Tải bản đầy đủ

Không gian nghệ thuật trong sống mòn của nam cao

MỞ ĐẦU
Không gian nghệ thuật là một hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật. Không
gian nghệ thuật là mô hình thế giới độc lập có tính chủ quan và mang ý nghĩa tượng
trưng của tác giả. Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu
hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống, do đó không thể
quy nó về sự phản ảnh giản đơn không gian địa lý hay không gian vật lý, vật chất.
Trong tác phẩm ta thường bắt gặp sự miêu tả con đường, căn nhà, dòng sông. Nhưng
bản thân các sự vật chưa phải là không gian nghệ thuật. chúng chỉ được xem là không
gian nghệ thuật trong chừng mực chúng biểu hiện mô hình thế giới của tác giả. Không
gian nghệ thuật là mô hình thế giới của tác giả cụ thể, được biểu hiện bằng ngôn ngữ
của các biểu tượng không gian. Không gian nghệ thuật trong tác phẩm là sự mô hình
hóa các mối liên hệ về thời gian, xã hội, đạo đức của bức tranh thế giới thể hiện quan
niệm về trật tự thế giới và sự lựa chọn của nhà văn. Trong thơ và văn không gian nghệ
thuật thể hiện các ranh giới mang ý nghĩa và ở mỗi liên hệ của tiểu không gian. Giữa
các kiểu không gian có các đường ranh giới có thể vượt qua hoặc không thể vượt qua.
Có thể xem không gian nghệ thuật trong tác phẩm như là một hệ thông mà không gian
nhân vật như là một yếu tố. Không gian nghệ thuật trong tác phẩm mang tính biểu
trưng và tính quan niệm. Tất cả các cặp đối lập không gian trong thế giới đều có nội
hàm tư tưởng đạo đức, khu vực và thời đại, nguyên tắc lịch sử cũng cần thiết.
Không gian nghệ thuật luôn gắn liền với cảm xúc và ý nghĩa nhân sinh. Nó luôn
mang tính chủ quan. Chính yếu tố này giúp ta phát hiện được thực t ại đối với con

người. Trong các tác ph ẩm của Nam Cao, không gian nghệ thuật vừa là phương thức
tồn tại, biểu đạt thế giới nghệ thuật, vừa là hình tượng nghệ thuật để tái tạo đời sống.
Không gian nghệ thuật trong “sống mòn” là nơi nhân vật sống, hành động, suy nghĩ.
Không gian nghệ thuật trong “sống mòn” cũng là một hình tượng nghệ thuật biểu
hiện cuộc sống tù túng, bế tắc, của tầng lớp trí thức Việt Nam trước Cách mạng tháng
tám. Tìm hiểu thi pháp không gian nghệ thuật của Nam Cao không chỉ giúp chúng ta
hiểu được cách hiểu, cách thể hiện thế giới của Nam Cao mà còn thấy được những
băn khoăn trăn trở, những vấn đề của cuộc sống được nhà văn quan tâm, cũng như tư
tưởng và thái độ sống rất nhân văn của ông. Cũng như hầu hết những tác phẩm văn
học giai đo ạn 30-45, không gian nghệ thuật được xây dựng trong tác phẩm c ủa Nam
Cao hoặc là không gian làng quê hoặc là không gian thành thị với những xóm, những
khu dân nghèo chật chội, bẩn thỉu.


Trong khuôn khổ bài tiểu luận này tôi phân tích không gian nghệ thuật của tiểu
thuyêt “sống mòn” để thấy rõ tầm quan trọng của không gian nghệ thuật trong một
tác phẩm văn học. Vì những hạn chế về thời gian, vốn hiểu biết của bản thân, đề tài sẽ
không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp của quý
thầy cô và các bạn để bài tiểu luận này được hoàn thiện hơn.

NỘI DUNG
Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
1.1. Khái niệm không gian nghệ thu
1.1.1. Khái niệm không gian
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê đã cắt nghĩa, lí giải về không gian
như sau: “Không gian là khoảng không bao la trùm lên tất cả sự vật hiện tượng xung
quanh đời sống con người” [1tr.633].
1.1.2. Khái niệm không gian nghệ thuật
Để hiểu được khái niệm không gian nghệ thuật một cách cơ bản và khái quát
nhất, tôi xin được viện dẫn cách hiểu của Lê Bá Hán trong cuốn Từ điển thuật ngữ
văn học: “Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể
hiện tính chỉnh thể của nó” [2.tr.162].
Trần Đình Sử lí giải thêm: “không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại cùng thế
giới nghệ thuật” [3.tr.88].Ông còn khẳng định một cách hết sức chắc chắn: “không có
hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, không có một nhân vật nào không
nào không có một nền cảnh nào đó”, và “không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo
của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc
sống” [3.tr.88 - 89]. Như vậy, không gian nghệ thuật là phương thức tồn tại và triển
khai của thế giới nghệ thuật. Không gian nghệ thuật trở thành phương tiện chiếm lĩnh
đời sống, “mang ý nghĩa biểu tượng nghệ thuật”. Và sự miêu tả, trần thuật bên trong


tác phẩm văn học bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, ta xác định được vị trí của
chủ thể trong không - thời gian, thể hiện ở phương hướng nhìn, diễn ra trong một
trường nhìn nhất định. Căn cứ vào điểm nhìn mà xác định được vị trí của chủ thể
trong không - thời gian, thể hiện ở phương hướng nhìn, khoảng cách nhìn, ở đặc điểm
của khách thể được nhìn. Điểm nhìn không gian được thể hiện qua các từ chỉ phương
vị (phương hướng, vị trí), để tạo thành “viễn cảnh nghệ thuật”.


Tóm lại, không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ thuật.
Không gian nghệ không những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các
ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy những quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm
thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học. Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám
phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật. Vì vậy
không thể tách hình tượng ra khỏi không gian mà nó tồn tại.
1.2. Đặc điểm của không gian nghệ thuật
1.2.1. Không gian nghệ thuật thống nhất nhưng không đồng nhất với không gian
khách thể
Bản thân không gian vật chất tồn tại khách quan, nghĩa là sự tồn tại của nó
không phụ thuộc vào ý thức của con người, mà không gian vật chất chỉ trở thành
không gian nghệ thuật khi được tác giả cảm nhận về nó và qua đó thể hiện cách cảm
cách nghĩ của nhà văn về thế giới, là một quan niệm nhân sinh, một thái độ sống trước
cuộc đời:
“Em đi để lại tiếng cười
Tim tôi vỡ một khoảng trời pha lê
Trăng vàng đêm ấy bờ đê
Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may”
(Lời thề Cỏ may- Phạm Công Trứ)
Thật vậy, đêm trăng chỉ là đêm trăng sáng vằng vặc hay hao khuyết như bản
thân nó tồn tại không một chút cảm xúc, tâm trạng nếu không được “thẩm thấu” qua
tâm hồn tác giả, không mang suy nghĩ chủ quan của người nghệ sĩ. Nhà thơ Phạm
Công Trứ hồi tưởng lại không gian đêm trăng ở bờ đê mà nuối tiếc cho tình yêu
không thành.
1.2.2. Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có một ranh giới phân biệt
với không gian vật chất bên ngoài.
Giữa không gian nghệ thật trong tác phẩm với thế giới bên ngoài có sự phân
biệt, nhưng không dễ thấy như cái khung của một bức tranh, cái sân khấu của một vở
diễn. Mà có lẽ ranh giới ấy chỉ mờ nhạt mong manh như “sợi tóc” (chữ của Thạch
Lam), một làn khói mơ hồ, giống như cái sân khấu của chèo sân đình không gian
chiếu chèo và thế giới bên ngoài dường như không có khoảng cách mà đôi khi lại hoà
làm một. Không gian nghệ thuật là một hình tượng nghệ thuật sinh động chứ không
khô cứng. Nó không đơn giản chỉ là cảm nhận bằng tư duy tỉnh táo mà nó còn được
cảm nhận bằng óc chủ quan, bằng cảm xúc, bằng tâm trạng của nhà văn. Không gian
trong văn học chia thành những ranh giới giá trị thể hiện quan niệm về trật tự thế giới


và sự lựa chọn của con người. Đó là sự tách biệt về ranh giới của không gian, giữa
không gian bên trong và không gian bên ngoài, giữa ranh giới bất biến và khả biến.
Nó có thể là sự phân chia giữa cuộc sống bên ngoài theo đúng nghĩa của nó và
“địa ngục trần gian” như trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài. Hình ảnh lỗ
vuông ô cửa sổ trong tác phẩm chính là ranh giới phân biệt thành hai không gian đối
lập nhau hoàn toàn. Trong cảm nhận của Mị: “Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có một
chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng,
không biết là sương hay là nắng” , là hình ảnh của ngục thất tinh thần, địa ngục chốn
trần gian đã cầm cố tuổi xuân của cuộc đời người con gái bản cao. Chúng ta cũng dễ
dàng nhận diện được kiểu không gian này trong các truyện ngắn của M.Gorki. Đó là
không gian tầng hầm, là không gian của những con người chân đất, nó luôn là không
gian chật chội, tù túng và ẩm thấp như chính cuộc sống của những con người “khốn
nạn” này nằm trong sự đối lập với không gian rộng lớn, bao la ngoài xã hội, như các
truyện: Vợ chồng Ốrlov, Hai mươi sáu và một…
1.2.3. Không gian nghệ thuật mang tính ước lệ, mang ý nghĩa cảm xúc
Không gian trong văn học được biểu hiện bằng không gian điểm mang tính ước
lệ tượng trưng: Ôlimpơ, Tây Trúc, Thiên đình, thượng giới, làng quê, trong nhà, ngoài
vườn, bến sông, tha hương, thành phố, biển khơi… Ví thử mỗi khi nhắc đến nỗi nhớ
quê hương của khách lữ thứ, người ta lại mượn không gian sông nước mênh mông với
làn khói lam chiều:
“Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu”
(Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai)
( Hoàng Hạc lâu - Thôi Hiệu)
Cũng như cứ nhắc đến quê hương là người ta lại nhắc tới hai từ “hương quan”.
Nghĩa ban đầu của hai từ này là để chỉ cánh cửa và chiếc then cài, bởi ngày xưa mỗi
làng thường có cổng làng, nó như là biểu tượng của làng quê.
Không gian biểu thị bằng các từ chỉ không gian vốn đã mã hoá sẵn trong đời sống,
như: trên cao, dưới thấp, nghiêng. Về tính chất thì có thể là: rộng - hẹp, dài - ngắn,
phóng khoáng…:
“Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô liêu”
(Tràng giang - Huy Cận)


Không gian nghệ thuật trong văn học mang tính tượng trưng và mang tính quan
niệm. Tính quan niệm này xuất phát từ nguyên tắc mô phỏng thiên nhiên trong hội
hoạ, đó là luật thấu thị - nhìn sự vật theo tỉ lệ xa gần, sáng tối trong hội hoạ phương
Tây. Vì thế trong văn học cổ, con người nhìn không gian theo cách hiểu chứ không
theo cái nhìn thấy. Ví dụ như trong tranh đời Đường, nhân vật quan trọng thì vẽ to,
nhân vật phụ thì vẽ nhỏ.
Chính khoảng cách xa - gần trong cách nhìn cũng góp phần thể hiện quan niệm, tư
tưởng nghệ thuật của nhà văn. Hình tượng chiếc thuyền ngoài xa trong truyện ngắn
cùng tên của nhà văn Nguyễn Minh Châu được khám phá dần cũng theo khoảng cách
xa gần. Ban đầu khi chiếc thuyền ở ngoài xa thì người nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng nhìn
thấy đó là cảnh tượng đẹp, thơ mộng giống như một bức tranh cổ, một “cảnh đắt”.
Nhưng Nguyễn Minh Châu đã thật sâu sắc, ông kéo con thuyền nghệ thuật lại gần hơn
để tìm hiểu. Cảnh tượng diễn ra khi chiếc thuyền không còn ở ngoài xa nữa thật đối
lập với cảnh tượng ban đầu, thì ra đằng sau vẻ đẹp ấy lại là hiện thực cuộc sống đầy
cay đắng của con người, là những “vết xước trong tâm hồn con người”
1.3 Các hình thức không gian nghệ thuật trong văn học
Như ở trên đã trình bày, bao phủ lên không gian nghệ thuật là quan niệm của nhà
văn. Điều đó mới làm không gian vật chất trở thành không gian nghệ thuật. Mà quan
điểm của nhà văn lại luôn biến đổi theo thời đại, giống như nước triều dâng nó mang
đi những gì là cũ, và sau mỗi lần trở về lại làm cho bờ cát thêm mới. Vì vậy mà việc
tổ chức không gian nghệ thuật trong tác phẩm luôn chịu sự chi phối và tác động trực
tiếp từ quan niệm thời đại và yếu tố thể loại.
1.3.1 Không gian nghệ thuật trong văn học dân gian
Những tác phẩm văn học dân gian là những suy nghĩ hồn nhiên, là tình cảm chân
thật của những con người lao động hàng ngày. Bởi thế cái nhìn mang tính quan niệm
của họ cũng rất đơn giản, ít phức tạp hơn so với các giai đoạn sau - khi tư duy con
người đã phát triển ở mức cao. Đặc điểm chung của không gian văn học trong những
sáng tác dân gian là mô hình ba giới, ba tầng, ba cõi: thượng giới, trần gian và địa
ngục với thần linh, người, ma quỷ. Ở đó, con người có thể tự do đi lại trong ba cõi mà
ít gặp sự trở ngại nào (nếu như không muốn nói là không hề có sự trở ngại). Đó chính
là tính chất tôn giáo của không gian nghệ thuật trong văn học dân gian. Tuy nhiên ở
mỗi thể loại khác nhau, thì không gian nghệ thuật lại có những nét khác biệt so vớí thể
loại khác.
Không gian thần thoại: không gian có tính chất đặc thù là tính nguyên sơ, hoang
dã của nơi xuất phát đầu tiên của sự kiện (như trời đất chưa phân, trời sụp phía
Đông Nam…). Điều này có thể lí giải bởi: thần thoại là một trong những thể loại văn


học sớm nhất của loài người, “nó ra đời vào thời kì thơ ấu của con người và một đi
không trở lại” (K.Mark). Không gian sử thi: nền tảng của không gian sử thi là không
gian thần thoại có tính chất hư ảo, kì diệu, không gian thay đổi theo ý thức của thần
linh. Song không gian sử thi lại mang tính địa vực. Trong Iliat và Ôđixê của Homer,
nổi bật lên không gian vùng biển với các hòn đảo, không gian của chiến trường rộng
lớn, trời đất bao la, nghề hàng hải phát triển. Bài ca cuộc hành quân của binh đoàn
Igor mang không gian nước Nga cổ xưa với từng đoàn kị binh, xe ngựa với những cỗ
xe tam mã, tứ mã. Đến không gian hùng vĩ của bạt ngàn núi rừng cùng những tiếng
thét gào của những dòng thác trong sử thi Tây Nguyên, mà tiêu biểu là sử thi Đam
San, mỗi không gian đặc trưng của từng vùng miền đã thể hiện tình yêu quê hương và
lòng tự hào xứ sở.
Không gian truyện cổ tích có đặc tính là ít tính chống đối (cản trở) của môi trường
vật chất - tính siêu dẫn của không gian. Ở đó, con người có thể tự do hoạt động, tự do
di chuyển mà không gặp trở ngại, và luôn có sự giúp đỡ của lực lượng thần kì, siêu
nhiên. Chính vì thế mà đã có những phương tiện đi lại kì diệu như: chiếc thảm bay,
đôi hài bảy dặm, nồi cơm ăn mãi không hết, viên ngọc quý giúp nghe được tiếng nói
của muôn loài và có thể rẽ nước đi xuống biển…
Không gian ca dao: Ca dao là tiếng nói chân thật của tình cảm những người dân
lao động, là cây đàn muôn điệu, là dòng sữa trong lành đã nuôi ta khôn lớn. Là người
Việt Nam, ai chẳng từng lớn lên bên vành nôi cánh võng với lời ru của bà của mẹ.
Trong lời ru, ta bắt gặp hình ảnh của con cò, của dòng sông, của “thời gian đằng đẵng,
không gian mênh mông”(Nguyễn Khoa Điềm). Không gian trong ca dao không còn
yếu tố hư ảo như các thể loại trước đó, mà thay vào đó là không gian sinh hoạt, không
gian lao động của con người:
“ Bao giờ cho đến tháng hai
Con gái làm cỏ, con trai be bờ”
Qua những bài ca dao đó, chúng ta thấy được những sắc thái, những cung bậc tình
cảm khác nhau của người lao động.
1.3.2. Không gian nghệ thuật trong văn học viết trung đại
Trung đại là một phạm trù văn học lớn, sự đa dạng của không gian nghệ thuật
trong các thể loại với các tác giả khác nhau. Song về mặt tư tưởng - thế giới quan của
các tác gia trung đại lại tương đối thống nhất. Cho nên, không gian nghệ thuật cũng có
tính thống nhất. Nền văn học Trung Quốc và Việt Nam do chịu ảnh hưởng từ những
học thuyết Nho, Phật, Đạo nên có chung một mô hình vũ trụ. Vì vậy, nét chung của
không gian nghệ thuật là không gian vũ trụ, gắn liền với tính bất biến của không gian.
Không gian vũ trụ được tạo thành bởi nhật, nguyệt, mây, sao, sông, núi, chim, muông,


cây cỏ. Mỗi khi “con người bất đắc chí thì tìm về thiên nhiên, vũ trụ như tìm về nguồn
cội. Khi ngắm cảnh trời mây, giang hồ họ cũng như mơ màng về nguồn cội” (Trần
Đình Sử). Bởi quan niệm của con người thời kì này xem vũ trụ là căn bản tồn tại của
cá thể. Không gian mang tính nhàn tản thoát tục, gợi lên cuộc sống bình dị thanh nhàn
của con người trong thế giới tự nhiên như bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm:
“Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”
Không gian nghệ thuật mang tính ước lệ, tượng trưng cho thế giới, nó có tính gợi
nhiều hơn là tả. Và nó có sự đối lập giữa không gian cố hương với tha hương, mang ý
vị đồng quê ngọt ngào với xa lạ, lạnh lùng:
“Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”
(Hoàng Hạc lâu- Thôi Hiệu)
Theo dòng chảy của thời gian, không gian vũ trụ trong văn học trung đại đã dần
được “trần tục hoá”, “thế tục hoá” gắn với không gian sinh hoạt đời thường. Có thể
nói, khi trước, con người ta phóng tầm mắt vào vũ trụ bao la rộng lớn để chinh phục
vũ trụ thì khi xã hội với những biến động mạnh mẽ, cuộc sống của con người đang
rên siết trong những cảnh đói khổ, chết chóc đã kéo các nhà thơ trở về với cuộc sống
hiện thực, yêu cầu họ phải là những người sáng tác ra những tác phẩm văn chương
bám rễ vào cuộc đời. Trong trường hợp này có thể thấy rõ nhất ở nhà thơ Đỗ Phủ,
người được coi là chiếc gạch nối của hai thời kì thịnh Đường và suy Đường, là nhà
thơ hiện thực sớm nhất của Trung Quốc, thơ của ông nóng bỏng tính thời sự. Nói như
tác giả Tiêu Điều Phi, “máu và nước mắt của nhân dân đã tưới đẫm cho vườn thơ của
Đỗ Phủ” .
Không gian “trần tục hoá” trong thơ Hồ Xuân Hương đã được thể hiện thông qua
việc miêu tả những địa danh trong cảm quan “văn hoá phồn thực”, như đèo Ba Dội,
hang Cắc Cớ, hang Thánh Hoá… Và không gian “thế tục hoá” trong thơ của Nguyễn
Khuyến, Tú Xương với không gian làng quê yên tĩnh cùng những cảnh phố xá, cao
lâu, nơi buôn bán sinh hoạt chợ búa. Có thể nói, Tú Xương với những vần thơ của ông


đã đánh dấu sự phai nhạt của không gian nghệ thuật truyền thống, mở ra không gian
sinh hoạt đời thường, đô thị.

1.3.3. Không gian trong văn học hiện đại
Do sự đổi thay trong quan niệm về xã hội, cá nhân, hoạt động của con người mà
không gian nghệ thuật trong văn học đã thay đổi. Bên cạnh việc kế thừa các kiểu
không gian nghệ thuật trên, ở giai đoạn này, không gian nghệ thuật đa dạng và phong
phú hơn. Với đại biểu cuối cùng của thời kì văn học trung đại, ông đã kéo không gian
nghệ thuật lại gần với cuộc sống của con người hơn. Và đến các tác giả văn học hiện
đại, không gian nghệ thuật mang tính khái quát cao, phạm vi phản ánh rộng lớn. Đó là
toàn bộ đời sống xã hội - không gian của con người phải vật lộn với cuộc sống đầy
sóng gió. Trong Tấn trò đời của Banzắc, ông đã xem xã hội như một cái biển lớn,
rộng vô cùng, một vực sâu đầy bí ẩn với giông bão bên trong của xã hội Pháp lúc bấy
giờ. Mà trong đó không gian con đường là ý nghĩa khái quát hơn cả, nó trải dài theo
mọi miền đất nước và nó còn là hình ảnh của đường đời. Iu.Lốtman đã nhận xét:
muốn trở thành cao cả thì không gian không chỉ cần bao la ( hoặc vô bờ bến) mà phải
có phương hưóng và con người ở trong đó cũng phải vận động về một mục đích.
Không gian ấy phải trở thành con đường. Song song với hình ảnh của con đường là
người đi, không gian được mở rộng theo từng bước chân của khách bộ hành, đó là
không gian mang tính xã hội.
Không gian nghệ thuật mang tính cá nhân, văn học trong thời đại này đã đi sâu
phản ánh cuộc sống, số phận của từng cá nhân, trong mối quan hệ hữu cơ với cuộc
sống nhân dân. Vì vậy không gian văn học mang đậm dấu ấn cá nhân. Đến với các tác
giả thơ mới, chúng ta được đắm chìm trong những không gian cá nhân nhỏ hẹp, quẩn
quanh bế tắc. Với Xuân Diệu thì không gian luôn gắn với tình yêu và nỗi buồn, với
Chế Lan Viên lại là không gian nghệ thuật đầy hư ảo mộng mị, ma quái, kinh dị với
những máu, tuỷ, sọ dừa cùng những tiếng rỉ rên than…, hay lạc vào không gian của
những cơn say trong thơ Vũ Hoàng Chương, về lại chốn quê bình yên thơ mộng trong
thơ Nguyễn Bính với hoa cỏ may, giậu mồng tơi, những đàn bướm lượn vòng, những
ngày mưa xuân cùng nụ cười mong mùa xuân của tình yêu:
“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy”
Khi tình yêu lỡ dở không thành, không gian mưa xuân ấy lại mang một nỗi buồn
đến tái tê:


“Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay
Hoa xoan đã nát dưới chân giày”
(Mưa xuân - Nguyễn Bính)
Không gian nghệ thuật trở về gần hơn với cuộc sống của con người, phản ánh cuộc
sống khổ cực của những con người lao động, những số phận kém may mắn. Hình ảnh
con người hiện lên với vai trò là nhân vật trung tâm của bức tranh cuộc sống xã hội.
Nhà văn đã bám sâu vào hiện thực cuộc sống để phản ánh chân thật những nỗi nhọc
nhằn vất vả của cuộc sống con người trên hành trình mưu sinh và kiếm tìm hạnh phúc
đầy nhọc nhằn. Tác giả Nguyễn Minh Châu, trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa,
ông đã khám phá về cuộc sống của con người ẩn sau những vỏ bọc của cuộc sống,
đồng thời là sự khám phá, phát hiện và chiếm lĩnh không gian cuộc sống, không gian
nghệ thuật theo khoảng cách gần - xa. Khi chiếc thuyền ở ngoài xa, cuộc sống hiện
lên thật đẹp giống như một bức tranh đẹp lãng mạn và thơ mộng nhưng khi nhà văn
kéo con thuyền nghệ thuật lại gần bờ để nhìn ngắm kĩ hơn, thì lại hiện lên một bức
tranh hoàn toàn đối lập với ban đầu. Nguyễn Minh Châu nhận ra rằng, cuộc sống của
con người còn rất nhiều những khó khăn, thiếu thốn, những vết xước trong tâm hồn
để từ đó với tư cách là nhà văn, người cầm bút đứng giữa cuộc đời, ông gióng lên
những hồi chuông thức tỉnh: hãy cứu lấy nhân tính của con người.
Văn học không chỉ phản ánh đơn lẻ, rời rạc, mà nó luôn hướng tới tầm khái quát.
Từ những không gian mang đậm tính cá nhân đã được mở rộng, khái quát thành
không gian xã hội vô cùng rộng lớn. Khi nói đến không gian xã hội rộng lớn, nó gắn
liền với đặc trưng thể loại tiểu thuyết, mà thời kì văn học hiện đại tiểu thuyết phát
triển rất mạnh mẽ. Tiểu thuyếtChiến tranh và hoà bình của Leptonxtoi, với số lượng
nhân vật đồ sộ (khoảng 558 nhân vật) cùng với nó là rất nhiều mối quan hệ khác nhau
mà không gian được mở rộng, đa dạng. Có khi là không gian của những căn phòng
nhỏ hay những toà nhà rộng lớn, có khi là không gian của một khu rừng và rộng lớn
hơn là không gian của chiến trường, tất cả những không gian đó chính là không gian
của nước Nga đương thời.
Tóm lại, không gian nghệ thuật là một phạm trù nghệ thuật có vai trò quan trọng
trong việc thể hiện tính cách nhân vật, tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Không gian
nghệ thuật là một phạm trù quan trọng của thi pháp học, là phương tiện chiếm lĩnh đời
sống, là mô hình nghệ thuật về cuộc sống. Không gian nghệ thuật góp phần thể hiện
quan điểm nghệ thuật của mỗi nhà văn. Không gian nghệ thuật luôn có sự biến đổi
theo dòng chảy văn học. Ở mỗi thời kì, giai đoạn văn học, không gian nghệ thuật
mang những đặc trưng riêng làm nên dấu ấn thời đại trong không gian nghệ thuật.
Không gian nghệ thuật trong văn học dân gian mang đậm màu sắc tôn giáo huyền bí


với mô hình không gian ba giới, ba tầng, ba cõi. Đến văn học Trung đại, không gian
nghệ thuật mang tính rộng lớn bất biến của kiểu không gian vũ trụ, sau đó không gian
được trở về gần hơn với cuộc sống của con người, đó là kiểu không gian trần tục hóa,
không gian thế tục hóa. Chỉ đến văn học hiện đại, không gian nghệ thuật mới thực sự
gần gũi với cuộc sống của cá nhân con người, đi sâu phản ánh hiện thực cuộc sống
đầy nhọc nhằn vất vả, không gian nghệ thuật được cá thể hóa.

Chương II: KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT
“SỐNG MÒN” CỦA NAM CAO
Không gian nghệ thuật trong “Sống mòn” gồm cả không gian hiện thực và
không gian tâm tưởng. Dòng tâm tưởng của Thứ liên kết hai không gian, hai phần đời
của Thứ: phần đời ở làng quê - phần đời ở thành thị. Không gian hiện thực được miêu
tả trực tiếp chủ yếu là không gian thành thị: ngôi nhà, cửa sổ, căn buồng, sân, ngõ,
giường chiếu, thức ăn, đồ vật… của nơi ở, đường đi, phố xá, con người, trường học…
Khoảng không gian đó phơi bày hình ảnh về đời thườ ng của Thứ: ăn ở kham khổ,
công việc bấp bênh, vô nghĩa. Đó thật là một cuộc sống thảm hại đối với một trí thức
đầy lương tri và ước vọng như Thứ. Không gian nghệ thuật trong “sống mòn” là yếu
tố quan trọng góp phần khắc họa nên bức tranh cuộc sống tăm tối của tầng lớp trí thức
lúc bấy giờ.
2.1 Không gian hiện thực
2.1.1Không gian làng quê
Không gian làng quê được miêu tả là không gian của một cuộc sống nông thôn
nghèo, vất vả với những con người đáng thương luôn tất bật, vất vả với đồng ruộng để
kiế m mi ếng ăn và khổ s ở vì thuế má. Không gian nhỏ hẹp gắn với cuộc sống nghèo
khổ song vẫn giữ, vẫn có cái gì đó thuần chất, trong lành biểu hiện ở những chi tiết ki
ểu như: chi tiết bữa ăn tối của gia đình khi Thứ về thăm nhà: bữa ăn là bát cơm từ bữa
tr ưa để phần lại, ủ trong chăn, cả nhà nh ường cho Thứ: bà không ăn vì lấy cớ già rồi,
không cần ăn nhiều; Liên (vợ Thứ) cũng không ăn vì nghĩ chồng cần phải ăn hơn…
Lớp không gian này cho thấy nguồn gốc con người lương thiện, nhân bản trong Thứ,
là nơi neo đậu của tâm hồn Thứ, giữ và khẳng định, chứng minh anh ta “sống” mà
không đánh mất lương tri, không đánh mất nhân phẩm..Không gian làng quê gắn với
vùng nông thôn, những căn nhà nơi thôn dã… Khác với làng Đông Xá huyên náo, dồn
dập tiếng trống thúc sưu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, nông thôn trong Sống mòn có


cái vẻ vắng lặng, hoang vu của một làng quê xơ xác, đói nghèo. Không gan làng quê
mở đầu tác phẩm thật thanh khiết, nhẹ nhàng tạo cho con người cảm giác như vừa
nhìn thấy một bức tranh về bình minh tuyệt đẹp, nó làm cho tâm hồn nhân vật có chút
gì đó xao xuyến.“Phương đông trắng mát màu hoa huệ, đã ngả qua màu hồng của
tuổi dậy thì, để bây giờ nhếnh nhoáng màu vàng cháy. Mặt trời mới nhú lên được một
chút, khỏi cái nóc nhà cao nhất, ở đầu phố đằng kia. Những tia nắng đầu tiên, óng ả
như tơ, lướt qua một rặng mái nhà thấp lè tè, cáu bẩn, mấp mô, để đến xiên vào hai
cái cửa sổ gác nhà trường, cái cao thứ hai ở đầu phố đằng này. Nắng chảy thành
vũng trên sàn. Hai vùng sáng, trước còn nhỏ và mập mờ, cứ dần dần lan rộng thêm,
rõ hình thêm. Sau cùng thì đã rõ ràng là hai cái hình chữ nhật lệch có rọc đen. Một
chút phản quang hắt lên trần, lên những bức tường quét vôi vàng và kẻ chì nâu.”Hay
ta bắt gặp một bức tranh nông thôn với: “Hai bên bờ sông, lần lượt qua những đồng
ruộng,và những khóm tre, những làng mạc xo ro, những người nhà quê bao đời nay
đương đánh vật nhau với đất”. Nó cho thấy cuộc sống còn vất vả nghèo khổ, nơi này
là những làng mạc tiêu điều ,xơ xác vì đói kém, vì con người nơi đây “thấp cổ,bé
họng” phải chịu sự áp bức bóc lột của bọn cường hào ác bá. “ Ở bên ngoài, nắng nhạt
dần dần. Nắng úa vàng, sức nắng giảm rất mau. Thứ tưởng như trông thấy thời gian
trôi và ngày chết dần đi. Mấy cái tầu chuối hơi cụp xuống, gió chỉ khẽ lung lay và
ngây ra trong một dáng điệu ngẩn ngơ”. Với không gian làng quê mọi vật như ngưng
đọng lại với quỹ thời gian miêu tả bé nhỏ là khoảng thời gian Thứ về thăm quê.
Không gian nơi đây tưởng chừng như khô héo,quắt queo trong nghèo đói đượ tác giả
miêu tả với sắc thái tĩnh tại,mờ nhạt. Không gian làng quê là nơi gắn với cuộc sống
của gia đình Thứ, cuộc sống chạy ăn từng bữa với những con người lam lũ chỉ mong
có bữa ăn qua ngày. Nơi Thứ trở về với suy nghĩ sẽ trở nên mòn đi, đối với Thứ nơi
đây chỉ là xó nhà quê không phải là nơi đáng sống. Thứ đau đớn khi mỗi lần về quê vì
phải chứng kiến cảnh xơ xác, khổ cực, bữa no bữa đói của gia đình và mình trở nên
bất lực trước đồng lương ít ỏi kiếm được. Nhưng quê hương cũng mang lại cho Thứ
một chút thanh thản khi có Liên-người vợ ngoan hiền hết mực yêu thương chồng con.
Không gian làng quê ít được tác giả miêu tả cụ thể trong tác phẩm mà chỉ qua
những lần Thứ về thăm quê mang trong mình nỗi dằn vặt không lo được cho gia đình
dù chỉ là bữa ăn. Qua cái nhìn của Thứ ta thấm thía nỗi khổ của những người nông
dân một nắng hai sương mà vẫn phải chạy ăn từng bữa, chịu đủ mọi áp bức của chế
độ không ngoi lên nổi. Nam Cao nói về cuộc sống làng quê thông qua hình ảnh mâm
cơm thiếu thốn, không dám ăn mỗi khi nhà có thêm người hay cả nhà chỉ ăn một bữa
trong ngày. Làng quê mang màu sắc ảm đạm, nhợt nhạt vì đói kém, vì sưu cao thuế
nặng, không gian bao trùm là một mảng tối không lối thoát chỉ biết mặc cho số phận


trôi nổi. Từ không gian làng quê tác giả muốn đề cập đến xã hội ta lúc bấy giờ với đầy
rẫy những tồn tại kiềm hãm con người và đó là lí do vì sao các tầng lớp lần lượt tìm ra
thành thị mong có được sự thay đổi cho cuộc sống tươi sáng hơn. Làng quê vắng
lặng, hoang vu, ảm đảm như cố bắt con người ta phải sống một kiếp người nghèo khổ,
quanh quẩn và bế tắc. Trong văn học làng quê thường được nhà văn miêu tả với vẻ
bình yên và là nơi trở về của nhân vật sau những bồn bề của cuộc sống nhưng đối với
Nam Cao làng quê là nơi trói chân, kìm hãm con người vì thế các nhân vật ra đi mà
không hề muốn trở về. Thứ ra đi mong tìm cuộc sống mới, thực hiện ước mơ về sự
nghiệp to lớn và mỗi lần trở về thăm quê là những lần Thứ ngao ngán chứng kiến
cảnh sống đói khổ của gia đình mình. Đứng trước không gian làng quê, trước những
con người như thế, con người luôn tìm cho mình một lối thoát, một nơi sáng sủa hơn
cùng với những hi vọng về một tương lai tươi sáng hơn. Nam Cao miêu tả một làng
quê như thế bởi đó là không gian có thật của làng quê Việt Nam trước cách mạng
tháng 8, nó là sự ám ảnh của một thời lam lũ chịu nhiều áp bức, bóc lột con người
sống một cuộc sống tối tăm, mù mịt. Mặc dù không gian làng quê trong “sống mòn”
không được miêu tả với không khí sục sôi, ồn ã như trong “Chí Phèo” nhưng cũng đủ
sức tố cáo xã hội lúc bấy giờ kìm hãm cuộc sống của những người nông dân chất phác
quanh năm vất vả với đủ loại thuế má. Đây chính là không gian làm cho cuộc sống
con người trở nên “mòn đi và gỉ ra”.
2.1.2 Không gian thành thị
Từ không gian làng quê đến không gian thành thị, tuy điểm không gian có khác
nhau nhưng vẫn là không gian sống của người nghèo khó: chật chội, lam lũ, ảm
đạm.Bên cạnh những chi tiết về cuộc sống của Thứ, những chi tiết về những người
xung quanh Thứ như San, Oanh, Đích cũng nhất quán như vậy. Ở quê hay thành thị
Thứ và những người bạn trí th ức của Thứ đều không thoát khỏi sự trì kéo của miếng
cơm manh áo, không thực hiện được ước mơ tạo dựng sự nghiệp của mình. Điều đó
diễn tả một hành trình bế tắc, một cuộc vùng vẫy tuyệt vọng của người trí thức trong
xã hội thực dân - phong kiến Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Không gian
thành thị trong tác phẩm là nơi nhân vật gửi gắm ước mơ về một cuộc sống tươi sáng.
Các nhân vật hướng tới nó với niềm hi vọng tìm thấy lối thoát cho cuộc sống cùng
quẫn, buồn chán và tẻ nhạt ở quê nhà. Sài Gòn, Hà Nội hiện ra, nơi mà các nhân vật
của Nam Cao gửi gắm biết bao hy vọng, háo hức nhưng rồi lại bị chết dần, chết mòn
những mơ ước ở đó, cuối cùng như một quy luật họ buộc phải quay về quê hương
đem theo cả sự nghèo đói, cả sự suy sụp cả về tinh thần lẫn thể xác. “ Ánh đèn xanh
tỏa xuống, hiu hắt lạnh lùng. Những cây cảnh trong giấc ngủ, rầu rầu. Cả đến hòn
núi giả cũng rầu rầu. Đằng sau tất cả những cái ấy, cái lối đi vắng ngắt chạy dài mãi


vào trong. Đằng trước dãy cửa to, cửa nhỏ đóng cả rồi, như ở một cái nhà thương.
Vắng lặng, một con tắc kè kêu. Thứ tưởng như một tiếng chuông réo, sẽ ầm ĩ lắm,
giữa sự quá im này. Y sẽ làm cho người ta phải ngạc nhiên, phải xôn xao, như tiếng
kêu báo động giữa đêm khuya, trong một đồn binh”. Không gian thành thị là nơi Thứ
rời làng để đến với hy vọng thực hi ện được những ước mơ tốt đẹp của đời mình.
Không gian hiện ra nhỏ hẹp, tù túng: nơi Thứ ở trọ, cả hai nơi đều chật hẹp, nơi ở lần
sau chuyển đến còn tệ hại hơn: “lối đi bẩn thỉu và rác rưởi,…những vũng nước đen,
nh ững chỗ đất phủ rêu nhầy nhầy, những đống rác lù lù, bừa bãi,… mùi khai
khai,khăn khẳn bốc lên”; người ở tạp nham đủ nghề và đủ người ở tầng lớp đáy cùng
của xã hội. Các chi tiết về đời sống, của Thứ vẫn là đời sống của người nghèo, bữa ăn
của người nghèo, cách chia sẻ bữa ăn của người nghèo. Không gian ngôi nhà mà Thứ
tìm đền thuê trọ thoạt nhìn đã có chút gì đó u ám, bát nháo với đủ loại người và cả cái
chuồng ngựa hôi hám càng làm cho Thứ chán nản nhưng đó là không gian mà Thứ
phải sống dù muốn hay không. “Cái nhà ở thụt vào mãi trong làng. Từ ngoài đường
nhựa có một cái ngõ gạch đi vào. Ngõ vào đến nhà ấy vừa cùng. Nhưng vòng đến sau
nhà, một cái ngõ khác trũng hơn, kề một đầu lên cái ngõ kia và chạy sang tận mặt kia
làng, vắt hai sợi râu đỏ của nó lên cái sườn xanh rì của một con đê lớn. Cái lối đi
bẩn thỉu và rác rưởi! Lẫn rác mục, lá khô phủ trên mặt, dầy đến nỗi người ta đi thấy
lún chân. Thứ và San đã đi qua đấy một vài lần, nhưng chưa bao giờ trông thấy cái
nhà, có lẽ chỉ vì đến đây họ còn mải chăm chú nhìn mặt đất để tránh những thứ dơ
bẩn nhan nhản ở lối đi. Vả lại cái nhà liền sát một cái chuồng ngựa đua to, ở đầu
trong. Cái chuồng ngựa với những con ngựa cao lớn, nở nang, chải chuốt và kiêu
hãnh như bộ binh phục mới, những con ngựa thở phì phì và đập chân kêu bôm bốp,
choán hết cả sự chú ý của người ta. Người ta chỉ trông thấy cái chuồng ngựa mà thôi.
Nó nuốt hết cái nhà. Đứng bên ngoài mà trông, ai cũng tưởng cái nhà là một phần
chuồng ngựa. Đó là những đám cỏ rậm um ở sát chân tường, những vũng nước đen,
những chỗ đất phủ rêu nhầy nhầy, những đống rác lù lù, bừa bãi. Một mùi khai khai,
khăn khẳn bốc lên. Cả hai người cùng nhun mũi, nhưng chẳng người nào nỡ nói
ra”.Không gian nơi Thứ trọ là không gian của những con người lao động với đủ
những cách giao tiếp, ăn ở…gợi lên cho ta sự nhốn nháo, hỗn tạp của cuộc sống nơi
đây. Con người như cô độc giữa không gian thành thị nơi mà tưởng chừng như có vẻ
ồn ào, náo nhiệt “Con đường vắng, chạy dài, phẳng lì dưới ánh sáng úa vàng của
những bóng đèn buồn ngủ, cũng quạnh hiu như cõi lòng y. Hàng cây cối ở bên đường
ủ rũ, bơ phờ như những người ốm tương tư. Lâu lâu một tiếng guốc lộc cộc hay một
tiếng giầy tây cồm cộp mới vang lên từ đằng xa, gần lại dần dần và một bóng người


lủi thủi hay lực lưỡng rõ dần ra: một dân bồi bếp, xong việc, đi tìm đám bạc trong
một xóm ngoại ô nào hay một người lính mải mốt đi về trại...”
Không gian thành thị của ông được mở ra trước hết và chủ yếu ở cái không gian đời
tư, gia đình này, có thể nói, không gian nhà ở, căn buồng như một áp lực thu hút các
nhân vật của ông. Chính không gian nhà ở, căn buồng (tương ứng với nó là thời gian
cá nhân hàng ngày) đã tạo ra điều kiện thuận lợi cho Nam Cao khai thác triệt để cái
cuộc sống hàng ngày của nhân vật. Đời sống thật của các nhân vật hiện lên cụ thể,
chân thật, sinh động trong cái không gian riêng tư, gia đình của chính mình. Trong rất
nhiều tác phẩm của am Cao, những biến cố, sự kiện, những hành động, suy nghĩ v.v…
của nhân vật chủ yếu diễn ra trong không gian đó (Trăng sáng, Nghèo, Từ ngày mẹ
chết, Bài học quét nhà, Con mèo v.v… ) Trong không gian nhà ở, căn buồng, các nhân
vật của Nam Cao đã phải đ ối diện với các chất văn xuôi tầm thường phàm tục của đời
sống. Những tiếng “diếc lác dằn vặt, hắt hủi và khóc lóc” hằng ngày đã làm xói mòn
dần những rung động, những mơ ứơc của những Điền, những Hộ, những Hài, những
Thứ. Những xích mích vặt vãnh, những ghen tuông giận hờn, đố kị nhỏ nhen của Thứ,
San, Đích, Oanh cũng phơi bày bằng hết trong cái không gian chật hẹp ở cái trường tư
ngoại ô Hà Nội, trong căn gác xép hoặc trong cái buồng thuê của ông Học. Có thể nói,
dựng lên không gian nhà ở, căn buồng, nơi diễn ra những đói khát, ốm đau, bệnh tật
cùng với biết bao những cái hàng ngày vặt vãnh, tầm thường, vô vị, Nam Cao đã phản
ánh chân thật cuộc sống tù đọng, ngột ngạt đến mức không chịu nổi của xã hội Việt
Nam đêm trước Cách mạng Tháng Tám. Những nhân vật của Nam Cao dường như
muốn thoát ra khỏi không gian ngột ngạt, tù túng nhưng đành bất lực. Không gian cư
trú như một sợi dây vô hình trói buộc con người. Không gian và thời gian nghệ thuật
là những yếu tố trong cấu trúc nội tại của tác phẩm. Sự miêu tả, trần thuật bao giờ
cũng phải xuất phát từ một điểm nhìn trong một không gian nhất định, diễn ra trong
một trường nhìn và trong một thời gian nhất định. Không gian và thời gian nghệ thuật
chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại bên trong của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ
tượng trưng, mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả
hay của một giai đoạn văn học. Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc
đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật, trong đó có nghệ
thuật xây dựng nhân vật.
2.2 Không gian tâm tưởng
Không gian tâm tưởng là không gian được mở ra trong dòng suy tưởng, mơ ước của
con người. Trong “Sống mòn”, không gian tâm tưởng đan xen cùng không gian hiện
tại. Qua dòng tâm tưở ng của Thứ người đọc thấy không gian tâm tưởng hiện ra chủ


yếu là không gian làng quê trong quá khứ: không gian ngôi nhà, làng xóm với những
cảnh, nh ững người rất đỗi quen thuộc mà Thứ đã từng gắn bó. Những chi tiết trong
không gian này phản ánh một hi ện thực cuộc sống đáng buồn, đáng thương: “người
nhà quê làm quần quật suốt đời như một kẻ chung thân… luôn nhận mình là con sâu
cái kiến”. Đi liền với những con người ấy là “cơm gạo đỏ như nâu, độn ngô khoai…”
Liên - vợ Thứ ở quê “lo hóp ng ười đi, ăn chẳng đủ no, và chỉ chăm sóc đứa con nay
sài mai đẹn của y cũng đứt hết thở rồi, huống chi còn phải làm để kiếm tiề n thêm …”
Không gian làng quê hiện ra trong tâm tưở ng Thứ cùng với những kỷ niệm buồn, nỗi
xót xa, trăn trở, dằn vặt, hối hận với vợ con, với mẹ,: “bà chưa bao giờ được ăn
ngon, chưa bao giờ được nghỉ nghơi, không thể tin rằng người ta có quyền nghỉ ngơi,
chưa bao giờ được vui vẻ , yêu đương…”, “… y rất sợ bà chết đi mà chưa được
hưởng một chút gì, chưa trông thấy một tí gì của chính y”. Không gian tâm tưởng vì
thế luôn đè nặng trong tâm hồn Thứ, cùng với những lo toan hiện tại làm cho đời sống
tinh thần của anh ta luôn ngột ngạt, bế tắc. Không gian tâm tưởng lại chính là không
gian làng quê, chính là nơi Thứ đã muốn đi xa, từ giã nó và là nơi cuối cùng anh ta
đành phải quay trở về. Điều này biểu hiện cuộ c sống luẩn quẩn, bế tắc, không lối
thoát của Thứ, của những người tri thức nghèo như Thứ. “Bên ngoài cái cửa sổ sau,
màu xanh của bức giậu găng tây dâng lên đến lưng chừng cửa sổ, đã thẫm lại thành
đen. Không gian xám tro. Và tít ngoài xa, đằng sau những đám mây loáng thoáng
như những mạng nhện đen, trên một nền trời bằng lặng, mấy vết máu đỏ chết, cứ chết
dần, đổi sang màu tím thẫm” . Trong Sống mòn, Thứ hiểu khá rõ tình trạng “Sống
mòn” của mình, nhưng cam chịu vì sợ hãi trước sự đổi thay. Ngồi trên con tàu từ Hà
Nội về quê, Thứ miên man nghĩ : “Trên những bãi sông kia, trong những làng mạc,
những khóm xanh xanh kia, có bao nhiêu người sống như y, nhưng không bao giờ
dám cưỡng lại đời mình.” Nam Cao cắt nghĩa chính “thói quen, lòng sợ hãi sự đổi
thay, sợ hãi những cái gì chưa tới đã ngăn cản người ta đến một cuộc sống rộng rãi
hơn, đẹp đẽ hơn”. Không gian nhà ở, căn buồng trong sáng tác của Nam Cao cũng
chính là không gian suy tưởng. Nhân vật Thứ trong Sống mòn cho rằng : “Sống tức là
cảm giác và suy tưởng, sống cũng là hành động nữa, nhưng hành động chỉ là phần
phụ, có cảm giác, có tư tưởng mới sinh ra hành động…” Một quan niệm về con người
như thế đã chi phối quá trình sáng tạo của Nam Cao.
Nếu sử dụng màu sắc để nói về không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học
hiện thực của Nam Cao c ũng như của các tác ph ẩm văn học hiện thực 30 -45 thì ng
ười ta chỉ có thể dùng một màu, đó là màu đen. Không gian như bóng tối phủ lên hiện
thực cuộc sống của xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng 8-1945. Không gian vừa
đen tối vừa khép kín đó cũng thể hiện tầm nhìn hạn chế của nhà văn. Chúng ta biết


rằng hiện thực trong tác phẩm là hiện thực được nhà văn cảm nhận và phản ánh. Nam
Cao trước đó cũng như nhiều nhà văn hiện thực đương thời mới chỉ thấy được hiện
thực đen tối củ a xã hội mà chưa thấy được lối thoát, hướng phát triển củ a đất nước
như những nhà văn cách mạng. Tuy nhiên, ở hình tượ ng không gian nghệ thuật của
Nam Cao nói chung, trong tác phẩm “Sống mòn “ nói riêng, chúng ta vẫn cảm nh ận
đượ c một ánh sáng lấp lánh- đó là ánh sáng ở lòng tin của nhà văn vào sự tồn tại của
lương tri con người. Lương tri giúp nhân vật Thứ- người tri thức nghèo trong xã hội
Việt Nam trước cách mạng tháng 8-1945 luôn trăn trở không hài lòng với cuộc sống
mòn vô nghĩa ở hiện tạiKhông gian nhà ở, căn buồng cũng chính là không gian cho
các nhân vật trong Sống mòn suy tưởng. Không gian bị dồn nén đến mức ngột ngạt
cộng với sự cô đơn nên các nhân vật của Nam Cao thường miên man trong những suy
nghĩ, lo toan, độc thoại nội tâm triền miên, âm thầm, chua chát. Các nhân vật cứ nằm
ngay trên giường, trong căn buồng của mình mà suy nghĩ. Ở ngoại ô làng Thụy, trong
căn buồng thuê của gia đình ông Học, Thứ thường nằm dài trên giường suy nghĩ rất
lung về cái kiếp sống mòn của mình. Qua dòng tâm tưởng của Thứ, người đọc thấy
không gian tâm tưởng hiện ra chủ yếu là không gian làng quê trong quá khứ; không
gian ngôi nhà, làng xóm với những cảnh rất đỗi quen thuộc mà Thứ đã từng gắn bó.
Không gian làng quê hiện ra trong tâm tưởng Thứ cùng với những kỉ niệm buồn, với
những nỗi xót xa, trăn trở dằn vặt, hối hận với gia đình mình: “Y quý đồng tiền. Y lại
thấy ngại đi tìm nhà trọ khác. Ở chỗ khác y sẽ phải trả nhiều tiền hơn bây giờ, có thể
gấp hai. Số tiền gửi về nhà quê, số tiền để dành sẽ hụt đi. Vợ con y sẽ khổ thêm… Vả
lại ở nhà quê, vợ và các con y, bố mẹ y chả ăn uống khổ sở hàng đời người rồi hay
sao, còn có bao giờ họ được no xôi chán chè lấy hai bữa, lấy vài tháng, còn có bao
giờ họ biết mùi thịt cá luôn, hay cũng chỉ cơm hẩm cá thiu thối?”. Thứ khao khát thực
hiện ước mơ của mình là có thể đến Pari hoa lệ hay Sài Gòn náo nhiệt nhưng cuối
cùng lại gắn cuộc đời mình với cái trường tư và cái xóm trọ tồi tàng với những toan
tính nhỏ nhen vì miếng cơm manh áo. Thứ không biết làm gì ngoài việc xo đo tính
toán trong từng bửa ăn, trong mỗi lần tính lương ở cái trường tư bé xíu kia và cả đối
với người vợ ngoan hiền của mình.
Không gian tâm tưởng vì thế luôn đè nặng trong tâm hồn Thứ, cùng với những
lo toan hiện tại, làm cho đời sống tinh thần của anh luôn ngột ngạt, bế tắc. Với không
gian tâm tưởng, Nam Cao đã để nhân vật của mình tự phơi bày đời sống phức tạp bên
trong con người mình: ý nghĩa cuộc sống, tình yêu, sự ghen tuông, cách xử thế với
bạn, với mọi người xung quanh… “Thứ thấy nổi lên trong lòng một nỗi uất ức tối
tăm, nó nâng một cục gì lên, lấp cổ họng y. Y nghiến răng, khẽ đâp tay xuống giường,
rít lên một tiếng làu nhàu, như một người điên. Một chút nước mắt ứa ra trên đôi mắt


căng thẳng của y. Y dằn dỗi nói từng lời, những ý nghĩ liều lĩnh ấy nảy ra trong óc:
"Mẹ kiếp! Chẳng đi nữa! Mặc kệ trường! Mặc kệ học trò! Cứ nằm đây này, nhất định
không đi đâu! Muốn ra sao cũng được... muốn ra sao cũng được". Y bình tĩnh một
chút để suy nghĩ tất cả những cái gì có thể xảy ra”. Thứ dường như bế tắc trong suy
nghĩ và hành động Y luôn có ý nghĩ sẽ mặc kệ tất cả sống một cuộc sống mà mình
mong muốn. Thứ như ở trong cái vòng lẩn quẩn của chính mình “sống hay không
sống” điều này dằn vặt tâm trí Thứ mọi nơi mọi lúc làm cho Y trở nên mệt mỏi chán
nản với cuộc sống hiện tại. Ở cuối tác phẩm, trong không gian tâm tưởng xuất hiện
hai hình ảnh đối lập nhau: một là hình ảnh “một xó nhà quê”, “đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ
đi, sẽ mục ra”, “y sẽ chẳng đi đâu” hiện ra trong tâm trạng bi quan, tuyệt vọng của
Thứ khi giã từ Hà nội. Bên cạnh cái không gian đáng buồn ấy xuất hiện “một tia sáng
mong manh”, “cuộc sống sẽ dễ dàng hơn, công bằng hơn, đẹp đẽ hơn”.Hiện tại đối
với Thứ thật là mòn mỏi, nhưng tương lai còn thê thảm hơn nhiều. “Nhưng nay mai
mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ! Đời y sẽ mốc lên, sẽ rỉ đi,
sẽ mòn, sẽ mục ra, ở một xó nhà quê. Người ta khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ
khinh y. Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống.” Không gian nghệ thuật
của tác phẩm “Sống mòn” vì thế không phải là không gian khép kín như nhiều tác
phẩm hiện thực phê phán khác của Nam Cao. Không gian của “Sống mòn” là không
gian mở. Cấu trúc mở của không gian cuối tác phẩm có ý nghĩa như một chút niềm
tin, một dự báo cho tương lai người trí thức có lương tri như Thứ sẽ thoát ra khỏi
“sống mòn”, sẽ sống một cuộc sống đích thực có ý nghĩa đẹp đẽ hơn.Trong thực tế,
chính nhà văn Nam Cao đã tự mình thoát khỏi sự bế tắc của thế hệ mình để trở thành
một nhà văn cách mạng.


KẾT LUẬN

Không gian nghệ thuật mà Nam Cao xây dựng không chỉ là nơi nhân vật sống,
hoạt động mà còn là hình tượng nghệ thuật- đó là một nét đặc biệt trong thi pháp
không gian của Nam Cao. Không gian nghệ thuật trong “Sống mòn” cũng như không
gian nghệ thuật trong “Chí Phèo”, “Lão Hạc” đều là những hình tượng nghệ thuật có
ý nghĩ a sâu sắc. Thành công của Nam Cao ở phương diện này là nhà văn vừa quan
sát tinh tế và cảm nhận không gian trong mối quan hệ với con người, vừa dụng công
lựa chọ n chi tiết, tổ chức kết cấu không gian nghệ thuật của tác phẩ m nh ư một hình
tượng nghệ thuật quan trọng. Không gian vừa là hiện thực nghiệt ngã, vừa là chiề u
sâu của tâm trạng nhân vật, vừa phản chiếu nhận thức, tư tưởng của tác giả… Đó là
đặc điểm tiêu biểu của không gian nghệ thuật trong hầu hết các tác phẩm của Nam
Cao. Không gian nghệ thuật là một ph ương diện của thi pháp giúp người đọc có th ể
tìm hiểu, nắm bắt tác phẩm văn học một cách sâu sắc. Không gian nghệ thu ật trong
“Sống mòn” vừa giúp chúng ta hiểu được bản chất cuộc sống bế tắc của tầng lớp trí
thức Việt Nam trước cách mạng tháng 8-1945, vừa thấy rõ cái nhìn và thái độ của
Nam Cao. Đó là cái nhìn thẳng thắn, khách quan và giàu chất nhân văn: ông vừa phơi
bày hiện thực nghiệt ngã vừa phân tích, lý giải cuộc sống, vừa giữ niềm tin vào con
người. Người đọc yêu thích các tác phẩm của Nam Cao là yêu thích cái cách cảm
nhận và phản ánh cuộc sống vừa lạnh lùng đến khắc nghiệt lại vừa sâu sắc, nhân hậu


của ông. Trong tiểu thuyết Sống mòn, không gian là hình ảnh của sự sống mòn. Thứ
từ làng quê vào Sài Gòn, mơ ước đi Pari nhưng vì ốm phải về quê, rồi đi Hà Nội dạy
học, nằm bẹp ở gác xép của ngôi trường tư, sau đó chuyển sang buồng thuê của ông
Học, rốt cuộc lại phải trở về quê cũ, nơi xuất phát, nơi mà y cầm chắc đời y sẽ “mốc
lên, sẽ rỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra”, khép kín cái vòng đời mòn mỏi, luẩn quẩn, bế tắc của
mình. Nam Cao như muốn đạt ra câu hỏi day dứt muôn thuở : Liệu con người có khả
năng thoát ra khỏi tình trạng sống mòn không ? Là một nghệ sĩ bậc thầy, Nam Cao đã
sử dụng linh hoạt các yếu tổ của thời gian và không gian trong quá trình sáng tạo tác
phẩm của mình. Từ không gian trung tâm là nhà ở, căn buồng, không gian nghệ thuật
của Nam Cao còn vươn tới cái không gian khác kể cả không gian tâm tưởng. Cùng
với việc đổi thay không gian, thời gian nghệ thuật cũng được mở ra nhiều chiều nhờ
những hồi tưởng, ước mơ và suy tưởng của nhân vật. Những nhân vật của Nam Cao
từ thời hiện đại có thể quay về quá khứ hoặc h ướng tới tương lai, thậm chí có khi xáo
trộn cả không gi an với thời gian. Điều đó làm cho tác phẩm của Nam Cao mới thoạt
nhìn bề ngoài tưởng như rất phóng túng, tuỳ tiện, nhưng thực ra lại rất chặt chẽ bởi vì
chúng được chỉ đạo nhất quán trong quan niệm nghệ thuật về con người mà nhà văn
tìm kiếm và bộc lộ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. GS Hoàng Phê, “Từ điển tiếng việt”, NXB Khoa học xã hội, 1998.
2. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi, “Từ điển thuật ngữ văn học”, NXB
Giáo dục, 2007
3. GS Trần Đình Sử, “Giáo trình thi pháp học”, NXB Trường ĐH TP.HCM
4. Nam Cao, “sống mòn”, NXB văn học, tái bản 2005
5. PGS Trần Đăng Xuyên, “nhận xét về sự độc đáo của không gian thời gian Nam
Cao”.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×