể hiện được sự nghiệt ngã của xã
hội đã đẩy con người đến cảnh bị tha hoá. Đọc Chí Phèo chúng ta thấy có một chi tiết
rất thú vị, đó là đoạn văn: “Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho
nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê. Vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn
liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Nếu đứng ở thời điểm sau khi Chí đã ở
tù về thì đó là thời gian quá khứ. Nếu đứng ở thời điểm Chí còn làm canh điền cho nhà
Bá Kiến thì đó là tương lai, là mơ ước của Chí Phèo. Hay đoạn văn kết thúc truyện: “…
23


thị nhìn trộm bà cô, rồi nhìn ngay xuống bụng… Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một
cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua”. Trong cả hai đoạn văn
vừa trích dẫn, quá khứ - hiện tại và tương lai như hoà nhập làm một.
Đến đây, chúng ta có thể thấy rõ giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần
thuật có một độ chênh khá lớn. Để đạt được điều đó, Nam Cao đã theo nguyên tắc liên
tưởng, hồi tưởng, và cả theo quy luật tương đồng, tương phản (tương phản giữa quá khứ
- hiện tại của Chí Phèo, tương phản giữa ước mơ cuộc sống yên bình trong quá khứ với
hiện tại tối tăm trong cuộc đời Chí). Sự tương phản này thể hiện sự biến đổi, tha hoá
của Chí Phèo, đồng thời cũng thể hiện cách nhìn và thái độ của nhà văn trước hiện thực
cuộc sống. Tương đồng ở chỗ quá khứ, hiện tại và tương lai nhiều lúc như hoà làm một.
Điều này càng làm cho sức khái quát cuộc sống của tác phẩm cao hơn. Nhịp điệu thời
gian trong tác phẩm rất hấp dẫn. Những đoạn kể về quá khứ của nhân vật thì thời gian
lướt qua rất nhanh, những đoạn kể về thời điểm hiện tại thì thời gian như bị cô đặc lại,
ông chú ý kể một cách cụ thể, sinh động và sâu sắc về cuộc sống ở thời điểm hiện tại
của nhân vật. Có thể hình dung nhịp điệu thời gian trong truyện Chí Phèo theo cấu trúc:
căng dần - đỉnh điểm - chùng dần - căng dần. Nguyễn Thái Hoà - tác giả cuốn sách
Những vấn đề thi pháp của truyện gọi đó là “cấu trúc làn sóng”.
4.4.

Về cách kết thúc truyện

Nam cao đã không đi theo lỗi mòn xưa cũ, không chọn một cái kết có hậu, nhưng
vì thế mà truyện ngắn này lại có giá trị hiện thực sâu sắc và chân thực hơn, khách quan
hơn.
Trong truyện ngắn Chí Phèo có ba nhân vật chính. Bên cạnh Chí Phèo là nhân vật
trung tâm còn có hai nhân vật có quan hệ trực tiếp với Chí Phèo là bá Kiến và Thị Nở.
Chí Phèo kết thúc cuộc đời khốn khổ khốn nạn bằng chính lưỡi dao của mình. Bá Kiến
nổi danh với bản chất tham lam và tàn nhẫn với đầy mưu ma chước quỷ cuối cùng cũng
bị tiêu giệt bởi Chí Phèo - sản phẩm do chính Bá Kiến trực tiếp tạo ra; còn Thị Nở người đàn bà có ngoại hình xấu xí nhưng tiềm ẩn khát vọng hạnh phúc cũng có kết cục
bất hạnh.

24


Đọc lại một số truyện ngắn khác của Nam Cao cũng không thấy có một nhân vật
nào được hạnh phúc tròn vẹn cả. Truyện của ông không một kết thúc có hậu, không một
mảnh đời yên lành, không một cuộc tình êm ả, không có gì tròn trịa, nguyên vẹn. Chỉ có
cái chết và sự tàn lụi mà thôi. Nam Cao từng quan niệm: “cuộc đời là một tấm áo cũ bị
xé rách tả tơi”, kết cục bi kịch của ba nhân vật này là một minh chứng rõ ràng cho
quan niệm đó”.
5. Lời văn nghệ thuật
5.1. Sử dụng những câu văn ngắn
Ngôn ngữ là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của một tác phẩm,
nhất là thể loại truyện. Nó là phương tiện cơ bản để nhà văn bộc lộ chủ đề, tư tưởng của
tác phẩm, để trội bật lên tính cách của nhân vật và thuyết phục người đọc đồng tình với
mình về cách đánh giá đối với những hiện tượng và con người được miêu tả. Như Gorki
đã từng nói "Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học".
Nam Cao sử dụng hàng loạt những câu văn ngắn, rất ngắn tạo nên nhịp điệu
nhanh, dồn dập và tạo nên kịch tính cho truyện. Nỗi đau cứ lần lượt bị trần trụi ra, nỗi
đau cứ ngày một bị nhấn thêm một bậc nữa. "Tức mình", rồi "tức thật! Thế này thì tức
thật. Tức chêt đi mất", "mẹ kiếp", "nghiến răng mà chửi"… Nhưng câu văn ngắn đã cho
ta cảm nhận được trực tiếp nỗi đau của Chí. Chí tìm mọi cách bật ra nồi cô lập của bản
thân nhưng đều không được và hiện lên trong đoạn văn là hình ảnh Chí Phèo đang vật
vã, đang quằn quại trong nỗi đau khổ, trong bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của
mình.
Ngữ điệu của những câu văn thay đổi rất linh hoạt và các cung bậc của bài “chửi”
– các cung bậc của nỗi đau cũng được bộc lộ từ đó. Những từ ngữ cảm thán mang sắc
thái bình luận sử dụng với mật độ dày đặc: "Có hề gì?", "Tức thật", "Ờ thế này thì tức
thật!”, "Mẹ kiếp", "thế có phí rượu không? Thế thì cổ khổ hắn không?", "A ha!", "có
trời mà biết!"… một mặt đã làm sinh động thêm cho câu văn, một mặt bộc lộ được sắc
thái tình cảm của nhân vật, bộc lộ thái độ bình luận của người kể chuyện.
Trong đoạn văn mở đầu tác giả sử dụng rất nhiều hình thức phủ định: "chẳng
sao", "chẳng là ai", "trừ", "không ai lên tiếng","không chửi nhau với hắn", "không ai
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×