Tải bản đầy đủ

Không gian bóng tối và ánh sáng trong truyện ngắn hai đứa trẻ

Không gian ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU…………………………………………………………….....Trang 2
NỘI DUNG:
1. Lí luận về không gian nghệ thuật trong văn học……………… Trang 3
1.1. Khái niệm không gian nghệ thuật
1.1.1. Khái niệm không gian ……………… ………………… Trang 3
1.1.2. Khái niệm không gian nghệ thuật………………………… Trang 3
1.2. Đặc điểm của không gian nghệ thuật ………………………..Trang 3
1.2.1. Không gian nghệ thuật thống nhất nhưng không đồng nhất với
không gian khách thể…………………………………………………...Trang 3
1.2.2. Không gian trong tác phẩm văn học có một ranh giới phân biệt với
không gian vật chất bên ngoài ............................................................... Trang
4
1.2.3. Không gian nghệ thuật là một hiện tượng ước lệ, mang ý nghĩa
cảm xúc, tâm tưởng ……………………………………………………Trang 4
1.3. Các hình thức không gian nghệ thuật trong văn học ………...Trang 5
1.3.1 Không gian nghệ thuật trong văn học dân gian …………….trang 5
1.3.2. Không gian nghệ thuật trong văn học viết trung đại …….. Trang 6
1.3.3. Không gian trong văn học hiện đại ……………………….Trang 6

2. Không gian ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn “Hai đứa
trẻ” của Thạch Lam:
2.1 Sự tương quan giữa bóng tối và ánh sáng trong “Hai đứa
trẻ”. ………………………………………………………………Trang 8
2.2 Tương quan ánh sáng và bóng tối trong cảnh chiều muộn
nơi phố huyện …………………………………………………... trang 9
2.3 Không gian ánh sáng và bóng tối trong cảnh phố huyện
vào đêm

……………………………………………………… Trang 11

2.4 . Không gian bóng tối và ánh sáng khi chuyến tàu đêm
đi qua…………………………………………………………… Trang 12
KẾT LUẬN…………………………………………………… ..Trang 15

Trang: 1


Không gian ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

I.MỞ ĐẦU:
Cũng như thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật là phương thức
tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật. Không gian nghệ thuật trong một
văn bản văn học không đơn giản là xác định nơi chốn hay tái hiện những
khung cảnh hiện thực mà nó được xây dựng như một kí hiệu đặc biệt để thể
hiện tâm trạng của nhân vật hay bộc lộ quan điểm của thi sĩ về thế giới. Bởi
Không gian và thời gian nghệ thuật là hai phạm trù tồn tại trong tác phẩm
văn chương mang tính quan niệm của chủ thể sáng tạo. Chúng gắn liền với
cảm thức của tác giả về hiện thực cuộc sống và khát vọng tinh thần của nhân
vật trong tác phẩm. Đó là hình thức cơ bản tạo nên kinh nghiệm, quan hệ
sống của con người, thông qua từng trạng thái tình cảm và các phương thức
biểu hiện đặc biệt của ngôn ngữ, qua đó, tác giả thể hiện tư tưởng và phong
cách của mình [1; tr.153].
Không gian trong tác phẩm văn học là một hiện tượng nghệ thuật, là hình
thức tồn tại của thế giới nghệ thuật, vì không có hình tượng nghệ thuật nào
không có không gian, không có nhân vật nào không có một nền cảnh của nó.
Không gian nghệ thuật là hình tượng không gian có tính chủ quan và tượng
trưng, là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện
một quan niệm nhất định về cuộc sống. Nó biểu hiện mô hình thế giới của con
người, là quan niệm về trật tự thế giới và sự lựa chọn của con người. Không


gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học,
các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu
cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học. Như vậy, tác phẩm văn
học nào cũng xây dựng một mô hình không gian nghệ thuật sáng tạo để thực
hiện sự miêu tả, trần thuật, từ đó bộc lộ những quan niệm, tư tưởng độc đáo
của nhà văn về cuộc đời.
Không gian nghệ thuật được xây dựng hết sức đa dạng qua các tác phẩm
khác nhau. Với mỗi ý đồ riêng biệt của từng tác giả mà không gian nghệ thuật
có một ý nghĩa nhất định. Ý nghĩa đó gắn liền với cách cảm thụ và quan niệm
về thế giới của mỗi nhà văn.
Như vậy việc tìm hiểu không gian nghệ thuật ở từng tác phẩm văn học sẽ
giúp chúng ta đi sâu tìm hiểu về phong cách nghệ thuật của nhà văn, về nội
dung tư tưởng của tác phẩm. Vì vậy mà trong những thập niên gần đây đã có
rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về không gian nghệ thuật trong tác
phẩm. Các nhà lí luận, phê bình đã đi khảo sát từ không gian nghệ thuật trong
ca dao đến văn học trung đại, văn học hiện đại. Nghiên cứu từ không gian
nghệ thuật của một tác giả đến không gian trong một tác phẩm cụ thể. Với một
số bài viết tiêu biểu như “Không gian nghệ thuật của Truyện Kiều” của Trần
Đình Sử; “Không gian nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử” của Hồ Thế Hà, …
Với những thành tựu đó, trong tiểu luận này tôi xin vận dụng những lý thuyết
đã tiếp thu được của Thi pháp học để tìm hiểu Không gian ánh sáng và bóng
tối trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.
Trang: 2


Không gian ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

II.NỘI DUNG:
1. LÍ LUẬN CHUNG VỀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG
VĂN HỌC
1.1. Khái niệm không gian nghệ thuật
1.1.1. Khái niệm không gian
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê đã cắt nghĩa, lí giải về không
gian như sau: Không gian là khoảng không bao la trùm lên tất cả sự vật hiện
tượng xung quanh đời sống con người [tr.633].
Như vậy, không gian chính là môi trường chúng ta đang sống với sự tồn
tại của các sự vật. Không gian chính là hình thức tồn tại của vật chất với
những thuộc tính như cùng tồn tại và tách biệt, có chiều kích và kết cấu.
1.1.2. Khái niệm không gian nghệ thuật
Để hiểu được khái niệm không gian nghệ thuật một cách cơ bản và khái
quát nhất, tôi xin được viện dẫn cách hiểu của Lê Bá Hán trong cuốn Từ điển
thuật ngữ văn học: Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình
tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó [tr.162].
Trần Đình Sử lí giải thêm: không gian nghệ thuật là phạm trù của hình
thức nghệ thuật, là phương thức tồn tại và phát triển của thế giới nghệ thuật.
Nếu thế giới nghệ thuật là thế giới của cái nhìn và mang ý nghĩa thì không
gian nghệ thuật là trường nhìn mở ra từ một điểm nhìn, cách nhìn. [4.tr.42].
Ông còn khẳng định một cách hết sức chắc chắn: “không có hình tượng nghệ
thuật nào không có không gian, không có một nhân vật nào không có một nền
cảnh nào đó”, và “không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ
nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống”
[4.tr.43 ]. Như vậy, không gian nghệ thuật là phương thức tồn tại và triển khai
của thế giới nghệ thuật. Không gian nghệ thuật trở thành phương tiện chiếm
lĩnh đời sống, “mang ý nghĩa biểu tượng nghệ thuật”. Và sự miêu tả, trần thuật
bên trong tác phẩm văn học bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, ta xác
định được vị trí của chủ thể trong không - thời gian, thể hiện ở phương hướng
nhìn, diễn ra trong một trường nhìn nhất định. Căn cứ vào điểm nhìn mà xác
định được vị trí của chủ thể trong không - thời gian, thể hiện ở phương hướng
nhìn, khoảng cách nhìn, ở đặc điểm của khách thể được nhìn. Điểm nhìn
không gian được thể hiện qua các từ chỉ phương vị (phương hướng, vị trí), để
tạo thành “viễn cảnh nghệ thuật”.
Tóm lại, không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ
thuật. Không gian nghệ thuật không những cho thấy cấu trúc nội tại của tác
phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy những quan niệm
về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học. Nó cung
cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại
hình của các hình tượng nghệ thuật. Vì vậy không thể tách hình tượng ra khỏi
không gian mà nó tồn tại.
1.2. Đặc điểm của không gian nghệ thuật
Trang: 3


Không gian ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

1.2.1. Không gian nghệ thuật thống nhất nhưng không đồng nhất với
không gian khách thể.
Bản thân không gian vật chất tồn tại khách quan, nghĩa là sự tồn tại của
nó không phụ thuộc vào ý thức của con người, mà không gian vật chất chỉ trở
thành không gian nghệ thuật khi được tác giả cảm nhận về nó và qua đó thể
hiện cách cảm, cách nghĩ của nhà văn về thế giới, là một quan niệm nhân sinh,
một thái độ sống trước cuộc đời.
1.2.2. Không gian trong tác phẩm văn học có một ranh giới phân biệt
với không gian vật chất bên ngoài, nhưng không dễ thấy như cái khung
của một bức tranh, cái sân khấu của một vở diễn [4.tr.42]. Mà có lẽ ranh
giới ấy chỉ mờ nhạt mong manh như “sợi tóc” (chữ của Thạch Lam), một làn
khói mơ hồ, giống như cái sân khấu của chèo sân đình không gian chiếu chèo
và thế giới bên ngoài dường như không có khoảng cách mà đôi khi lại hoà làm
một.
1.2.3. Không gian nghệ thuật là một hiện tượng ước lệ, mang ý nghĩa
cảm xúc, tâm tưởng có khi rất gần nhưng cảm thấy rất xa:
Gần nhau đây mà xa biết bao nhiêu
Giữa hai đứa mênh mông là biển rộng
Không gian trong văn học được biểu hiện bằng không gian mang tính
ước lệ, tượng trưng: Ôlimpơ, Tây Trúc, Thiên đình, thượng giới, làng quê,
trong nhà, ngoài vườn, bến sông, tha hương, thành phố, biển khơi…
Không gian biểu thị bằng các từ chỉ không gian vốn đã mã hoá sẵn trong
đời sống, như: trên cao, dưới thấp, nghiêng, lệch, hữu khuynh, tả khuynh,
xuống dốc, rộng - hẹp, dài - ngắn, phóng khoáng… Các yếu tố này làm cho
không gian thấm đượm nội dung văn hóa truyền thống.
Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô liêu
(Tràng giang - Huy Cận)
Không gian nghệ thuật trong văn học mang tính tượng trưng và mang
tính quan niệm. Tính quan niệm này xuất phát từ nguyên tắc mô phỏng thiên
nhiên trong hội hoạ, đó là luật thấu thị - nhìn sự vật theo tỉ lệ xa gần, sáng tối
trong hội họa phương Tây. Vì thế trong văn học cổ, con người nhìn không gian
theo cách hiểu chứ không theo cái nhìn thấy. Ví dụ như trong tranh đời
Đường, nhân vật quan trọng thì vẽ to, nhân vật phụ thì vẽ nhỏ.
Chính khoảng cách xa - gần trong cách nhìn cũng góp phần thể hiện quan
niệm, tư tưởng nghệ thuật của nhà văn. Hình tượng chiếc thuyền ngoài xa
trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nguyễn Minh Châu được khám phá
dần cũng theo khoảng cách xa gần. Ban đầu khi chiếc thuyền ở ngoài xa thì
người nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng nhìn thấy đó là cảnh tượng đẹp, thơ mộng
giống như một bức tranh cổ, một “cảnh đắt”. Nhưng Nguyễn Minh Châu đã
thật sâu sắc, ông kéo con thuyền nghệ thuật lại gần hơn để tìm hiểu. Cảnh
tượng diễn ra khi chiếc thuyền không còn ở ngoài xa nữa thật đối lập với cảnh
tượng ban đầu, thì ra đằng sau vẻ đẹp ấy lại là hiện thực cuộc sống đầy cay
đắng của con người, là những “vết xước trong tâm hồn con người”.
Trang: 4


Không gian ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

Tất cả các cặp đối lập không gian trong thế giới đều hàm chứa nội dung
tư tưởng- đạo đức. Ví dụ: cao - thấp, khép kín - mở ra, trái - phải, trước - sau,
thẳng - cong, chật - rộng… Những hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng thường
hay sử dụng trong văn học, như: con đường, ngã ba, ga tàu, rừng quan san,
bến sông… là những hình ảnh gợi lên sự chia li.
Không gian nghệ thuật thể hiện tập trung vào cái nhìn, điểm nhìn, điểm
quan sát. Điểm nhìn là vị trí của chủ thể trong không thời gian, thể hiện ở
phương hướng nhìn, khoảng cách nhìn, ở đặc điểm của khách thể được nhìn.
Nhà thơ Tô Đông Pha đời Tống đã có câu thơ rất hay:
Lao xao sóng vỗ ngọn tùng
Nếu như chỉ đọc thoáng qua thì câu thơ dường như là một sự vô lí. Tùng
là loài cây sống ở trên núi cao, ở những vách đá cheo leo, mà lại có sóng vỗ
nơi ngọn tùng ? Tuy nhiên, nếu xét ở điểm nhìn, điểm quan sát thì ta thấy câu
thơ đã thể hiện sự quan sát tinh tế của tác giả. Nhà thơ đứng ở vị trí là một dãy
núi cao hơn, từ phía xa, vì thế điểm nhìn có vai trò quyết định đến cái nhìn của
nhà văn, nó chi phối tư duy nghệ thuật. Trong nguyên tác thi phẩm Tân xuất
ngục học đăng sơn, Hồ Chí Minh viết:
Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân
Thế nhưng bản dịch thơ đã dịch là:
Núi ấp ôm mây, mây ấp núi
Nếu hiểu rõ về điểm nhìn ta có thể thấy sự khác biệt về ý nghĩa giữa bản
dịch thơ với nguyên tác. Hiểu theo bản dịch thơ thì nhà thơ đứng ở vị trí dưới
thấp mà nhìn lên cao hơn mới thấy núi trước rồi thấy mây sau. Bởi thế trình
tự mây đến núi không phải là sự sắp xếp ngẫu nhiên mà nó chịu sự chi phối
bởi điểm nhìn của chủ thể, nhà thơ đứng ở vị trí cao hơn nhìn xuống thấy mây
tầng tầng lớp lớp bao phủ lấy núi.
1.3. Các hình thức không gian nghệ thuật trong văn học
Như ở trên đã trình bày, bao phủ lên không gian nghệ thuật là quan niệm
của nhà văn. Điều đó mới làm không gian vật chất trở thành không gian nghệ
thuật. Mà quan điểm của nhà văn lại luôn biến đổi theo thời đại, giống như
nước triều dâng nó mang đi những gì là cũ, và sau mỗi lần trở về lại làm cho
bờ cát thêm mới. Vì vậy mà việc tổ chức không gian nghệ thuật trong tác
phẩm luôn chịu sự chi phối và tác động trực tiếp từ quan niệm thời đại và yếu
tố thể loại.
1.3.1 Không gian nghệ thuật trong văn học dân gian
Những tác phẩm văn học dân gian là những suy nghĩ hồn nhiên, là tình
cảm chân thật của những con người lao động hàng ngày. Bởi thế cái nhìn
mang tính quan niệm của họ cũng rất đơn giản, ít phức tạp hơn so với các giai
đoạn sau - khi tư duy con người đã phát triển ở mức cao. Đặc điểm chung của
không gian văn học trong những sáng tác dân gian là mô hình ba giới, ba tầng,
ba cõi: Thượng giới, trần gian và địa ngục với thần linh, người, ma quỷ. Ở đó,
con người có thể tự do đi lại trong ba cõi mà ít gặp sự trở ngại nào (nếu như
không muốn nói là không hề có sự trở ngại). Đó chính là tính chất tôn giáo của
không gian nghệ thuật trong văn học dân gian.
Trang: 5


Không gian ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

Tuy nhiên ở mỗi thể loại khác nhau, thì không gian nghệ thuật lại có
những nét khác biệt so vớí thể loại khác. Cụ thể:
Không gian thần thoại: Không gian có tính chất đặc thù là tính nguyên
sơ, hoang dã của nơi xuất phát đầu tiên của sự kiện
Không gian sử thi: Nền tảng của không gian sử thi là không gian thần
thoại có tính chất hư ảo, kì diệu, không gian thay đổi theo ý thức của thần linh.
Song không gian sử thi lại mang tính địa vực.
Không gian truyện cổ tích: Đắm mình trong thế giới truyện cổ tích là sự
say đắm trong những giấc mơ ngọt ngào của người xưa, là ước mơ về một
cuộc sống ấm no, hạnh phúc không còn những áp bức bất công. Bởi thế,
không gian truyện cổ tích có đặc tính là ít tính chống đối (cản trở) của môi
trường vật chất - tính siêu dẫn của không gian. Ở đó, con người có thể tự do
hoạt động, tự do di chuyển mà không gặp trở ngại, và luôn có sự giúp đỡ của
lực lượng thần kì, siêu nhiên. Chính vì thế mà đã có những phương tiện đi lại
kì diệu như: chiếc thảm bay, đôi hài bảy dặm, nồi cơm ăn mãi không hết, viên
ngọc quý giúp nghe được tiếng nói của muôn loài và có thể rẽ nước đi xuống
biển…
Không gian ca dao: Ca dao là tiếng nói chân thật của tình cảm những
người dân lao động, là cây đàn muôn điệu, là dòng sữa trong lành đã nuôi ta
khôn lớn. Là người Việt Nam, ai chẳng từng lớn lên bên vành nôi cánh võng
với lời ru của bà của mẹ. Trong lời ru, ta bắt gặp hình ảnh của con cò, của
dòng sông, của “thời gian đằng đẵng, không gian mênh mông” (Nguyễn Khoa
Điềm). Không gian trong ca dao không còn yếu tố hư ảo như các thể loại trước
đó, mà thay vào đó là không gian sinh hoạt, không gian lao động của con
người
1.3.2. Không gian nghệ thuật trong văn học viết trung đại
Trung đại là một phạm trù văn học lớn, sự đa dạng của không gian nghệ
thuật trong các thể loại với các tác giả khác nhau. Song về mặt tư tưởng - thế
giới quan của các tác gia trung đại lại tương đối thống nhất. Cho nên, không
gian nghệ thuật cũng có tính thống nhất. Nền văn học Trung Quốc và Việt
Nam do chịu ảnh hưởng từ những học thuyết Nho, Phật, Đạo nên có chung
một mô hình vũ trụ. Vì vậy, nét chung của không gian nghệ thuật là không
gian vũ trụ, gắn liền với tính bất biến của không gian. Không gian vũ trụ được
tạo thành bởi nhật, nguyệt, mây, sao, sông, núi, chim, muông, cây cỏ. Mỗi khi
“con người bất đắc chí thì tìm về thiên nhiên, vũ trụ như tìm về nguồn cội.
Không gian mang tính nhàn tản thoát tục, gợi lên cuộc sống bình dị thanh
nhàn của con người trong thế giới tự nhiên như bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh
Khiêm.
Không gian nghệ thuật mang tính ước lệ, tượng trưng cho thế giới, nó có
tính gợi nhiều hơn là tả. Và nó có sự đối lập giữa không gian cố hương với tha
hương, mang ý vị đồng quê ngọt ngào với xa lạ, lạnh lùng.
Theo dòng chảy của thời gian, không gian vũ trụ trong văn học trung đại
đã dần được “trần tục hoá”, “thế tục hoá” gắn với không gian sinh hoạt đời
thường.
1.3.3. Không gian trong văn học hiện đại
Trang: 6


Không gian ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

Do sự đổi thay trong quan niệm về xã hội, cá nhân, hoạt động của con
người mà không gian nghệ thuật trong văn học đã thay đổi. Bên cạnh việc kế
thừa các kiểu không gian nghệ thuật trên, ở giai đoạn này, không gian nghệ
thuật đa dạng và phong phú hơn.
Không gian nghệ thuật mang tính cá nhân, văn học trong thời đại này đã
đi sâu phản ánh cuộc sống, số phận của từng cá nhân, trong mối quan hệ hữu
cơ với cuộc sống nhân dân. Vì vậy không gian văn học mang đậm dấu ấn cá
nhân. Đến với các tác giả Thơ mới, chúng ta được đắm chìm trong những
không gian cá nhân nhỏ hẹp, quẩn quanh bế tắc. Với Xuân Diệu thì không
gian luôn gắn với tình yêu và nỗi buồn, với Chế Lan Viên lại là không gian
nghệ thuật đầy hư ảo mộng mị, ma quái, kinh dị với những máu, tuỷ, sọ dừa
cùng những tiếng rỉ rên than…, hay lạc vào không gian của những cơn say
trong thơ Vũ Hoàng Chương, về lại chốn quê bình yên thơ mộng trong thơ
Nguyễn Bính với hoa cỏ may, giậu mồng tơi, những đàn bướm lượn vòng,
những ngày mưa xuân cùng nụ cười mong mùa xuân của tình yêu…
Không gian nghệ thuật trở về gần hơn với cuộc sống của con người, phản
ánh cuộc sống khổ cực của những con người lao động, những số phận kém
may mắn. Hình ảnh con người hiện lên với vai trò là nhân vật trung tâm của
bức tranh cuộc sống xã hội. Nhà văn đã bám sâu vào hiện thực cuộc sống để
phản ánh chân thật những nỗi nhọc nhằn vất vả của cuộc sống con người trên
hành trình mưu sinh và kiếm tìm hạnh phúc đầy nhọc nhằn.
Tóm lại, không gian nghệ thuật là một phạm trù nghệ thuật có vai trò
quan trọng trong việc thể hiện tính cách nhân vật, tư tưởng chủ đề của tác
phẩm. Không gian nghệ thuật là một phạm trù quan trọng của thi pháp học, là
phương tiện chiếm lĩnh đời sống, là mô hình nghệ thuật về cuộc sống. Không
gian nghệ thuật góp phần thể hiện quan điểm nghệ thuật của mỗi nhà văn.
Không gian nghệ thuật luôn có sự biến đổi theo dòng chảy văn học. Ở
mỗi thời kì, giai đoạn văn học, không gian nghệ thuật mang những đặc trưng
riêng làm nên dấu ấn thời đại trong không gian nghệ thuật. Không gian nghệ
thuật trong văn học dân gian mang đậm màu sắc tôn giáo huyền bí với mô
hình không gian ba giới, ba tầng, ba cõi. Đến văn học Trung đại, không gian
nghệ thuật mang tính rộng lớn bất biến của kiểu không gian vũ trụ, sau đó
không gian được trở về gần hơn với cuộc sống của con người, đó là kiểu
không gian trần tục hóa, không gian thế tục hóa. Chỉ đến văn học hiện đại,
không gian nghệ thuật mới thực sự gần gũi với cuộc sống của cá nhân con
người, đi sâu phản ánh hiện thực cuộc sống đầy nhọc nhằn vất vả, không gian
nghệ thuật được cá thể hóa.
Với những lý thuyết về không gian nghệ thuật trên, tôi xin vận dụng vào
tìm hiểu không gian nghệ thuật trong một tác phẩm cụ thể- đó là truyện ngắn
Hai đứa trẻ của Thạch Lam.
2. Không gian ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”
của Thạch Lam:
Là một thành viên trụ cột trong bút nhóm tự lực văn đoàn, Thạch Lam đã
tự khẳng định mình bằng một hướng đi riêng, ông được xem là sứ giả hoà giải
Trang: 7


Không gian ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

cho văn xuôi và thơ, giữa hiện thực và lãng mạn tạo nên một phong cách hiện
thực thi vị, trữ tình riêng biệt không lẫn với bất kì nhà văn nào. Hai đứa trẻ rút
trong tập Nắng trong vườn là một truyện ngắn hay, thấm đẫm tinh thần nhân
văn nhân đạo, tiêu biểu cho bút pháp nghệ thuật miêu tả tương phản của ông.
Giống như hầu hết các truỵên ngắn khác của Thạch Lam, Hai đứa trẻ là
truyện không có chuyện. Câu chuyện như một bài thơ, cốt chuyện tình tiết,
tâm trạng, biến cố đều nhẹ nhàng, dịu êm… Truyện là tâm trạng thao thức đợi
tàu, là những cảm xúc, những mảnh ghép cuộc sống, là cảnh vật xung quanh
của hai đứa trẻ Liên và An. Nhà văn Nam Cao đã tóm tắt truyện như sau: Một
mẩu chuyện sinh hoạt kéo dài của hai chị em đứa trẻ thay mẹ trông hàng trên
phố huyện. Đêm đêm, bóng tối những người bình thường cũng lù mù đi qua
trước gian hàng. Trong cái bộn bề chìm chìm nhạt nhạt, bỗng có tiếng động
mạnh và luồn ánh sáng mạnh của chiếc xe lửa kéo qua hàng ngày. Hai chị em
ngày nào cũng chờ một con tàu đêm như thế. Truyện chỉ có vậy nhưng qua
ngòi bút của Thạch Lam, những điều ấy trở nên sống động, làm cảm động
lòng người. Thủ pháp nghệ thuật tương phản giữa ánh sáng và bóng tối, giữa
bầu trời và mặt đât, giữa quá khứ và hiện tại….. đã gọi nên nhiều suy nghĩ
thấm thía, sâu xa về những cảnh đời, những kiếp người nhỏ bé, sống vô danh
vô nghĩa và héo mòn cùng những hi vọng mỏng manh và mơ hồ trong xã hội
cũ.
Phó giáo sư Hồ Thế Hà đã nhận xét: Con người luôn khao khát và luôn
cần ánh sáng, thế nhưng với chuyển động của thời gian, chuyển động của trái
đất quay quanh trục của nó, mặt trời chỉ có thể chiếu sáng cho chúng ta một
nửa thời gian trong ngày. Bởi vậy, cái khoảnh khắc thao thức, cái sự giao
tranh giữa ánh sáng và bóng tối cùng xuất hiện, thời khắc chiều tà và đêm
khuya bên cạnh nhau, tương phản nhau, cùng soi tỏ cho nhau. (Truyện ngắn
Thạch Lam-Đặc điểm không gian nghệ thuật).
Nguyễn Thị Dư Khánh đã nhận xét: Giảng Hai đứa trẻ của Thạch Lam
mà chỉ chú ý đến sự kiện , những con người, mà không khai thác cái không
gian đầy bóng tối được nhà văn miêu tả một cách đậm đặc, xen kẽ với những
luồng ánh sáng le lói, vụt sáng rồi vụt tắt hoặc ở mãi trên cao hay ở xa tít
tắp…để rồi tất cả lại đi vào một “đêm tịch mich đầy bóng tối” thì sẽ không
khai thác được cái chủ đề “Cuộc sống đầy bóng tối và niềm khao khát vươn
tới ánh sáng của những con người bé nhỏ, tội nghiệp” trong tác phẩm này
[2.tr.61]
Không gian ở đây không phải chỉ là “phông” cho tác phẩm. Chính
không gian ánh sáng và bóng tối trong tương quan đối lập là một yếu tố vừa
mang tính nghệ thuật vừa mang tính nội dung, biểu đạt chủ đề tư tưởng tác
phẩm.
2.1 Sự tương quan giữa bóng tối và ánh sáng trong “Hai đứa trẻ”.
Trong sự giao thoa giữa các nền văn học, Ánh sáng và bóng tối vốn là
hai phương diện quan trọng của cuộc sống, luôn luôn tồn tại bên cạnh nhau,
Trang: 8


Không gian ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

bổ sung cho nhau. Trong hội họa, ánh sáng và bóng tối là một thủ pháp cơ bản
được dùng để khắc họa con người và sự vật. Trong văn chương, nó được sử
dụng như một nghệ thuật nhằm tạo tình huống truyện, chuyển tải nội dung tư
tưởng, chủ đề tác phẩm. Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” toàn bộ câu chuyện đặt
trong một sự tương tranh giữa bóng tối và ánh sáng "biểu hiện cách khai thác
hình tượng đối với cuộc sống, một thủ pháp thuyết phục và thu hút độc giả".
Có thể thấy xung đột, giao tranh giữa bóng tối và ánh sáng khá mạnh mẽ.
Mở đầu truyện ánh sáng yếu dần, sau đó bóng tối hiện lên rồi bao trùm lên tất
cả. Chính ánh sáng báo hiệu bóng tối và bóng tối cũng là cái nền cho ánh
sáng.Tác phẩm như một bức tranh phối hai gam màu tương phản nhưng vẫn
không tách ra thành hai mảng riêng biệt, ánh sáng và bóng tối đan xen, hoà
vào nhau trong bản điệp khúc buồn man mác trên một phố huyện nghèo, cùng
làm nổi bật nhau. Khép lại ánh sáng là bóng tối mở ra. Cái khép lại mở ra ấy
cài vào nhau như tạo ra một cuộc sống mà ta thấy là luẩn quẩn, tù đọng và
ngột ngạt.
Ta thấy rõ được rằng, qua từng đoạn, bóng tối cứ ngập đầy dần, càng lúc
càng quánh đặc xâm chiếm toàn bộ cảnh vật và đi vào tiềm thức hai đứa trẻ,
lấn át ánh sáng. Ánh sáng thực chỉ là những khe sáng, vệt sáng, hột sáng li ti
mờ nhạt, leo lét, yếu ớt, ánh sáng trong trí nhớ của Liên, ánh sáng con tàu rực
rỡ chỉ là mộng tưởng và sự tiếc nuối. Cuối truyện nó rực lên mạnh mẽ, chói
loà, rồi sau đó tắt hắn cho bóng đêm chiếm lĩnh hoàn toàn không gian, cả tâm
hồn con người.
Khác với Vich-to Huy-go, bậc thầy về sử dụng hình ảnh tương phản bóng
tối- ánh sáng để chứng minh sự vận động từ bóng tối ra ánh sáng của tâm hồn,
của lương tri xã hội, Thạch Lam dùng ánh sáng để tả bóng tối. Những hột sáng
ít ỏi, nhỏ nhoi lọt thỏm giữa không gian phố huyện làm tăng thêm cái mênh
mông, không khí buồn lặng của khung cảnh phố huyện vào đêm. Nỗi buồn
chán của hai đứa trẻ và những người dân phố huyện nếu khi chớm đêm mới
chỉ ở mức độ mơ hồ thì càng về khuya nó càng rõ nét. Thạch Lam sử dụng
bóng tối và ánh sáng để gây ấn tượng và thể hiện cái nhìn rất hiện thực về
cuộc đời.
2.2 Tương quan ánh sáng và bóng tối trong cảnh chiều muộn nơi phố
huyện:
Cấu tứ truyện là cấu tứ vòng tròn xoay quanh hình ảnh bóng tối được lặp
đi lặp lại không dưới ba mươi lần. Khi miêu tả cảnh trời phố huyện cũng như
cảnh đời của những con người nơi đây, tác giả đã hướng con mắt từ nhiều thời
điểm, từ hiều góc nhìn, nhiều tâm cảnh khác nhau. Bóng tối như một ám ảnh,
để rồi thật hãi hùng, nó hoạt động, thâm nhập, len lỏi một cách âm thầm, lặng
lẽ. Nó nhấn cả miền quê vào màn đêm đen mênh mông không đáy. Và bóng
tối cũng chính là không gian nghệ thuật của tác phẩm, không gian xã hội của
con người.
Trang: 9


Không gian ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

Ánh sáng và bóng tối đã xuất hiện ngay từ đầu câu chuyện “Tiếng trống
thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi
chiều. Phương Tây đỏ rực như lửa rực cháy và những đám mây ánh hồng như
hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt như trên
nền trời.
Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu
ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”.
“Phương Tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn
than sắp tàn.” Một nguồn ánh sáng của thiên nhiên vũ trụ bao la, nhưng nó lại
báo hiệu sự tàn lụi. Gam màu nóng và rực rỡ đối lập hoàn toàn với với màu
đen của “dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời”. Mặt
trời gay gắt cháy hết mình đang gắng gượng chiếu những tia sáng cuối cùng,
để rồi sau đó nhường chỗ cho bóng tối. Và từ đây bóng đêm cũng đầy dần
thiên truyện.
Bức tranh hiện thực, nơi phố huyện nghèo xơ xác, tiêu điều hiện lên khi
ánh hòang hôn cuối cùng của một ngày đã nhạt. Cái bóng tối đầu tiên xuất
hiện trong truyện bắt đầu từ hình ảnh dãy tre trước làng đen kịt. Ngày tàn, dãy
tre làng tưởng như đã mất hết sự sống, khoác lên mình tấm áo choàng màu
đen. Tiếng trống thu không rời rạc, lẻ tẻ và tắt dần. Âm thanh như rơi tõm vào
khoảng không gian đang chết lặng, không có hồi âm. Nó chỉ nhấn mạnh thêm
cái buồn tẻ đến rợn người.
Cái rực rỡ huy hoàng của một ngày đã qua rồi. Buổi chiều tà đang
xuống. Giờ này, chợ cũng đã tàn, cái đông vui đã mất chỉ còn lại sự trống
vắng, hiu quạnh : “Chợ họp giữa phố vãn từ lâu. Người về hết và tiếng ồn ào
cũng mất”, chỉ còn lại mấy đứa trẻ con nhà nghèo cúi lom khom nhặt nhạnh
bất cứ cái gì có thể dùng được của những người bán hàng để lại.
Cảnh ngày tàn, chợ tàn gợi cho người đọc”cái buồn của buổi chiều quê”.
Dần dần xâm chiếm và ngự trị, bóng tối không chỉ ở ngoại cảnh mà nó
cũng dần len vào tâm hồn con người. “Chiều, chiều rồi”- Câu văn thốt lên như
một tiếng thổn thức, chút buồn, chút bâng khuâng và gì đó lưu luyến, bàng
hoàng như một tiếng thở dài.
Bóng tối và ánh sáng ở đây không phải được miêu tả một cách khách
quan . Nó hiện lên qua cái nhìn, cái dõi theo quan sát của nhân vật chính. Nó
thâm nhập vào tâm hồn hai đứa trẻ.[2.tr.61]
Liên là nhân vật trung tâm của tác phẩm, được Thạch Lam dành những
nét miêu tả sinh động và hết sức trìu mến, yêu thương. Đó là những nét vẽ sâu
lắng, khám phá thật sâu về tâm hồn lắm xúc cảm, giàu tình thương của Liên.
Dường như ngòi bút của Thạch Lam đã đạt đến độ thăng hoa khi tinh tế dựng
lên một thế giới nội tâm của trẻ thơ chân thực và phong phú. Thạch Lam rất
thành công khi miêu tả đôi mắt Liên, vừa trong trẻo một nét hồn nhiên, vừa
đượm buồn một sự day dứt. Đôi mắt ấy như một điểm nhấn ám ảnh trong
không gian phố huyện và như một cánh cửa đi vào thế giới tâm hồn Liên. Đôi
Trang: 10


Không gian ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào
tâm hồn ngây thơ của chị. Cảnh phố huyện lúc chiều tối như một khúc nhạc
buồn mà điệp khúc cứ lặp đi lặp lại một các đơn điệu buồn tẻ.
Phút ngày tàn cũng để lại cho Liên một nỗi buồn khó tả. Tâm hồn trẻ thơ
đang bị bóng tối xâm chiếm dần. Qua đôi mắt trong veo lại hiện lên bao hình
ảnh lam lũ thân quen của những con người vẫn âm thầm, chịu đựng cuộc sống
trong bóng tối. Chi tiết Hai chị em Liên đứng sững nhìn theo cụ Thi đi lần về
bóng tối, tiếng cười khanh khách nhỏ dần về phía làng chỉ thoáng qua nhưng
gieo vào lòng người đọc bao nỗi day dứt bi thương. Từ bóng tối đi ra, rồi lại
tìm vào bóng tối.
2.3 Không gian ánh sáng và bóng tối trong cảnh phố huyện vào đêm
Nhưng ám ảnh và có sự khơi gợi nhiều hơn cả là một không gian tốisáng lúc phố huyện vào đêm.
Trời nhá nhem tối và rồi dần dần đi vào màn đêm đen đặc. Không gian
phố huyện u tối và buồn thương, bóng tối bao phủ và đeo đẳng những kiếp
người nhỏ bé. Thạch Lam thường miêu tả bóng tối nhưng chỉ trong Hai đứa
trẻ, bóng tối mới đủ hình hài, cung bậc: Tối hết cả, con đường thăm thẳm ra
sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa.
Đến cả tiếng trống cầm canh cũng không xuyên qua được bóng tối dày đặc, nó
chỉ tung lên một tiếng ngắn khô khan không vang động ra xa, rồi chìm ngay
vào bống tối. Hiếm có tác phẩm nào trong văn học mô tả bóng tối dày đặc như
Hai đứa trẻ của Thạch Lam.
Trong sự đối lập sáng- tối đó, bóng tối là gam màu chủ yếu. Bóng tối dày
đặc, mênh mang, bao bọc khắp một vùng còn ánh sáng thì mờ nhạt, nhỏ nhoi,
leo lét không đủ để xua đi bóng tối. Ánh sáng của các cửa hiệu chỉ là những
khe sáng, lọt ra ngoài, hắt xuống mặt đường gồ ghề khiến mặt đất dường như
nhấp nhô hơn vì những hòn đá nhỏ vẫn còn một bên sáng một bên tối; có ngọn
đèn lay động trên chõng của chị Tý; chấm lửa nhỏ và vàng lơ lửng mất đi rồi
lại hiện ra của gánh phở bác Siêu đi trong đêm tối; và còn ngọn đèn vặn nhỏ
như hạt đậu thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa của Liên nữa. Và nếu
cần kể thêm thì phải kể tới những vệt sáng của những con đom đóm "bay là là
trên mặt đất hay len vào cành cây". Chấp chới và mơ hồ quá! Có sáng chăng là
vẻ lấp lánh của hàng ngàn ngôi sao lấp lánh trên bầu trời. Nhưng ánh sáng nơi
trời cao, xa xăm và cách biệt hai đứa trẻ quay về quầng sáng thân mật từ ngọn
đèn con của chị Tí. Giá chỉ một màn đêm đen tối, một không gian hoàn toàn
tĩnh lặng có lẽ sẽ hơn chăng? Nhưng đó lại là cuộc sống mà tuổi thơ của
những Liên, của những An phải cam chịu, phải chấp nhận. Sinh động mà bi
đát, khắc khoải làm sao! Có lẽ trong văn học xưa nay, ánh sáng cũng đã từng
xuất hiện nhiều nhưng không mấy ai miêu tả ánh sáng là khe, là vệt, là chấm,
là hột, là quầng…. Một cách riết róng như Thạch Lam. Đặc biệt là hình ảnh
ngọn đèn chị Tí, một quầng sáng nhỏ nhoi, chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ,
Trang: 11


Không gian ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

xuất hiện ảy lần trong tác phẩm, tạo nên sức ám ảnh và khơi gợi về cảnh đời,
những kiếp sống nhỏ bé, lay lắt trong đêm đen, trong bóng tối cuộc đời.
Tối quá, nhưng tại sao một đứa trẻ như An vẫn không thấy sợ, tại sao
Liên lại quen ngồi lặng lẽ nhìn vào bóng tối ? Bóng tối dường như đã đi vào
tiềm thức hai chị em vì đã bao đêm sống miên man trong bóng tối. Liên ngồi
lặng im bên mấy quả thuốc sơn đen, đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái
buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị.
Ánh sáng không xua đi được bóng tối mà càng soi rõ bóng tối , không
làm cuộc sống cư dân phố huyện tươi sáng hơn mà càng soi rõ sự nghèo khổ,
nhọc nhằn tăm tối.
Âm thầm trong đêm đen phố huyện là những mảnh đời của những con
người bé nhỏ, cam chịu. Họ xuất hiện thoáng như một chiếc bóng. Bóng tối là
hướng đi về, đi đến, đi ra của biết bao con người…Khi những người bán hàng,
kiếm sống ban ngày từ từ đi vào trong đêm, chìm vào bóng tối thì từ trong
bóng tối ấy, những người cố gắng mưu sinh đêm lại lục đục kéo ra. Từ bác
phở Siêu, mẹ con chị Tí hàng nước, vợ chồng bác Xẩm, ..tất cả những bóng
hình lam lũ, đau khổ và cam chịu ấy thu vào đôi mắt Liên với một tình thương
khôn cùng. Đây không phải là sự sống thực sự mà là cầm cự cuộc sống, tranh
giành với cái đói và cái chết. Trên cái bóng tối đen đặc đó, là những cảnh đời,
về những con người bé mọn, thậm chí ngay cả những khát khao của họ, những
câu chuyện họ nói với nhau cũng quá mờ nhạt. Dường như tất cả các nhân vật
đều ít nói, ít hành động. Tiếng nói của họ trong đêm phát ra chỉ như một tiếng
thở dài. Cả truyện chỉ có một người nói to, cười duy nhất trong tác phẩm lại là
một bà cụ hơi điên.
Tác giả lấy sáng mà tả tối, làm nổi bật cái tăm tối của trời đất, cuộc
sống và con người. Cùng với bầu trời tối đen, mỗi người xuất hiện trong đêm
tối đều gắn với một nguồn sáng để chống lại màn đêm, nhưng làm sao chống
nổi. Những nguồn sáng ấy không đủ xua tan đi màn đêm, không đủ thắp sáng
lên một cuộc đời, trái lại chỉ vừa đủ để biến một con người trở thành một
chiếc bóng đổ dài xuống mặt đất trong đêm đen.Tất cả không đủ chiếu sáng,
không đủ sức phá tan màn đêm, mà ngược lại nó càng làm cho đêm tối trở nên
mênh mông hơn, càng ngợi sự tàn tạ, hắt hiu, buồn đến nao lòng.
Cả một bức tranh đen tối. Những hột sáng của ngọn đèn dầu hắt ra
giống như những lỗ thủng trên một bức tranh toàn màu đen.
Thạch Lam hạ bút viết một câu văn đầy nỗi day dứt, thấm thía nỗi buồn
thân phận và niềm cảm thông: Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một
cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khó hàng ngày của họ. Nhưng họ vẫn tiếp
tục cầm cự cuộc sống nghèo nàn ấy, trong cái bóng tối uất ức nhẫn nại của đời
nhà quê. Bóng tối của phố huyện đã bủa vây mịt mùng, kín mít, ngự trị lên
cuộc đời nghèo nàn, tăm tối của họ …
2.4 . Không gian bóng tối và ánh sáng khi chuyến tàu đêm đi qua.
Tưởng như đã quá quen với bóng tối, tưởng như tất cả cứ lặp đi lặp lại,
tù đọng, nhức buốt, lặng thầm từ ngày này qua ngày khác. Nhưng không, Chị
Trang: 12


Không gian ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

em Liên cũng như nhiều người dân phố huyện, đêm nào cũng cố thức để chờ
đợi chuyến tàu đi qua.
Phải chăng họ chờ tàu để bán được hàng ? Không, “Liên không trông
mong còn ai đến mua nữa. Với lại đêm, họ chỉ mua bao diêm hay gói thuốc là
cùng”. Hơn nữa, “Liên đã buồn ngủ ríu cả mắt”, nhưng cô vẫn chưa chịu ngủ.
Còn “An đã nằm xuống […] mi mắt đã sắp sửa rơi xuống”, vẫn không quên
dặn chị nhớ đánh thức mình dậy khi tàu đi đến. Hai chị em cố thức chỉ “vì
muốn được nhìn chuyến tàu, đó là hoạt động cuối cùng của đêm khuya”; vì
với hai đứa trẻ, con tàu đâu chỉ là con tàu. Nó là cả một thế giới khác, “một
thế giới khác hẳn đối với Liên, khác hẳn cái vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và
ánh lửa của bác Siêu”. Đó là thế giới của mơ ước – một mơ ước thật mơ hồ.
Những người dân nơi phố huyện gửi niềm mơ ước của họ vào hình ảnh đoàn
tàu. Riêng với chị em Liên, đoàn tàu còn có thêm một ý nghĩa khác : nó là
hình ảnh của quá khứ, của “Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên
náo”.
Có lẽ chính vì vậy, chuyến tàu được Thạch Lam tập trung bút lực miêu tả
một cách tỉ mỉ, kĩ lưỡng theo trình tự thời gian, qua tâm trạng chờ mong của
nhân vật Liên. Dấu hiệu đầu tiên của đoàn tàu là sự xuất hiện của người gác
ghi. Tiếp theo là Liên trông thấy “ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất như ma
trơi”, rồi cô nghe thấy tiếng còi xe lửa “kéo dài ra theo gió”. Sau đó, “hai chị
em nghe thấy tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi”, kèm theo “một làn
khói bừng sáng trắng lên đằng xa, tiếp đến tiếng hành khách ồn ào”. Thế rồi,
“tàu rần rộ đi tới”, “các toa đèn sáng trưng”, “những toa hạng trên sang
trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng”. Cuối
cùng là cảnh “tàu đi vào đêm tối, để lại những đốm than đỏ bay tung trên
đường sắt”, “cái chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa
mãi rồi khuất sau rặng tre”.
Đối với chị em Liên và có thể cả những người dân phố huyện, chuyến tàu
đêm là biểu tượng của sự sống mạnh mẽ, sự giàu sang, rực rỡ ánh sáng. Nó
đối lập với cuộc sống mỏi mòn, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh của người
dân phố huyện. Đối với chị em Liên, chuyến tàu đêm còn gợi nhớ về những kỉ
niệm của ngày xưa sung sướng, tại đất Hà Nội, khi thầy chưa mất việc.
Nhưng phố huyện rầm rộ, sáng bừng lên trong chốc lát rồi lại chìm sâu
vào bóng đêm yên tĩnh. Ánh sáng của đoàn tàu là ánh sáng rực rỡ nhất, mạnh
mẽ nhất, nó vụt loé lên, nhanh như một ngôi sao băng vút qua bầu trời…Đẹp
nhưng nhanh quá, nhanh đến nỗi chị em Liên chỉ kịp ngước theo mà không
kịp chắp tay cầu nguyện. Đêm nào tàu cũng đi qua, đêm nào tâm hồn tuổi thơ
ấy cũng ngóng đợi. Nhưng chưa một lần nào tàu đủ sức hồi sinh cho phố
huyện, thay đổi cuộc sống, biến ước mơ của hai chị em thành hiện thực. Con
tàu lại tiếp tục hành trình. Hai đứa trẻ như bị hút theo những đốm lửa than
tung bay trên đưòng sắt, cái chấm nhỏ của đèn xanh treo toa cuối xa dần rồi
khuất hẳn sau luỹ tre. Ánh sáng xanh ấy chính là ánh sáng cuối cùng Liên nhìn
thấy, xa dần, xa dần nhưng còn lung linh, vương vấn mãi trong lòng người.
Tàu vụt qua, mang theo cả một thế giới trong mơ đi mất. Phố huyện bừng tỉnh
rồi lại chìm vào đêm tối câm lặng. Tối hơn, yên tĩnh hơn và đáng sợ hơn.
Trang: 13


Không gian ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

Trong Liên không còn là nỗi buồn man mác của một buồi chiều quê nữa
mà đó là sự hẫng hụt. Bóng tối ấy lại bủa vây xung quanh, lại nuốt chửng cả
phố huyện nghèo tĩnh mịch, càng quánh đặc hơn. Những con đom đóm Liên
cũng không nhìn thấy nữa. Bác Siêu gánh hàng đi về, chị Tí dọn hàng, và rồi
tất cả lại chìm vào giấc ngủ. Bóng tối không chỉ đến với những hòn sỏi mấp
mô, không còn chỉ trên bờ sông, trên những con đường, không chỉ trên những
hàng quán bé nhỏ của những người dân nghèo, không chỉ lấp đầy đôi mắt Liên
nữa mà giờ đây mó còn phủ kín cả giấc mơ của chị. Những cảm giác ban ngày
lắng đi trong tâm hồn Liên và hình ảnh thế giời quanh mình mờ đi trong mắt
chị…Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm ở trong phố,
tĩnh mịch và đầy bóng tối
Không phải ngẫu nhiên mà tác giả để chi tiết cuối cùng trong đầu Liên
trước khi chìm vào giấc ngủ là hình ảnh ngọn đèn con của chị tí. Tất cả phố
huyện bây giờ thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí. Hình ảnh ngọn đèn nơi
hàng nước chị Tí chỉ chiếu một vùng đất nhỏ ấy chập chờn trở đi, trở lại bảy
lần trong tác phẩm xuất hiện từ khi phố xá lên đèn cho đến khi tất cả chìm hẳn
trong màn đêm đen đặc là hình ảnh đày ám ảnh và có sức gợi nhiều về những
kiếp sống nhỏ nhoi, lay lắt, mù tối sống vô nghĩa giữa đêm đen mênh mông
của cuộc đời. Đó là hình ảnh được xem như biểu tượng cho sức sống của phố
huyện. Ngọn đèn leo lét của chị Tí như một biểu tượng cho hi vọng của những
con người lầm lũi nơi đây. Sống trong bóng tối, họ vẫn không ngừng hi vọng,
không ngừng chờ đợi một điều gọi là hạnh phúc. Ngọn đèn chập chờn đi từ cõi
thực vào cõi mộng và đã đi sâu vào tuổi thơ của hai đứa trẻ. Chính hình ảnh
ngọn đèn chị Tí mà Liên một lần nữa hồi tưởng lại trước khi chìm vào giấc
ngủ đầy bóng tối. “Ngọn đèn và ánh lửa cuộc đời” ấy thật yếu ớt và tôi nghiệp
gợi lên niềm xót xa thương cảm trong lòng người đọc trước một cảnh sống
mòn mỏi và ngưng đọng. Ở đây, ta bắt gặp cả một cảm quan triết học trong lối
mô tả của Thạch Lam. Ánh sáng và âm thanh đó là những dấu hiệu của sự
sống. Bóng tối và sự tĩnh mịch là dấu hiệu của hư vô. Hiện tại của chị em Liên
là phố huyện, nơi chỉ có bóng tối và sự tĩnh mịch, sự sống đang đuối dần. Còn
quá khứ của chúng là Hà Nội- một vùng “sáng rực rỡ và lấp lánh”, tạo ra một
sự tương phản giữa phố huyện và thủ đô, là gợi ra sự tương phản giữa bóng tối
và ánh sáng, hư vô và sự sống, bất hạnh và hạnh phúc…Quá khứ đã mất, hiện
tại tối tăm, còn tương lai thì vô vọng. Hàng ngày, chị em gửi những mơ ước xa
xôi vào đoàn tàu chạy qua phố huyện, nó như ảo ảnh của tương lai. Nhìn hiện
tại mà buồn, ngoài nhìn quá khứ hoài niệm mà nuối tiếc ngậm ngùi và mơ
tưởng về tương lai bằng những khát khao mơ hồ. Ánh sáng từ con tàu, và ánh
sáng trong trí nhớ của Liên, rực sáng lên giữa khung cảnh bóng đêm tĩnh mịch
bởi lẽ nó là ánh sáng của ước mơ đã thắp sáng cả tâm hồn Liên đang bị bóng
tối lấp đầy dù chỉ trong giây phút, nó là quá khứ, là thực cảnh mà Liên đã từng
được sống, từng cảm nhận.
Qua việc miêu tả tâm trạng của Liên, Thạch Lam thể hiện niềm trân trọng
thương xót đối với những kiếp người nhỏ bé, sống trong cảnh nghèo nàn, tăm
tối, buồn chán nơi phố huyện (nói rộng ra là sống ở đất nước còn đắm chìm
Trang: 14


Không gian ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

trong đói nghèo, nô lệ đương thời). Thạch Lam dường như còn muốn lay tỉnh
những tâm hồn đang buồn chán, đang sống quẩn quanh, lam lũ hãy cố vươn
tới ánh sáng , hướng đến tương lại
III.KẾT LUẬN
Ánh sáng và bóng tối trong Hai đứa trẻ được Thạch Lam sử dụng như
một thủ pháp chính trong nghệ thuật dựng truyện.
Không chỉ xuất hiện đậm đặc trong truyện ngắn Hai đứa trẻ, mà không
gian bóng tối xuất hiện trong 12/ 23 truyện, trong đó 9/ 12 truyện kết thúc
trong bóng tối nó có một giá trị rất lớn trong việc tạo ấn tượng cho người đọc
qua nhiều truyện ngắn Thạch Lam. Hình ảnh cuộc sống và con người cứ chìm
dần, khuất hẳn trong bóng tối. Nó gợi sự xót xa và thương cảm của người đọc
dành cho những con người, những cuộc đời, những không gian như thế. Bóng
tối càng dày đặc, cảnh sống của con người càng thê lương theo cấp số cộng
của cảnh đó thì lòng nhân đạo của nhà văn nhìn từ cảnh và người ấy cũng theo
cấp số nhân mà phát triển lên.
Trong truyện Hai đứa trẻ,Thạch Lam đã chủ động nhốt, nén, dồn ép nhân
vật của mình vào bóng tối nghệ thuật để dễ bề thể hiện nỗi thèm khát ánh sáng
của họ. Trong nỗi khát thèm ấy, ánh sáng cao giá hẳn lên. Chỉ một chút ánh
sáng rơi xuống những hòn đá nhỏ một bên sáng một bên tối cũng được nhìn
thấy trên đường. Và hầu như mọi thứ làm ra ánh sáng ở cái phố huyện ấy đều
được tác giả huy động. Các loại đèn (đèn treo, đèn Hoa Kỳ, đèn dây, đèn lồng,
đèn ghi, đèn toa sau cùng), Bếp củi, Tàn lửa , những con đom đóm và dải
Ngân hà... Thạch Lam chủ động như một đạo diễn sân khấu, đã cắt đặt vai
diễn đâu đó, còn chỉ đạo cả người phụ trách ánh sáng tắt mở đúng lúc để
chiếu rọi, che chắn tạo thêm đất diễn cho nhân vật. Và thật là lí thú, qua tay
người đạo diễn tài ba này, chính ánh sáng và bóng tối cũng thành vai diễn.Từ
đây ánh sáng, bóng tối không còn mang nghĩa thực nữa mà mang nghĩa biểu
tượng. Bóng tối biểu tượng cho cuộc sống hiện thực tối tăm, tù đọng. Còn ánh
sáng biểu tượng của ước mơ, của khát khao hạnh phúc và những điều tốt đẹp
trong cuộc sống. Ánh sáng và bóng tối trong hội họa, vào văn chương nó đã
vừa kế tục vừa phá vỡ tạo ra hiệu quả thẩm mỹ mới, góp phần đắc lực cho xây
dựng tình huống truyện, được sử dụng như một tình tiết nghệ thuật đặc sắc để
góp phần tạo nên thành công của truyện Hai đứa trẻ.

Trang: 15


Không gian ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồ Thế Hà, Phân tâm học và văn học, bài giảng lưu hành nội bộ, Huế 2000.
2. Nguyễn Thị Dư Khánh, Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp,
NXB Giáo dục-1995
3.Trần Đình Sử, Giáo trình thi pháp học, Thành phố Hồ Chí Minh, 1993.
4. Trần Đình Sử, Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, tài liệu BDTX chu kì
1992-1996 cho giáo viên cấp 2 phổ thông, Hà Nội 1993
5. Trần Đình Sử, Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, NXB Giáo
dục- 1997.
6. Trần Đình Sử , Thi pháp Truyện Kiều, NXB Giáo dục- 2003.

MỘT SỐ BÀI VIẾT TRÊN INTERNET
1. Vũ Minh Đức, Lí luận chung về không gian nghệ thuật trong văn học,blog
yume.vn
2.HỒ THẾ HÀ, Truyện ngắn Thạch Lam-Đặc điểm không gian nghệ thuật,
www.qdnd.vn/qdndsite /vi-vn/61
3.Hoàng Thị Quế, Không gian bóng tối và ánh sáng trong truyện ngắn “Hai
đứa trẻ “ của Thạch Lam và “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân,
Vannghequandoi.
4.Nhiều tác giả, Bốn góc nhìn về “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam,
WWW.Tonvinhvan hoadoc.vn

Trang: 16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×