Tải bản đầy đủ

Tác phẩm "đùa của tạo hóa" dưới góc nhìn phân tâm học

MỞ ĐẦU
Phân tâm học là khoa học (nghiên cứu) phân tích tâm lý chiều sâu của con
người trong tính bản chất của nó với hoàn cảnh và đặc biệt là vô thức và tình dục.
Phân tâm học ra đời đánh dấu một bước ngoặt quan trong trong việc nhận thức
những vấn đề vi diệu nhất của của tâm sinh lý con người. Nó trở thành khoa học
phân tích tâm lý chiều sâu của mọi hành vi trong đời sống ý thức và vô thức của
mỗi cá thể người.
Phân tâm học đã trở thành vấn đề toàn cầu, có ảnh hưởng tích cực trong
nhiều lĩnh vực khoa học, trong đó có lĩnh vực sáng tạo và tiếp nhận văn học. Từ hệ
qui chiếu phân tâm học qua cách xây dựng tính cách và hình tượng trong tác phẩm
văn học ta thấy các nhà văn đã tự giác hoặc không tự giác, ít hay nhiều, có đề cập
đến vấn đề tâm sinh lý con người một cách đa dạng và sáng tạo nhằm minh chứng
cho lý thuyết phân tâm học.
Dưới lý thuyết của phân tâm học, tiểu luận đi vào phân tích truyện ngắn
“Đùa của tạo hóa” (Phạm Hoa) có vận dụng những khái niệm, phức cảm của phân
tâm học trong việc miêu tả và lý giải tính cách của phân tâm học.

1


NỘI DUNG

1. Những khái niệm cơ bản của phân tâm học
1.1. Khái niệm phân tâm học
Phương pháp chữa bệnh tâm thần và học thuyết tâm lí đề cao vai trò của cái
vô thức trong đời sống con người, do bác sĩ người Áo Froiđơ X. (S. Freud) đưa ra
cuối thế kỉ 19 - đầu thế kỉ 20. Về sau, phân tâm học trở thành cơ sở của chủ nghĩa
Frơt (Freudism; gọi theo cách phiên tiếng Pháp tên bác sĩ Froiđơ) - một trào lưu tư
tưởng có ảnh hưởng lớn ở Hoa Kì và nhiều nước Tây Âu - được áp dụng phổ biến
trong các lĩnh vực đời sống và văn hoá loài người; được xem là môn triết học nhân học.
Froiđơ cho rằng, hệ thống vô thức trong con người thể hiện những xung
năng, dục vọng, bản năng sống. Nội dung chính của chúng là những thèm muốn
tình dục mãnh liệt nhưng lại bị ý thức xã hội (biểu hiện bởi những cấm đoán của xã
hội) kiềm chế. Vì vậy, con người thường xuyên xuất hiện lo âu, ức chế và các trạng
thái loạn tâm thần. Có khi chúng được thoả mãn giả vờ thông qua các hình thức
mộng mị, nói nhịu, viết nhầm, vv. hoặc được thăng hoa dưới các hình thức sáng tác
văn học nghệ thuật. Họ chỉ lấy lại được thăng bằng và thoát khỏi các trạng thái
bệnh lí một khi có sự can thiệp của các bác sĩ (dùng phương pháp liên tưởng tự do
xác định nguyên nhân).
Căn cứ chủ yếu của thuyết phân tâm học là hệ thống lí luận về kết cấu tâm lí
của con người mà theo đó, tính cách con người được chia thành ba bộ phận: “bản
ngã”, “tự ngã” và “siêu ngã”. Theo phân tâm học, đời sống tinh thần của con người
luôn bị chấn động bởi các xung đột, vì vậy cần phải có những cơ chế bảo vệ để con
người thích nghi với thế giới bên ngoài. Trong cuộc sống, con người một mặt phải
nhận thức được sự dồn nén những thèm muốn trong mình, mặt khác, phải biết điều
chỉnh sự diễn biến của các quá trình tâm lí cho phù hợp với yêu cầu của những
người xung quanh, tránh những biến động xảy ra do không thể đáp ứng trực tiếp và
kịp thời những ham muốn vô thức. Lí luận cơ bản của phân tâm học có những cống
hiến nhất định cho việc nghiên cứu quá trình tâm lí và chữa trị các trạng thái loạn
tâm thần của con người, đặc biệt là phương pháp liên tưởng, cách giải thích các
giấc mộng. Nhưng khi giải thích các hiện tượng xã hội và lịch sử văn hoá, phân
2


tâm học có những sai lầm nghiêm trọng bởi đó là quan điểm của quyết định luận
sinh vật, đi ngược lại quan điểm lịch sử.
1.2 Bản năng
S.Freud cho rằng con người được sinh ra với những bản năng thuộc về vô
thức. Nó bao gồm các bản năng sống và bản năng chết.
- Bản năng sống: là sự đói khát, tình dục.
- Bản năng chết: là những bản năng hướng tới sự phá bỏ, tiêu diệt cuộc sống.
Những hành vi gây thương tích, tự hủy hoại bản than ở con người. Những hành vi


hung tính, sự nóng giận cũng là bản năng chết của con người.
1.3 Các cơ chế tự vệ.
- Sự dồn nén: kiềm chế những lo lắng lại, che giấu không để lộ ra ngoài.
- Sự phóng chiếu: chuyển những cảm xúc của mình lên người khác.(tâm sự)
- Sự chối bỏ: từ chối, ví dụ không chấp nhận những lo lắng sợ hãi đang tồn tại
trong bản thân.
- Sự thoái bộ: thoái lui về giai đoạn trước, có những hành vi thuộc lứa tuổi trước
đó ( hiện tượng trẻ con hóa).
- Sự tạo lập hành động (phản ứng): chuyển những cảm xúc ví dụ lo âu thành hành
động. ( Lo về kết quả học tập – học bài).
- Sự phá bỏ: chuyển những cảm xúc lo âu thành sự hung dữ. ( Lo về kết quả học
tập – đi uống rượu)
- Sự thăng hoa: chuyển lo âu, sợ hãi thành các sản phẩm có ích cho xã hội. ( Ví dụ:
nhà thơ Xuân Diệu chuyển cảm xúc thất tình thành thơ)
- Sự mơ mộng: thỏa mãn những mong muốn trong giấc mơ.
1.4 Tính dục ấu thơ
S. Freud cho rằng tâm lý con người phát triển qua các giai đoạn khác nhau sau đây:
- Giai đoạn môi miệng (oral stage): từ khi sinh ra cho đến 1.5 tuổi. Sự thỏa
mãn được thự hiện qua ăn uống, mút, bú mẹ. Nếu đứa trẻ trong thời kỳ này không
được thoản mãn nhu cầu này, thì nó sẽ có những cảm giác tiêu cực như tự ti, lo âu
về sự an toàn vào những giai đoạn sau của cuộc đời.

3


- Giai đoạn hậu môn (anal stage): từ 1.5 – 3 tuổi. Sự thỏa mãn được thực
hiện qua sự đi đại tiện, tiểu tiện. Thời kỳ này trẻ bắt đầu học cách kiểm soát cơ thể
và môi trường xung quanh qua việc hướng dẫn của cha mẹ, việc quy định vệ sinh
và các hoạt động giáo dục khác.
- Giai đoạn dương vật (phallic stage): từ 3 – 5 tuổi. Trong giai đoạn này có 3
mặt phát triển chính: hứng thú tình dục, phát triển của siêu tôi, mở rộng phạm vi
quá trình bảo vệ cái tôi.
- Giai đoạn tiểm ẩn (latance stage): từ 5 tuổi trở lên đến tuổi vị thành niên.
Khi này trẻ học cách thăng hoa tình yêu đối với bố mẹ, nó được thể hiện bằng sự
tôn kính.
- Giai đoạn cơ quan sinh dục ngoài (genital stage): là giai đoạn tuổi thanh
niên và sang tuổi trưởng thành, khi này cá nhân đã có thể nhận thức và ý thức hành
vi ở người lớn.
2. Cấu trúc nhân cách
S. Freud cho rằng cấu trúc của nhân cách gồm có 3 cấu thành, đó là cái Nó
(Id), cái tôi (Ego) và cái siêu tôi (Super Ego). Các cấu trúc này được hình thành và
phát triển dần tới khi con người được 5 tuổi.
- Cái ấy (id): Hệ thống này bao gồm các bản năng vô thức và thúc đẩy con người
thỏa mãn những mong muốn mà không tính tới các nguyên tắc và các quy định của
xã hội.
- Cái tôi (ego): được hoạt động, điều chỉnh (kiểm soát) bởi thực tiễn thế giới xung
quanh.
- Cái siêu tôi (superego): bao gồm ý thức và đạo đức.
Cả ba cấu thành trên được tập hợp trong một con người và chúng quy định ảnh
hưởng lẫn nhau. Cái ấy hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn. Cái tôi hoạt động
theo nguyên tắc thực tiễn và cái siêu tôi hoạt động theo nguyên tắc kiểm duyệt. Sự
mâu thuẫn tồn tại giữa cái ấy và cái siêu tôi dễ làm con người rơi vào tình trạng
căng thẳng. Để giúp cho con người có thể thoát khỏi tình trạng này, S.Freud cho
rằng cần có những cơ chế tự vệ để bảo đảm tạo ra sự cân bằng trong tâm lý của con
người.
4


2.1 Cái ấy
Trong các yếu tố của nhân cách, "cái ấy" là yếu tố duy nhất có mặt từ lúc
mới sinh ra; nó không được tổ chức, và hoàn toàn vô thức. "Cái ấy" bao gồm các
thôi thúc do bản năng vốn dẫn đến ứng xử sơ khai đối với cái đói, cái khát, tình
dục và các xung động căn bản. "Cái ấy" có tính trẻ con, ích kỷ, phi đạo đức, phi
logic, và không mang ý niệm thời gian. Là nguồn gốc của mọi năng lực tâm linh,
"cái ấy" được xem như một yếu tố chính của nhân cách và là bể chứa những libido
hay "thôi thúc bản năng để tạo ra". "Cái ấy" được lèo lái bởi nguyên tắc về vui thú
nghĩa là cố tránh sự đau đớn, phiền não và cố tìm sự thỏa mãn tức thì cho mọi ao
ước, thèm muốn và nhu cầu. Các nhu cầu ấy nếu không được làm vừa lòng sẽ
mang đến kết quả một trạng thái lo âu hay căng thẳng. Ví dụ, cảm giác đói hay
khát sẽ gây ra một cố gắng tức thì để có ăn hay uống; như các trẻ sơ sinh nếu bị đói
sẽ khóc thét cho đến khi được cho bú. Tâm trí của trẻ sơ sinh có thể xem như hoàn
toàn được điều khiển bởi "cái ấy" trong ý nghĩa nó là một khối lớn những thôi thúc
và xung động do bản năng. Tuy nhiên, việc làm thỏa mãn tức thì các nhu cầu bản
năng không luôn luôn thực tế và thậm chí không thể thực hiện. Nếu được điều
khiển hoàn toàn bởi nguyên tắc về vui thú, ta có lẽ giựt những thứ ta muốn từ tay
người khác để thỏa mãn ao ước của mình. Nhưng làm như thế sẽ gây loạn và
không được xã hội chấp nhận. Theo Freud, nếu không được thỏa mãn với nguyên
tắc về vui thú, "cái ấy" sẽ cố gắng giải quyết qua diễn trình sơ cấp vốn tạo ra một
hình ảnh tâm trí về sự vật mong muốn để thay thế cho sự thôi thúc và làm mờ đi sự
lo âu hay căng thẳng. Cái ấy chính là biểu hiện của cái di truyền, có xu hướng thỏa
mãn những nhu cầu bẩm sinh cá nhân. Cái đó chứa đựng những bản năng như: ăn
uống, tự vệ, tình dục…trong đó bản năng tình dục giữ vai trò quyết định toàn bộ
đời sống tâm lý con người, cái nó hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn. Cái ấy và
cái vô thức được ẩn dấu sâu bên trong bộ máy tâm thần cắt nghĩa cho đa số hành vi
con người.
2.2 Cái tôi
Cái Tôi là cái trung gian giữa cái ấy và cái bên ngoài. Về mặt nguồn gốc, cái
tôi được xem là một phần của cái nó nhưng đã bị tách khỏi cái nó để tiếp xúc với
cái bên ngoài. Cái tôi con người thường ngày, con người có ý thức. Cái tôi có
nhiệm vụ kiểm soát những vận động theo ý mình, đảm bảo sự tồn tại. Khi cái tôi
chống lại nó bằng cách giành quyền làm chủ nhưng đòi hỏi xung lực và quyết định
5


việc thỏa mãn hay chưa thỏa mãn những đòi hỏi của xung lực. Công việc cảu cái
tôi là làm cho ước muốn của cái nó phù hợp với cái thực tại tương ứng với môi
trường vật lý. Cái tôi bị chi phối bởi nguyên lý thực tế (hoạt động theo nguyên tắc
thực tại) vì nó làm thỏa mãn nhu cầu nào đó một cách thực sự chứ không phải là
tưởng tượng."Cái tôi" là một yếu tố được tổ chức của nhân cách và làm công việc
đương đầu với hiện thực để thỏa mãn "cái ấy" trong đường dài. Theo Freud, cái tôi
phát triển từ "cái ấy" và cam đoan rằng các xung động của "cái ấy" có thể được
biểu lộ theo cách được chấp nhận trong thế giới thực. Nó gồm có các chức năng về
nhận thức, tri thức, hành động, và tự vệ tâm lý. Cái tôi vận hành trong cả ba phần:
ý thức, tiền thức và vô thức. Ý thức nằm trong cái tôi, nhưng không phải mọi vận
hành của cái tôi đều có ý thức. Cái tôi hoạt động dựa trên nguyên tắc về hiện thực,
nghĩa là cố tìm sự thỏa mãn những ước muốn của "cái ấy" một cách thực tế và
thích hợp với xã hội. Trước khi quyết định làm hay bỏ một hành động, nguyên tắc
về hiện thực giúp ta cân nhắc giữa điều lợi và cái giá phải trả từ hành động ấy.
Trong nhiều trường hợp, những xung động của "cái ấy" có thể được làm vừa lòng
qua diễn trình thỏa mãn trễ, nghĩa là sau cùng cái tôi rồi sẽ cho phép ứng xử ấy,
nhưng chỉ trong thời gian và tình huống thích hợp. Sự căng thẳng giữa "cái ấy" và
cái tôi do những thôi thúc vô thức không được thỏa mãn (vì bị cái tôi ngăn chận)
cũng được cái tôi xả bớt qua diễn trình thứ cấp, trong đó cái tôi cố gắng tìm ra một
sự vật trong thế giới thực vốn ăn khớp với hình ảnh tâm trí được tạo ra bởi diễn
trình sơ cấp của "cái ấy".
Không giống như cái ấy, cái tôi không có sẵn vào lúc sinh ra, nhưng nó sẽ
dần dần hình thành và phát triển khi đứa trẻ tương tác với mội trường sống. Chức
năng của cái Tôi là thực hiện việc kiểm soát bản thân và hiểu biết thế giới bên
ngoài. Biểu hiện như: Trong giai đoạn đầu đời, đứa trẻ không thể phân biệt được
các sự vật, và đó là lý do chủ yếu khiến đứa bé con đang đói bụng có thể cho vào
miệng tất cả những gì mà nó có được trong tay. Đứa trẻ khi đó vẫn không có được
những cảm nhận về thế giới thực tại ở bên ngoài, và rồi trẻ sẽ phải học cách phân
biệt giữa thực tế khách quan và những hình ảnh bên trong tâm trí của nó. Cũng qua
quá trình đó, đứa trẻ sớm nhận ra rằng việc tạo nên những hình ảnh trong tâm trí
không hề giúp thỏa mãn được những nhu cầu của nó, và hệ quả là trẻ bắt đầu phân
biệt được giữa bản thân nó và thế giới bên ngoài, bắt đầu học cách tìm kiếm những
sự vật bên ngoài để phù hợp với những hình ảnh bên trong tâm trí của nó. Quá
trình này tạo điều kiện cho cái tôi tách biệt ra khỏi cái ấy và được xem là quá trình
6


đồng nhất hóa. Đây là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong lý thuyết
phân tâm.
2.3 Cái siêu tôi
Yếu tố chót được phát triển của nhân cách là "cái siêu tôi" vốn được tổ chức
để chứa đựng các tiêu chuẩn và khuôn mẫu được nhập tâm về đạo đức mà ta lãnh
hội từ bậc cha mẹ và xã hội, nghĩa là tri giác của ta về tội lỗi, về điều cấm kỵ, về
đúng và sai. Cái siêu tôi cung cấp những hướng dẫn để phán đoán, và vận hành chủ
yếu trong vô thức nhưng một phần cũng thuộc về ý thức. Theo Freud, cái siêu tôi
bắt đầu xuất hiện khi trẻ em được khoảng năm tuổi và gồm có hai nhóm: Khuôn
mẫu siêu tôi: gồm có những quy tắc và tiêu chuẩn cho các ứng xử tốt vốn gồm
những ứng xử được cho phép bởi xã hội và bậc cha mẹ. Tuân theo các quy tắc này
sẽ mang đến cảm giác tự hào, giá trị và thành đạt. Lương tâm: gồm có thông tin về
những việc được bậc cha mẹ và xã hội xem là xấu xa. Những ứng xử ấy thường bị
chỉ trích hay cấm đoán và dẫn đến những hậu quả xấu, sự trừng phạt hay cảm giác
có tội và hối hận. Có sự đối nghịch ở đây: cái siêu tôi cố sức làm cho hành động
mang tính thích hợp với xã hội, trong khi "cái ấy" chỉ muốn được thỏa mãn tức thì.
Cái siêu tôi vận hành để hoàn thiện và văn minh hóa các ứng xử của con người, để
cầm chân mọi thôi thúc khó được chấp nhận của "cái ấy", và khiến cho cái tôi hành
động dựa vào các tiêu chuẩn đạo đức thay vì dựa vào nguyên tắc về hiện thực. Cái
siêu tôi có mặt trong cả ba phần: ý thức, tiềm thức và vô thức.
Cái siêu tôi là lực lượng đối lập với cái tôi ngăn cản cái tôi trong quá trình
phát triển, kìm hãm sự thỏa mãn của cái tôi, đó là “cái Tôi lý tưởng” không bao giờ
vươn tới được và hoạt động theo nguyên tắc kiểm duyệt chèn ép. Cái siêu tôi là
một dạng thức kiểm soát từ bên trong của mỗi cá nhân. Theo quan điểm của Freud,
cái Siêu Tôi được tạo nên bởi hai thành phần, đó là lương tâm và cái Tôi lý tưởng.
Lương tâm thể hiện những điều mà một con người tin rằng mình không nên làm;
còn cái Tôi lý tưởng thì thể hiện những điều mà một con người muốn thực hiện.
Ví dụ: Khi trẻ thực hiện một hành vi phù hợp mà không có ai khác ở tại chỗ để
chứng kiến, khi ấy có sự hiện diện của cái siêu tôi. Tiến trình đồng nhất hóa cũng
quan trọng trong sự phát triển của cái siêu tôi. Những đối tượng đầu tiên trong thế
giới bên ngoài giúp thỏa mãn các nhu cầu của đứa trẻ chính là cha mẹ của nó.
Ngay từ giai đoạn phát triển đầu đời, trẻ cũng nhận ra rằng ngay cả những con
7


người quan trọng đó cũng có lúc không chấp nhận những biểu hiện từ các xung
năng của nó. Cha mẹ hành xử như những người gìn giữ kỹ cương, thông qua các
quá trình thưởng và phạt với nhiều mức độ khác nhau khiến đứa trẻ dần nhận ra
được những hành vi nào của nó là được chấp nhận và những hành vi nào là không
chấp nhận được. Khi quá trình này tiếp diễn suốt thời thơ ấu, trẻ không những nhận
được các giá trị và tập quán của cha mẹ, mà nó còn thống nhập những giá trị,
truyền thống và tập quán mà xã hội chấp nhận.
2.4

Mối quan hệ giữa các thành tố.

Toàn bộ cuộc sống con người là sự mâu thuẫn liên tục giữa 3 khối đó, khối này
chèn ép khối kia. Nhưng nổi bật nhất là cái đó và cái siêu tôi(bản năng chèn ép,
muốn khống chế ý thức, ngược lại ý thức muốn chèn ép, khống chế vô thức).
S.Freud cho rằng sở dĩ dục vọng bị đè nén là do tiêu chuẩn xã hội không cho phép
nó được thỏa mãn, nhiều khi bản năng dục vọng bị hạn chế. Tuy nhiên nó không tự
động mất đi mà vẫn tiếp tục hoạt động để cố tìm sự thỏa mãn. Theo đó thì mọi
hành vi của con người do bản năng dục vọng tri phối và điều hành. Ví dụ: xu
hướng của bản năng tình dục đã có ở trẻ con ngay từ lúc mới lọt lòng , cho nên con
trai thì thích mẹ hơn ghen bố hơn còn con gái thì ngược lại. Những ham muốn đó
có tính chất tự nhiên, di truyền trong tâm lý con người.
Với nhiều lực cạnh tranh nhau, rất dễ cho ta nhận thấy sự xung đột sinh ra
giữa "cái ấy", cái tôi, cái siêu tôi và hiện thực. Freud cho rằng cái tôi là trung gian
giữa các lực kia, tạo ra sự cân bằng giữa "cái ấy" và hiện thực (cái tôi không có
tính đạo đức ở cấp độ này) trong khi làm vừa lòng cái siêu tôi (đạo đức). Mục đích
của cái tôi là tạo an toàn cho con người chủ thể và cho phép một số ước muốn của
"cái ấy" được biểu lộ, nhưng chỉ khi các hậu quả xấu của hành động là không đáng
kể. Có thể xem cái tôi như một đầy tớ của ba người chủ khó tính. Nó phải làm hết
khả năng để phụ vụ cả ba, vì vậy luôn luôn cảm thấy bị vây quanh bởi sự nguy
hiểm do tạo ra bất mãn của các người chủ. Tuy nhiên, dường như cái tôi trung
thành với "cái ấy" hơn, có khuynh hướng bỏ qua các chi tiết nhỏ của hiện thực để
giảm thiểu xung đột trong khi giả vờ vẫn tôn trọng hiện thực. Nhưng cái siêu tôi
đang liên tục theo dõi mọi động thái của cái tôi, khuyến khích cái tôi tránh làm bậy
và trừng phạt về việc làm bậy bằng cảm giác có tội, lo âu và tự ti. Để vượt qua sự
xung đột này, cái tôi phải dùng đến các cơ chế phòng vệ tâm lý. Thuật ngữ "sức
mạnh của cái tôi" được dùng để chỉ khả năng của cái tôi trong việc đương đầu hiệu
8


quả với các đòi hỏi của các lực kia. Những người với sức mạnh của cái tôi đúng
mức sẽ có khả năng điều hòa các lực với nhau, duy trì cảm xúc ổn định, và chịu nổi
các áp lực bên trong lẫn bên ngoài. Những người kém sức mạnh của cái tôi sẽ cảm
thấy bị xâu xé, giành giựt giữa các lực cạnh tranh; còn những người mạnh quá có
thể trở nên cứng cỏi và bất khuất. Theo Freud, bí quyết để dẫn đến một nhân cách
lành mạnh là sự cân bằng giữa "cái ấy", cái tôi và cái siêu tôi.
Trong nhãn quan của Phân tâm học thì nhà sáng tạo trượt đi trong những trò
chơi, huyễn tưởng và những giấc mơ không biên giới. Người sáng tạo lao vào địa
hạt của mình như những đứa trẻ lao vào cuộc chơi của chúng, ở đó những luật lệ
riêng được thiết lập, kiến thiết nên một thế giới của cái khác kết hợp với sự tri nhận
của họ về thế giới khách quan. Cứ thế người sáng tạo thụ hưởng những lạc thú của
mình khi thế giới khác biệt không ngừng được tạo sinh. Có những ước muốn ở đời
sống trần trụi không được thỏa mãn đã sinh ra những huyễn tưởng, những mộng
mơ và từ đó sinh ra những giấc mơ ban ngày. Phân tâm học cho đó là giấc mơ khi
tỉnh, người tỉnh mộng mơ và hoang tưởng để tác phẩm được sinh ra. Tác phẩm văn
chương ra đời trong tính huyễn tưởng, trong sự chấp chới giữa vô thức, tiềm thức
và ý thức, trong sự đấu tranh giữa những ức chế bị kìm nén và sự khát khao giải
phóng những ẩn ức bị kìm nén. Những điều đó đã tạo nên suối nguồn sáng tạo,
khiến cho người sáng tạo có thể cam chịu những vết thương ở đời để được mộng
mơ, để được sáng tạo. Phân tâm học đã thực sự làm nền tảng để khai sinh ra nhiều
trào lưu nghệ thuật từ khi mới ra đời cho đến nay. Phân tâm học đã khai mở ra
nhiều chiều hướng diễn giải đối với các tác phẩm văn học, mở ra nhiều chiều
hướng để đi vào thế giới bên trong của người sáng tạo, một thế giới rộng lớn,
không rõ hình thù và biên giới, một thế giới chứa nhiều ẩn ức, thế giới của sự
chênh chao giữa ý thức và vô thức, giữa mơ và tỉnh. Trước những hiện tượng văn
học đương đại mang tính gây hấn với các phương pháp phê bình truyền thống.
3. Truyện ngắn Đùa của tạo hóa của Phạm Hoa từ góc nhìn tham chiếu Phân
tâm học.
3.1

Mặc cảm Oedipe

Trò đùa của tạo hóa (Phạm Hoa) là truyện ngắn xuất sắc về kiểu mặc cảm
Oedipe.. Mặc cảm Oedipe thể hiện ở việc bà Thuận vì quá thương con trai làm nảy
sinh sự ganh ghét với con dâu. Bà Thuận vợ đại tá Lý liệt sĩ nổi tiếng xinh đẹp và
gia giáo. Ông Lý hi sinh, bà ở vậy thủ tiết nuôi con- thằng Tuấn ăn học nên người.
9


Tình thương của bà dành hết cho thằng Tuấn, bà xem Tuấn như bấu vật của riêng
mình, chính vì lẽ đó mà bà nảy sinh lòng ghen ghét đến nỗi oán hận Loan-cô gái
làng Đông mà bà dày công kén chọn cho Tuấn. Bà đã mơ hồ nhận thấy việc mất
thằng Tuấn từ khi chúng yêu nhau. Đi đâu về là nó nhào xuống làng Đông. Bà
không còn được vuốt má, vuốt đầu con. Và thằng Tuấn cũng không có bụng dạ nào
nhổ tóc sâu cho mẹ. Nó cũng không có thì giờ để nói chuyện hoặc nhìn thẳng vào
mắt mẹ âu yếm, tươi cười lấy một lần. Nỗi oán hận của bà Thuận càng ngùn ngụt
hơn khi Loan chính thức bước về làm dâu nhà bà. Bà đã thực sự mất thằng Tuấn ,
nó đã vụt khỏi tầm tay của bà. Chúng cứ quấn lấy nhau, bất luận là ngày hay đêm,
không thèm đếm xỉa đến bà. Nhưng cái điều tai hại nhất là bà lo sợ con Loan sẽ
làm thằng Tuấn kiệt sức, thậm chí nó sẽ giết chết con bà bởi những đòi hỏi ham
muốn xác thịt của “ lỗ thủng không đáy” đó là không giới hạn. Sau đêm tân hôn cả
ba đều …xác xơ. Tuấn, Loan xác xơ vì cả đêm vật lộn, cấu xé đầy mê đắm. Còn bà
Thuận xác xơ vì cả đêm không ngủ mường tượng ra cái cảnh Tuấn đang vắt kiệt
sức mình cho Loan. Lòng ghen tỵ trỗi dậy trong con người bản năng của bà.
Những suy nghĩ bệnh hoạn đã bào mòn thân thể bà Thuận, cướp đi vẻ ngoài đạo
mạo tươi tỉnh và xinh đẹp của người phụ nữ một thời được ca ngợi, bà trở nên gầy
guộc đen đuổi, đôi mắt trở nên ma quái nó cứ sáng rực lên đêm đêm. Đôi mắt của
lòng hận thù, của sự đố kị ghen ghét, tận cùng của giới hạn chịu đựng, bà Thuận
đánh mất ý thức, để cho cái vô thức (libido) chi phối hành động: bà đuổi Tuấn,
Loan ra khỏi nhà, Tuấn van xin bà tha thứ, nhưng không xong: hoặc là Tuấn, hoặc
là xéo tất cả. Họ đành phải ra đi trong đêm thăm thẳm. Họ ở giữa thiên nhiên nhân
hậu ấm áp, nhưng sao thiếu vắng tình thương của con người! Bà Thuận kết cục
cũng là một bi kịch- bi kịch tuy không phải dai dẳng và không phải là tất cả, nhưng
là bi kịch khắc nghiệt do “trò đùa của tạo hóa’ trong nghịch cảnh trớ trêu mà bà
phải trải qua.
3.2

Bản năng tính dục

Khát khao luyến ái là một nhu cầu không thể thiếu của con người. Khát khao ấy
càng mãnh liệt hơn một khi con người dồn nén nó trong một thời gian dài. Bà
Thuận góa chồng từ rất lâu, người ta vẫn khen bà trong sạch thủ tiết với chồng.
Nhưng để có được điều này thật không dễ dàng gì, bà Thuận đã vật vã ôm gốc cột
khóc lóc đi qua dòng sông dục tình cuồn cuộn của tuổi tái xuân rực rỡ.

10


Ông Lý hi sinh để lại trong lòng bà Thuận một nỗi trống vắng không gì bù đắp, bà
còn trẻ và đẹp lắm. Nhưng ngoại tình thì nhất thiết là không rồi! Những đam mê
luyến ái, cái tuyệt diệu của tạo hóa nào buông tha cho bà. Khát khao luyến ái đó
hiện nguyên hình trong những giấc mơ của bà. Bà mơ thấy ông Lý “Cả khối người,
hai vòng tay, đùi ngực va chạm, xoắn xiết lấy nhau. Bà tận hưởng cái tuyệt diệu
của tạo hóa: cứng và mềm, rắn và nhũn, tung và hứng, trên và dưới, tấn công và bị
động…”. Rõ ràng ngoài thì đạo mạo và thủ tiết nhưng tận sâu trong đáy lòng bản
năng tình dục , sự thèm khát tình dục đã thúc bách bà Thuận tìm đến những cuộc
làm tình…trong mơ với ông Lý. Freud khẳng định rằng tất cả các giấc mơ đều có
một ý nghĩa, là sự thực hiện những ham muốn. Cái gây ra giấc mơ là nội dung tiềm
ẩn hoặc bị dồn nén và vô thức của nó.
Chưa hết ở cái tuổi tái xuân rực rỡ khát khao ấy càng mãnh liệt hơn. Chính
cái lão Hoành thợ đấu, tay vo miệng lốm, mặt thì xấu, đầu óc lại đần độn suýt ..làm
bà Thuận không giữ được tiết hạnh. Bản năng thôi thúc, giữa đêm hôm bà Thuận
tìm đến nhà lão Hoành, tiếng sáo vi vu dìu dặt da diết một cách kì lạ. Cái mùi đàn
ông trong cơ thể sến lim của lão bốc lên, bà bối rối ngất ngây, mùi đàn ông quen
thuộc, bà nhớ quay quắt, thậm chí đang khổ sở vì nó đây. Thế nhưng phút giây đê
mê, ngất ngây đó của cái đó (libido) không lâu , bản lĩnh và đức hạnh bà đã lên
tiếng, ý thức đã thắng vô thức, bà bước từng bước dứt khoát ra khỏi nhà lão Hoành.
Đó là lần thắng thứ nhất. Lần thứ hai, là sáng hôm sau lão Hoành đến nhà bà sửa
mái nhà. Mùi con đực chính cống cứ phảng phất bên cạnh đầy mê hoặc. Một lần
nữa bản năng tình dục không cho bà ngồi yên định một chỗ. “ bà cầm tay lão rất tự
nhiên đến vô ý thức. Chỗ này này. Rồi bà kéo gã vào sâu nữa gian trong. Nơi tối
tăm và sực mùi ẩm mốc, mùi gỗ mọc. Vai bà chạm phải lão. Sự đụng chạm ít ỏi
khiến bà thở dốc! Vú bà chợt quệt vào cùi tay lão Hoành. Cái cùi tay rắn như sắt ấy
tạo một sự dễ chịu. Cái vô thức(libido) điều khiển bà Thuận, dục tình cuồn cuộn
khiến bà chỉ muốn buông thả theo dòng nước, chỉ muốn thỏa mãn những khát khao
bấy lâu nay kìm nén “hơi thở ngợp trong lồng ngực. Hình như lão Hoành ngửi thấy
cái mùi ấy. Mùi con mồi chín nẫu. Lão quay lại cười nhăn nhở: cho rờ cái! Nhưng
cũng như lần thứ nhất, dẫu cái đó có sức mạnh đến đâu, những ham muốn xác thịt
có lớn như thế nào thì vẫn không thắng được cái tôi đầy đầy tỉnh táo, lí trí. Bà
Thuận sực tỉnh khỏi cơn mê : “ấy chết…đừng có vớ vẩn”. Bà Thuận đã kiềm chế
bản thân, giữ cho mình trong sạch, âu đó cũng là bản lĩnh đáng khâm phục của bà
trước sức mạnh của dục tình. Viết về trường hợp này tác giả muốn khẳng định: tình
11


dục là bản năng của con người, con người không tránh khỏi niềm khát khao luyến
ái, ham muốn chuyện xác thịt. Nhưng con người cần phải biết điều tiết để phù hợp
với hoàn cảnh thực tại, và phù hợp với đời sống tâm lí của bản thân. Không thể
sống buông thả một cách dễ dãi, nói cách khác cần phải có sự hòa hợp giữa ý thức
và vô thức.
Tác giả còn tập trung xây dựng bản năng khát dục qua hai nhân vật Tuấn và
Loan. Họ là những người trẻ tuổi, một cao lớn đẹp trai, có học thức, một xinh đẹp,
duyên dáng nết na. Họ đã chết vì nhau từ phút đầu tiên “tình yêu của tuổi trẻ là như
vậy. Nó bốc cháy tự nhiên và được thừa nhận từ phút đầu.” Sau này Loan đã thú
nhận “em yêu anh ngay từ lần gặp đầu tiên” Tuấn cũng thế! Tình yêu gắn liền với
tình dục. Quả đúng như thế! “Họ vùi người vào nhau. Tuấn tận hưởng sự thơm tho
tuyệt vời của trái đời dành riêng cho anh. Hôn lên mặt ,lên mắt, lên tóc, vào gáy,
vào ngực. Như thế cũng chưa thỏa, anh muốn đi đến tận cùng của những bí ẩn
trong tình yêu và tình dục, Loan cũng đắm say và mãnh liệt, nhưng hóa ra cô lại
tỉnh táo hơn Tuấn, khi biết dừng lại để cảnh cáo vì những đòi hỏi vượt ngưỡng của
anh. Họ để dành cho đêm tân hôn. Quả thật đêm tân hôn là sự bùng nổ của cảm
xúc, của ham muốn tột đỉnh. Qua sự mường tượng của bà Thuận, Tuấn và Loan có
một đêm tuyêt vời. Họ xoắn lấy nhau, vật lộn, cấu xé “tiếng vật mình, tiếng hổn
hển. Tiếng quật chân thình thịch. Tiếng thở dài khác thường”. Họ đã chờ đợi giây
phút này quá lâu rồi, khi đã thuộc về nhau thì họ đã đi đến tận cùng của khoái lạc.
Và kết quả là sáng hôm sau cả hai đều vui vẻ nhưng xác xơ, kiệt sức, thân thể họ
vơi đi đến một nữa. Thế cũng chưa đủ “ tếch một cái, chúng đã vào buồng hoặc
xuống bếp, quấn lấy nhau, vồ vập cấu véo…chúng đã tụt quần áo, lõa lồ bên nhau,
hú hí thỏa thuê.” Bản năng tình dục khiến họ cứ quấn lấy nhau, bất kể ngày hay
đêm, bất kể bà mẹ già đang hao mòn xác xơ vì lo lắng.
Dẫu bà Thuận đã từng khuyên răn Tuấn chuyện gối chăn phải điều độ,
nhưng Tuấn không nghe, bà cũng đã mắng té tát vào mặt Loan “mày đừng có mà
giết thằng Tuấn”, Loan cũng chả để ý. Họ lại lao vào yêu nhau như điên như dại.
Hãm làm sao được cơn khát tình đang hừng hực cháy trong lòng họ? Không giống
như bà Thuận, phải kìm nén, ép xác để giữ gìn danh tiết, còn Tuấn và Loan không
cần phải giữ gìn, họ để tình yêu thăng hoa lên tột đỉnh. Cái đó của họ quá mãnh
liệt, chính điều đó làm tình yêu của họ nồng nàn hơn.

12


Câu chuyện kết thúc gợi cho người đọc suy nghĩ nhiều về tình yêu và tình
dục. Tình dục rõ ràng không có lỗi, có chăng là con người phải biết điều tiết để nó
phù hợp với hoàn cảnh, với sinh lý của bản thân. Không ai phủ nhận sức mạnh và
vai trò của tình dục trong cuộc sống, nó là món quà của cuộc sống, nếu biết tận
hưởng con người sẽ hạnh phúc, còn nếu quá lạm dụng hay không biết cách nó sẽ
biến thành bi kich để khi nghĩ về nó người ta chỉ ghê sợ, khinh bỉ.

13


KẾT LUẬN
Qua việc tìm hiểu truyện ngắn Đùa của tạo hóa dưới góc nhìn của phân tâm
học, ta thấy việc nhà văn vận dụng các yếu tố của phân tâm học làm cho quá trình
phân tích tâm lý, tính cách nhân vật có chiều sâu và đạt đến trình độ hiện đại hơn,
đặc biệt là trong lĩnh vực tâm lý và sự sống thật của con người giúp rút dần khoảng
cách giữa tác giả và nhân vật, giữa nhân vật và người đọc.
Trong không khí hội nhập của thời hiện đại và đương đại có thể nói phân
tâm học có điều kiện phát triển khẳng định vai trò của mình trong đời sống tâm
sinh lý của con người. Trong lĩnh vực văn học, phân tâm học được vận dụng đa
dạng có sự cách tân đáng kể để phù hợp với con người cá nhân cá thể trong ý thức
sáng tạo của nhà văn. Đặc biệt phân tâm học góp phần tạo ra tính hiện đại cho
truyện ngắn Việt Nam trong giai đoạn sau 1975. Và nó đang tiếp tục hướng về
đường chân trời với những tìm tòi và thành tựu mới./.

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×