Tải bản đầy đủ

Quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự

A.

Mở đầu
Dân sự là lĩnh vực tồn tại xung quanh cuộc sống hằng ngày

và chi phối đến đời sống của mỗi chúng ta. Tranh chấp trong
lĩnh vực dân sự theo đó cũng gia tăng. Để trung hòa được lợi ích
của các chủ thể trong giao dịch dân sự thì Tòa án sẽ giải quyết
các tranh chấp đó và đưa ra một bản án, quyết định đúng pháp
luật. Việc thi hành bản án, quyết định đó góp phần bảo đảm các
quyền và lợi ích của các chủ thể.
Tuy nhiên, bản án, quyết định của Tòa án không phải lúc
nào cũng được thực thi một cách tự nguyện mà các chủ thể
phải thi hành án thường có hành vi trốn tránh việc thực hiện
nghĩa vụ thi hành án đối với bên được thi hành án. Để đảm bảo
các chủ thể thi hành án một cách nghiêm túc, đảm bảo lợi ích
của các bên trong việc thi hành án, pháp luật đã quy định các
biện pháp bảo đảm thi hành án trong đó có biện pháp tạm giữ
tài sản, giấy tờ của đương sự.
Do đó, trong bài tiểu luận ngày hôm nay, tôi xin làm rõ vấn
đề: “Nêu nội dung cơ bản của thủ tục áp dụng biện pháp tạm

giữ tài sản, giấy tờ của đương sự”. Trong quá trình nghiên cứu
còn nhiều thiếu sót, mong thầy (cô) đóng góp ý kiến để tôi hoàn
thành tốt hơn trong bài nghiên cứu khác. Tôi xin chân thành
cảm ơn!

1


B.
I.
1.

Nội dung
Khái quát chung
Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của các biện pháp bảo

đảm thi hành án dân sự
1.1. Khái niệm biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
Thi hành án dân sự (THADS) nhằm mục đích đưa bản án,
quyết định dân sự ra thực hiện trên thực tế bảo về quyền và lợi
ích của các đương sự. Tuy nhiên, trên thực tế, nhằm để trốn
tránh nghĩa vụ về tài sản đối với người được thi hành, người bị
thi hành án thường có hành vi tẩu tán tài sản nhằm không còn
tài sản cho việc thi hành án. Do đó, trong quá trình THADS cần
phải đặt vấn để có biện pháp để bảo đảm cho việc thi hành án
một cách hiệu quả.
Những biện pháp đưa ra nhằm bảo đảm việc thi hành án
dân sự được gọi là biện pháp bảo đảm THADS. Từ đó, có thể đưa
ra khái niệm biện pháp bảo đảm THADS như sau:
“Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự là biện pháp pháp lí
đặt tài sản của người phải thi hành án trong tình trạng bị hạn
chế hoặc cấm sử dụng, định đoạt nhằm ngăn chặn việc người
phải thi hành án tẩu tán, định đoạt tài sản trốn tránh việc thi
hành án và đôn đốc họ tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thi hành
án của mình do chấp hành viên áp dụng trước khi áp dụng biện
pháp cưỡng chế thi hành án dân sự.”.
Khi có đủ căn cứ cho rằng tài sản của người phải thi hành
án hoặc người thứ ba đang quản lí, sử dụng thuộc sở hữu của
người phải thi hành án thì cơ quan THADS có thể áp dụng biện
2




pháp bảo đảm THADS. Sau khi áp dụng, nếu người phải thi hành
án không tự nguyện thi hành án và nếu có căn cứ khẳng định
tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án thì cơ
quan thi hành án có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS
phù hợp.
1.2. Đặc điểm của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
Biện pháp bảo đảm THADS mang một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, đối tượng áp dụng biện pháp bảo đảm THADS là
tài sản, tài khoản. Những tài sản, tài khoản này được cho là của
người phải THADS nên bị đưa vào tình trạng hạn chế. Tài sản đó
có thể đang do người phải thi hành án hoặc người khác chiếm
giữ.
Thứ hai, biện pháp bảo đảm THADS được áp dụng một cách
linh hoạt, trong suốt quá trình thi hành án. Biện pháp bảo đảm
THADS có thể được áp dụng ngay tại thời điểm ra quyết định thi
hành án, trong thời hạn tự nguyện thi hành án hoặc áp dụng tại
thời điểm trước hay trong quá trình cưỡng chế thi hành án nếu
xét thấy cần phải ngăn chặn ngay hành vi tẩu tán, hủy hoại tài
sản hoặc trốn tránh việc thi hành án.
Thứ ba, biện pháp bảo đảm THADS chưa làm thay đổi về
quyền sở hữu, quyền sử dụng của chủ sở hữu, sử dụng tài sản
mà chỉ làm hạn chế về quyền sở hữu, sử dụng tài sản đó.
Thứ tư, khi áp dụng biện pháp bảo đảm THADS, Chấp hành
viên không bắt buộc phải thực hiện việc xác minh và thông báo
trước cho đương sự. Để đảm bảo tính nhanh chóng, kịp thời, linh
hoạt, nhằm ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn
tránh việc thi hành án.
3


1.3. Ý nghĩa của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự
Việc áp dụng biện pháp bảo đảm THADS nhằm bảo toàn
tình trạng tài sản hiện có của người phải thi hành án và đốc
thúc họ tự nguyện thi hành nghĩa vụ THADS của mình. Do đó,
biện pháp bảo đảm THADS có ý nghĩa như sau:
Thứ nhất, ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy
hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án nên bảo đảm được hiệu
lực của bản án, quyết định, quyền lợi ích hợp pháp của người
được thi hành án, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.
Thứ hai, đôn đốc người phải thi hành án tự nguyện thi hành
nghĩa vụ của mình. Khi áp dụng biện pháp bảo đảm thì tài sản
của người phải thi hành án đã ở trong tình trạng bị hạn chế, họ
không thể định đoạt hoặc tẩu tán tài sản của mình. Cho nên,
cách tốt nhất để tránh tình trạng này là họ tự nguyện thi hành
nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định đã đưa ra.
Thứ ba, biện pháp bảo đảm THADS là tiền đề để áp dụng
biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự. Sau khi bị áp dụng
biện pháp bảo đảm THADS, nếu người bị thi hành án tiếp tục
không tự nguyên thi hành thì cơ quan THADS sẽ áp dụng biện
pháp cưỡng chế THADS nhằm buộc người thi hành án phải thực
hiện các nghĩa vụ. Lúc này, tài sản đã được đưa ra để bảo đảm
sẽ được mang đi thi hành án.
2.

Biện pháp bảo đảm tạm giữ tài sản, giấy tờ của
đương sự
Biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự được quy

định tại Điều 68 Luật THADS. Theo đó, Điều này quy định có hai
biện pháp bảo đảm thi hành án. Trong tùy trường hợp có thể áp
4


dụng một hoặc áp dụng đồng thời cả hai biện pháp này. Có thể
hiểu hai biện pháp bảo đảm này như sau:
Tạm giữ tài sản của đương sự là biện pháp bảo đảm thi
hành án được tiến hành trên các động sản của người thi hành
án, đặt những động sản này trong tình trạng bị hạn chế quyền
sử dụng, định đoạt nhằm ngăn chặn việc người phải thi hành án
tẩu tán, hủy hoại tài sản để trốn tránh việc thi hành án.
Tạm giữ giấy tờ của đương sự là biện pháp bảo đảm thi
hành án dân sự được tiến hành trên các động sản phải đăng kí
quyền sở hữu, giấy tờ có giá hoặc bất động sản của người phải
thi hành án.
Cả hai biện pháp trên đều là biện pháp bảo đảm đặt tài sản
của người phải thi hành án đang sở hữu hoặc đang sự dụng vào
tình trạng hạn chế để đảm bảo cho việc thi hành án. Sự khác
nhau giữa hai biện pháp này ở chỗ, trong khi biện pháp tạm giữ
tài sản chỉ áp dụng đối với tài sản là động sản thì biện pháp tạm
giữ giấy tờ lại áp dụng đối với động sản phải đăng kí quyền sở
hữu, giấy tờ có giá hoặc là bất động sản của người phải thi hành
án. Do đó, khi áp dụng Chấp hành viên sẽ căn cứ vào tình loại
tài sản mà áp dụng biện pháp nào sao cho phù hợp nhất.
II.

Quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục áp
dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương

1.

sự
Cơ sở của quy định biện pháp bảo đảm tạm giữ tài

sản, giấy tờ của đương sự
1.1. Cơ sở lý luận
Việc quy định biện pháp bảo đảm tạm giữ tài sản, giấy tờ
của đương sự xuất phát từ quy định của Hiến pháp là quyền con
5


người, quyền công dân phải được đảm bảo trên tất cả mọi lĩnh
vực trong đó có lĩnh vực về dân sự. Lĩnh vực dân sự rất đa dạng,
diễn ra xung quanh cuộc sống hằng ngày của mỗi người. Do đó
việc đảm bảo các quyền và lợi ích dân sự của công dân phải
được ưu tiên hành đầu.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Trong thực tiễn THADS, khi người phải thi hành án không tự
nguyện thi hành thì sẽ bị Chấp hành viên áp dụng biện pháp
cưỡng chế THADS. Tuy nhiên, để áp dụng được biện pháp cưỡng
chế THADS thì Chấp hành viên phải tuân thủ một quy trình, thủ
tục rất chặt chẽ với sự phối hợp của nhiều cơ quan liên quan,
đòi hỏi phải giải quyết nhiều về vấn đề và mất thời gian. Đây là
thời gian mà đương sự có thể lợi dụng để thực hiện việc tẩu tán,
chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản nhằm trốn tránh
nghĩa vụ thi hành án.
Do đó, thực tiễn đòi hỏi khi chưa thực hiện ngay được biện
pháp cưỡng chế THADS thì pháp luật cần có quy định để Chấp
hành viên có cơ chế ngăn chặn việc tẩu tán, định đoạt tài sản
của người phải thi hành án để thông qua đó có thể bảo toàn
điều kiện thi hành án của đương sự. Như vậy, biện pháp bảo
đảm tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự ra đời được xem là
cần thiết, có ý nghĩa quan trọng, vừa góp phần bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của các đương sự vừa góp phần giáo dục nâng
cao ý thức pháp luật của họ và đảm bảo được tính nghiêm minh
của pháp luật trong công tác THADS.
1.3. Cơ sở pháp lý
Biện pháp bảo đảm THADS được quy định tại Điều 68 Luật
THADS 2008 sửa đổi, bổ sung 2014. Điều 68 đã quy định cụ thể
6


về quyền áp dụng, quyền yêu cầu, thẩm quyền áp dụng, đối
tượng áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ cũng như là
trình tự, thủ tục, thời hạn và hậu quả pháp lý của việc áp dụng.
Quy định trên là phù hợp với thực tiễn công tác thi hành án và
nêu cao tinh thần của Hiến pháp là bảo vệ quyền con người,
quyền công dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống.
2.

Điều kiện áp dụng biện pháp bảo đảm tạm giữ tài
sản, giấy tờ của đương sự
Biện pháp bảo đảm tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự

được áp dụng khi có đầy đủ những căn cứ sau:
Thứ nhất, phát hiện người phải thi hành án đang quản lý, sử
dụng tài sản, giấy tờ mà tài sản, giấy tờ đó có thể dùng để đảm
bảo THADS theo quy định của pháp luật. Tài sản quy định tại
BLDS 2015 bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
Theo đó, vật là bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách
quan mà con người có thể cảm nhận bằng giác quan của mình.
Vật muốn trở thành tài sản trong dân sự phải thỏa mãn những
điều kiện: là bộ phận của thế giới vật chất, con người chiếm hữu
được, mang lại lợi ích cho chủ thể và có thể đang tồn tại hoặc
sẽ hình thành trong tương lai.
Tiền là vật ngang giá chung do ngân hàng nhà nước Viện
Nam phát hành, có tính thanh khoản cao dùng để trao đổi
lấy hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân và
được mọi người chấp nhận sử dụng.
Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và
chuyển giao được trong giao lưu dân sự. Giấy tờ có giá hiện nay
tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, tín phiếu,
hồi phiếu, kỳ phiếu, công trái,…
7


Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm
quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử
dụng đất và các quyền tài sản khác.
Giấy tờ là đối tượng của biện pháp bảo đảm tạm giữ giấy tờ
là các giấy tờ có liên quan đến việc thi hành án như: giấy đăng
ký xe môtô, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,…
Để trở thành đối tượng của biện pháp bảo đảm tạm giữ tài
sản, giấy tờ thì các tài sản, giấy tờ đang được người phải thi
hành án sở hữu, quản lí hoặc sử dụng. Chỉ cần phát hiện người
phải thi hành án đang quản lí tài sản thì có thể áp dụng ngay
biện pháp này mà không cần phải xem xét tài sản, giấy tờ đó có
phải là của người phải thi hành án hay không.
Thứ hai, đương sự có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn
tránh việc thi hành án hoặc có dấu hiệu thực hiện hành vi đó.
Hành vi trên thể hiện ở việc đương sự thực hiện việc chuyển
dịch tài sản đi nơi khác, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng
tài sản cho chủ thể khác, cố ý phá hoại tài sản đó để không phải
thi hành án hoặc có thể đem giấu tài sản để trốn tránh việc thi
hành án. Khi có căn cứ cho rằng người phải THADS đang thực
hiện những hành vi trên hoặc có dấu hiệu thực hiện những hành
vi đó thì cơ quan THADS tiến hành hoặc theo yêu cầu của người
được thi hành án áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của
đương sự nhằm tránh tình trạng tài sản không còn để thi hành
án.
3.

Nội dung của biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của

đương sự
3.1. Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy
tờ
8


Điều 68 của Luật THADS quy định về việc tạm giữ tài sản,
giấy tờ mà đương sự đang quản lý, sử dụng. Bao gồm 03 loại
sau đây:
Thứ nhất, là những tài sản, giấy tờ được xác định một cách
rõ ràng, cụ thể trong bản án, quyết định là đối tượng của nghĩa
vụ thi hành án, liên quan đến việc thi hành án. Ví dụ, nghĩa vụ
trả lại tài sản, giấy tờ đó cho người được thi hành án. Trường
hợp này, khi ra bản án, quyết định, Tòa án đã xác định rõ người
phải thi hành án phải trả lại cho người được thi hành án những
tài sản hay giấy tờ cụ thể nào. Từ đó, Chấp hành viên dựa trên
phá quyết của Tòa án để quyết định tài sản, giấy tờ nào cần
phải tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Thứ hai, là các tài sản, giấy tờ đã được bản án, quyết định
được thi hành tuyên kê biên để đảm bảo thi hành án. Trường
hợp này, Tòa án đã xác định trước những tài sản mà người phải
thi hành án có thể đem ra thi hành án để Chấp hành viên áp
dụng biện pháp bảo đảm nhằm tránh tình trạng đương sự tẩu
tán, hủy hoại tài sản đó.
Thứ ba, là các tài sản, giấy tờ đó có thể là các tài sản, giấy
tờ không được tuyên, không được xác định trong bản án, quyết
định được thi hành nhưng có thể kê biên, xử lý để đảm bảo
nghĩa vụ thanh toán. Trong trường hợp Tòa án không xác định rõ
tài sản là đối tượng của nghĩa vụ thi hành án, không kê biên
những tài sản có thể thi hành án thì Chấp hành viên có thể áp
dụng biện pháp bảo đảm thi hành án đối với những tài sản
người phải thi hành án đang sở hữu, đang sử dụng có thể kê
biên, xử lý để thi hành án.

9


3.2. Quyền yêu cầu, quyền áp dụng, thẩm quyền áp
dụng biện pháp tạm giữ tài sản giấy tờ của đương sự
Theo Điều 66 Luật THADS: “Chấp hành viên có quyền tự
mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng
ngay biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu
tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án. Khi áp dụng
biện pháp bảo đảm thi hành án, Chấp hành viên không phải
thông báo trước cho đương sự”.
Theo đó, Luật THADS cho phép Chấp hành viên tự mình áp
dụng biện pháp bảo đảm tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự
khi có đủ các căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp này là
cần thiết. Việc cho phép Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo
đảm tạm giữ tài sản, giấy tờ sẽ giúp cơ quan THADS chủ động
hơn trong việc thi hành bản án, quyết định mà Tòa án đã tuyên.
Ngoài ra, do việc người phải thi hành án có thể tẩu tán tài sản,
giấy tờ trong một thời gian ngắn cho nên khi có những dấu hiệu
của hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản, giấy tờ Chấp hành viên có
thể áp dụng ngay biện pháp bảo đảm THADS tạm giữ tài sản,
giấy tờ nhằm tránh thiệt hại không thể khắc phục được.
Ngoài việc Chấp hành viên tự mình áp dụng thì đương sự
cũng có thể yêu cầu Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo
đảm tạm giữ tài sản, giấy tờ. Đương sự trong vụ án dân sự bao
gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
Việc bản án, quyết định của Tòa án có được thi hành hay không
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của họ. Do đó,
pháp luật quy định họ có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp bảo
đảm THADS nhằm tự bảo vệ lợi ích hợp pháp của họ. Mặc khác,
đương sự trong vụ án dân sự thường theo dõi, chú ý tài sản,
10


giấy tờ là đối tượng của tranh chấp hoặc tài sản, giấy tờ mà
người phải thi hành án có thể đem ra thực hiện nghĩa vụ với họ
nên khi người phải thi hành án có hành vi hoặc có dấu hiệu thực
hiện hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản thì đương sự có thể nhanh
chóng yêu cầu Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm
THADS. Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định, trong trường hợp
người yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây
thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cho
người thứ ba thì phải bồi thường. Điều này sẽ giúp nâng cao
trách nhiệm của đương sự trong việc yêu cầu áp dụng biện
pháp bảo đảm THADS.
3.3. Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản,
giấy tờ của đương sự
Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ
của đương sự được quy định tại Điều 68 Luật THADS và Điều 18
Nghị định 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số
điều của Luật Thi hành án dân sự. Chấp hành viên đang thực
hiện nhiệm vụ thi hành án có quyền tạm giữ hoặc yêu cầu cơ
quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ để tạm giữ tài sản, giấy tờ mà
đương sự đang quản lý, sử dụng. Việc tạm giữ tài sản, giấy tờ
phải lập biên bản có chữ kí của Chấp hành viên và đương sự.
Trường hợp đương sự không kí thì phải có chữ kí của người làm
chứng và phải giao biên bản lại cho đương sự. Biên bản phải ghi
rõ tên người bị tạm giữ tài sản, giấy tờ; loại tài sản, giấy tờ bị
tạm giữ; số lượng, khối lượng, kích thước và các đặc điểm khác
của tài sản, giấy tờ bị tạm giữ. Nếu tài sản bị tạm giữ là tiền
mặt thì phải ghi rõ số lượng tờ, mệnh giá các loại tiền, nếu là
ngoại tệ thì phải ghi là tiền nước nào và trong trường hợp cần
thiết phải ghi cả số sê ri tiền.
11


Trường hợp tài sản tạm giữ là kim khí quý, đá quý phải niêm
phong trước mặt người bị tạm giữ tài sản hoặc nhân thân của
họ. Nếu nhân thân của họ không đồng ý chứng kiến việc niêm
phong thì phải có người làm chứng. Trên niêm phong phải ghi rõ
loại tài sản, số lượng, khối lượng và các đặc điểm khác của tài
sản đã niêm phong, có chữ kí của Chấp hành viên, người bị tạm
giữ hoặc thân nhân của họ hoặc người làm chứng.
Trường hợp cần tạm giữ ngay tài sản, giấy tờ mà chưa ban
hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ thì Chấp hành viên yêu
cầu giao tài sản, giấy tờ và lập biên bản về việc tạm giữ. Trong
thời hạn 24 giờ, kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ban
hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ. Biên bản, quyết định
tạm giữ tài sản, giấy tờ phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát
nhân dân cùng cấp. Tài sản, giấy tờ tạm giữ được bảo quản theo
quy định tại Điều 58 Luật THADS.
Chấp hành viên yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần thiết để
chứng minh quyền sở hữu, sử dụng; thông báo cho đương sự, cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về quyền khởi kiện yêu cầu
xác định quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ.
Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên phải xác minh, làm rõ
hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác định người có
quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ.
3.4. Thời hạn và hậu quả pháp lý của việc áp dụng biện
pháp bảo đảm tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có căn cứ xác định tài
sản, giấy tờ tạm giữ thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người
phải thi hành án, Chấp hành viên phải ra quyết định áp dụng
12


biện pháp cưỡng chế theo quy định của Luật THADS. Trường hợp
có căn cứ xác định tài sản, giấy tờ tạm giữ không thuộc quyền
sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án hoặc thuộc quyền
sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án nhưng đã thực hiện
xong nghĩa vụ của mình thì Chấp hành viên phải ra quyết định
trả lại tài sản, giấy tờ cho người có quyền sở hữu, sử dụng. Khi
trả lại tài sản, giấy tờ tạm giữ, Chấp hành viên yêu cầu người
đến nhận xuất trình các giấy tờ chứng minh là người bị tạm giữ
tài sản, giấy tờ hoặc là người được người đó ủy quyền. Chấp
hành viên yêu cầu người đến nhận kiểm tra về số lượng, khối
lượng, kích thước và các đặc điểm khác của tài sản, giấy tờ bị
tạm giữ dưới sự chứng kiến của thủ kho cơ quan thi hành án dân
sự. Việc trả lại tài sản, giấy tờ tạm giữ phải lập biên bản, có chữ
kí của các bên.
4.

Ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản,
giấy tờ của đương sự
Thứ nhất, biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự là

một biện pháp bảo đảm thi hành án, việc bản án, quyết định
của Tòa án có được thi hành hay không phụ thuộc một phần vào
việc áp dụng đúng đắn biện pháp này. Do đó, biện pháp tạm giữ
tài sản, giấy tờ có ý nghĩa lớn trong việc đảm bảo pháp luật
được thực thi trên thực tế, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp
luật, tạo niềm tin cho nhân dân.
Thứ hai, biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự
giúp hạn chế việc người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài
sản, trốn tránh việc thi hành án, giúp quyền lợi của các đương
sự được bảo vệ một cách tối ưu nhất.

13


Thứ ba, biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ là căn cứ, cơ sở
để áp dụng các biện pháp cưỡng chế THADS thu giữ giấy tờ có
giá, kê biên quyền sở hữu trí tuệ, kê biên phương tiện giao
thông, cưỡng chế trả giấy tờ.
III.

Những bất cập trong việc áp dụng biện pháp bảo
đảm tạm giữ giấy tờ, tài sản của đương sự và kiến
nghị hoàn thiện pháp luật
Trên thực tế, biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương

sự ít được Chấp hành viên áp dụng so với các biện pháp bảo
đảm THADS khác. Việc áp dụng biện pháp này nhằm thu giữ
trực tiếp tài sản, giấy tờ của đương sự. Do đó, biện pháp này
khó áp dụng trên thực tế. Qua quá trình nghiên cứu còn một số
điểm bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật như sau:
Thứ nhất, khi áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ thì
Chấp hành viên được quyền ra quyết định hoặc không ra quyết
định tạm giữ tài sản. Nếu không ra quyết định tạm giữ tài sản
thì cơ sở nào để chứng minh được biên bản tạm giữ tài sản, giấy
tờ là có giá trị pháp lý. Trong trường hợp Chấp hành viên phải ra
quyết định tạm giữ nhưng việc tạm giữ được thực khi đang ở địa
bàn xa trụ sở cơ quan mà không có điều kiện ra ngay được
quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ thì xử lý như thế nào. Do đó,
Luật THADS cần phải quy định cụ thể hơn về vấn đề này để
tránh tình trạng Chấp hành viên gặp khó khăn trong quá trình
tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự.
Thứ hai, hiện nay cơ chế đăng kí và kê khai tài sản của công
dân còn hạn chế, do đó quá trình xác minh quyền sở hữu, quyền
sử dụng tài sản của đương sự còn gặp rất nhiều khó khăn. Có
trường hợp đương sự hoặc bên thứ ba đang quản lý tài sản
14


không hợp tác với Chấp hành viên trong việc xác định đương sự
có quyền gì đối với tài sản hoặc trong quá trình xác minh nguồn
gốc của tài sản lại xảy ra tranh chấp giữa các bên về quyền đối
với tài sản. Từ đó, việc xác minh lại phải chờ một khoản thời
gian để Tòa án tiến hành giải quyết. Do đó, cần phải nâng cao
hiệu quả của việc đăng kí tài sản và kê khai tài sản của công
dân để cung cấp được nhiều thông tin cho cơ quan THADS.
Thứ ba, Luật THADS năm 2008 sửa đổi, bổ sung 2014 và
Nghị định số 62/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn một số điều của Luật Thi hành án dân sự chưa có
quy định nào hướng dẫn thời hạn Chấp hành viên phải ra quyết
định áp dụng biện pháp bảo đảm tạm giữ tài sản, giấy tờ thi
hành án. Điều này sẽ dẫn đến việc áp dụng biện pháp tạm giữ
tài sản, giấy tờ phụ thuộc vào ý chí của Chấp hành viên và
không thống nhất trong việc áp dụng biện pháp này. Trên thực
tế, có nhiều trường hợp đương sự nộp đơn yêu cầu áp dụng
nhưng Chấp hành viên không áp dụng ngay dẫn đến tình trạng
đương sự kịp thời tẩu tán tài sản. Do đó, cần phải quy định thời
hạn ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm để đảm bảo
được quyền lợi của người được thi hành án.
Thứ tư, Điều 68 Luật THADS năm 2014 và các văn bản
hướng dẫn thi hành Luật không quy định việc tạm giữ giấy tờ
phải có sự tham gia của Viện kiểm sát. Tuy nhiên tại Mẫu biểu
D39 (Biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ) theo Thông tư
01/2016/TT-BTP hướng dẫn một số thủ tục về quản lý hành
chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong thi hành án dân sự có in sẵn
thành phần tham gia là đại diện Viện kiểm sát. Vậy, việc tham
gia của đại diện Viện kiểm sát có phải là yêu cầu bắt buộc khi
tạm giữ tài sản, giấy tờ hay không? Về vấn đề này, theo tôi cần
15


phải quy định việc tham gia của Viện kiểm sát khi tiến hành tạm
giữ tài sản, giấy tờ là bắt buộc. Bởi lẽ, việc tạm giữ tài sản, giấy
tờ đó chính là những tài sản hay bằng chứng về tài sản của
công dân, việc thu giữ những tài sản đó làm ảnh hưởng trực tiếp
đến lợi ích hợp pháp của công dân. Do đó, Viện kiểm sát cần
phải tham gia để đảm bảo các quyền này không bị xâm phạm.
Thứ năm, thực tiễn cho thấy, khi tạm giữ tài sản, giấy tờ của
đương sự nếu là tài sản, giấy tờ thuộc quyền sở hữu, sử dụng
của người phải thi hành án thì việc áp dụng biện pháp tạm giữ
tài sản, giấy tờ là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, nếu tạm giữ tài
sản, giấy tờ mà người phải thi hành án không có quyền gì đối
với tài sản, giấy tờ đó thì dễ gây ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp
của người khác. Ví dụ, trường hợp một người mượn xe máy của
một người khác để dùng mà chiếc xe máy đó lại là công cụ mưu
sinh của người cho mượn bị cơ quan thi hành án tạm giữ chiếc
xe máy để bảo đảm thi hành án. Khi đó, người cho mượn xe
máy muốn lấy lại xe máy để sử dụng thì chiếc xe máy lại bị tạm
giữ và phải chờ thời gian xác minh chiếc xe máy đó thuộc quyền
sở hữu, sử dụng của ai. Việc này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
quyền lợi cũng như cuộc sống hằng ngày của người khác vốn
không liên quan đến việc thi hành án. Do đó, theo tôi, chỉ tạm
giữ tài sản, giấy tờ thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải
thi hành án để đảm bảo biện pháp này áp dụng được hiệu quả
nhất.

C.

Kết luận
Như vậy, qua việc tìm hiểu một số khía cạnh liên quan tới

biện pháp bảo đảm tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự ta có
16


cái nhìn tổng quát và toàn diện về vấn đề. Qua đó là cơ sở, căn
cứ giúp chúng ta áp dụng dễ dàng vào trong thực tiễn nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh. Đồng thời, nhìn nhận
những điểm thiếu xót và vướng mắc, để từ đó rút ra những đánh
giá, nhận xét và kiến nghị hoàn thiện nhằm hướng tới một hệ
thống pháp luật đạt hiệu quả cao trong tương lai.
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
1.

THADS: Thi hành án dân sự
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.
2.
3.

Giáo trình………..
Luật Thi hành án dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung 2014
Nghị định 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng

4.

dẫn một số điều của Luật Thi hành án dân sự
Thông tư 01/2016/TT-BTP hướng dẫn một số thủ tục
về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong
thi hành án dân sự

Mục lục
A. Mở đầu..................................................................................1
B. Nội dung...............................................................................2
I. Khái quát chung................................................................2
1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của các biện pháp
bảo đảm thi hành án dân sự.............................................2
2. Biện pháp bảo đảm tạm giữ tài sản, giấy tờ của
đương sự...............................................................................4

17


II. Quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục áp
dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự. .5
1. Cơ sở của quy định biện pháp bảo đảm tạm giữ tài
sản, giấy tờ của đương sự.................................................5
2. Điều kiện áp dụng biện pháp bảo đảm tạm giữ tài
sản, giấy tờ của đương sự.................................................6
3. Nội dung của biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của
đương sự...............................................................................7
4. Ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp tạm giữ tài
sản, giấy tờ của đương sự...............................................11
III. Những bất cập trong việc áp dụng biện pháp bảo
đảm tạm giữ giấy tờ, tài sản của đương sự và kiến nghị
hoàn thiện pháp luật..........................................................11
C. Kết luận..............................................................................15
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT...............................................16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................17

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×