Tải bản đầy đủ

Quan niệm nghệ thuật về con người trong cánh đồng bất tận

MỞ ĐẦU
Thi pháp học hiện đại là một ngành mới của nghiên cứu văn học được phát
triển và khẳng định ở thế kỉ XX . Nghiên cứu văn chương từ góc độ thi pháp học
(tức là xem văn chương như một chỉnh thể, một hệ thống và cấu tạo nên hệ thống
đó là một loạt các thành tố tương tác với nhau một cách có quy luật) là một trong
những cách tiếp cận rất khoa học và đầy hứng thú mà nhân loại đang hướng đến .
Ngày càng có nhiều chuyên luận văn học đi theo hướng này. Chiếm lĩnh giá trị tác
phẩm văn học dưới ánh sáng của lý thuyết thi pháp học là một sự chiếm lĩnh có ý
thức, có lý, sâu sắc, tinh tế chứ không phải là một sự chiếm lĩnh tùy hứng, tùy tiện.
Trong đó có một phạm trù rất quan trọng của thi pháp học chi phối việc đánh giá
sự thành công trong sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ là quan niệm nghệ thuật
về con người. Văn học nghệ thuật là một sự ý thức về đời sống, nên nó mang tính
chất quan niệm rất cụ thể. Hình tượng nghệ thuật một khi đã hình thành là mang
tính chất quan niệm, nhà văn không thể miêu tả đối tượng mà không có quan niệm
về đối tượng. Trên cơ sở lí luận ấy, người viết chọn vấn đề quan niệm nghệ thuật
về con người trong tác phẩm “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư để từ đó
thấy ngòi bút sắc sảo của chị khi viết về những người dân nông thôn của vùng đất
Nam bộ này.

1



NỘI DUNG
I.Những vấn đề lý luận chung
1. Khái niệm thi pháp và thi pháp học
1.1 Thi pháp
Cho đến nay thuật ngữ “thi pháp” đã khá quen thuộc với những người học
tập nghiên cứu hoặc quan tâm đến văn học. Trên sách báo văn nghệ, người ta nhắc
đến nhiều thi pháp tác phẩm, thi pháp tác giả, thi pháp thể loại, thi pháp thời kì…
Có nhiều cách hiểu khác nhau về thi pháp, cách hiểu đơn giản có thể xác lập nội
dung của khái niệm thi pháp từ chính nội dung ngữ nghĩa của nó. Chữ thi ở đây chỉ
toàn bộ văn học nói chung chứ không phải chỉ riêng về thơ. Còn pháp là phương
pháp, phép tắc . Vậy thi pháp là phương pháp, phép tắc làm thơ, làm văn. Theo
Giáo sư Trần Đình Sử trong Một số vấn đề Thi pháp học hiện đại, mặc dù có nhiều
cách hiểu, cách tiếp cận khác nhau nhưng chung quy có hai cách hiểu chủ yếu:
Một là: coi thi pháp là nguyên tắc, biện pháp chung làm cho văn bản, phát ngôn
trở thành tác phẩm nghệ thuật.
Hai là: hiểu thi pháp là nguyên tắc, biện pháp sáng tạo nghệ thuật cụ thể, tạo thành
đặc sắc nghệ thuật của một tác giả, tác phẩm, trào lưu, thể loại...
Cách thứ 1 gần với mĩ học, lý thuyết văn học, cách thứ 2 gần với phê bình thưởng
thức tiếp nhận những hiện tượng văn học nghệ thuật. Tóm lại, thi pháp là toàn bộ
hệ thống hình thức nghệ thuật của một hiện tượng văn học (tác giả, tác phẩm, trào
lưu, giai đoạn, nền văn học…). Hệ thống hình thức nghệ thuật đó gắn liền với
những quan điểm thẩm mỹ của nhà văn, hình thức mang tính nội dung.
1.2 Thi pháp học
Thi pháp học là khoa học nghiên cứu về thi pháp, tức là nghiên cứu về hình thức
nghệ thuât của một hiện tượng văn học . Viện sĩ Khrapchenco định nghĩa: “Thi
pháp học là bộ môn nghiên cứu hệ thống các phương thức, phương tiện khám phá
đời sống bằng hình tượng nghệ thuật.” Nói cách khác, thi pháp học là ‘bộ môn
chuyên nghiên cứu các hệ thống nghệ thuật cụ thể, một khoa học ứng dụng trong
văn học, gần gũi với phân tích phê bình và nghiên cứu văn học.
2


Tuy nhiên thi pháp học với tư cách là lý luận văn học không đồng nhất với ngành
lý luận văn học, bởi: Lí luận văn học thiên về nghiên cứu các quy luật chung của
hiện tượng văn học; còn thi pháp học thiên về nghiên cứu các tác phẩm, thể loại,
tác giả, phong cách, trào lưu, ngôn ngữ, nguyên tắc đặc thù tạo thành hiện tượng
văn học cụ thể mà thôi. Thi pháp học với tư cách là khoa học ứng dụng cũng không
đồng nhất với phê bình, phân tích tác phẩm cụ thể. Phê bình văn học có thể đi từ
những góc độ khác nhau mà phát hiện khám phá , đặc biệt khám phá nội dung. Còn


thi pháp học thiên về phát hiện, khám phá các quy luật hình thức nghệ thuật.
Những đặc tính của thi pháp học nói trên bắt đầu từ thời cổ đại Hy Lạp, qua
phương Tây đến Nga rồi đến Việt Nam. Viện sĩ Khrapchenco (Nga) phân loại :
+ Thi pháp học lí thuyết: nghiên cứu cấu trúc, hình thức của tác phẩm văn học.
+Thi pháp học lịch sử: nghiên cứu sự tiến hoá của phương thức phương tiện chiếm
lĩnh thế giới bằng hình tượng và nghiên cứu sự hoạt động của chức năng thẩm mĩ
của chúng và số phận lịch sử của các khám phá nghệ thuật.
Nhìn chung, thi pháp học là một bộ phận chuyên biệt của nghiên cứu văn học,
chuyên nghiên cứu tính đặc thù và nguyên tắc nghệ thụât của văn học.
2. Quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm văn học.
2.1. Khái niệm Quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm cơ bản nhằm thể hiện khả
năng khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người của nhà văn.
Có thể nói, nó giống như là một “chiếc chìa khóa vàng” góp phần gợi mở cho
chúng ta tất cả những gì bí ẩn trong sáng tạo nghệ thuật của mỗi người nghệ sĩ nói
chung và từng thời đại nói riêng. Tuy nhiên, cho đến nay, mặc dù được nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm tìm hiểu, song khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người
vẫn còn nhiều cách định nghĩa và diễn đạt khác nhau. Cụ thể như sau:
Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: “Quan niệm nghệ thuật về con người là một
cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm
của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình”. Tức, quan
niệm nghệ thuật về con người sẽ đi vào phân tích, mổ xẻ đối tượng con người đã
được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người
trong văn học của tác giả, từ đó, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình
3


tượng nhân vật trong đó. Vì vậy, chúng ta sẽ thấy được giá trị của hình tượng nghệ
thuật trong các tác phẩm.
Giáo sư Huỳnh Như Phương cũng góp tiếng nói của mình bằng một cách
nhìn khá bao quát: “Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện tầm nhìn của nhà
văn và chiều sâu triết lí của tác phẩm”.
Cũng với vấn đề về quan niệm nghệ thuật về con người, Từ điển Thuật ngữ
văn học định nghĩa như sau: “Quan niệm nghệ thuật về con người là hình thức bên
trong, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức tác phẩm. Nó gắn với các phạm trù
khác như phương pháp sáng tác, phong cách của nhà văn, làm thành thước đo của
hình thức văn học và cơ sở của tư duy nghệ thuật.”
Nhìn chung, tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng những khái niệm trên đều
nói lên được cái cốt lõi của vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người. Từ đó,
chúng ta có thể đi đến khái quát cách hiểu quan niệm nghệ thuật về con người như
sau: Quan niệm nghệ thuật về con người được hiểu là cách nhìn, cách cảm, cách
nghĩ, cách cắt nghĩa lí giải về con người của nhà văn. Đó là quan niệm mà nhà
văn thể hiện trong từng tác phẩm. Quan niệm ấy bao giờ cũng gắn liền với cách
cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể, ngay cả khi miêu tả con
người giống hay không giống so với đối tượng.
Như vậy, vì trung tâm của văn học là con người nên con người cũng chính
là đối tượng thẩm mĩ thể hiện quan niệm của tác giả về cuộc sống. Người sáng tác
sẽ là người vận động, suy nghĩ về con người, cho con người, nêu ra những tư tưởng
mới để hiểu về con người. Bởi người ta không thể miêu tả và tạo nên chiều sâu,
tính độc đáo của hình tượng con người trong văn học nếu không hiểu biết, cảm
nhận và có các phương tiện, biện pháp nhất định.
Từ việc hướng đến xác định khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người,
có thể khẳng định rằng, chúng ta sẽ không thể hiểu một cách đầy đủ những đổi
thay trong nội dung phản ánh cũng như nghệ thuật biểu hiện của văn học, nếu
không quan tâm tới sự vận động của con người trong văn học, đặc biệt là vấn đề
quan niệm nghệ thuật của các tác giả về con người trong văn học. Nói cách khác,
nếu bỏ qua quan niệm nghệ thuật về con người sẽ dẫn tới cách hiểu đơn giản về
bản chất phản ánh của nghệ thuật, hạ thấp yêu cầu sáng tạo thẩm mĩ của nghệ
thuật. Cho nên, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người là điều hết sức quan
4


trọng. Đây được xem là cơ sở lí luận để chúng ta nghiên cứu tác phẩm văn học
dưới góc độ thi pháp học.
“Văn học là nhân học, đối tượng thể hiện chủ yếu của nó là con người”.
Chúng ta không thể lí giải một hệ thống văn, thơ mà bỏ qua con người được thể
hiện trong đó. Tuy nhiên sự miêu tả con người trong văn học không bao giờ là sự
sao chép, chụp ảnh và tâm hồn nhà văn cũng không như một tấm gương trong cho
sự phản chiếu nào. Nhà văn sáng tạo ra nhân vật, kể ra, miêu tả ra nhân vật, nhân
vật bao giờ cũng hiện ra theo cách hình dung, cảm nhận của tác giả, tức là mỗi nhà
văn đều có một quan niệm khác nhau về con người. Trong lịch sử văn học chẳng
những con người với tư cách là đối tượng của văn học đổi thay, mà ngay quan
niệm nghệ thuật về con người cũng thay đổi làm cho khả năng chiếm lĩnh con
người trong văn học ngày càng sâu sắc, phong phú và tạo thành lịch sử của sự miêu
tả con người trong văn học.
2.2. Cơ sở lịch sử xã hội và văn hóa của quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc cảm thấy, hiểu và miêu
tả con người trong văn học. Nhưng các nguyên tắc ấy có cơ sở sâu xa trong thực tế
lịch sử, thực tiễn xã hội. Do đó, quan niệm nghệ thuật về con người là một sản
phẩm của lịch sử. Nó thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa giữa văn học nghệ thuật
với hiện thực đời sống xã hội. Chẳng hạn như quan niệm nghệ thuật về con người
trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa trước hết gắn liền với thế giới quan MacLênin , với thực tế đấu tranh cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo và nhất là gắn
với quan niệm về con người mới và cuộc sống mới .
Quan niệm nghệ thuật về con người cũng là sản phẩm của văn hóa tư
tưởng. Thời trung đại phương Tây, người ta xem con người là sản phẩm sáng tạo
của Chúa Trời; từ thời Phục Hưng đến Khai Sáng thì con người được xem là sản
phẩm của tự nhiên; từ thế kỷ XIX thì xem con người là sản phẩm vừa của tự nhiên,
vừa của xã hội. Ở phương Đông từ thời cổ đại đến trung đại người ta quan niệm
con người là sản phẩm của tự nhiên, của vũ trụ. Chẳng hạn như quan niệm về con
người vũ trụ trong văn học trung đại Việt Nam gắn liền với cảm thức xã hội của
con người trung đại. Đó là quan niệm Thiên Địa Nhân hay “ Thiên- Nhân thương
cảm” , con người là tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ, con người có mối liên hệ mật thiết
với thiên nhiên. Chính vì thế con người trong văn học trung đại thường cảm nhận
5


mình trong mối quan hệ với đât trời với những cái lớn lao cao cả. Chỉ có những
con người cao quý mới xứng đáng hòa với thiên nhiên, con người tầm thường bị
đày trong cái xã hội phàm tục hằng ngày. Hệ quả là khi miêu tả người quân tử, văn
nhân nhà Nho đều lấy chất liệu thiên nhiên cao quý: tùng, cúc, trúc, mai…
Đến văn học hiện thực phê phán , quan niệm nghệ thuật về con người có
thay đổi, người ta tập trung chú ý mối quan hệ con người với hoàn cảnh xã hội,
xây dựng những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Còn con người
trong Văn học lãng mạn là con người cá nhân đời tư. Văn học 1945-1975 do chiến
tranh nên văn học quan tâm đến con người quần chúng, sử thi. Văn học đương đại
quay trở lại con người bản ngã, con người đời tư, con người với vô số bi kịch, nó
tiếp nối văn học 1930-1945. Tương ứng với mỗi giai đoạn văn học thì có một cách
QNNT về con người. Quan niệm nghệ thuật về con người còn mang dấu ấn sáng
tạo của người nghệ sĩ, gắn liền với cái nhìn của người nghệ sĩ. Trong văn học ta bắt
gặp con người tha hóa trong sáng tác của Nam Cao, con người vô nghĩa lí trong
sáng tác Vũ Trọng Phụng, con người chính trị trong thơ Tố Hữu, con người cô đơn
trong truyện của Nguyễn Huy Thiệp, con người đầy bản năng tính dục trong sáng
tác của Phạm Thị Hoài…
Trong các thể loại văn học khác nhau, chức năng và hệ thống phương tiện
biểu hiện khác nhau, quan niệm nghệ thuật về con người cũng khác nhau. Con
người trong thần thoại là con người siêu phàm như năng lực, một sức mạnh để chế
ngự thiên nhiên hay thực hiện một công việc nào đó,con người trong truyện cổ tích
là hiện thân của một quy ước xã hội,…
Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiến trình lịch sử văn học là cả
một quá trình vận động phát triển và biến đổi. Điều đó nói lên việc nhận thức và
khám phá về con người là một quá trình sáng tạo không ngừng của nhà văn.
3. Những biểu hiện quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn
“Cánh đồng bất tận” của Nguyên Ngọc Tư.
3.1 Vài nét về tác giả Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư là một nữ nhà văn trẻ của vùng đất tận cùng của Tổ quốc.
Chị sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau trong một gia

6


đình có truyền thống cách mạng. Nguyễn Ngọc Tư là một hiện tượng văn học độc
đáo khiến đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước quan tâm.
Sau hơn mười năm cầm bút (tính từ 1997 đến năm 2012), Nguyễn Ngọc Tư
đã có hơn 15 đầu sách được xuất bản. Ngọn đèn không tắt (2000) Ông ngoại
(2001) Biển người mênh mông (2003) Giao thừa (tập truyện ngắn, 2003, tái bản
2012) Nước chảy mây trôi (tập truyện ngắn và ký, 2004), Sống chậm thời @ (tản
văn, 2006) - đồng tác giả với Lê Thiếu Nhơn, Sầu trên đỉnh Puvan (2007), Truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tư (tập truyện ngắn, 2005), Cánh đồng bất tận (tập truyện
ngắn, 2005), Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (tạp bút, 2005), Ngày mai của những ngày
mai (tạp bút, 2007), Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (tập truyện ngắn, 2008), Biển của
mỗi người (tạp bút, 2008), Yêu người ngóng núi (tản văn, 2009), Gáy người thì
lạnh (tản văn, 2012), Sông (tiểu thuyết, 2012)Trong số các tác phẩm đã in, tập
truyện Cánh đồng bất tận được coi là thành công hơn cả. Truyện ngắn Cánh đồng
bất tận được Hội nhà văn Việt Nam trao giải A (2006). Tính đến tháng 02 năm
2007, tập truyện đã tái bản đến lần thứ 12. Năm 2007, Nguyễn Ngọc Tư được mời
sang Hàn Quốc để nói về Cánh đồng bất tận và tác phẩm này được dịch ra tiếng
Hàn. Đầu năm 2009, cũng chính Cánh đồng bất tận được chuyển thể thành một tác
phẩm điện ảnh.
Truyện của Nguyễn ngọc Tư đi sâu khai thác mảng hiện thực đang bày ra
trước mắt, một hiện thực đang được rung chuông báo động, ở đó đầy những va
chạm, bụi bặm và ngột ngạt của cuộc sống đời thường. Chị dùng ngòi bút viết về
những con người chân lấm tay bùn, những mối tình buồn hết biết, những nỗi đau
đời tê tái: Cuối mùa nhan sắc, Hiu hiu gió bấc, Mối tình năm cũ, Thương quá rau
răm…;những bi kịch của gia đình trước những cám dỗ của vật chất: Cánh đồng
bất tận. Nguyễn Ngọc Tư có một phong cách riêng độc đáo, đặc sệt Nam bộ vừa
quen mà rất lạ. Nguyễn Quang Sáng nhận xét “Chất Nam bộ trong văn cổ (Ngọc
Tư) đậm đặc, từ hình dáng thân thể con người, cách sống, tính cách cho tới ngôn
từ. Thoại trong văn Tư không hề bị lai, rặt Nam bộ mà người ta đọc vẫn hiểu và
cảm thấu trọn vẹn” . GS. TS Trần Hữu Dũng (việt kiều Mỹ) gọi Ngọc Tư là “đặc
sản” vì chị đã tạo ra điểm riêng ấn tượng nhất mà dẫu cuộc thi có cắt phách họ vẫn
nhận ra. Nguyễn Ngọc Tư đã góp phần đưa văn học Nam Bộ ra khỏi cái khuôn sáo
“ngô nghê mà thiếu tự nhiên” đã tồn tại quá lâu trong văn học Đồng bằng sông
Cửu Long”. Chị đã đưa truyện ngắn đương đại lên một tầm cao mới, làm sống
động nền văn học nước nhà. Nguyễn Ngọc Tư trở thành gương mặt sáng giá và
7


triển vọng nhất trong đội ngũ các nhà văn đương đại (đứng sau Nguyễn Huy
Thiệp). Đạt được điều này một phần cũng do chị biết kế thừa và cách tân trong sự
thể hiện Quan niệm nghệ thuật về con người.
3.2 Tóm tắt truyện ngắn Cánh đồng bất tận
Truyện ngắn Cánh đồng bất tận lấy bối cảnh miền Tây Nam Bộ. Ở nơi đó,
ông Út Vũ là một nông dân chân chất, hiền lành làm nghề thợ mộc. Rồi một ngày,
ông tình cờ gặp một cô gái xinh đẹp đang ngồi khóc trên bến sông. Cô gái xinh
đẹp, có “nụ cười lấp lánh cả khúc sông” và “làn da trắng như bông bưởi” ấy đã
làm xiêu lòng trái tim của Út Vũ. Cả hai nên vợ nên chồng, sống hạnh phúc bên
căn nhà lá nằm cạnh con sông Dài có những hàng mắm cặp mé sông và có với
nhau 2 đứa con: Nương , Điền. Hạnh phúc không ở lâu với gia đình Út Vũ. Cuộc
sống nghèo khó, lại rày đây mai đó khiến ông không thể giữ được tình yêu của
người vợ đang trong thời kỳ xuân sắc. Cô “bỏ nhà theo trai”, để lại cho chồng 2
đứa con nhỏ bơ vơ và mái nhà tranh vách lá. Hận vợ phụ tình, ông Vũ đốt nhà, dắt
con phiêu bạt trên chiếc ghe đi chăn vịt từ cánh đồng này đến cánh đồng khác.
Thời gian thấm thoát trôi, những cánh đồng mà cha con ông Vũ đi qua không sao
kể xiết, nhưng nỗi hận trong lòng ông vẫn không thể nguôi ngoai. Nó khiến ông
ngày càng trở nên cộc cằn và cáu gắt. Trong khi đó, Nương lớn lên ngày càng xinh
đẹp như mẹ. Bao nhiêu bực dọc, bao nhiêu uất ức và căm hận của ông vì thế đều
trút lên hai đứa con của mình và lên những người đàn bà mà ông bắt gặp. Ông hận
tất cả đàn bà. Ông để họ yêu mình và rồi lại bỏ rơi họ theo cách mà ông đã từng bị
bỏ rơi. Cuộc sống nặng nề và u ám của 3 cha con ông Vũ cứ thế tiếp diễn, ngày
qua ngày. Cho đến một ngày kia, 2 chị em Nương và Điền tình cờ giải cứu cho cô
gái điếm tên Sương đang bị những người đàn bà trong xóm đánh ghen, tra tấn. Sự
xuất hiện của Sương đã mang lại chút không khí đầm ấm cho 2 đứa bé thiếu tình
thương của cha mẹ, cho những bữa cơm của Nương và Điền thêm phần ấm áp và
cho cuộc sống tinh thần của 2 chị em bớt tẻ nhạt. Tuy nhiên, đối với ông Vũ, sự
xuất hiện của Sương càng khiến vết thương của ông thêm phần nhức nhối. Ông vẫn
lạnh lùng. Ông vẫn cáu gắt và đay nghiến thân phận “làm đĩ” của Sương, dù có thể
ở tận sâu đáy lòng mình, ông có dành cho Sương một chút tình cảm, giống như là
tình yêu. Trớ trêu thay, người phụ nữ “làm đĩ” ấy lại đem lòng yêu ông Vũ. Cô làm
tất cả để bảo vệ 3 cha con ông, kể cả việc “bán thân” để đổi lấy đàn vịt. Tuy nhiên,
tình yêu ấy lại được đáp lại bằng sự chua chát và thái độ thù hận. Sương quyết định
bỏ đi. Điền cũng bỏ nhà đi tìm Sương. Chỉ còn lại Nương và ông Vũ, tiếp tục cuộc
8


hành trình cô độc trên những cánh đồng bất tận…Cho đến một ngày, khi trái tim
của ông Út Vũ dần nguôi ngoai, tình thương của người cha quay về thế chỗ cho
những hận thù thì một biến cố lớn lại ập đến cho gia đình ông Vũ, cho cô con gái
tội nghiệp của ông…Trên “Cánh đồng Bất Tận”, con gái ông bị bọn côn đồ ăn cắp
vịt cưỡng hiếp trước sự bất lực của người cha.
3.3 Các kiểu con người trong truyện Cánh đồng bất tận
3.3.1 Con người cô đơn, lạc lỏng
Con người cô đơn - lạc lõng giữa cộng đồng là một trong những cảm hứng
chủ đạo của nhiều cây bút có tiếng vang lẫy lừng trong nền văn học Việt Nam hiện
đại, tiêu biểu như: Nam Cao, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp... Tiếp nối mạnh
chủ đề cô đơn - lạc lõng của con người trước thiên nhiên và trước xã hội, Cánh
đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư dựng nên những con người với thân phận bèo
bọt trong xã hội, kiểu con người tận cùng nỗi cô đơn. Con người lạc lõng ấy không
phải một thành viên sống động của xã hội, mà bị đồng loại xô dạt ra bên lề cuộc
đời. Cũng giống như Lâu đài của F.Kafka, hay Trăm năm cô đơn của G.Marquez,
nhân vật đều sống trong ốc đảo cô đơn.
Chí Phèo của Nam Cao cũng vì định kiến của người dân làng Vũ Đại mà
rơi xuống vực thẳm của nỗi cô đơn, ngay cả khi anh đã hồi sinh, khát khao một
cuộc sống lương thiện, thì người ta vẫn không chìa tay ra để cưu mang anh, tất cả
đều quay lưng lại, để rồi Chí phải chết trên ngưỡng cửa trở về làm người. Con
người cô đơn lạc lõng trong Cánh đồng bất tận có phần dữ dội và quyết liệt hơn.
Khi người mẹ bỏ đi “theo trai”, sự hoan hỉ hiện rõ trên khuôn mặt của những người
lối xóm “cả xóm tưng bừng, kẻ mừng vì vợ mình chưa bỏ theo trai, người vui vì
con đàn bà đẹp nhất xóm đã đi rồi, khỏi lo ông chồng suốt ngày thòm thèm dòm
ngó…” Cái quan hệ tình lành nghĩa xóm quá ư là lỏng lẻo, họ cười cợt một người
đàn bà ngoại tình, họ hả hê vì một gia đình hạnh phúc tan rã. Cha con Út Vũ không
chịu được phải tháo chạy khỏi cộng đồng sau sự kiện mẹ cô theo trai. Gia đình có
ba người ấy lênh đênh cuối bãi đầu ghềnh, sống cuộc đời du mục, hai đứa trẻ
không được đến trường, không được giáo dục kĩ năng sống, không được tiếp xúc
với thế giới con người, vì vậy mà chúng kêu nhớ con - người và thèm được nhìn
thấy con - người. Rõ ràng, con người quá hờ hững, vô tâm trước nỗi đau của đồng
loại .
9


Con người không chỉ cô đơn lạc lỏng giữa cộng đồng, làng xóm mà ngay
trong gia đình bên cạnh những người thân yêu họ cũng hoàn toàn cô đơn. Trong tác
phẩm, bi kịch của hai chị em Điền và Nương không đơn giản chỉ là vấn đề “miếng
cơm manh áo” mà chính là sự đói khát về tình cảm của cha mẹ, của con người với
con người trong cuộc sống. Trong tiềm thức của hai chị em Nương luôn là hình
ảnh người mẹ trẻ đẹp một thời nhưng tất cả đều là mầm mống và dấu hiệu báo
trước một sự chia lìa, xa cách do sự thiếu chung thủy của người mẹ ấy. “Má ngó
chúng tôi, hỏi: “Gì mà nhìn trân trân vậy hai đứa?”. Tôi nói,“Má lạ quá hà, nhìn
không ra”. Má mừng quýnh, “Thiệt hả?”. Tôi muốn khóc quá chừng, má con xa lạ
với nhau sao lại mừng?”. Và đúng như thế, mẹ của chúng cuối cùng do không
chống lại nổi sự cám dỗ của người đàn ông có chiếc ghe với đủ vải vóc lụa là hấp
dẫn đã nhẫn tâm bỏ đi. Còn lại người cha, cứ ngỡ ông sẽ dành tất cả tình cảm của
mình cho hai đứa con yêu thương để bù đắp sự trống vắng của người mẹ thì trái lại
ông cư xử với chúng như những người dưng xa lạ. . Đó là thái độ hà khắc, dưng
dưng trước sự cô đơn, thiếu tình thương của hai chị em Điền. Có lẽ trong thâm tâm
của người cha, tình thương yêu con đã bị lấn át bởi sự hận thù, nỗi đau đớn khi bị
vợ phụ bạc. Ông bỏ mặc hai đứa trẻ trong sự cô đơn, thiếu hụt tình cảm yêu thương
của cha mẹ. Vì thế, tuy sống với cha nhưng hai chị em Nương và Điền hầu như chỉ
biết “giao tiếp” với… đàn vịt mà chúng chăn thả trên những Cánh đồng bất tận.
Chúng thèm quay quắt một ánh nhìn trìu mến của cha mà lẽ ra đương nhiên chúng
được quyền hưởng. Chúng thèm được nghe ông sai đi mua rượu, sai nướng vài con
khô để ông vui thú với bạn bè. Thậm chí chúng còn thèm được nghe ông la hét,
đánh mắng dù họ chẳng lầm lỗi gì. Nói tóm lại, họ khao khát được giao cảm, được
trò chuyện giống như bầy vịt chăn thả trên đồng cần có lúa để ăn mà đẻ trứng. Họ
thèm được “đối thoại” với cha mình dù đó là những lời nạt nộ, xa lạ như với người
dưng nước lả. Những đoạn văn sau cho thấy nỗi cô đơn, sự thiếu tình thương của
chị em Nương và Điền:
- “Trời ơi, trừ chị em tôi ra không ai thấy được đằng sau khuôn mặt chữ điền ngời
ngợi đó là một hố sâu đen thẳm, bến bờ mờ mịt, chơi vơi, dễ hụt chân”.
- “Có lần, khi đi trên sông, thằng Điền giả đò té chìm nghỉm mất tăm, tôi giả đò
kêu la chói lói, cha hơi giật mình hoảng hốt, dợm lao xuống nước, nhưng rồi cha
điềm nhiên ngồi lại, tiếp tục gọt đẽo, chắc là nhớ thằng Điền đã lặn lội nước sông
từ năm bốn tuổi, sức mấy mà chết trôi.”
10


- “Có lần, đi qua xóm, trong một buổi chiều, chúng tôi gặp những ông già ngồi
chơi với cháu, thằng Điền đứng tần ngần bên hàng rào dâm bụt, bảo, “ phải chi
ông nầy là ông nội mình hé Hai?” Nghe câu đó tôi bỗng thấy mình nghèo rơi
nghèo rớt đến nỗi không có… ông nội để thương, thèm muốn bên đường
Hai chị em bị bỏ bê, như thuyền không lái, rịt lấy nhau trong một thứ trực
giác hoang dại: tự mày mò chống lại những yếu kém tinh thần, tự dạy dỗ nhau, tự
bảo vệ nhau, tự trấn những dồn nén, đòi hỏi của cơ thể. Hai chị em như những đứa
trẻ bị bỏ hoang trên bãi chiến trường nguyên thủy, chúng phải tưởng tượng ra tình
yêu, chúng phải sáng tác ra da thịt, chúng thiếp đi trong những cơn mộng mị "nằm
co quắp, hai tay kẹp giữa đùi". Đặc biệt, khi chúng đến tuổi dậy thì lại không có
một chút hành trang nào về giới tính. Nương lần đầu tiên có kinh, máu chảy giữa
hai đùi không tạnh, thằng Điền phải bứt đọt chuối nhai lấy bã, rồi lấy thuốc gò đắp
vô để cầm máu cũng chẳng ăn thua. Đọc đoạn đó ta chỉ thấy duy nhất sự bất lực
đang đè lên hai đứa trẻ chăn vịt vốn thiếu hơi người. Với Nương được đến trường
chỉ có ở trong mơ, em nói; “Hai nhớ trường học quá à” làm ai cũng nghẹn ngào.
Nỗi cô đơn, hiu quạnh quạnh và sự hờ hững của người cha khiến hai chị em Điền
và Nương có lúc rơi vào những chiêm bao, mộng mị. Sống trên những cánh đồng
khô nắng cháy nhưng chúng luôn ước ao về cuộc sống gia đình hạnh phúc, được
sống trong vòng tay yêu thương của gia đình như cái thuở mẹ chưa bỏ đi. Hình ảnh
người mẹ cứ lởn vởn trong tâm trí, ám ảnh suốt cuộc hành trình cô đơn của hai đứa
trẻ. Chín tuổi, chứng kiến cảnh người mẹ oằn oại dưới lão bán vải lưng đầy những
nốt ruồi, tâm hồn đứa trẻ đã bị tổn thương, bị vấy bẩn tàn nhẫn. Từ đó, Điền mắc
bệnh chảy nước mắt sống, “Điền khóc suốt (…) , dù vẻ mặt nó rất bình thản”,
những giọt nước mắt không bao giờ khô được “rỉ từng giọt như máu tươi”.Rồi lớn
lên trên chiếc ghe của hành trình thù hận, ghê sợ sự thô bạo của cha: “cha làm việc
đó cũng như mấy con vịt đạp mái”, Điền ngày càng khinh bỉ tình dục, khinh bỉ
quan hệ giữa đàn ông và đàn bà mà theo Điền chỉ có sự bẩn thỉu. “Điền chối bỏ
niềm vui được trở thành một người đàn ông thực thụ. Nó tự kìm hãm bản năng trỗi
dậy mạnh mẽ ở tuổi dậy thì bằng tất cả sự miệt thị, giận dữ, căm thù. Nó phản
kháng bằng cách trút sạch những gì cha tôi có, cha tôi làm”. Để đến nỗi Điền trở
nên phi giới tính về mặt sinh lý, không còn khả năng ân ái, yêu đương.
Chính vì không được yêu thương, rời xa đồng loại, hai đứa trẻ dần từ bỏ
cuộc sống của con người, nghĩa là từ bỏ đi thói quen giao tiếp bình thường, “đắm
đuối với loại ngôn ngữ mới”, ngôn ngữ không lời, ngôn ngữ của loài vịt. Chẳng
11


cần thốt lên một lời, chúng vẫn hiểu nhau, biết nhau muốn gì. Oái ăm thay, chúng
từ bỏ đồng loại để lao vào thế giới của bầy vịt, chỉ vì thế giới ấy không hề có
“ghen tuông, hờn giận”, “chỉ đủ yêu thương” . Bọn chúng đắm chìm vào thế giới
vịt miễn “tạm quên được nỗi buồn của cõi người”, “hy vọng sẽ không bị đau như
yêu thương một con - người nào đó”. Trong tác phẩm có một chi tiết làm cho
người đọc không khỏi xúc động, đó là chi tiết cô bé Nương hay tìm đến con vịt mù
trong đàn để trút hết những nỗi niềm tâm sự, mong tìm được sự cảm thông chia sẻ.
Thế giới Vịt (con Vịt mù) không những phân biệt được giọng hát mà còn nghe
được cả tiếng trái tim Nương đang thổn thức: “Quen lắm. Chập chờn, thút thít,
đòng đưa như sắp rụng…” . Đây là một chi tiết đắt giá làm người đọc phải giật
mình về mối quan hệ lỏng lẻo, xa lạ giữa người với người trong cuộc sống. Chúng
ta thử nghĩ xem vì sao trong cuộc sống hiện đại con người ta lại cô đơn, bơ vơ và
lạc lỏng đến như vậy? Con người sẽ như thế nào nếu đánh mất tiếng nói? Đánh
mất tiếng người đồng nghĩa với việc con đường hoà nhập vào cõi người bị bưng
kín, khao khát được giao tiếp với con người nhưng không có tiếng đáp lại mà tự
nói với cái tôi cô quạnh kia thì con người cô đơn đến nhường nào? Mà cô đơn,
không có tiếng vọng của đồng loại, con người khó có thể tồn tại.
Đến đây có thể nói cái nghèo cái đói về vật chất, về miếng cơm manh áo
đối với người nông dân bây giờ là chuyện rất… bình thường. Chỉ có cái nghèo, cái
đói về mặt tình cảm, nỗi thiếu thốn về chữ tình, chữ nghĩa, sự giả dối trong đối xử
giữa người với người mới là điều quá sức tưởng tượng của họ “
Thông qua Cánh đồng bất tận tác giả đặt ra hàng loạt câu hỏi: cái gì đã
làm cho Nương và Điền đánh mất tiếng nói của loài người? Vì sao hai chị em
“hỏng nói tiếng - người”? Tại sao con người cô đơn - lạc lõng? Ẩn sau lớp ngụ
ngôn là thông điệp nhà văn gửi đến cuộc đời. Chị mơ ước con người theo đúng
nghĩa đích thực của nó. Con - người yêu thương, cảm thông chia sẽ, “đồng loại con
người học cách hiểu nhau” hơn. Vì chừng nào nhân loại còn ghẻ lạnh, chừng đó
vẫn còn vô số con người chìm trong đau khổ bất tận. Hãy dùng tình thương để sưởi
ấm để cõi nhân gian này bớt phần lạnh lẽo. Gia đình hãy là chỗ dựa để những đứa
trẻ được phát triển tự nhiên. Chị tâm sự: trong cõi văn chương, tôi là đứa cực kỳ cô
đơn. Nên tôi rất dễ dàng để nhân vật của mình sống trong cô đơn tận cùng, trong
hoang hoải, chán chường. Tôi, cũng như những con người trong “Cánh đồng bất
tận”, sống giữa nhiều người, sống giữa cộng đồng, sống giữa biển người nhưng có
cảm giác như bị bỏ rơi.
12


3.3.2 Con người nữ bị cám dỗ
So với Nguyễn Huy Thiệp, ông nhìn người phụ nữ rất trìu mến, ngưỡng
mộ, ưu ái và đầy thiên tính nữ , còn Nguyễn Ngọc Tư có cái nhìn đi ngược lại, chị
xây dựng nhân vật nữ không điêu ngoa, dối trá, lừa đảo hay sát nhân…cái tội xấu
xa nhất của người phụ nữ được soi chiếu và nhìn nhận ở tội ngoại tình. Ngoại tình,
với người phụ nữ đôi lúc chưa hẳn vì tình, mà vì những lời khen và sự hứa hẹn, vì
sự cám đỗ đầy mê hoặc của đồng tiền.
Đồng tiền có sức mạnh vạn năng, nó tạo nên những bi kịch cho những ai
quá khao khát nó mà thực hiện những hành vi trái với luân thường đạo lí. Vợ của
Út Vũ là điển hình cho những bi kịch xuất phát từ sự cám dỗ của phù hoa , đi theo
trai chỉ vì nghĩ “người đẹp vì lụa”. Chị ngao ngán và thở dài với cái nghèo: “Má
tôi thở dài khi ghe cha ghé bến vì biết mai mốt cha lại đi. Má tôi thở dài khi tắm,
khi nước trôi dài trên làn da trắng như bông bưởi. Lúc ngồi vá những bộ quần áo
cũ. Mỗi lần ghe vải ghé trước bến, má cũng thở dài, tay bối rối nắn vào hai túi áo
mỏng kẹp lép. Thở dài khi thằng Điền bảo cho con xin tiền mua kẹo má ơi.’ Cũng
giống như nhiều người đàn bà khác, chị choáng váng, đê mê và thích thú mỗi khi
thấy ghe vải với đủ sắc màu, thích lắm nhưng tay nắn túi áo thấy nó xẹp lép, nhìn
lại bồ lúa thấy nó đã vơi đi hơn hai phần,…đành nuốt nước miếng trong nỗi khát
thèm
Cùng với nó, những lời có cánh của ông chủ ghe vải đã làm chị quên đi tất
cả, tận cùng sự ham muốn vật chất chị phải đánh đổi thân xác lấy vải. Cuộc ngoại
tình diễn ra tại nhà, hai đứa trẻ một lên chín, một mười đã nhìn thấy mẹ mình quằn
qoại rên xiết, thở hổn hển với ông chủ vải, hình ảnh ấy ám ảnh mãi không thôi.
Vì sự cám dỗ của vật chất mà “ người đàn bà có cái cười làm lấp lánh cả
khúc sông ” đã phản bội chồng đi theo người đàn ông có cái ghe đầy vải. Chính chị
là người tạo nên bi kịch của gia đình Út Vũ. Chị đã gieo rắc vào con mình những gì
không đáng thấy, làm loang lỗ vết thương tinh thần cho những đứa bé đang lớn lên.
Chị đã làm cho Út Vũ trở nên hoang dại và vô cảm, làm tan nát cả một gia đình
tưởng chừng quá hạnh phúc này.
Đồng tiền không tha thứ bất cứ ai muốn có nó bằng những hành động
không chân chính. Do ăn chơi đua đòi, do hoàn cảnh đẩy đưa, để kiếm tiền Sương
sống bằng nghề buôn hương bán phấn. Chị đánh mất mình và vứt luôn lòng tự
13


trọng bản thân tự biến mình thành hàng hóa để mua bán trao đổi, biến tấm thân
mình thành cái “cần câu cơm”:Chị sống nhờ những món tiền họ cắm câu đêm đêm,
bằng tiền bán lúa, dừa khô hay những buồng chuối chín. Cũng có lúc thu hoạch
bất ngờ, khi chị mồi chài được một người đàn ông chơi trò giường chiếu, suốt hai
ngày hai đêm, và chị được một triệu hai. Đó là vốn vay xóa đói giảm nghèo...”. Để
rồi bị đánh? “Bị người ta đổ keo dán sắt vào cửa mình”? Ngọc Tư để cho nhân vật
tự lí giải, “Tôi hỏi chị làm gì để bị đánh. Chị cười, “Làm đĩ”. Chị rút ra bài học “ăn
trên mồ hôi nước mắt của họ lâu lâu bị đánh cũng đáng”. Người đàn bà ấy cùng
chung số phận với nhiều người trong xã hội. Họ tìm cách thay đổi cuộc sống
nhưng thay đổi bằng con đường này có ổn không? Từ nhà quê tìm lên thành phố
hành nghề, khi đến độ nhàu nát, không ai thèm đếm xĩa đến nữa, đói rã ruột ở
thành phố, chị đành lại mò về nông thôn. “Chúng tôi đã gặp nhiều, rất nhiều
người phụ nữ giống chị. Cứ mỗi mùa gặt, họ lại dập dìu trên đê, lượn lờ quanh lều
của những thợ gặt, những người đàn ông giữ lúa và bọn nuôi vịt chạy đồng. Sương
mồi chài những người làm thuê, thả tiếng cười manh mang trên các triền đê và
cuổm luôn số tiền công ít ỏi mà họ nai lưng. Vậy sau miếng ăn là gì?. Ngọc Tư mô
tả thật khủng khiếp, đẩy lên một tầm cao hơn về sự tha hoá. “Chị cần nhiều hơn,
nhiều hơn, nhiều khủng khiếp, tưởng như chị có thể ngốn ngấu, bào mòn tất cả đàn
ông trên thế gian này. Lúc đầu là kiếm sống, nhưng lâu dần, sự chung đụng của thể
xác làm chị nghiện”. Để rồi khi chị đến với Út Vũ, chị không thể nào xóa được vai
trò là một “con đĩ” trong mắt ông. Chị mủi lòng khi ông sòng phẳng trả tiền sau
cuộc ân ái, chị cay đắng: “mắc cười quá, tới mấy con cá quỷ nầy còn chê chị. Câu
nói nghe tỉnh bơ, bâng quơ mà tủi vô phương”. Chị cảm động trước tấm chân tình
của chị em Nương: “Thật cảm động khi bị đánh tả tơi bầm dập vậy mà hai đứa
nhỏ nầy lại trìu mến, quyến luyến lạ lùng”. Dường như chị được trở về với một
con người hướng thiện, muốn sống một cuộc đời thật trong sạch cùng với gia đình
này, chị hy sinh để bảo vệ nguồn sống cho họ. Cô gái ăn sương này dám bán dâm
công khai cho hai nhân viên phụ trách việc kiểm dịch cúm gia cầm, khi tính đem cả
bầy vịt của gia đình Út Vũ đem đi tiêu huỷ, để hai tên kia tha cho đàn vịt ấy. Cô ta
tưởng như vậy là đã cứu cả gia đình ba cha con Út Vũ. Thật ra, cô ta không thể
hiểu nổi một điều sơ đẳng, rằng, chẳng có người đàn ông nào cam chịu như thế, mà
chỉ khinh bỉ cô ta thêm mà thôi, dù chị có làm gì vẫn không gột rữa được hình hài
một “con đĩ” trong mắt Út Vũ: “cha tôi cười, hơi giễu cợt, ‘Sao, hồi tối vui không?
Chắc họ tưởng cô là vợ tôi nên hứng thú lắm hả? Cứ để họ nghĩ vậy...’. Chị ngó
trân vào cha, rồi day qua tôi, chị để rớt từng lời: ‘Má cưng ác một, nhưng người
14


cha này của cưng ác tới mười’...” (tr. 204). Chị rớt nước mắt trước sự lạnh lùng
của Út Vũ rồi chọn cách ra đi. Cuộc đời của chị sẽ đi đâu? Về đâu? Khi người ta
luôn nhìn chị với dáng hình một người không đứng đắn. Đó là bi kịch của con
người vì tiền mà đánh mất danh dự của bản thân, để trả giá bằng cuộc đời luôn bị
phỉ báng, xem thường.
Vậy, nguyên nhân nào dẫn những người phụ nữ đến chỗ ngoại tình, làm đĩ?
Vì nghèo khổ về vật chất, khô hạn về tinh thần, họ nhận thấy đức lang quân không
đáng mặt đàn ông, mà chỉ nguyên hình một kẻ vũ phu. “Họ thích uống say, họ
thích dùng tay chân để tỏ rỏ uy quyền. Mệt nhọc làm lụng trên đồng, người đàn
ông trở nên khô cằn, có khi cả đời, họ không nói với phụ nữ một câu yêu thương tử
tế. Họ không biết vuốt ve, âu yếm, khi cần họ lật cạch người phụ nữ ra và thỏa
mãn, rồi quay lưng ngủ khò” [78, tr.190]. Tại sao họ ngã vào lòng đàn ông nhanh
đến thế, họ quyết định ra đi một cách nhanh chóng, không đắn đo suy nghĩ, không
tính toán thiệt hơn. Người đàn bà ở Bầu Sen vội vàng gởi con về ngoại, vội vàng
gói gắm đồ đạc để lên thuyền đi cùng Út Vũ, thế nhưng chỉ một đoạn thôi “ cha
biểu chị lên mua một ít dưa cải muối đem theo…vừa khuất trong tiệm tạp hóa…
cha quăng đồ đạc của chị lên bờ vung vãi. Và nổ máy cho ghe đi”
Một loạt đàn bà đi theo cha Nương đều như thế, ngay sau khi ông ta đồng
ý, họ vội vàng “bán…cái quán nhỏ,…nói lời dứt tình với chồng con,…chia tài sản,
có cô gái sắp về nhà chồng…Hết thảy đều cun cút tin và yêu”. Trớ trêu thay, ông
đang lập trình một chương trình tính toán trả thù đàn bà, sao cho “vừa đủ yêu, vừa
đủ đau, vừa đủ bẻ bẽ bàng, và bỏ rơi họ đúng lúc” [78, tr.189]. Hành động ra đi ấy
là gì? Vì tình ư? Hay vì họ muốn một cuộc sống khác hơn hiện tại, được yêu
thương, được hạnh phúc với những lời ngọt ngào từ người tình, nhưng thay đổi
bằng cách làm đĩ, ngoại tình ư .Và cái tất yếu, khi trong một gia đình không có
chất keo gắn kết thì người chịu hậu quả nặng nề nhất là con cái.
Viết về họ, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư không nhằm bêu xấu hay hạ thấp giá
trị của người phụ nữ, xuất phát từ sự cảm thông và thấu hiểu chị mong những
người phụ nữ sẽ được hạnh phúc hơn, được thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu về
vật chất và tinh thần, để những đứa trẻ được đến trường, được giáo dục giới tính và
được phát triển một cách tự nhiên.
3.3.3. Con người với thù hận và tội ác
15


Tình yêu là tinh hoa của cuộc sống, đi bên cạnh hạnh phúc, tình yêu đổ vỡ
bao giờ cũng để lại vết thương lòng. Vì hình như trên cõi nhân sinh này, mọi cuộc
chia ly đều nhuộm màu tím ngắt. Danh ngôn của B. Rô-Se (Pháp) cho rằng; “Trên
đời này chỉ có một việc đáng nói. Đó là tình yêu, vì đó là nguyên nhân của mọi sự
sung sướng và là mầm móng của mọi sự đau khổ”. Từ sự mất mát, đổ vỡ trong
tình yêu và trong cuộc sống hôn nhân, người ta đâm ra thù hận tìm cách trả thù mù
quáng.
Nhân vật Út Vũ trong Cánh đồng bất tận bị vợ cắm sừng, mất niềm tin yêu
ở phụ nữ ông đâm ra hận tất cả đàn bà. Ông phóng lửa đốt nhà rồi đưa hai con lênh
đênh trên chiếc thuyền nhỏ làm nghề chăn vịt, nay đây mai đó kiếm sống. Nỗi hận
của người cha trong Cánh đồng bất tận thật ghê gớm. Khởi đầu chỉ là sự khó chịu,
ghét những gì liên quan đến người vợ. Nhưng dần dần nó phát triển thành ý muốn
“tiêu diệt” những gì có thể nhắc nhở đến người vợ ấy. Trước hết là sự đánh đập
đứa con gái chỉ vì nó giống mẹ, giống người đàn bà đã đang tâm phụ bạc ông. Ông
vô cảm, lạnh lẽo đối với cả hai chị em, xem chúng như là gánh nặng, là tàn tích
đau buồn mà vợ đã để lại cho ông. “ Có lần, khi đi trên sông, thằng Điền giả đò té
chìm nghỉm mất tăm, tôi giả đò kêu la chói lói, cha hơi hốt hoảng, dợm lao xuống
nước, nhưng rồi cha điềm nhiên ngồi lại , tiếp tục gọt đẻo…” Nỗi thù hận đã
khiến ông quên hết lòng yêu thương, bỏ mặc các con tự bươn chải trong cuộc sống.
Trái tim ông đã bị chai sạm, vô cảm, mất hết tình yêu thương nhưng “ Chúng tôi
biết khó đòi hỏi gì hơn nửa, chỉ một chút xao lòng của cha là mừng lắm rồi. Cha
giống như đồ vật bằng gốm vừa qua cơn lửa lớn, vẫn hình dáng ấy nhưng đã rạn
nứt, nên chúng tôi chỉ dám đứng xa mà nhìn, mủ mỉ, nâng niu, nếu không thì vỡ
mất”.
Sau đó, nỗi hận ấy được nâng lên thành nỗi hận phổ quát: hận tất cả đàn bà.
Với nỗi hận ghê gớm, người cha đã thực hiện việc trả thù… toàn bộ giới phụ nữ..
Ông Vũ chơi trò đùa bằng cách bắt tình, bắt nữa đồng loại nữ giới cùng gặm nhấm
nỗi đau với mình. Ông ta quyến rũ họ không mấy khó khăn “Cha không tốn nhiều
công sức cho việc chinh phục. “…Ông ta luôn luôn tính toán con đường quyến rũ
sao cho khi người đàn bà vừa bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ chồng, bỏ con để cuốn gói theo
tiếng gọi tình yêu thì ngay lập tức bị bỏ rơi. Mọi sự vừa khít không thừa không
thiếu, như thế nỗi đau cũng vừa cho họ gặm nhấm. Ông không thấy cắn rứt, xấu hổ
và sợ hãi, cũng chẳng nghĩ tới chuyện báo ứng và hậu quả mình gieo. Cứ thế
những nẻo đường ông ta đi qua lại gieo rắc thêm hàng chục thằng Hận thằng Thù.
16


“Nên mỗi lần cha nhìn đăm đăm và mỉm cười với một người đàn bà mới, chúng tôi
lại thắt thẻo. Thêm mối tình đau trước cả ngày thứ nhất. Tôi có cảm giác cha quắp
lấy người ấy vùi mặt vào da thịt, ngấu nghiến mà lòng cha lạnh ngắt… Lòng thù
hận đã biến Út Vũ trở thành một kẻ độc ác, bất nhân, một con người không xúc
cảm, gần với bản năng tự nhiên, còn thua những con vật “Cha làm chuyện đó thì
cũng giống như những con vịt đạp mái…”…cha hơi khác con - người. Nhạt nhẻo
hơn cả việc quan hệ theo mùa, theo bản năng, trong cha tôi không còn một chút
cảm xúc nào, nét mặt tràn ngập những rắp tâm, chưa gặp mặt đã tính chuyện phụ
phàng”. Nương đã nhìn thấy sự hả hê của cha mỗi khi ông dắt mũi xong một con
mồi “cha giống như con thú trở về tổ sau khi no mồi. Con thú nằm mơ màng nhấm
nháp lại hương vị của miếng mồi, và ngẩm ngợi thòm thèm con mồi kế tiếp. Có lúc
sự vật lộn làm vết thương cũ của con thú đau, nó liếm lám vết máu và tôi hãi hùng
nhận ra chỗ đau ấy cứ rộng thêm ra”. Ngay cả đối với Sương, người đàn bà đã
chấp nhận hy sinh vì ông để cứu lấy cái gia tài duy nhất là bầy vịt chạy đồng cũng
bị hắt hủi không thương tiếc. Sự hy sinh của Sương cũng trở nên vô nghĩa trước
thái độ bất cần đến độc ác của Út Vũ. Lời nói tự nhiên nhưng chất chứa nhiều hàm
ý của Sương đã nói lên tâm trạng đau đớn của chị: “ Má cưng ác một nhưng người
cha này của cưng ác tới mười.” Người vợ phụ tình đã để lại trong ông một vết
thương quá lớn, quá sâu sắc và nỗi hận trong ông làm cho vết thương ấy thêm rộng
và sâu hơn. Vết thương ấy không những không lành mà lại tạo điều kiện cho một
vết thương khác hình thành, vết nứt tình cha con
Sự ra đi của Điền quá bất ngờ đối với người cha. Chỗ trống mà Điền để lại
như một lời cảnh tỉnh, khiến từ trong góc khuất trái tim ông, tình cha con lên tiếng
chống lại sự thù hận. Ông bắt đầu quan tâm đến Nương, ông mua cho Nương chiếc
nhẫn dành tặng con bé khi nó đi lấy chồng. Nhưng nhiều năm bỏ rơi con cái, một
hố sâu quá lớn đã ngăn cách ông và con. Hố sâu bao nhiêu năm qua làm sao dễ
dàng hàn gắn. Điều đó khiến ông càng đau khổ hơn.
Chung cuộc, nợ đời “có vay có trả”, Út Vũ đã bị trừng phạt, cái giá phải trả
cũng cực đắt, đứa con gái vô tội lại đền tội thay cha, âu cũng là “đời cha ăn mặn,
đời con khát nước” nhưng sao đau đớn quá. Nương bị “những đứa trẻ tên Hận, tên
Thù mang khuôn mặt rắp tâm của cha tôi, với đôi mắt sâu và chiếc mũi thẳng,
những đứa trẻ nhàu úa, cộc cằn, cắm cẳn, chỉ tiếng chửi thề là tươi rói, nhảy ra xoi
xói ở đầu môi” cưỡng hiếp. Nương được xem như món hàng bị đè ngã ngửa ngay
trên đồng ruộng, tận cùng đau khổ Nương cất tiếng gọi “Điền ơi”, người cha chết
17


lặng, “đau đến sững sờ,… ông há hóc mồm”, trời ơi “trong ý thức cầu cứu, một
bản năng đơn giản nhất, đứa con gái đã quên mất người cha” tiếng kêu của đứa con
gái như thức tỉnh trong ông lương tri, tình yêu thương mà ông đã từng đánh mất.
Sự bất lực của ông khi chứng kiến đứa con gái tội nghiệp của mình bị làm nhục
như là một sự trả giá cho hành động ruồng bỏ những người đàn bà mà ông đã từng
gặp trên đường phiêu bạt: “ Mắt cha tôi ầng ậc nước, tôi không rõ là phèn hay
máu nhoèn nhoẹt. Thôi nghen, ông trời, như thế này là đủ rồi, đừng thêm nửa.”.
Bọn chúng không đánh ông, “nó đè nghiến, giữ cho mặt cha hướng về phía tôi. Và
bọn chúng thay phiên nhau, giữ cho cha một tư thế đó. Không có một cách nào
diễn tả nỗi đau hơn thế! Sự trừng phạt quá đắt!
Trong ê chề đau đớn người con gái tên Nương vẫn hy vọng, ước mơ. “Đứa
con gái thoáng nghĩ rớt nước mắt,…có thể mình sẽ sinh con… Đứa bé đó nhất định
nó sẽ đặt tên là Thương là Nhớ …Đứa bé không cha nhưng chắc chắn được đến
trường, sẽ tươi tỉnh và vui vẻ sống đến hết đời…”. Sự ăn năn của người cha biết
rằng đã muộn màng, nhưng lương tâm ông bắt đầu thức tỉnh, dừng lại, lòng yêu
thương đã được thắp sáng và nó sẽ cháy bùng lên bằng sự tha thứ của đứa con gái
tên Nương. Vâng, tha thứ làm cho con người dịch lại gần nhau, vì sống mà trong
lòng mang đầy thù hận và tìm mọi cách để trả thù thì rốt cuộc tất cả đều bị tổn
thương. Một con người khi mang trọng bệnh về thể xác anh ta hủy hoại chính bản
thân mình, nhưng một người mang trọng bệnh về tâm hồn anh ta hủy hoại một thế
hệ (ứng với người cha
3.4. Thông điệp của Nguyễn Ngọc Tư qua truyện ngắn Cánh đồng bất tận
Cánh đồng bất tận thấm đẫm nỗi đau của những kiếp người nghèo khổ, vì
nghèo khổ mà bị cám dỗ, vì hận thù mà trở nên tha hóa, thế nhưng độc giả không
thấy bế tắc, trái lại đằng sau bi kịch hiện lên niềm hy vọng, cuộc sống sẽ đổi thay.
Đây chính là chất ngọc mà Ngọc Tư tạo ra từ trang viết của mình. Chị chạm vào
những góc tối của xã hội để hướng tới chân trời mơ ước, nơi mọi khổ đau dừng lại
và hạnh phúc cứ thế trải rộng thênh thang. Dẫu số phận con người có tủi cực đến
đâu thì cái khát vọng hướng thiện vẫn không bị tiêu diệt, nó chỉ khuất lặn đâu đấy
nơi đáy sâu tâm hồn đã bị cái xấu và cái ác đày đoạ đến hoang lạnh, điều đó thể
hiện tài năng và tấm lòng của nhà văn. Bên cạnh đó, Ngọc Tư rung chuông báo
động về vấn đề gia đình, vấn đề trẻ em trong toàn xã hội. Hôn nhân gia đình đổ vỡ,
trẻ em không được nuôi dạy trong môi trường tốt nhất, tạo nên mối đe dọa và gánh
18


nặng cho toàn xã hội, nó là khởi nguồn của cái xấu và cái ác, có thể làm cho con
người biến chất, tha hóa. Gia đình là tế bào của xã hội, muốn xây dựng một môi
trường đạo đức xã hội lành mạnh, trước hết điều kiện cần và đủ phải xây dựng môi
trường đạo đức ngay trong chính mỗi gia đình. Đó chính là thông điệp rất dung dị,
tự nhiên nhưng không kém phần nhiệt thành, đầy trăn trở của nhà văn .
Nguyễn Ngọc Tư đặt niềm tin vào con người và biết tìm trong họ những
đốm lửa tinh thần để thắp sáng lên tình yêu. . Ngay cả khi nhân vật không ngủ
được vì bao điều đau khổ, phiền muộn. Dẫu thế, nhưng chị tin tưởng bình minh sẽ
hé rạng trên cỏi nhân sinh ,mọi đau khổ của con người đứng lại và yêu thương cứ
thế nhân lên. Người ta thường nói: “Nơi lạnh nhất trên trái đất không phải là Bắc
cực hay Nam cực mà chính là nơi thiếu vắng tình yêu giữa những con người”.
Cuộc sống hạnh phúc sẽ đến với mỗi người và mỗi nhà. Đấy là khát vọng dựng
xây và khát vọng thay đổi mà chính nhà văn trở trăn, mơ ước.

19


PHẦN KẾT LUẬN
Tìm hiểu truyện Cánh đồng bất tận , chúng ta nhận thức rõ hơn về con
người trong xã hội Hậu hiện đại: con người cô đơn - lạc lõng, con người nữ bị cám
dỗ và con người với thù hận, tội ác. Bi kịch con người xoay quanh các mối quan
hệ: mối qua hệ cha - con, mẹ - con, vợ - chồng, người - vật, cá nhân - cộng đồng.
Nguyên nhân dẫn đến bi kịch trên là do mù chữ, thất học, cái vòng lẫn quẩn dẫn
đến đói nghèo, cái đói, cái nghèo làm khô kiệt tinh thần. Thông qua truyện ngắn,
chúng ta có điều kiện để nhìn sâu vào tâm hồn và đồng thời hiểu được tính phi biên
giới của con người, con người luôn kéo căng những đòi hỏi vật chất và tinh thần.
Và rốt cuộc, nỗi đau khổ, cô đơn được khoét sâu hơn. Nguyễn Ngọc Tư viết về
những mảng tối của xã hội để hướng tới chân trời mơ ước, nơi mọi nỗi khổ của con
người dừng lại và hạnh phúc trải rộng thênh thang.
Văn học Nam Bộ được coi là một dòng chảy bình lặng, đội ngũ nằm trong
Hội nhà văn chỉ có 29 hội viên, ít về số lượng lẫn chất lượng. Mãi những năm đầu
thế kỷ XXI, Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện đã làm cho cách đánh giá văn học Nam bộ
thay đổi. Chị đưa văn học Nam bộ tiến một bước dài về tương lai, rút ngắn khoảng
cách văn học giữa các miền. Với truyện ngắn Cánh đồng bất tận ,tên tuổi Nguyễn
Ngọc Tư được nâng lên một tầm cao mới trên con đường nghệ thuật; trở thành
một nhà văn nổi tiếng trên văn đàn văn học đương đại Việt Nam, có một vị trí đặc
biệt quan trọng trong nền văn học Nam bộ nói riêng và văn học Việt Nam nói
chung

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Đình Sử , Giáo trình Thi pháp hoc,(1993) Nxb Đại học sư
phạm,Thành phố Hồ Chí Minh
2. Trần Đình Sử Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb Văn hoá thông tin(1998), Hà Nội.
3. M.Bakhtin, Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Nxb Giáo dục, (1998)
4. M.Bakhtin, Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Hội nhà văn. (2003)
5. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học,
(1999), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
6. Đỗ Đức Hiểu, Thi pháp hiện đại, Nxb Hội nhà văn (2000)
7. Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá, Từ điển
văn học, Nxb Thế giới. (2004)
8. Nguyễn Ngọc Tư, Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, NxbVăn hóa Sài
Gòn(2005).
9. Nguyễn Ngọc Tư, Cánh đồng bất tận, Nxb Trẻ (2005)
10. Nguyễn Văn Tám, Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Khóa luận tốt
nghiệp, Trường đại học sư phạm Huế(2006).
11. Trần Phỏng Diều, “Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”,
Văn nghệ quân đội (647), tr 36 - 42(2006).
12. Trương Đăng Dung Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb Khoa học xã
hội(2004).

13.

Lê Tiến Dũng, Giáo trình Lí luận văn học, phần tác phẩm văn

học, Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh(2003).
14. Trần Hữu Dũng, “Nguyễn Ngọc Tư đặc sản miền Nam”, www.Vietstudies.org/ Nguyễn Ngọc Tư (2004).
15. Đoàn Ánh Dương (2007), “Cánh đồng bất tận, nhìn từ mô hình tự sự và
ngôn ngữ trần thuật”, Nghiên cứu văn học (2), tr.96 -106.

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×