Tải bản đầy đủ

Tác phẩm cánh đồng bất tận nhìn từ phân tâm học

Tác phẩm Cánh đồng bất tận nhìn từ lý thuyết phân tâm học
------------------------------------------------------------------------

MỞ ĐẦU
Phê bình phân tâm học là một trường phái nghiên cứu văn học rất phát
triển ở phương Tây đầu thế kỷ XX. Tuy vậy, nguồn gốc của phân tâm học lại
không phải xuất phát từ các lí thuyết nghiên cứu văn hóa - văn học mà là từ
chuyên ngành tâm lí, tâm bệnh học của bác sĩ người Áo S. Freud. Những phát
hiện về tính dục và mặc cảm Oedipe của Freud đã thu hút được sự chú ý của
nhiều nhà nghiên cứu nhân văn lúc bấy giờ. Tiếp nhận ảnh hưởng từ Freud,
một môn đệ xuất sắc của ông đồng thời cũng là người sớm ly khai để đẩy
phân tâm học rẽ sang một hướng khác - nhà tâm lí học phân tích Thụy Sỹ K.
Jung, đã là người kéo phân tâm học tách khỏi bệnh lí học và hòa đồng lí
thuyết này vào trong môi trường khoa học xã hội - nhân văn. Lí thuyết về cổ
mẫu (archétype) như là cốt yếu của tâm lí học các chiều sâu, yếu tố nền tảng
của vô thức tập thể thực sự đã tạo nên một cú huých đáng kể trong nghiên cứu
phê bình văn học. Từ nền tảng lí thuyết của hai nhà bác học này, phân tâm học
đã phát triển thành rất nhiều hướng nghiên cứu, từ nghiên cứu văn hóa với
tâm bệnh học tộc người (G. Devereux), phân tâm học và Thiền (E. Fromm),
phân tâm học và folklore (V. Dundes) đến các nghiên cứu về chủ đề (Ch.
Mauron, G. Bachelard), nghiên cứu tác giả, tác phẩm (M. Bonapart, J. Delay,

J. Bellemin-Noel), người đọc (N. Holland),… trong nghiên cứu văn học.
Trong xu thế ấy, phân tâm học văn bản được ra đời như một sự cộng sinh giữa
trường phái cấu trúc - kí hiệu học Pháp với phân tâm học. Người khai sinh ra
nó là J. Lacan với nhận định nổi tiếng: “Vô thức được cấu trúc như một ngôn
ngữ”.
Ở Việt Nam, phê bình phân tâm học được biết đến khá sớm, ngay từ
những năm 30 của thế kỷ trước trong phê bình của Trương Tửu và Nguyễn
Văn Hanh. Phương pháp này hầu như vắng mặt sau năm 1945 ở miền Bắc bởi
sự thống ngự của phê bình xã hội học marxit, vốn rất kì thị phân tâm học. Ở
miền Nam, cũng có một số tác giả quan tâm đến phê bình phân tâm học, dịch,
giới thiệu, ứng dụng như Vũ Đình Lưu, Nguyễn Văn Trung, Đàm Quang
Thiện, Thanh Lãng. Khi đất nước thống nhất, dưới định hướng lí luận marxit,
phân tâm học lại trở nên vắng bóng trong đời sống văn học cả hai miền. Chỉ
sau Đổi mới (1986), cùng với xu thế dân chủ hóa văn học, phê bình phân tâm
học mới nảy nở trở lại. Và Đỗ Lai Thúy là người tiếp tục sau những đứt đoạn
ấy. Cùng với chuyên luận Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực, tập tiểu luận
chuyên đề Bút pháp của ham muốn là những thám sát đáng kể của Đỗ Lai
Thúy trong lĩnh vực này.

1


Tác phẩm Cánh đồng bất tận nhìn từ lý thuyết phân tâm học
------------------------------------------------------------------------

Từ sau năm 2000, hàng loạt các tác giả trẻ đã có những sáng tác để lại
tiếng vang trên văn đàn của Việt Nam bằng các tác phẩm ít nhiều chứa yếu tố
bản năng tính dục-một trong những yếu tố chủ yếu của nghiên cứu phân tâm
học của S.Freud. Có thể kể đến đó là Truyền thuyết quán tiên (Xuân Thiều),
Đùa của tạo hoá (Phạm Hoa), Vũ điệu của cái bô (Nguyễn Quang Thân),
Bóng đè (Đỗ Hoàng Diệu), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư),…
Trong tiểu luận này, chúng tôi quan tâm đến tác phẩm Cánh đồng bất
tận của Nguyễn Ngọc Tư và dùng lý thuyết phân tâm học để tìm hiểu về tác
phẩm như một phương tiện, một cách tiếp nhận.

2


Tác phẩm Cánh đồng bất tận nhìn từ lý thuyết phân tâm học
------------------------------------------------------------------------



NỘI DUNG
I. LÝ THUYẾT PHÂN TÂM HỌC
1. Phân tâm học của S.Freud
Thuật ngữ “phân tâm học” do Sigmund Freud đặt ra vào năm 1896.
Thời gian đầu, đó chỉ thuần tuý là một khoa học và là một phương pháp trị
bệnh, sau, ảnh hưởng lan rộng sang địa hạt văn học, trở thành một phương
pháp phê bình. Với tư cách là một phương pháp phê bình, phân tâm học xem
tác phẩm văn học như một thế giới huyễn tưởng trong đó, nhân vật có đời
sống riêng, với những quy luật tâm lý riêng. Tất cả mọi chi tiết được mô tả
trong thế giới huyễn tưởng ấy đều được xem là những biểu tượng phản ánh
những ước muốn âm thầm cũng như những dồn nén trong vô thức của tác giả.
Xin lưu ý, với các nhà phân tâm học, ‘vô thức’ không phải là sự thiếu vắng ý
thức mà là một cõi riêng, một phần riêng trong cấu trúc tâm thức của con
người, nơi chứa đựng những xung lực có tính bản năng và những ước mơ
không thể thực hiện được, thậm chí, không thể chấp nhận được trong một xã
hội được xem là văn minh. Những xung lực và những ước mơ bị dồn nén này
không ngừng tìm cách trồi lên vùng ý thức dưới nhiều hình thức nguỵ trang
khác nhau và qua nhiều cách thức khác nhau, trong đó, những cách thức phổ
biến nhất là nói tục, nói nhịu và đặc biệt, các giấc mơ. Các nhà phân tâm học
xem giấc mơ như cửa ngõ chính dẫn vào thế giới vô thức. Các nhà phê bình
theo khuynh hướng phân tâm học xem tác phẩm văn học y như một giấc mơ:
nếu giấc mơ là một sự hoàn thành trá hình những ước muốn bị dồn nén của
con người, tác phẩm cũng chỉ là hình thức thăng hoa của các ẩn ức từ trong vô
thức và từ thời thơ ấu.
Hoạt động của giấc mơ - cũng như của tác phẩm văn học – có thể được
tóm gọn vào hai quá trình chính, “dồn nén” và “hoán vị”. Trong quá trình
“dồn nén”, vô số các ước mơ, các ẩn ức và các mặc cảm khác nhau sẽ được
kết tập vào một hình thức biểu hiện nhất định, sau đó, hình thức biểu hiện này
sẽ được nguỵ trang, tức được hoán chuyển sang một hình thức khác phù hợp
với các quy ước đạo đức và văn hoá của xã hội. Hai quá trình “dồn nén” và
“hoán chuyển” này tương tự hai cấu trúc “hoán dụ” (dồn nén ý nghĩa lại theo
nguyên tắc tương đồng) và “hoán dụ” (hoán chuyển ý nghĩa này sang ý nghĩa
khác theo nguyên tắc tương cận) mà Roman Jakobson đã phát hiện như hai
cái trục chính trong sinh hoạt ngôn ngữ nhân loại. Chính vì sự tương tự này,
Jacques Lacan đã đi đến một kết luận nổi tiếng: “vô thức cũng được cấu trúc
như ngôn ngữ.” Với công thức này, Lacan trở thành một đại biểu của phân
3


Tác phẩm Cánh đồng bất tận nhìn từ lý thuyết phân tâm học
------------------------------------------------------------------------

tâm học theo khuynh hướng cấu trúc luận. Tuy nhiên, sau đó, ông đã đi xa
hơn về hướng hậu cấu trúc luận khi ông không dừng lại ở hai trục ẩn dụ và
hoán dụ mà còn cho ngôn ngữ được hình thành từ những cái biểu đạt
(signifiers) hơn là các ký hiệu (signs) với những ý nghĩa cố định. Ví dụ, nếu
chúng ta nằm mơ thấy một con ngựa; con ngựa ấy sẽ không phải là một ký
hiệu theo ý nghĩa mà Ferdinand de Saussure thường dùng, mà nó chỉ là một
cái biểu đạt từ đó, chúng ta có thể diễn dịch ra nhiều cái được biểu đạt, tức
nhiều ý nghĩa khác nhau. Vô thức, bởi vậy, với Lacan, là một chuỗi vận động
liên tục của các cái biểu đạt, ở đó, những cái được biểu đạt thường bị đèn nén,
không vươn lên tầm ý thức được. Bị tác động bởi vô thức, chúng ta sẽ không
bao giờ nói được hoàn toàn đúng những gì chúng ta muốn nói: mọi diễn ngôn
đều ít nhiều mang tính nói nhịu, do đó, mơ hồ, hơn nữa, hàm hồ. Ý nghĩa luôn
luôn là cái gì dở dang, lẫn lộn giữa những yếu tố có tính truyền thông và
những yếu tố phi truyền thông, vừa sáng rõ vừa tăm tối, vừa ngỡ như có thể
nắm bắt được lại vừa phấp phới bay ra xa. Quan niệm này dẫn dến một quan
niệm khác về ngôn ngữ: giống các nhà cấu trúc luận khác, Lacan tin ngôn ngữ
là cái gì không hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của cá nhân: ngôn ngữ có
trước chúng ta, luôn luôn có sẵn ở đâu đó để chờ đợi chúng ta. Ðiều này có
nghĩa là vô thức không phải được cấu trúc như ngôn ngữ mà còn là sản phẩm
của ngôn ngữ. Ðây chính là một trong vài sự khác biệt lớn nhất giữa Lacan và
Freud: Trong khi Freud nhấn mạnh vào các yếu tố sinh lý, Lacan nhấn mạnh
vào yếu tố ngôn ngữ: với ông, không có bất cứ một chủ thể nào độc lập với
ngôn ngữ. Trong khi Freud quan tâm một cách đặc biệt đến mối quan hệ giữa
bản tính tự nhiên và văn hoá, ở đó, theo ông, ưu thế sẽ thuộc về văn hoá,
Lacan quan niệm cái gọi là bản tính bẩm sinh là cái gì không thể nhận diện
được trọn vẹn vì nó luôn luôn bị ảnh hưởng bởi cái ngôn ngữ mà chúng ta sử
dụng: với ông, con người vừa không bao giờ có thể được định nghĩa trọn vẹn
lại vừa không thể trốn thoát được các định nghĩa: mỗi người luôn luôn ở trong
quá trình tự tìm chính mình. Sự khác biệt này lại dẫn đến một khác biệt khác
nữa Trong khi Freud hay nói đến bản năng và những xung lực từ vô thức,
Lacan lại hay nói đến những ước mơ: với ông, ước mơ là cái gì có tính bản
thể luận, một cuộc đấu tranh nhằm vươn lên cái toàn thể hơn là gắn liền với
những xung lực tính dục. Mọi ước mơ đều gắn liền với sự thiếu hụt. Ngay
chính ngôn ngữ con người cũng hoạt động trên sự thiếu hụt ấy: điều kiện để
từ ngữ có ý nghĩa là sự vắng mặt của cái được biểu đạt và sự loại trừ vô số
những cái biểu đạt khác.

4


Tác phẩm Cánh đồng bất tận nhìn từ lý thuyết phân tâm học
------------------------------------------------------------------------

Lý thuyết phân tâm học thay đổi, phê bình dưới nhãn quan phân tâm
học cũng thay đổi theo. Thoạt đầu, các nhà phê bình phân tâm học ‘cổ điển’
xem tác phẩm như một biểu hiện hoặc một phản ánh vô thức, do đó, cho công
việc chính của phê bình là phân tích văn bản để nhận diện những gì giấu kín
trong vô thức của tác giả. Sau, phần lớn xem tác phẩm như một công trình sản
xuất, một thứ production, hơn là product, ở đó, nhiệm vụ chính của nhà phê
bình không phải là ‘đọc’ cái văn bản có sẵn mà là cố gắng khám phá quá trình
hình thành của văn bản, không phải tìm xem văn bản nói cái gì mà là nhằm
phát hiện văn bản ấy được tạo dựng như thế nào. Trong công việc khám phá
và phát hiện ấy, nhà phê bình cần chú ý đến những ‘triệu chứng’ tương đối bất
bình thường như những sự bóp méo, sự vắng mặt hay sự lặp lại… của một số
yếu tố nào đó trong văn bản. Trước, người ta chỉ tập trung truy nguyên diện
mạo vào tác giả; sau, từ thập niên 1950, một số nhà phân tâm học chuyển
hướng phân tích từ tác giả sang độc giả. Theo Norman Holland, nguồi suối
của mọi niềm vui do văn học mang lại là, qua việc đọc tác phẩm - một hế
thống được mã hoá, chúng ta có thể hoán chuyển những ước muốn từ vô thức
thành những ý nghĩa văn hoá mà mọi người có thể chấp nhận được. Ðọc, như
vậy, với Holland, trước hết và trên hết, là một hành động tái tạo bản sắc của
chính độc giả. Trong công việc tìm hiểu tác giả, trước, người ta chỉ tập trung
vào vô thức cá nhân; sau, dưới ảnh hưởng của Carl Jung, người ta còn quan
tâm đến cả vô thức tập thể, từ đó, dẫn đến lý thuyết phê bình cổ mẫu
(archetypal criticism), như một bước phát triển lệch hướng của Phê Bình Mới,
với đại biểu chính là Northrop Frye. Bên cạnh đó, Harold Bloom dùng lý
thuyết về mặc cảm Oedipus của Freud để hình dung lịch sử văn học như một
cuộc “đấu tranh” giữa các thế hệ cầm bút: người nào cũng lo lắng và nung nấu
khát vọng thoát khỏi cái bóng của một bậc tiền bối hay đàn anh nào đó mà
mình ái mộ. Theo Bloom, bất cứ bài thơ nào cũng có thể được đọc như một
nỗ lực thoát ra khỏi ảnh hưởng của những bài thơ được sáng tác trước đó; nói
cách khác, mọi bài thơ đều được viết lại từ những bài thơ khác; ý nghĩa của
một bài thơ, do đó, là một bài thơ khác.
2. Tâm thần bộ trong phân tâm học của Freud
S.Freud cho rằng cấu trúc nhân tính hay ngã tính của con người gồm 3
phần: Bản năng (id), Ngã tính (ego) và Siêu ngã (superego). Bản năng được
xem là cội nguồn nhân tính của con người. Ở đó tích luỹ các nguồn năng
lượng và cung cấp năng lượng cho các hoạt động tâm lí như ý thức (ego) và
siêu thức (superego). Khi nguồn năng lượng gia tăng, khiến cho bản năng
5


Tác phẩm Cánh đồng bất tận nhìn từ lý thuyết phân tâm học
------------------------------------------------------------------------

bùng phát mạnh tạo thành những cú sốc (choc) tâm lí khó chịu, căng thẳng,
bực tức… Ngược lại, sự giải toả các căng thẳng và quy giảm năng lượng trở
về trạng thái ổn định, thư giãn … là con đường đưa đến phaans khích, khoái
lạc. Do đó, Freud cho rằng con người sinh ra với bản năng thuộc về vô thức,
đó là bản năng tình dục hay bản năng sống(Eros-Libido) và bản năng chết
(Thanatos). Bản năng tình dục là cội nguồn, là năng lượng kich thích tình dục
chi phối đời sống nội tâm. Nó vừa là sự phát triển tình dục ở người lành mạnh
vừa được mở rộng đến các hoạt động khoa học, mỹ thuật của cá nhân, lại vừa
là căn nguyên của bệnh lí. Freud cho rằng trong đời sống tâm thần cá nhân
luôn có sự xung đột giữa cái đó và cái tôi. Từ sự xung đột ấy, xảy ra 3 trạng
thái khác nhau: 1) Nếu cái đó thắng cái tôi sẽ xảy ra sự suy đồi tình dục, 2)
Nếu cái tôi thắng cái đó sẽ xảy ra tình hình bình thường, 3) Nếu cái đó và cái
tôi thoả hiệp sẽ sinh ra triệu chứng của bệnh tâm thần.
3. Các dạng mặc cảm trong phân tâm học của Freud
S.Freud thừa nhận rằng phân tâm học là lý thuyết về vô thức qua hàng
loạt khái niệm như: mặc cảm tính dục ấu thơ, Mặc cảm Oedipe và Mặc cảm
hoạn.
Mặc cảm tính dục ấu thơ, theo Freud, con người có từ khi vừa mới sinh
ra. Nó quy định cư xử của con người cho đến lúc già.
Mặc cảm Oedipe à nhấn mạnh đến motip giết cha lấy mẹ của Oedipe và
ông cho rằng mỗi cá nhân đều có những ham muốn như Oedipe và run sợ
trước những ham muốn ấy. Mặc cảm này có ở người lớn chẳng qua là sự lặp
lại cảm giác đó ở đứa trẻ. Ông cho rằng đối tượng tính dục đầu tiên của đứa
bé là bâu vú mẹ, sau đó, thay bú tay, nó mút tay, dùng mồm cũng như hậu
môn là những cách tự thoả mãn. Đến lúc nó bỏ tự thoả mãn, thay đối tượng từ
thân thể mình bằng đối tượng bên ngoài mình, khi ấy đứa bé đồng nhất hoá
những đối tượng khác nhau trong hình ảnh của người mẹ.
Mặc cảm hoạn: mặc cảm Oedipe liên quan chặt chẽ đến mặc cảm khác
là mặc cảm hoạn, một phản ưng đối với những sự bó buộc do người cha đưa
ra để ngăn cản những biểu hiện tính dục ở đứa con trai. Mặc cảm này, theo
Freud lí giải có thể đã xuất hiện từ thời con người còn sống thành bầy đàn.
Freud nói đến việc cấm chỉ loạn luân gắn liền với việc lấy vợ ngoài thị tộc,
sinh ra tục thờ Totem. Mặc cảm này có liên quan đến việc cắt da quanh qui
đầu vào thời đồ đá cũ đối với tất cả các chàng trai ở độ tuổi dậy thì. Đối với
6


Tác phẩm Cánh đồng bất tận nhìn từ lý thuyết phân tâm học
------------------------------------------------------------------------

các cô gái thì cảm thấy thiếu dương vật nên thường cảm thấy ganh tị, kém cỏi
hơn so với con trai. Cũng cần nói thêm từ hoạn cũng thường gợi lên một sự
mất mát, tổn thương, xâm phạm đến tính toàn thể của cơ thể.
II. TÁC PHẨM CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN NHÌN TỪ LÝ THUYẾT
PHÂN TÂM HỌC
1. Thế giới nhân-vật-tính-dục-bản-nguyên
Người vợ của Út Vũ, "người đàn bà có cái cười làm lấp lánh cả khúc sông"
thường "thở dài khi tắm, khi nước trôi dài trên làn da trắng như bông bưởi"
trong những ngày dài chồng đi chuyến. Và rồi một ngày, chị đã "oằn uốn
người" dưới tấm lưng của người đàn ông bán vải dạo. "Họ cấu víu. Vật vã.
Rên xiết".
Người đàn bà Bàu Sen, người đàn bà bị chồng bỏ để đi theo vợ bé, "ba
năm vắng bóng đàn ông", "một mình nhìn gương, tự ve vuốt và yêu lấy
mình"… Giữa mùa đại hạn ấy, một buổi chiều, anh thợ mộc Út Vũ như cơn
mưa rào bất chợt đến. Chiêm ngưỡng trộm cảnh Út Vũ tắm, "nước mỏng tang
tràn qua những thớ thịt đỏ au", "chị chợt giật thót người, cài vội chiếc nút áo
bung ra vì không chịu nổi đôi vú căng tức". Chiến dịch giữ chân con mồi bắt
mắt được thực hiện. Chị không để ý gì nữa, "chị đang ưng bụng, ngây ngất
tràn trề trong mắt". Rồi những lúc "bưng nước ra", những lúc "kêu nghỉ tay ăn
bánh, anh thợ à" là "tiếng bào trượt trên ván ọt ẹt ngừng lại, buổi trưa im
phắc. Và đống dăm bào bị dẫm tạo ra âm thanh lạo xạo lao xao lào xào".
Và "chị đĩ". Sau chuỗi ngày bướm chán ong chường, vẫn "cần nhiều hơn,
nhiều hơn, nhiều khủng khiếp, tưởng như chị có thể ngốn ngấu, bào mòn tất
cả đàn ông trên thế gian này. Lúc đầu là kiếm sống, nhưng lâu dần, sự chung
đụng của thể xác làm chị nghiện". Ngày đầu dừng chân nơi quán trọ Út Vũ,
chị bị hớp hồn bởi "người đàn ông đang vồng lưng trong nắng sớm", "đẹp trai
dễ sợ". Chị "tìm mọi cách để sà vào". Và rồi trong cái chòi nhỏ trên bờ, nơi có
người đàn ông tuổi tứ tuần ấy, phát ra "tiếng sột soạt rạo rực" khi chị táo tợn
tách hai đứa nhỏ cùng chiếc ghe để lên đó. Rồi "Chị bước ra khỏi chòi, khoan
khoái vươn vai. Sự ưng ý, mãn nguyện lấp lánh trên khoé mắt. Khuôn mặt chị
tràn ngập ánh sáng". "Rồi chị giành nấu cơm. Chị xoắn tay áo lên hì hụi thổi
lửa (...). Trông chị như bà vợ tảo tần".
Đến lượt, trước "chị đĩ", trước những đưa đẩy lả lơi đầy chủ ý của chị, bản
năng tính dục nơi hai người đàn ông cán bộ ấp xã đã bùng phát. "Một người
nuốt nước miếng, ánh nhìn ham muốn như mũi kim thò ra khỏi bọc, lơ láo.
Mắt ông ta lột trần chị".
7


Tác phẩm Cánh đồng bất tận nhìn từ lý thuyết phân tâm học
------------------------------------------------------------------------

Rồi trước nhân vật "tôi", một đứa con gái mới lớn với vẻ đẹp trời phú,
những người đàn ông không ngăn nổi cái nhìn thèm khát. "Bằng mắt, họ sờ
soạng khắp người tôi. Ánh mắt giống bàn tay của ông xẩm mù mà tôi từng
gặp, đụng chỗ nào cũng dừng lại, vuốt vuốt bóp bóp (chắc là cho dễ hình
dung), rồi lần dò tới một chỗ khác, rờ nắn mê miết". Và sau cuối, lũ thằng
Hận đã từ "ngỡ ngàng" "thảng thốt" đến "lau dãi ròng rãi trên khoé miệng" và
sau cuối "ghì ngửa trên mặt ruộng bì bõm nước" "con nhỏ đẹp quá"...
Dục tình là một phần tất yếu của cuộc sống. Phần chìm vô thức này như
khối nham thạch luôn chờ cơ hội để trào vọt. Năng lượng Libidô là xung năng
tạo nên sự sống ở mỗi người. Nhu cầu thỏa mãn tình dục của con người là nhu
cầu rất người. "Kiểu yêu tinh thần để nhìn nhau, để nắm tay, vuốt tóc, để nín
nhịn và hy sinh chỉ tồn tại trong văn chương". "Dục tình và xác thịt không xấu
xa, không đáng bị khinh bỉ". Tuy nhiên nếu con người cứ hồn nhiên để cái
ấy (id) vô tư chiến thắng cái tôi (ego) thì hậu quả thật khôn lường. Với người
vợ Út Vũ, đó là chị phải ra đi, "để bi kịch chất đống lên những người ở lại".
Với những người đàn ông quê mùa, đó là "mớ tiền công ít ỏi suốt một ngày
làm việc quần quật", hay "những món tiền cắm câu đêm đêm, tiền bán lúa,
dừa khô hay những buồng chuối chín", hay "một triệu hai" trong tổng số hai
triệu "vốn vay xoá đói giảm nghèo"... biến mất cùng người tình chớp nhoáng
của mình, để rồi về nhà ngậm ngùi ngồi nhìn "vợ con bu quanh nồi khoai luộc
trong nhập nhoạng nắng chiều". Với "chị đĩ", đó là cơn "chết lặng trong nỗi
ngượng ngùng" của thằng con trai mười bảy tuổi khi nó bị bàn tay người đàn
bà trải đời "táo tợn làm gì đó" nơi phần bụng dưới trong nước. Với những
người thoáng chốc "rũ cái sột, sạch trơn" để đi theo người tình, đó là bất tận
"đau lòng người ở lại". Với những người đàn bà đánh đổi gia đình, ruộng
vườn, làng xóm, cả đứa con nhỏ để chạy theo Út Vũ, đó là nỗi bẽ bàng bị bỏ
rơi ("và cộng thêm niềm đau vỡ của những người quây quanh họ" "thấu qua
những tầng mây"), là "con đường quay về bị bịt kín". Đối với lũ thằng Hận,
đó là tia hy vọng "le lói nhìn thấy con đường dẫn đến cuộc - sống - bình thường" của một đứa con gái mới lớn "chẳng phải bình thường" đã bị dập tắt.
Tính dục mang giá trị mỹ học và nhân văn là tính dục nhằm tôn vinh con
người, khai phóng năng lực tiềm ẩn của con người, giúp họ thức nhận đầy đủ
giá trị của mình, tận hiến và tận hưởng cuộc sống trong sự bao bọc của những
cảm xúc thiêng liêng. Con người sẽ tự nhục mạ mình khi thả lỏng theo sự sai
khiến củaxung động bản năng, trật xa cái trục ego mình, không biết dung hòa
giữa nguyên tắc khoái lạc và nguyên tắc thực tại, biến cấu trúc nhân cách của
mình thành khuyết thiếu.
8


Tác phẩm Cánh đồng bất tận nhìn từ lý thuyết phân tâm học
------------------------------------------------------------------------

Trong Cánh đồng bất tận, các nhân vật đã điểm với bản năng tính
dục không được kiểm soát, tình dục ở họ không là sự thăng hoa của tình yêu,
mà chỉ hoặc là phương tiện để đổi chác, hoặc làhành vi tìm khoái lạc, bất
chấp đạo lý, bổn phận và trách nhiệm, họ do vậy, vừa đáng cảm thông, vừa
cần được cảnh báo để rồi được thanh lọc, giải thoát.
2.

Ám ảnh tuổi thơ

Hai chị em Nương và Điền - hai đứa trẻ vô tội, đặc biệt là Điền
trong Cánh đồng bất tận, sau cuối đã phát triển không bình thường về tâm
sinh lý. Ngoài nguyên nhân là khắc khoải nỗi mặc cảm về "sự trừng phạt", sự
"báo ứng", là việc bị "đẩy trượt dài vào nỗi thiếu thốn triền miên": thiếu vật
chất, thiếu đồng loại, thiếu tình mẹ, thiếu cả tình cha dẫu có cha kề cạnh, thiếu
quyền được đến trường, phải tự học cách để lớn lên...; còn là dư chấn tất yếu
của những va chấn tâm sinh lý dữ dội buổi thiếu thời - những va chấn bởi
những cảnh tượng, những âm thanh, những niềm mà chúng bất đắc dĩ phải
nhìn thấy, nghe thấy, và nghĩ. Đó là cảnh tượng "trên chiếc giường tre quen
thuộc, má oằn uốn người dưới tấm lưng chơm chởm những nốt ruồi. Họ cấu
víu. Vật vã. Rên xiết". Đó là cảnh những đôi người "khi không còn mảnh vải
nào trên người họ vẫn điềm nhiên cười khúc khích và uốn éo thân mình" mà
tối nào mua ruợu cho cha, chúng cũng ngang qua. Đó là "tiếng sột soạt rạo
rực trong cái chòi nhỏ trên bờ" khi "chị đĩ" lên chòi cùng cha. Đó là "đống
dăm bào bị dẫm tạo ra âm thanh lạo xạo lao xao lào xào" khi người đàn bà
Bàu Sen bị chồng bỏ ở chỗ cha làm mộc. Đó là niềm "cay đắng" với cảm giác
cha "quắp lấy" những người đàn bà "vùi mặt vào da vào thịt, ngấu nghiến mà
lòng cha lạnh ngắt", “cha làm chuyện đó thì cũng giống như mấy con vịt đạp
mái…”, thậm chí "nhạt nhẽo hơn cả việc quan hệ theo mùa, theo bản năng,
trong cha không còn một chút cảm xúc nào, nét mặt tràn ngập những rắp tâm,
chưa gặp mặt đã tính chuyện phụ phàng"...
Và thế là hai đứa trẻ từ lúc nào đã trở nên "kỳ dị, đến mức nhiều khi tự giật
mình". Chúng "quái dị" "chẳng phải những đứa trẻ bình thường". Cái gì đến
nhất định phải đến. Một ngày "thằng Điền nổi loạn". Dấu hiệu bắt đầu từ một
bữa trong xóm đê, tình cờ ngó đôi chó nhảy nhau, thằng Điền "cầm đoạn cây
xông đến quất đôi chó tới tấp". "Hai con chó kêu la thống thiết, hoảng loạn,
xà quần trong đám bụi đất. Đau đớn cùng cực, chúng rúc vào chân đống rơm,
nhưng không chịu rời nhau. Con đực phục đầu sát đất, rên rỉ, nước dãi chảy
ròng. Không chạy hả. Bốp. Không chạy nè. Bốp. Thằng Điền gào lên. Cây
trúc giập nát. Tôi giữ tay Điền lại bảo, “Ác với tụi nó chi vậy, cưng”, thấy
nước mắt bê bết trên mặt em tôi". "Dục tình và xác thịt không xấu xa, không
9


Tác phẩm Cánh đồng bất tận nhìn từ lý thuyết phân tâm học
------------------------------------------------------------------------

đáng bị khinh bỉ" nhưng đã bị Điền khinh bỉ, ghê tởm, coi đó là nguồn cơn
của mọi bi kịch, của sóng gió đã cồn lên bất tận với chị em nó. Rồi "Điền chối
bỏ niềm vui được trở thành một người đàn ông thực thụ. Nó tự kìm hãm bản
năng trỗi dậy mạnh mẽ ở tuổi dậy thì bằng tất cả sự miệt thị, giận dữ, căm thù.
Nó phản kháng bằng cách trút sạch những gì cha tôi có, cha tôi làm. Giãy dụa
đến rã rời, nhiều bữa, nó dầm mình dưới ao đến khi người tái nhợt. Nó chạy
như điên trong đêm, trên những bờ ruộng mướt cỏ đến khi mỏi nhừ, gục
xuống. Rồi nằm xoãi trên đồng, tả tơi". "Điền mười sáu tuổi đã lạnh ngắt. Nó
dửng dưng nhìn những đứa con gái làm cỏ lúa, quần xoắn cao, đùi non mởn.
Đôi lúc bắt gặp những đôi người quấn nhau giữa các chòi ruộng hay lùm cây,
nó khinh khỉnh cười khào"...
Một nhân cách phát triển bình thường là nhân cách biết dung hòa, điều tiết
giữa nguyên tắc khoái lạc và nguyên tắc thực tại. Ngược lại với những nhân
vật tính dục đã điểm ở trên, Điền, do oằn mình đau đớn vì gánh ám ảnh, nên
đã một mình đi về phía cực đoan khác, đó là hòng lấy nguyên tắc thực tại áp
chế, triệt tiêu nguyên tắc khoái lạc, thay vì sở hữu thứ bản năng có sức tái
sinh là nỗ lực tự hủy hoại để nhận về mình bản năng chết.
3. Nhân vật Điền với "mặc cảm Ơđíp" và "mặc cảm tàn phế"
Mẹ bỏ đi, bố bỏ mặc, Điền cùng chị gái như cây hoang tự gồng mình về
phía ánh sáng mặt trời để cầm cự. "Chị đĩ" xuất hiện, rồi mặc dù đã là người
của cha, nhưng bao nhiêu tình yêu của một đứa con giành cho mẹ vẫn được
Điền dốc hết cho chị. Mười bảy tuổi, Điền yêu "chị đĩ" bằng tình yêu vô điều
kiện. "Điền có những ngày bối rối. Nó hay hỏi tôi, “người ta thương mẹ ra
làm sao?”. Mặt nó dãn ra, khi biết cây kẹp tóc, trái dừa tươi hay con cá thác
lác… mà nó dành cho chị cũng giống hệt như người ta vẫn thường cho mẹ.
Và niềm nhớ lúc đi xa, nỗi khao khát được nằm gần, được dụi mũi mình vào
da thịt người đó… cũng tự nhiên như ý nghĩ bình thường nhất của những đứa
con". Vào cái đêm phát ra "tiếng sột soạt rạo rực trong cái chòi nhỏ trên bờ"
khi "chị đĩ" tách khỏi ghe lên chòi cùng cha, "Điền đã mệt mỏi thiếp đi, nó
nằm co quắp, hai tay kẹp giữa đùi, mặt buồn như phủ một lớp sương giá". Rồi
chứng kiến cảnh chị bị cha làm nhục bằng cách trả tiền vụ hồi đêm, sợ chị
buồn, Điền đã cùng Nương rủ chị đi câu. Suốt buổi, không dính con cá nào,
Điền đã làm chị vui bằng cách "lặng bắt con cá rô lội xuống mương, lặn sâu,
móc cá vô lưỡi câu của chị".
"Điền đuổi theo chị, và chị thì chạy theo cha".

10


Tác phẩm Cánh đồng bất tận nhìn từ lý thuyết phân tâm học
------------------------------------------------------------------------

Không chỉ mang mặc cảm Ơđíp, như một hệ quả tất yếu đã phân tích ở
trên, Điền còn mang cả mặc cảm tàn phế nữa. "Điền yêu chị, nhưng tình yêu
đó khiếm khuyết mất rồi. Sau giấc ngủ dài, bản năng nó đã không trở dậy.
Trái tim nó chỉ là hòn than nhỏ, không thể hâm nóng lại cơ thể ngả màu tro.
Sợi dây xúc cảm như lối đi lâu lắm không người lui tới, cỏ dại mọc bít mất,
đường đứt, cầu gãy...". Cái buổi trưa khi bàn tay của chị "táo tợn làm gì đó"
nơi phần bụng dưới của nó trong nước, Điền, thằng con trai mười bảy tuổi đã
"chết lặng trong nỗi ngượng ngùng". Đây là cái "chết lặng trong nỗi ngượng
ngùng" của một chàng trai mới lớn mang mặc cảm tàn phế trước người đàn bà
mình yêu thương.
4. Những giấc mơ
Theo Freud, chẳng có giấc mơ nào không có nghĩa. Giấc mơ là thấu kính
soi chiếu đời sống tâm sinh lý của con người. "Một bữa tôi chiêm bao, chẳng
đầu chẳng cuối gì, chỉ thấy vía má giãy dụa trong tấm vải đỏ lạ lùng kia
nhưng nó thít chặt, riết lấy, siết dần cho tới khi má thành một con bướm nhỏ,
chấp chới bay về phía mặt trời". Giấc mơ này của cô bé Nương nói được cái
sự cô bịám bởi sự "xa lạ" của má, cùng nỗi bất an, phấp phỏng, hoang sợ,
niềm linh cảm, dự cảm của cô về cơ nguy mất má, cơ nguy má cô sẽ bỏ cha
con cô để ra đi cùng ông chủ của những "tấm vải đỏ lạ lùng" "đỏ hơn cả máu"
mà bà đã bị ám.
Ngày cô gái có kỳ kinh nguyệt đầu tiên. "Máu chảy giữa hai đùi không
tạnh được, tôi thụp xuống, bụm chỗ ấy lại. Máu từ từ chảy qua kẽ tay, tôi thấy
mình rỗng ra, tái nhợt, chết dần. Thằng Điền vói bứt đọt chuối, tọng vào
miệng nhai ngốn ngấu, điên dại, để lấy bã rịt lại chỗ máu. Thuốc gò nghe nói
cầm máu rất tốt, cũng chẳng ăn thua. Hai đứa nhìn nhau khóc, tôi đã mơ thấy
ngôi mộ của mình, như chiếc giường giữa bốn bề đồng nước...". Giấc mơ này
tường minh cơn hoảng loạn, niềm tủi cực tột cùng của một cô gái bị
tước quyền được bình thường, nỗi mặc cảm về cái án bất tận bi đát, tuyệt đối
trống rỗng, vô nghĩa của cô giữa kiếp nạn nhân sinh; tường minh cái trạng
thái thường trực lưỡng phân mê - tỉnh, vô thức - hữu thức, sống - chết, tồn tại
- không tồn tại; tường minh sự xuất hiện ở một kiểu dạng khác thứ bản năng
chết (nếu ở Điền là nỗ lực tự hủy hoại như đã nói, thì đến lượt, ở Nương
làmong muốn được chết); tường minh cái điềm báo về thảm họa bị lũ thằng
Hận "ghì ngửa", "xé toạc" giữa cánh đồng bì bõm nước...
"Nằm chèo queo, co rúm, chen chúc nhau trên sạp ghe, chúng tôi đánh mất
thói quen chiêm bao. Điều này làm tôi và Điền buồn biết bao nhiêu, vì cách
duy nhất để được nhìn lại hình bóng má cũng tan rồi". Việc "đánh mất thói
11


Tác phẩm Cánh đồng bất tận nhìn từ lý thuyết phân tâm học
------------------------------------------------------------------------

quen chiêm bao" của hai đứa trẻ đồng nghĩa với sự "quái dị" "kì dị" "không
phải bình thường" theo tháng năm của chúng, đồng nghĩa với sự "nghèo rơi
nghèo rớt" bởi bị "đẩy trượt dài vào nỗi thiếu thốn triền miên", không quá
khứ, không hiện tại, không tương lai của chúng.
Cánh đồng bất tận, thông qua miêu tả những ám ảnh tuổi thơ,mặc cảm tàn
phế, những giấc mơ... nói trên, ám ảnh, đắng xót linh hồn người đọc bởi
những đứa trẻ chết già (từ dùng của Nguyễn Bình Phương) trong sự đày đọa,
bỏ rơi do thói vô trách nhiệm, u tối bản năng của người lớn.
Cảm quan phân tâm học đã chi phối cái nhìn nghệ thuật củaCánh đồng bất
tận, nhất quán từ nội dung đến hình thức. Tác phẩm tỏ ra khá nhuần trong
kiến tạo cấu trúc tự sự giàu dữ kiện phân tâm. Cốt truyện, thời gian tâm lý lấn
lướt, phân rã, nhòe mờ cốt truyện, thời gian sự kiện. Thủ pháp gián ghép điện
ảnh những mảnh vụn, những phiến đoạn ký ức đứt gãy của nhân vật, đẩy
nhân vật trượt vào, tan chảy trong dòng xúc cảm hỗn độn giữa quá khứ và
hiện tại và tương lai, giữa tâm cảnh và ngoại cảnh. Ngôn ngữ tâm trạng, ngôn
ngữ cảm giác lấn lướt, chồng quyện ngôn ngữ miêu tả. Sự độc dụng điểm
nhìn bên trong, để nhân vật tự cảm nghiệm, tự nói bằng ngôn ngữ hoặc của
khoái lạc, hoặc của niềm đau vỡ... Và bao trùm lên tất cả, đó là một không khí
truyện "ẩn chứa bên trong sự dồn nén cái sức mạnh của bộc phá" (Đoàn Ánh
Dương) - sức mạnh của khát vọng thành thực.

12


Tác phẩm Cánh đồng bất tận nhìn từ lý thuyết phân tâm học
------------------------------------------------------------------------

KẾT LUẬN
Trong không khí hội nhập của thời hiện đại và đương đại, có thể nói
Phân tâm học có điều kiện phát triển, khẳng định lại vai trò của mình trong
đời sống tâm-sinh-lý của con người. Và dĩ nhiên là trong phạm trù nghệ
thuật, Phân tâm học lại được vận dụng đa dạng, có sự cách tân đáng kể để
phù hợp với con người cá nhân cá thể trong ý thức sáng tạo của nhà văn. Và
may thay, chúng không mất đi, không trở thành vô nghĩa mà là những giá trị,
những đặc trưng nghệ thuật độc sáng trong dòng chung của truyện ngắn hiện
đại Việt Nam. Và truyện ngắn Cánh đồng bất tận là một minh chứng rõ ràng
nhất. Cánh đồng bất tận, thông qua cái nhìn phân tâm học, đã miêu tả nỗi cô
đơn, khát thèm, bẽ bàng, bi đát, sự tha hóa của con người bằng tất cả tình yêu
thương, sự cảm thông và thiện chí cảnh báo, phản tỉnh con người. Đọc Cánh
đồng bất tận, chúng ta thêm cơ hội nhận diện đầy đủ tính hiện đại của văn học
Việt Nam, nhận diện hành trình tư tưởng văn học là hành trình con người từ
trạng thái Trời về trạng thái Người, từ quần thể về cá thể. Vang ngân niềm
khắc khoải thiết tha của tác giả, rằng trên hành trình ấy, con người hãy nỗ lực
bảo vệ, chắt chiu, gìn giữ những giá trị Người. Cánh đồng bất tận sẽ sống rất
lâu vì nó chạm đến miền sâu nhất, khuất nhất, người nhất của con người./.

13


Tác phẩm Cánh đồng bất tận nhìn từ lý thuyết phân tâm học
------------------------------------------------------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Lai Thúy, Bút pháp của ham muốn (phê bình phân tâm học), Nxb. Tri
thức, Hà Nội, 2009.
2. Đỗ Lai Thúy, “Phân tâm học và phê bình văn học ở Việt Nam”, Trong
sách Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, In lần hai, có bổ sung, Nxb. Văn
hóa Thông tin, Hà Nội, 2004.
3. Nguyễn Khắc Viện, Tâm lí trẻ em hiểu theo phân tâm học, Nxb khoa học
xã hội, Hà Nội, 1991.
4. Hồ Thế Hà, Phân tâm học và văn học (Bài giảng lưu hành nội bộ), Đại học
khoa học Huế, 2000.

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×