Tải bản đầy đủ

Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn chí phèo

A. MỞ ĐẦU
M.Gorki từng nói: “Văn học là nhân học”. Nhà thơ Tố Hữu cũng đã từng
quan niệm: “Con người là điểm xuất phát cũng là đích hướng đến của văn học”.
Quả thật, con người luôn là đối tượng sâu xa nhất mà văn học hướng đến. Cho dù
nội dung tác phẩm viết về một vùng núi xa xôi hẻo lánh không dấu chân người hay
một thế giới huyền ảo xa lạ nào đó, nhân vật trong tác phẩm chỉ là cây cỏ, là con
vật hay bất cứ gì khác không phải con người, thì chắc chắn, mục đích cuối cùng tác
phẩm hướng đến vẫn là cuộc sống của chính chúng ta. Cuộc sống là một vườn hoa
đầy màu sắc. Như những con ong cần mẫn tìm mật cho đời, nhà văn không chỉ
đem đến cho người đọc một nội dung có tính thông điệp mà còn mong muốn tác
phẩm của mình có sức mạnh làm rung động hàng triệu tâm hồn. Mỗi tác phẩm đều
thể hiện suy nghĩ, thái độ, quan điểm về con người của nhà văn trước cuộc đời. Có
thể người đọc đồng cảm hoặc phản đối với từng chi tiết, số phận của nhân vật,
nhưng họ sẽ nhận ra điều nhà văn muốn nói, theo cách riêng và tùy thuộc vào tầm
đón nhận của mỗi người. Theo GS.TS Trần Đình Sử: “Không thể lí giải một hệ
thống văn thơ mà bỏ qua con người được thể hiện trong đó … vấn đề quan niệm
nghệ thuật về con người thực chất là vấn đề năng động của nghệ thuật trong việc
phản ánh hiện thực, lí giải con người bằng các phương tiện nghệ thuật, là khả
năng thâm nhập nó vào các miền khác nhau của cuộc đời” [3; 117-118]. Vì lẽ đó
có rất nhiều công trình nghiên cứu về quan niệm nghệ thuật về con người trong các
tác phẩm cụ thể. Trong đó, Nam Cao là một trong những nhà văn được nhiều nhà

phê bình quan tâm, ưu ái với nhiều công trình nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp,
quan điểm nghệ thuật, đặc trưng thể loại, nghệ thuật ngôn từ. Trong dòng chảy vận
động của văn học hiện thực phê phán, Nam Cao tuy xuất hiện muộn nhưng với
ngòi bút lạnh lùng, đầy triết lí và ẩn sâu là một trái tim đầy yêu thương, ông đã để
lại cho đời những tác phẩm xuất sắc, giàu ý nghĩa. Nam Cao luôn quan niệm: “Văn
chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa
cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những
1


nguồn chưa ai khơi, sáng tạo những gì chưa có”. Có lẽ vì thế, mỗi tác phẩm của
Nam Cao luôn hướng đến những mảnh đời, số phận con người với những màu sắc
khác nhau. “Chí Phèo” là tác phẩm xuất sắc nhất của Nam Cao góp phần khẳng
định tài năng và vai trò của ông trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Tác phẩm
được coi là một sự kiện đánh dấu bước ngoặt đổi mới về nghệ thuật trong nền văn
xuôi nước nhà. Kể từ khi truyện ngắn “Chí Phèo” ra đời cho đến nay đã thu hút rất
nhiều công trình khoa học nghiên cứu về nó trên nhiều lĩnh vực, từ chuyên ngành
văn học hiện đại, văn học dân gian cho đến lí luận văn học. Đây còn là mảnh đất
màu mỡ cho các lĩnh vực nghệ thuật khác như điện ảnh, hội họa,... Và, có lẽ nhân
vật được bạn đọc biết đến nhiều nhất, ấn tượng nhất, yêu thích trong “Chí Phèo”
nói riêng và các tác phẩm của Nam Cao nói chung chính là Chí Phèo. Thậm chí,
Chí Phèo còn vượt tầm thời đại, trở thành nhân vật đi cùng năm tháng trong nền
văn học Việt Nam. Để có được sự thành công này không phải tự nhiên mà có. Vậy
những yếu tố nào đã khiến cho Chí Phèo có sức hút và sức bền trong lòng độc giả
như vậy? Đã có nhiều công trình, nhiều nhà nghiên cứu đã đi tìm hiểu về vấn đề
này theo các phương pháp, các hướng tiếp cận khác nhau. Việc tìm hiểu quan niệm
nghệ thuật về con người trong sáng tác của Nam Cao là vấn đề khó khăn nhưng
chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu này sẽ giúp ta tìm hiểu sâu hơn về thể giới
nhân vật cũng như phong cách nhà văn, đồng thời góp thêm tiếng nói khẳng định
tài năng và đóng góp của nhà văn trong văn học dân tộc và thế giới. Đó là lí do vì
sao chúng tôi chọn đề tài Quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm Chí
Phèo của Nam Cao.

2


B. NỘI DUNG
1. Lý thuyết chung về quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học
1.1. Khái niệm
Trong quyển “ Giáo trình Thi pháp học” của PGS, PTS.Trần Đình Sử: “Nhà


văn không thể miêu tả đối tượng mà không có quan niệm về đối tượng. Quan niệm
là một phương tiện thiết yếu của sáng tạo nghệ thuật”. Như vậy, chúng ta không thể
lí giải một hệ thống văn, thơ mà bỏ qua con người được thể hiện trong đó. Tuy
nhiên, sự miêu tả con người trong văn học không bao giờ là sự sao chép, chụp ảnh
và tâm hồn nhà văn cũng không như một tấm gương trong cho sự phản chiếu nào.
Nhà văn sáng tạo ra nhân vật, kể ra, miêu tả ra nhân vật, nhân vật bao giờ cũng
hiện ra theo cách hình dung, cảm nhận của tác giả, tức là mỗi nhà văn đều có một
quan niệm khác nhau về con người. Trong lịch sử văn học chẳng những con người
với tư cách là đối tượng của văn học đổi thay, mà ngay quan niệm nghệ thuật về
con người cũng thay đổi làm cho khả năng chiếm lĩnh con người trong văn học
ngày càng sâu sắc, phong phú và tạo thành lịch sử của sự miêu tả con người trong
văn học. Con người trong văn học không chỉ là con người có trong thực tế, mà còn
là quan niệm về con người ấy một cách thẩm mĩ và nghệ thuật. Chẳng những đề tài
văn học không ngừng đổi thay, mà quan niệm nghệ thuật về nó cũng luôn luôn phát
triển, làm cho đối tượng được nhìn từ góc độ mới. Bỏ qua quan niệm nghệ thuật về
con người sẽ dẫn đến hiểu đơn giản bản chất phản ánh của văn nghệ. Vấn đề quan
niệm nghệ thuật về con người thực chất là vấn đề về tính năng động của nghệ thuật
trong việc phản ánh hiện thực, lí giải con người bằng các phương tiện nghệ thuật,
là vấn đề về giới hạn, phạm vi chiếm lĩnh đời sống của một hệ thống nghệ thuật, là
khả năng thâm nhập của nó vào các miền khác nhau của cuộc đời. Chừng nào chưa
có đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người thì sự tái hiện các đời sống
khác nhau chỉ có ý nghĩa mở rộng về lượng trên cùng một chiều sâu. Thật khó nói
tới sự phát triển của tư duy nghệ thuật mà thiếu sự mở rộng, đào sâu các giới hạn

3


trong quan niệm nghệ thuật về con người.Vì lẽ đó có nhiều khái niệm khác nhau về
quan niệm nghệ thuật về con người.
Theo GS.TS Trần Đình Sử: “Quan niệm nghệ thuật về con người là cách cắt
nghĩa lí giải hiện thực của nghệ sĩ về hệ quy chiếu, thể hiện tầm lí giải, tầm hiểu
biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được
thể hiện trong tác phẩm của mình”.
Theo Từ điển văn học: “Quan niệm nghệ thuật về con người là hình thức bên
trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức tác
phẩm, nó gắn với phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật và làm
thước đo của hình thức văn học, cơ sở của tư duy nghệ thuật”.
Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu quan niệm nghệ thuật về con
người một cách khái quát như sau: “Quan niệm nghệ thuật về con người được hiểu
là cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách cắt nghĩa lí giải về con người của nhà
văn. Đó là quan niệm mà nhà văn thể hiện trong từng tác phẩm. Quan niệm ấy bao
giờ cũng gắn liền với cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể,
ngay cả khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối tượng”. Quan
niệm nghệ thuật về con người là cách cắt nghĩa “có tính phổ quát, tột cùng mang
ý vị triết học, nó thể hiện cái giới hạn tối đa trong việc miêu tả con người”.
1.2. Những biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện ở mô hình nghệ thuật về con
người trong sáng tác của nhà văn, ở cái nhìn nghệ thuật về con người của nhà văn,
ở các nguyên tắc xây dựng, miêu tả thể hiện nhân vật.
1.2.1. Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện ở mô hình nghệ thuật về
con người trong sáng tác của nhà văn
Mô hình là khung khái quát về các kiểu loại nhân vật. Mô hình con người
trong văn học rất đa dạng, phong phú. Trong văn học Việt Nam có mô hình con
người vũ trụ, con người bị tha hóa, con người cô đơn… Tất cả đều tạo nên diện
mạo mới cho nền văn học. Việc tìm ra, phát hiện ra quan niệm nghệ thuật của các
4


nhà văn về con người qua các tác phẩm sẽ giúp chúng ta tìm ra được hệ quy chiếu,
cái lí, cái logic bên trong của các nguyên tắc, biện pháp miêu tả nhân vật cụ thể. Từ
đó giúp chúng ta phát hiện ra được chiều sâu của tác phẩm, chiều sâu của phong
cách nhà văn.
1.2.2. Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện ở cái nhìn nghệ thuật về
con người của nhà văn
Cái nhìn nghệ thuật về con người của nhà văn vừa chịu ảnh hưởng bởi hiện
thực đời thường, vừa in đậm dấu ấn phong cách riêng của từng nhà văn. Với ý
nghĩa này mà viện sĩ người Nga M.B. Khrapchencô đã xác nhận: “Chân lí cuộc
sống trong sáng tác nghệ thuật không tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính
cá nhân đối với thế giới vốn có ở từng nghệ sĩ thực thụ, không tồn tại bên ngoài
các đặc điểm về tư duy hình tượng, bút pháp sáng tác của nghệ sĩ”. Cái nhìn nghệ
thuật về con người thể hiện ở điểm nhìn của nhà văn. Có thể là điểm nhìn từ bên
ngoài vào hay từ trong ra. Có thể nhìn theo quan điểm của tác giả hay quan điểm
của nhân vật. Có thể nhìn xa hay gần, nhìn một chiều hay nhìn nhiều chiều.
1.2.3. Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện ở các nguyên tắc xây dựng,
miêu tả thể hiện nhân vật
Nguyên tắc xây dựng và miêu tả thể hiện nhân vật được thể hiện ở cách xưng
hô, gọi tên các nhân vật, cách miêu tả chân dung, hành động, lời nói, tính cách
nhân vật trong quan hệ với các sự kiện, cách xây dựng triển khai nhân vật…
2. Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam
Cao
2.1. Con người tha hóa
Nếu Ngô Tất Tố phát hiện ra hình ảnh một người phụ nữ nông thôn Việt Nam
trong sạch, đẹp đẽ và lung linh trong màn đêm của xã hội thực dân và phong kiến.
Người phụ nữ với những phẩm chất thủy chung, hiền dịu, đảm đang, giàu sức quật
khởi là vẻ đẹp mà bạn đọc mãi mãi đi tìm, hay Nguyễn Công Hoan với quan niệm
“Cuộc đời là một sân khấu hài kịch”, ông đã nhìn vào mặt trái của cuộc đời, của
5


con người, để phỉ nhổ vào những xấu xa, bỉ ổi của xã hội, để cười ra nước mắt
những điểm xấu của con người dưới đáy nhằm lên án xã hội đảo điên. Ta có thể
thấy con người trong các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan hoàn toàn bị tha hóa,
thậm chí bị vật hóa, đồ vật hóa, từ vị quan huyện béo tốt, một bà lớn với khuôn mặt
thịt nung núc, đến những đứa ăn mày, ăn xin, kẻ cắp, người trốn nợ, bà cụ nhà
quê… thì Nam Cao với một quan điểm nghệ thuật tiến bộ: “Nghệ thuật không nên
là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ thoát ra từ những kiếp
lầm than” (Giăng sáng). Với quan điểm nghệ thuật này, Nam Cao đòi hỏi nghệ
thuật phải trở về với hiện thực, phản ánh chân thật hiện thực. Nghệ thuật chân
chính, nhà văn có lương tâm không thể nhắm mắt bịt tai trước nỗi khổ đau của
nhân dân, trốn tránh sự thực “tàn nhẫn” mà phải “đứng trong lao khổ, mở hồn ra
đón lấy những vang động của đời” (Giăng sáng). Ngòi bút của ông đã thể hiện sâu
sắc một khía cạnh mới khi miêu tả con người: Con người bị tha hóa bủa vây
nhưng quyết không chịu tha hóa đến cùng. Đến Nam Cao, kiểu con người tha hóa
được khai thác một cách toàn diện từ ngoại hình đến tâm lý, tính cách trên cơ sở
một quan niệm khá sâu sắc, thấm đượm tinh thần nhân đạo. Chí Phèo là nhân vật
điển hình cho kiểu con người bị tha hóa nhưng quyết không chịu tha hóa đến cùng.
Nam Cao đã cố gắng đi tìm những nét đẹp còn ẩn sâu trong tâm hồn của những
người nông dân bị tha hóa và đó là một quan niệm tiến bộ về con người của ông.
Vượt hẳn các nhà văn hiện thực phê phán đương thời, Nam Cao đã đem đến cho
hình tượng con người cá nhân luôn biết tự vươn lên để hoàn thiện nhân cách của
mình. Đọc văn Nam Cao, ta cảm thấy đau đớn trước những số phận người, những
con người đang trượt dài trên con đường của sự tha hóa nhân cách. Hướng ngòi bút
vào khám phá chiều sâu cuộc sống, len vào những ngõ hẻm đường quê để cảm
thông với con người, Nam Cao đã xót xa khi phát hiện ra sự tha hóa con người
đang diễn ra khắp nơi. Kiểu con người tha hóa đó ta gặp trong hình ảnh của Lang
Rận, của người cha trong “Trẻ con không ăn thịt khó”, của bà cái Đĩ trong “Một
bữa no”…và với “Chí Phèo”, nó hiện thân trong nhân vật Chí Phèo, Năm Thọ,
6


Binh Chức. Từ khi Chí Phèo ngật ngưỡng bước ra khỏi trang sách, ta không thể
nào quên được tiếng chửi đầy nỗi ám ảnh của Chí. Tiếng chửi như xoáy sâu vào
tâm can của mỗi người, như một nỗi khắc khoải khiến bất cứ ai không khỏi đau
đớn. Tiếng chửi như tiếng kêu thảm thiết, khát khao muốn làm người lương thiện
của Chí. Tuy nhiên, tất cả hy vọng nhỏ nhoi của Chí đã chấm dứt, mọi cánh cửa
quay về cuộc đời lương thiện cứ im ỉm đóng trước mặt Chí. Chí cứ bước đi để rồi
bản thân lại trượt dài trên con đường tha hóa lúc nào không hay. Sự tha hóa của
Chí Phèo bắt đầu từ khi hắn bước ra khỏi ngưỡng cửa nhà tù trở về làng Vũ Đại.
Cái anh chàng Chí hiền lành, chân chất ở tuổi hai mươi thưở xưa đã không còn
nữa. Thay vào đó là một Chí Phèo biến dạng, tha hóa về cả nhân tính lẫn nhân
hình. Trước đây, hắn là một thằng “hiền lành như đất” và cũng ý thức rất rõ về
nhân cách, rất giàu lòng tự trọng. Khi bà Ba bắt hắn bóp đùi, hắn cảm thấy “nhục
hơn là thích” và hắn nghĩ “người ta không thích cái gì người ta khinh”. Hắn cũng
có ước mơ giản dị như bao người về một mái gia đình “Chồng cuốc mướn cày
thuê, vợ dệt vải, chúng bỏ lại một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua
dăm ba sào ruộng làm”. Nhưng rồi, Bá Kiến cùng nhà tù thực dân đã nhào nặn lại
hình hài và nhân cách Chí Phèo trong một bộ dạng khác: dị dạng, méo mó, trở
thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại” - nỗi khiếp sợ của bao người. Dường như, sau
bảy tám năm ở tù trở về, Chí Phèo đã trượt dài trên đường ray của sự tha hóa: tha
hóa nhân hình, tha hóa nhân tính, tha hóa cả những suy nghĩ. Nhân hình của Chí
không còn là nhân hình của một người bình thường mà mang nhân hình của một
người dị dạng, không giống người: “Trông đặc như thằng sắng cá! Cái đầu thì
trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng câng, hai mắt gườm
gườm trông gớm chết! (...). Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng,
phượng với một ông thầy tướng cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế. Trông gớm
chết!”. Xưa kia, Chí cũng là một anh canh điền trẻ trai, khỏe mạnh, bình thường.
Thế nhưng, giờ đây nó là sản phẩm của sự tha hóa triệt để: “Cái mặt hắn không trẻ
cũng không già: nó không còn phải là mặt người, nó là mặt của một con vật lạ,
7


nhìn mặt những con vật có bao giờ biết tuổi ? Cái mặt hắn vàng vàng mà lại muốn
xạm màu gio; nó vằn dọc vằn ngang, không thứ tự, biết bao nhiêu là vết sẹo” . Rõ
ràng, Chí đã bị cướp mất hình hài của một con người. Phải chăng, cái ngoại hình
dữ tợn bị tha hóa kia cũng là sự phản ánh cho đời sống nội tâm, cho phần nhân tính
bên trong cũng đã bị hủy hoại, tha hóa không kém gì cái hình hài bên ngoài? Nhân
tính của hắn là nhân tính của một “con quỷ dữ”. Hắn bây giờ không phải là anh
canh điền “hiền lành như đất” mà “hắn là con quỷ dữ của làng Vũ Ðại, tác quái
cho bao nhiêu dân làng.(...) hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu
cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao
nhiêu người lương thiện”. Cuộc đời của hắn bây giờ là triền miên trong những cơn
say, triền miên trong những cảnh ức hiếp, đâm chém, rạch mặt, ăn vạ... Những suy
nghĩ, những ngộ nhận của hắn cũng phản ánh nội tâm của một con người bị tha hóa
hoàn toàn. Không phải Bá Kiến xảo quyệt, không phải nhà tù thực dân hủy hoại
hắn hoàn toàn mà chính hắn cũng đang từng ngày hủy hoại mình mà không hay
không biết. Lúc nào, hắn vênh vang đắc chí khi nghĩ rằng: “Không vây cánh,
không họ hàng thân thích; anh em không có, đến bố mẹ cũng không... Ờ, thế mà
dám độc lực chọi nhau với lý trưởng, chánh tổng, bá hộ tiên chỉ làng Vũ Ðại” và
“hắn thấy hắn oai thêm bậc nữa. Hắn tự đắc: "anh hùng làng này cóc có thằng
nào bằng ta !”. Suy nghĩ đó của Chí phản ánh sự tha hóa đến tận cùng về nhân
cách. Bây giờ, hắn sống trong trạng thái mơ hồ, nhòe mờ về thời gian và cuộc
sống: “Vết những mảnh chai của bao nhiêu lần ăn vạ kêu làng, bao nhiêu lần, hắn
nhớ làm sao nổi? Bao nhiêu việc ức hiếp, phá phách, đâm chém, mưu hại người ta
giao cho hắn làm! Những việc ấy chính là cuộc đời của hắn; cuộc đời mà hắn
cũng chả biết đã dài bao nhiêu năm rồi”. Đối với hắn không còn khái niệm ngày
tháng nữa mà đời là một cơn say dài kéo lê từ ngày này qua ngày khác. Hắn không
còn ý thức bình thường của một con người.
Có thể thấy, nhân vật Chí Phèo là nhân vật điển hình cho mẫu con người tha
hóa trong truyện Nam Cao. Chí tha hóa nhân hình, tha hóa nhân tính, tha hóa suy
8


nghĩ và mơ hồ về cuộc sống... Thực tế, Chí Phèo là con người nhưng đã tha hóa
đến bên bờ vực ranh giới của cuộc sống con vật. Qua sự tha hóa của Chí Phèo,
Nam Cao phản ánh nỗi đau của cuộc đời, của số phận con người trong xã hội cũ.
Xã hội đó đã đẩy người ta xuống bùn đen, tha hóa hình hài, nhân cách. Thể hiện sự
tha hóa của Chí Phèo, trang văn Nam Cao đã mở ra một bức tranh hiện thực đầy
rẫy bất công, u tối. Nó phản ánh cái nhìn đầy cảm thông và thăm thẳm chiều sâu
nhân văn về người nông dân trong xã hội cũ của nhà văn.
2.2. Con người bi kịch
Cũng giống như nhân vật AQ trong AQ chính truyện của Lỗ Tấn, cuộc đời Chí
Phèo là một chuỗi ngày dài đầy những bi kịch: bi kịch trong thân phận một đứa trẻ
mồ côi đi ở đợ; bi kịch bị tha hóa nhân hình, nhân tính… Chí Phèo thì bị bỏ rơi ở
bên một cái lò gạch bỏ hoang, không cha, không mẹ, không họ hàng nhà cửa….
Thế nhưng, bi kịch lớn nhất và đau đớn nhất chính là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm
người của Chí Phèo. Chí lớn lên không nhận được sự quan tâm của đồng loại. Chí
Phèo xuất hiện cùng với tiếng chửi cứ kéo dài ra mãi thì cũng là lúc bi kịch cuộc
đời Chí hiện ra rõ nét trong từng câu chữ. Trở về làng Vũ Đại sau bảy tám năm ở
tù, Chí Phèo trở thành con người bị đồng loại xa lánh, chối bỏ, phải sống “bên lề
cuộc đời, ngoài rìa xã hội”. Chí Phèo đang tồn tại mà như không hề tồn tại vì hắn
chỉ là một tên lưu manh, dù sống cũng như đã chết vì “ngay đến cái thẻ có biên
tuổi hắn cũng không có trong sổ làng, người ta vẫn khai hắn vào hạng lưu tán, lâu
năm không về làng”. Thế là, hắn trở về trong nhân hình, nhân tính của con quỹ dữ
đã không được đồng loại chấp nhận. Vì vậy, hắn cô độc trong bi kịch làm người và
bị con người xa lánh như xa lánh con vật. Cuộc đời hắn bây giờ chỉ là triền miên
trong những cơn say và những tiếng chửi kéo dài không dứt. Hắn chửi trời, chửi
đời, chửi làng Vũ Đại, chửi người đã đẻ ra hắn. Nhưng bi kịch thay, hắn chửi
nhưng chẳng ai thèm chửi lại với hắn, ai cũng tự nhủ “chắc nó trừ mình ra”. Bởi vì,
thực ra không ai xem hắn là người. Hắn tồn tại trong làng Vũ Đại với cuộc sống
tăm tối như cuộc sống con vật, hung ác như con quỷ dữ, lạc loài với mọi người, xa
9


lạ với xã hội loài người. Chí Phèo tức tối vì không ai chửi lại nhưng một khi đã
không được xem là người thì sự tức tối của Chí cũng chẳng ích gì. Thậm chí, dù
khi hắn rạch mặt ăn vạ, kêu làng “như một người bị đâm” để gây sự chú ý ở đồng
loại thì cũng chỉ làm Thị Nở kinh ngạc còn cả làng “không ai ra điều”, đáp lại chỉ
là tiếng sủa của những con chó. Chỉ có những con chó mới đáp lại tiếng kêu gào
của Chí. Điều đó cho ta thấy với những con người trong làng Chí Phèo không hề
tồn tại. Rõ ràng, Chí Phèo đã bị xã hội chối bỏ. Cuộc đời hắn là chuỗi dài bi kịch
của con người bị tước đoạt quyền làm người. Thế nhưng, bi kịch đó chỉ được ý
thức sâu sắc và thấm thía nỗi đau khi Thị Nở xuất hiện trong cuộc đời hắn. Trong
cái đêm mà “trăng tỏa trên sông, và sông gợn biết bao nhiêu gợn vàng”, Chí Phèo
gặp Thị đang “ngồi tênh hênh” ngủ trong vườn chuối và hắn thấy “cái gì rộn rạo
ran khắp người”, rồi hắn “run run”. Lần đầu tiên, sau bao ngày dài triền miên trong
vô thức, không ý niệm ngày tháng và cảm xúc cuộc sống, Chí Phèo có những cảm
giác con người. Cuộc làm tình với Thị Nở, những cử chỉ săn sóc của Thị đã làm
sống dậy trong Chí không chỉ cái bản năng người đàn ông mà cả những cảm xúc,
những ước mơ rất thật của con người. Sau những ngày đắm mình trong những cơn
say dài, Chí tỉnh dậy trong trạng thái hoàn toàn tỉnh táo, thấy “bâng khuâng” và
lòng “mơ hồ buồn”. Những âm vọng cuộc sống thường nhật bình dị dội vào lòng
hắn: “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng nói của những người đi chợ.
Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá”, cả tiếng trò chuyện của những người đi
buôn vải... Những âm thanh giản dị tha thiết gọi về trong hắn những cảm xúc con
người. Lần đầu tiên kể từ cái ngày trở về làng, Chí nhận ra những điều tưởng
chừng rất đỗi giản dị, thân quen mà trước đây hắn không hề để ý đến. Chí Phèo
nhìn lại cuộc đời, nhớ về niềm ao ước có một gia đình trong quá khứ, ở đó có vợ
dệt vải, chồng cày thuê cuốc mướn, cuộc sống êm đềm cứ thế trôi qua. Đến lúc
này, Chí sợ sự cô độc khi “tới cái dốc bên kia của đời” và khát khao mãnh liệt được
làm người lương thiện. Tình yêu, sự chăm sóc của Thị Nở với bát cháo hành gợi
lên trong hắn khát khao được yêu thương, được quan tâm, được chan hòa sống
10


trong thế giới con người và được làm người. “Hắn thèm lương thiện, hắn muốn
làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên
ổn với hắn thì sao người khác lại không thể được. Họ sẽ lại nhận hắn vào cái xã hội
bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện...?”. Thế nhưng, bà cô Thị Nở
xuất hiện đã dập tắt đi trong Chí cái khát khao lương thiện mới vừa nhen nhóm.
Ngay một người đàn bà “mả hủi” không chồng như bà cô Thị Nở cũng không chấp
nhận Chí thì những người khác sao có thể “mở đường” cho Chí. Ngay cả một
người đàn bà “ngẩn ngơ như những người đần trong cổ tích và xấu ma chê quỷ
hờn” mà “người ta tránh thị như tránh con vật nào rất tởm”, Chí cũng không thể
kết thân sống cùng thì có xã hội nào chấp nhận Chí? Chí cố gắng níu giữ nhưng cái
gạt tay của Thị Nở chỉ đưa Chí rơi vào sự tuyệt vọng đau đớn. Chí Phèo vật vã
trong bi kịch tinh thần của con người sinh ra là người nhưng không được chấp
nhận làm người. Một người đàn bà mà gia tài chỉ có “cái xấu, cái nghèo, cái ngẩn
ngơ” không ai cần đến như Thị Nở thì Chí Phèo cũng không thể với tới được. Chí
Phèo không thể chạm tay vào cái tối thiểu, cái tầm thường nhất vì Chí không được
chấp nhận là người. Chí Phèo “ôm mặt khóc rưng rức” trong “thoang thoảng thấy
hơi cháo hành” như thấm thía sâu sắc nỗi đau. Và lần này, không như mọi lần, Chí
Phèo “càng uống càng tỉnh ra. Tỉnh ra, chao ơi buồn”. Bởi vì, Chí đã ý thức được
nỗi đau, ý thức được bi kịch tinh thần trong khát khao làm người lương thiện thì
Chí không thể quay lại cuộc sống như bản năng vô thức trong lốt con quỷ. Càng
uống bao nhiêu thì Chí càng tỉnh bấy nhiêu mà đã tỉnh, Chí càng đau đớn cho cuộc
đời của mình. Hắn cầm dao đến nhà Bá Kiến, tìm đến nguồn gốc bi kịch cuộc đời
hắn bằng câu nói nhức nhối: “Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được
những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa. Biết
không!”. Chí Phèo giết Bá Kiến trả thù và tự kết liễu cuộc đời mình. Cái chết của
Chí Phèo kết thúc cho một chuỗi ngày dài trong bi kịch bị xã hội chối bỏ quyền
làm người nhưng cũng mở ra thăm thẳm những nỗi đau của bức tranh hiện thực
cuộc sống. Nó càng khoét sâu thêm sự nhức nhối trong bi kịch tinh thần của Chí
11


Phèo. Thèm lương thiện và thoáng thấy con đường trở về cuộc sống làm người
nhưng Chí Phèo phải tự kết liễu cuộc đời và chết ngay trên ngưỡng cửa về với
cuộc đời. Bởi lẽ, hắn không thể về lại cuộc sống cũ nhưng cũng không thể bước
qua ngưỡng cửa đó để hòa nhập cuộc sống con người vì không ai chìa tay ra mở
đường cho hắn. Vì vậy, cái chết của Chí Phèo như một điều tất yếu. Chết vì khát
khao làm người mà không thể làm người. Chí Phèo chết nhưng cái bóng ngật
ngưỡng của Chí trong những cơn say, những tiếng chửi của Chí và cái chết đau đớn
của Chí cứ bám riết tâm trí người đọc về nỗi đau của con người không được là
người. Khám phá ra bản tính tốt đẹp đằng sau hình hài quỷ dữ của Chí Phèo, phát
hiện ra bi kịch bị từ chối làm người của Chí Phèo cho thấy ngòi bút của Nam Cao
tuy có vẻ lạnh lùng, tàn nhẫn nhưng đầy chan chứa yêu thương và thông cảm trước
cuộc đời người nông dân trong xã hội cũ.
2.3. Con người cô đơn
Con người cô đơn là một kiểu nhân vật phổ biến trong văn học, nhưng ở mỗi
thời kỳ, giai đoạn và trong mỗi tác phẩm thì nó có những sắc thái biểu hiện khác
nhau. Nhân vật đại diện cho thân phận người nông dân đều là những người có số
phận không may mắn và cô đơn, bất lực trước cuộc sống. Bà cô của Thị Nở là một
người suốt đời lầm lũi trong cuộc sống cô độc vì chữ trinh tiết của lễ giáo phong
kiến, mà cũng là vì sự nghèo khó cả đời không thoát ra được. Thị Nở lớn lên bên
bà cô già, suốt ngày chỉ lúi húi đi ra đi vào vườn chuối, cắt rau, vớt bèo, nấu cám
lợn… Ấn tượng đầu tiên khi tiếp xúc với tác phẩm là nhan sắc xấu xí và sự ngớ
ngẩn, thô kệch đến nham nhở của Thị, nhưng gấp truyện lại, đâu đó vẫn có sự đắng
chát, xót xa cho một số phận lạc lõng giữa dòng đời. Gặp Chí Phèo, tưởng đâu
cuộc đời Thị Nở sẽ không cô đơn như bà cô già nữa, nhưng cuối cùng thì niềm
hạnh phúc nhỏ nhoi và bình dị ấy đã không thể đến với Thị Nở. Và tiêu biểu nhất
cho hình ảnh con người cô đơn trong truyện ngắn này chính là nhân vật chính của
truyện - Chí Phèo. Nỗi bi kịch của cuộc đời bị tha hóa, bị chối bỏ làm người của
nhân vật Chí Phèo làm ta xót xa nhưng có lẽ, nhức nhối khôn nguôi đó chính là nỗi
12


cô đơn tận cùng trong kiếp con người của Chí. Đó là nỗi đau lớn nhất, xa xót nhất.
Chưa bao giờ trong văn học thời bấy giờ có hình tượng con người cô đơn như vậy.
Hình tượng con người cô đơn là sự độc đáo trong quan niệm nghệ thuật về con
người và mang tính nhân văn sâu sắc của Nam Cao. Ngòi bút tinh tế của Nam Cao
đã khám phá sâu thẳm vào những ngõ ngách tâm lí của con người và ngầm cảm
thông cho cuộc đời cô đơn của Chí Phèo. Tác giả thấu hiểu được điều đó và để cho
Chí Phèo tự nghiệm ra: “Cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”. Chí
Phèo sống “ngật ngưỡng” với một kiếp sống cô độc: cô độc từ lúc sinh ra cho đến
khi chết đi, cô độc trong thời gian cho đến không gian sống, cô độc trong mọi mối
quan hệ người. Xuất hiện trên cõi đời, Chí Phèo là một đứa trẻ mồ côi, dù qua tay
bao người nuôi nhưng cuối cùng cũng không có nổi một mái ấm gia đình và khi
bác phó cối chết, Chí lại sống cuộc đời mồ côi bơ vơ. Lớn lên, cuộc đời Chí cũng
chẳng có gì sáng sủa. Chí chưa từng có một mối quan hệ người nào đúng nghĩa.
Cuộc sống gia đình có chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải đó chỉ là mơ ước.
Trong các mối quan hệ còn lại: với bá Kiến, với bà Ba, với Thị Nở, bà cô Thị Nở
và với dân làng Vũ Đại, Chí hoàn toàn cô độc vì hắn không được yêu thương,
không được nhìn nhận như một con người. Với Bá Kiến, Chí Phèo chỉ là công cụ
đâm thuê chém mướn. Với bà Ba, Chí là công cụ thỏa mãn bản năng phi nhân tính.
Với bà cô Thị Nở, Chí không phải là người. Với cả làng Vũ đại, Chí là “con quỷ
dữ”. Chỉ có trong quan hệ Thị Nở, Chí được năm ngày sống như một con người, có
người yêu thương nhưng quãng thời gian ngắn ngủi đó chỉ làm Chí càng ý thức rõ
hơn về sự cô độc, về nỗi đau của chính mình. Vì vậy, có thể nói cuộc đời Chí Phèo
là một chuỗi dài ngày tháng cô đơn. Sống trong xã hội của con người, Chí không
được chấp nhận làm người nên cuộc đời hắn thật cô độc. Khi đã bước vào con
đường lưu manh hóa, Chí chỉ biết đập mặt ăn vạ, giết người, cướp của… Còn
ngoài ra, cuộc sống hắn hoàn toàn cô độc. Vì vậy, Chí triền miên trong những cơn
say từ ngày này qua ngày khác, triền miên trong những tiếng chửi trời, chửi đời,
chửi làng Vũ Đại, chửi người sinh ra hắn. Phải chăng, những tiếng chửi kia là khát
13


khao được đối thoại? Phải chăng, những cơn say kia là Chí đang trốn mình tìm
quên đi nỗi cô đơn cùng cực? Còn gì đau đớn hơn, cô đơn hơn khi là người nhưng
không được làm người; là người nhưng không một ai trò chuyện, không một ai yêu
thương. Cuộc đời con người đáng sợ nhất là sự cô đơn. Có một nhà văn đã từng
viết: “Cô đơn là cho đi mà không người nhận, muốn nhận mà không có ai cho. Cô
đơn là chờ đợi, mà cái mình chờ chẳng bao giờ đến. Như hai bờ sống nhìn nhau mà
vẫn nghìn trùng xa cách bởi dòng sông, nên cô đơn là gần nhau mà vẫn cách biệt.
Không phải cách biệt không gian mà cách biệt của cõi lòng”. Chí Phèo sống một
cuộc đời cô đơn như thế và có lẽ là cô đơn hơn cả thế. Bởi có người cô đơn trong
lòng khi họ vẫn được trò chuyện với mọi người, vẫn sống trong mái ấm gia đình.
Còn Chí Phèo cô đơn ngay ở không gian sống cách biệt không người qua lại.
Không người trò chuyện, Chí đã chọn cách đối thoại dễ chạm lòng người, dễ được
đối thoại nhất là tiếng chửi, chỉ để mong được chửi lại. Nhưng không có người trực
tiếp để chửi nên Chí chửi vu vơ: chửi trời, chửi đời, chửi người. Tiếng chửi của Chí
Phèo chỉ được đáp trả bằng sự im lặng của mọi người và tiếng sủa của những con
chó: “hắn kêu làng thì không ai cần động dạng, họ lạu bạu chửi rồi lại ngủ, hắn
kêu làng cũng như người khác buồn, hát ngao. Đáp lại hắn chỉ có lũ chó cắn xao
lên trong xóm”. Khi hắn rạch mặt ăn vạ thì cũng chỉ có “ba con chó dữ với một
thằng say rượụ”. Những tín hiệu đối thoại thấp hèn nhất của Chí Phèo không được
đáp trả, hắn chỉ càng thêm cô độc trong kiếp làm người không giống người. Khi
Thị Nở đến, tình yêu và sự chăm sóc của Thị như những tia nắng sưởi ấm cõi lòng
giá băng, cô độc của Chí. Thế nhưng, đó chỉ là thứ ánh sáng vừa thắp lên đã vội tắt.
Nó làm Chí càng ý thức rõ và đau đớn hơn nỗi cô đơn trong kiếp làm người của
mình. Bát cháo còn thoảng hơi hành đâu đây, những cử chỉ yêu thương mới vừa
xảy ra thôi mà Thị Nở sau khi tạm “dừng yêu” về hỏi bà cô đã quay lại trút tất cả
giận hờn, cay đắng lên Chí Phèo. Mới mơ ước cuộc sống gia đình đó bây giờ đã bị
dập tắt. Chí cố gắng níu kéo, van xin thì Thị “gạt ra, lại giúi thêm một cái”. Đau
đớn biết bao khi ngỡ Thị Nở sẽ là bàn tay “cứu chuộc” Chí ra khỏi nỗi cô đơn của
14


cuộc đời “quỷ dữ” thì chính bàn tay đó lại “ruồng bỏ” Chí, làm tan đi những ước
mơ về mái ấm gia đình và cuộc sống hòa nhập với con người. Chính trong giây
phút này, Chí mới thấm thía nỗi cô đơn hơn bao giờ hết. Người ta càng cô đơn hơn
khi ý thức sâu sắc về nó. Chí tìm đến Bá Kiến trong sự tuyệt vọng, trả thù và kết
liễu đời mình. Và ngay cả khi chết, Chí vẫn cô đơn. Làng Vũ Đại vốn không xem
Chí là người thì dửng dưng bàn tán. Chỉ có Thị Nở từng có một quãng thời gian
nhân ngãi yêu thương với Chí thì cũng ngẩn ngơ nhìn xuống bụng nghĩ về một cái
lò gạch bỏ không như muốn cắt đứt mối liên hệ còn sót lại với Chí. Vì vậy, lúc còn
sống hay cả khi chết đi rồi, Chí Phèo hoàn toàn cô đơn. Cuộc đời cô đơn của Chí
Phèo nhức nhối trong trang văn Nam Cao làm ta càng xót xa thêm về số phận
người nông dân trong xã hội cũ.
2.4. Con người tự ý thức
Trong các tác phẩm của Nam Cao, kiểu con người tự ý thức xuất hiện đậm đặc
với nhân vật Hộ trong “Đời thừa”, Điền trong “Trăng sáng”… Với truyện ngắn
“Chí Phèo”, ta vẫn thấy thấp thoáng bóng dáng kiểu con người này ở nhân vật Chí
Phèo. Ý thức là cái giúp ta có thể phân biệt con người với loài vật. Tự ý thức là
trình độ cao của ý thức, thể hiện khi con người tự suy ngẫm, nhìn vào cõi lòng
mình để hướng tới sự hoàn thiện. Có thể nói, Chí Phèo sống cuộc đời vô thức với
bản năng của con quỷ dữ nhưng đâu đó trong Chí cũng có những khoảng lặng ý
thức tự ngẫm về cuộc đời mình. Lần đầu tiên Chí Phèo ý thức được về cuộc đời
mình là khi Thị Nở xuất hiện trong cuộc đời hắn. Trước đó, trong những cơn say,
Chí buông tiếng chửi thì dường như hắn cũng có ý thức, cũng biết tức vì không ai
chửi lại nhưng đó chỉ là ý thức mơ hồ. Khi Thị Nở đến cùng tình yêu, sự chăm sóc
thì những cảm xúc, những ước mơ khao khát, những suy ngẫm về cuộc đời rất rõ
ràng xuất hiện trong đầu Chí. Đó là ý thức rất người của Chí Phèo, ý thức hoàn
toàn tỉnh táo. Nghĩ về mơ ước quá khứ xa xôi, hắn “nao nao buồn”; nghĩ về hiện tại
ốm đau, hắn thấy cô độc và “buồn thay cho đời”. Những âm thanh bình dị cuộc
sống như tiếng chim hót, tiếng gõ mái chèo đuổi cá, tiếng trò chuyện của người đi
15


chợ... dội vào lòng Chí Phèo, bật lên thành tiếng thở dài “Chao ôi là buồn!”. Cảm
nhận sâu sắc nỗi buồn đó vì Chí Phèo đã ý thức được quãng đời tăm tối trong lốt
con quỷ dữ của mình, ý thức được sự cô đơn và nỗi buồn bị đồng loại xa lánh.
Chưa bao giờ, hắn ý thức giá trị con người như thế. Ý thức được là người thì phải
được sống trong những mối quan hệ con người. Vì vậy, hắn khát khao lương thiện,
hắn muốn làm hòa với mọi người thông qua Thị Nở. Lần ý thức này mở ra trong
Chí hi vọng, mơ ước, khát khao về những điều tốt đẹp. Thế nhưng, càng hi vọng
bao nhiêu thì nỗi đau đớn tuyệt vọng khi không đạt được càng thẳm sâu bấy nhiêu.
Trước sự can ngăn của bà cô Thị Nở, Thị Nở đã bỏ mặc Chí Phèo níu kéo. Cái gạt
tay của Thị Nở chính thức cắt đứt hoàn toàn mọi nẻo về với cuộc đời lương thiện
của Chí Phèo. Lần này là lần thứ hai Chí Phèo ý thức được nỗi đau, ý thức được bi
kịch cuộc đời. Ý thức thẳm sâu về kẻ thù đã gây nên bi kịch cuộc đời mình đã đưa
chân Chí Phèo đến nhà Bá Kiến. Sự tự ý thức đó thể hiện rõ trong câu nói đầy đau
đớn “Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên
mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa. Biết không!” Một người tưởng
đã mất hết tính người đã ý thức được sâu sắc bi kịch không được làm người của
mình. Và giết chết kẻ thù, tự kết liễu đời mình cũng chính là Chí Phèo ý thức được
hắn không thể làm người lương thiện được và cũng không thể sống như trước nữa.
Chính trong sự tự ý thức đầy đau đớn đó, nhân vật Nam Cao tỏa sáng vẻ đẹp nhân
cách. Nam Cao đã phát hiện ra vẻ đẹp tâm hồn lương thiện còn sót lại ở Chí Phèo
như một sự khẳng định vẻ đẹp con người với tấm lòng nhân đạo sâu sắc. Sự tự ý
thức đã khơi nguồn trong ta những cái nhìn mới đầy tính nhân văn về con người.
Con người dù tha hóa đến mất nhân tính nhân hình như Chí Phèo thì vẫn có những
phút lóe sáng vẻ đẹp nhân cách. Nam Cao không hề đánh mất niềm tin vào con
người. Chính trên bờ vực của sự tha hóa, sự tự ý thức đã kéo nhân vật đứng vững,
không tăm tối mãi trong cuộc sống như thú vật. Với cái nhìn nhân đạo, đầy tính
người của Nam Cao, vẻ đẹp của những người nông dân sẽ còn sáng mãi.
2.5. Con người với bản thể tự nhiên
16


Nam Cao đã xây dựng nhân vật Chí Phèo với “sự lưỡng hóa về tính cách”. Sự
lưỡng hóa tính cách giữa đôi bờ say tỉnh của vô thức và ý thức, giữa thiện và ác đó
cũng chính là bản thể tự nhiên của con người, xuất hiện ở bất cứ ai. Đó là một phát
hiện rất độc đáo trong quan niệm nghệ thuật về con người của Nam Cao. Con
người sinh ra trên đời vốn không ai tốt hay xấu hoàn toàn, thiện hay ác do chủ
quan cá nhân cùng với sự tác động hoàn cảnh tạo nên. Từ một anh canh điền lương
thiện, Chí đánh mất nhân tính, biến dạng nhân hình thành con quỷ dữ của làng Vũ
Đại. Từ một kẻ tha hóa, Chí mơ ước được làm người lương thiện, được sống bình
thường như bao người. Mặc dù Chí Phèo sau bao năm ngật ngưỡng từ nhà tù trở về
với hình hài là con quỷ dữ, bị tha hóa nhân tính, che khuất đi bản tính hiền lành tự
nhiên của con người Chí nhưng ta có thể thấy tính cách của Chí là hoàn toàn hợp
tự nhiên. Chí Phèo hung dữ là vậy, mà cũng có những phút run run, xao lòng khi
thấy Thị Nở. Hắn cũng biết làm tình, cũng biết làm nũng như trẻ con. Trước Chí
Phèo, Nam Cao đã phát hiện ra rằng “Ôi sao mà hắn hiền! Ai dám bảo đó là thằng
Chí Phèo vẫn đập đầu, rạch mặt và đâm chém người? Ðó là cái bản tính của hắn,
ngày thường bị lấp đi”. Rõ ràng, sự đan xen thiện - ác, xấu - tốt, phần người và
phần thú trong con người Chí cũng hiện hữu trong tất cả chúng ta - những ai đang
tồn tại với hai tiếng “con người”. Chỉ có điều, sự nổi lên của phần người hay phần
thú đó là do tác động hoàn cảnh và khả năng chế ngự hoàn cảnh của mỗi người.
Việc phát hiện ra bản thể tự nhiên trong con người Chí Phèo thể hiện sự mới mẻ,
giàu ý nghĩa trong quan niệm nghệ thuật về con người của Nam Cao so với văn
học thời bấy giờ. Nó cũng giúp chúng ta nhìn lại mình và có cái nhìn nhân đạo hơn
trong việc đánh giá một con người. Qua đó, ta nhận thấy được cái nhìn mới mẻ,
đầy tính nhân đạo trong quan niệm về con người của Nam Cao.

17


C. KẾT LUẬN
Nam Cao đã từng khẳng định: “Một tác phẩm thật giá trị phải vượt lên trên
tất cả bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người”. Truyện
ngắn Chí Phèo của ông đã làm được điều đó, hoàn toàn xứng đáng được xem là
một tác phẩm có giá trị về nội dung lẫn nghệ thuật. Bên cạnh sự thành công ở
những bình diện khác của thi pháp như ngôn ngữ, giọng điệu, xây dựng nhân vật,...
quan niệm nghệ thuật về con người của Nam Cao thể hiện qua nhân vật Chí Phèo
đã phần nào cho thấy sự đổi mới đầy sáng tạo trong nghệ thuật thể hiện cũng như
chiều sâu nhân văn trong cách nhìn con người. Cùng với những quan niệm về con
người như đã nói, Nam Cao đã không dẫm lên lối mòn cũ của những nhà văn hiện
thực đi trước trong cách khám phá hiện thực và con người. Ông đã tự khai thông
cho mình một con đường riêng tuy vất vả, khó khăn nhưng đầy dấu ấn sáng tạo. Ở
con người Chí Phèo, Nam Cao không chỉ phát hiện ra nỗi bi kịch, sự tha hóa mà
còn thấy những khoảng lặng cô đơn, sự tự ý thức đầy đau đớn và cả con người
mang bản tính thiện - ác tự nhiên. Đó là một cách nhìn con người hoàn toàn mới
mẻ và sáng tạo.
Đổi mới và sáng tạo trong quan niệm nghệ thuật về con người, Nam Cao đã
cho thấy chiều sâu trong cách phản ánh hiện thực, chiều sâu của tấm lòng nhân đạo
chan chứa yêu thương của nhà văn. Qua nhân vật Chí Phèo, ta thấy được một bức
tranh xã hội cũ đen tối dồn đẩy con người ta tha hóa, vẫy vùng tuyệt vọng trong bi
kịch không được làm người, đau đớn trong nỗi cô đơn đến tận cùng. Xưa nay, các
nhà văn thường diễn tả nỗi khổ người nông dân nghèo đói vì áp bức. Với Nam
Cao, ông cũng quan tâm đến nỗi khổ vì cái đói, miếng ăn nhưng ông thể hiện nhức
nhối hơn nỗi đau của bi kịch nhân cách, nỗi cô đơn tuyệt vọng ít ai quan tâm đến
trong giai đoạn này. Phát hiện ra bản tính thiện - ác rất đỗi tự nhiên của con người,
Nam Cao cũng đã thể hiện lòng nhân đạo sâu sắc và niềm tin khôn nguôi vào con
người. Có thể không đặt kì vọng nhiều vào con người nhưng Nam Cao không bao
giờ mất niềm tin vào con người. Đó cũng chính là ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong
18


tác phẩm của ông. Phải chăng, chính những sáng tạo mới mẻ cùng tấm lòng thông
cảm, tràn đầy yêu thương của nhà văn mà những tác phẩm của ông đã lay gọi tâm
hồn bao thế hệ bạn đọc với niềm yêu mến, trân trọng? Đó cũng chính là điều đã
đưa Nam cao bước lên đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực phê phán và vươn đến tính
hiện đại, hứa hẹn một nền văn học hiện đại, mới mẻ trong cách thể hiện, giàu khám
phá và sáng tạo.

******************************************

TÀI LIỆU THAM KHẢO

19


1. Trần Đình Sử, Một số vấn đề Thi pháp học hiện đại – Bộ giáo dục và đào tạo,
1993.
2. Trần Đình Sử, Giáo trình Thi pháp học - Trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh,
1993.
3. Trần Đình Sử, Thi pháp thơ Tố Hữu – NXB Văn hóa thông tin, 2001.
4. Phan Cự Đệ: Văn học Việt Nam thế kỉ XX – NXB Giáo dục, 2004.
5. Tuyển tập Sống mòn (Nam Cao).

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×