Tải bản đầy đủ

Chuyên đề: LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1919 – 1930

CHUYÊN ĐỀ ÔN THI ĐẠI HỌC
LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1919 – 1930
1.
2.
3.
4.
5.
6.

Tác giả chuyên đề: Bùi Thị Huyền
Chức vụ: Giáo viên giảng dạy môn lịch sử
Đơn vị công tác: Trường THPT Trần Phú
Đối tượng học sinh bồi dưỡng: Lớp 12
Dự kiến số tiết bồi dưỡng: 15 tiết
Mục tiêu của chuyên đề
* Mục tiêu của chuyên đề nhằm giúp học sinh nắm được các vấn đề cơ bản

trong lịch sử Việt Nam giai đoạn từ 1919 – 1930 với các nội dung chính sau:
- Những chuyển biến mới về kinh tế và xã hội ở Việt Nam sau chiến tranh thế
giới thứ nhất
- Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản từ năm 1919 đến năm

1925
- Phong trào công nhân từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến năm 1930
- Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc (1911 – 1930)
- Sự ra đời và hoạt động của ba tổ chức cách mạng (1925 – 1929)
- Đảng cộng sản Việt Nam ra đời
* Mặt khác, chuyên đề cũng phân loại các dạng bài tập thường gặp theo từng
vấn đề và cách giải, giúp học sinh luyện tập, ôn luyện đạt kết quả tốt.
7.

Hệ thống kiến thức sử dụng trong chuyên đề:

VẤN ĐỀ 1. NHỮNG CHUYỂN BIẾN MỚI VỀ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI Ở
VIỆT NAM SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT
A. Kiến thức cơ bản cần nắm


- Học sinh nhận thức được hoàn cảnh thế giới tác động trực tiếp đối với cách mạng
Việt Nam.
- Nội dung chính của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp.
- Chuyển biến về kinh tế, xã hội Việt Nam trước tác động của cuộc khai thác thuộc
địa lần thứ hai của thực dân Pháp.
B. Nội dung
1.Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai
* Nguyên nhân:
- Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, các nước thắng trận đã họp để phân chia thế
giới. Một trật tự thế giới mới đã hình thành.
- CTTG I làm cho nền kinh tế Pháp bị tổn thất nặng nề:
+ Hơn 1,4 triệu người chết, thiệt hại về vật chất lên tới 200 tỉ Frăng.
+ Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, nước Nga xô viết ra đời, Pháp mất thị
trường cho vay lãi lớn là Nga.
- Trong những năm 1897 – 1913, Pháp đã tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ
nhất. Qua đó, chúng đã xác lập được một số cơ sở hạ tầng của nền kinh tế như giao
thông vận tải, điện nước…
- Mặt khác, sau chiến tranh, tình hình Việt Nam tương đối ổn định, những cuộc
khởi nghĩa bị dập tắt chưa có điều kiện để bùng nổ trở lại.
 Vì vậy, để hàn gắn vết thương chiến tranh và khôi phục kinh tế, nhà cầm quyền
Pháp vừa thúc đẩy sản xuất trong nước, vừa tăng cường đầu tư khai thác thuộc địa,
trước hết là các nước Đông dương và Châu Phi.
*Nội dung khai thác:
- Cuộc khai thác thuộc địa lần hai do toàn quyền Anbe Xa rô đề ra được thực hiện


từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1919 – 1929).
- So với cuộc khai thác thuộc địa lần I thì ở cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai,
thực dân Pháp đã đầu tư với tốc độ nhanh, quy mô lớn vào các ngành kinh tế Việt


Nam. Chỉ trong vòng 6 năm (từ 1924-1929), số vốn đầu tư vào Đông Dương, chủ
yếu là Việt Nam lên đến 4 tỉ phrăng:
* Trong nông nghiệp:
+ Đây là ngành Pháp bỏ vốn đầu tư nhiều nhất, năm 1927 số vốn đầu tư vào nông
nghiệp là 400 triệu frăng.
+ Diện tích các đồn điền trồng lúa, trồng cao su, cà phê được mở rộng. Nhiều công
ti trồng cao su được ra đời như : Công ti Đất đỏ, công ti Trồng cây nhiệt đới...
* Trong công nghiệp:
+ Pháp chú trọng đầu tư vào khai thác mỏ, trước hết là mỏ than. Nhiều công ti khai
thác mỏ than được thành lập như: Công ti than Hạ Long - Đồng Đăng, công ti than
Đông Triều… Ngoài ra, các cơ sở khai thác mỏ thiếc, kẽm, sắt đều được bổ sung
thêm vốn, tăng nhân công và đẩy mạnh tiến độ khai thác.
+ Một số cơ sở chế biến quặng, kẽm, các nhà máy sợi tơ, nhà máy rượu, diêm,
đường, xay xát được nâng cấp và mở rộng quy mô: Nhà máy rượu Hà Nội, nhà
máy xay sát gạo Chợ Lớn…
* Trong thương nghiệp:
+ Trước hết là ngoại thương có bước phát triển mới, có sự tăng tiến hơn trước
những năm 1929-1930 hàng hoá Pháp nhập vào Việt Nam chiếm 63 % tổng số
hàng nhập.
+ Quan hệ giao lưu buôn bán nội địa được đẩy mạnh.
- Giao thông vận tải được phát triển:
+ Được đầu tư nhằm phục vụ công cuộc khai thác và vận chuyển nguyên vật liệu,
lưư thông hàng hoá trong và ngoài nước và đàn áp các phong trào đấu tranh.
+ Pháp xây dựng thêm nhiều Km đường sắt, nhiều tuyến đường sắt Đông Dương
được nối liền thêm đoạn như Đồng Đăng – Na Sầm (19229), Vinh- Đông Hà…
+ Hệ thống giao thông đường thuỷ, bộ, hải cảng tiếp tục được mở rộng, xây dựng
thêm nhiều cảng mới như Hòn Gai, Bến Thuỷ.. ..


- Các đô thị được mở rộng và dân cư đông hơn.
-Ngân hàng Đông Dương nắm quyền chỉ huy toàn bộ nền kinh tế Đông Dương,
phát hành tiền giấy và cho vay lãi.
+ Ngoài việc đẩy mạnh khai thác thực dân Pháp còn thi hành các biện Pháp tăng
thuế nên ngân sách Đông Dương thu năm 1930 tăng gấp 3 lần so với năm 1912.
* Chuyển biến về kinh tế (Kết luận chung):
- Với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, nền kinh tế của tư bản Pháp ở Đông
Dương có bước phát triển mới, làm cho nền kinh tế TBCN tiếp tục được mở rộng
và bao trùm lên nền kinh tế phong kiến Việt Nam
- Trong quá trình đầu tư vốn và mở rộng khai thác thuộc địa, thực dân Pháp có đầu
tư kĩ thuật và nhân lực, song rất hạn chế.
- Cơ cấu kinh tế Việt Nam có chuyển biến ít nhiều, song chỉ có tính chất cục bộ ở
một số vùng, còn phổ biến vẫn trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu.
- Kinh tế ĐD ngày càng bị cột chặt vào kinh tế Pháp và Đông Dương vẫn là thị
trường độc chiếm của tư bản Pháp.
2.Chuyển biến về giai cấp xã hội.
* Giai cấp địa chủ phong kiến: (chiếm sấp xỉ 10 % dân số)
- Bị phân hoá thành ba bộ phận là tiểu địa chủ, trung địa chủ, đại địa chủ
- Đại địa chủ: Nắm trong tay nhiều ruộng đất, là tay sai của thực dân Pháp, câu kết
cùng với thực dân Pháp chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, đàn áp bóc lột nhân
dân. Đây là kẻ thù của cách mạng Việt Nam.
- Một bộ phận không nhỏ tiểu và trung địa chủ có ý thức dân tộc, tham gia vào
phong trào dân tộc dân chủ chống thực dân Pháp và tay sai. Bộ phận này là lực
lượng cách mạng Việt nam.
* Giai cấp nông dân:
- Chiếm hơn 90% dân số.


- Bị đế quốc, phong kiến thống trị tước đoạt ruộng đất, bần cùng hoá không có lối
thoát. Mâu thuẫn giữa nông dân Việt Nam với đế quốc Pháp và phong kiến tay sai
hết sức gay gắt.
- Nông dân sẵn sàng đứng lên chống thực dân pháp và tay sai nhưng không thể
lãnh đạo tự giải phóng mình được ( vì nông dân không đại diện cho một phương
thức sản xuất tiên tiến, không có hệ tư tưởng riêng). Nông dân chỉ có thể phát huy
khả năng và sức mạnh khi có một lực lượng tiên tiến lãnh đạo và trở thành một lực
lượng cách mạng to lớn của dân tộc. Đây cũng chính là cơ sở dẫn tới các phong
trào đấu tranh của nông dân trong phong trào giảI phóng dân tộc.
* Giai cấp tiểu tư sản:
- Bao gồm: những người buôn bán nhỏ, chủ xưởng nhỏ, thợ thủ công, học sinh,
sinh viên, công chức, trí thức...sau chiến tranh có sự phát triển nhanh về số lượng.
- Họ có tinh thần dân tộc, chống thực dân Pháp và tay sai.
- Đặc biệt, bộ phận trí thức, học sinh sinh viên là tầng lớp thường nhạy cảm với
thời cuộc và tha thiết cách tân đất nước nên hăng hái đấu tranh vì độc lập tự do của
dân tộc.
 Đây là một lực lượng quan trọng của cách mạng
* Giai cấp tư sản:
- Ra đời sau CTTG I , phần đông họ là những người trung gian làm thầu khoán,
cung cấp nguyên vật liệu hay hàng hóa… cho tư bản Pháp. Khi kiếm được số vốn
khá, họ đứng ra kinh doanh riêng và trở thành những nhà tư sản.
- Giai cấp tư sản Việt Nam vừa mới ra đời đã bị tư bản Pháp chèn ép, kìm hãm nên
số lượng ít, thế lực kinh tế yếu, không thể đương đầu với sự cạnh tranh của tư bản
Pháp.
- Dần dần, giai cấp tư sản bị phân hoá thành hai bộ phận là: Tư sản mại bản và tư
sản dân tộc.


+ Tư sản mại bản có quyền lợi gắn liền với đế quốc, nên câu kết chặt chẽ với đế
quốc. Bộ phận này là kẻ thù của cách mạng Việt Nam.
+Tư sản dân tộc có xu hướng kinh doanh độc lập nên ít nhiều có khuynh hướng
dân tộc và dân chủ.
* Giai cấp công nhân:
- ra đời ngay trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp. Sau
CTTG I phát triển nhanh chóng về số lượng ( trước CTTG I là 22 vạn đến 1929 có
22 vạn).
- Giai cấp công nhân VN vừa có đặc điểm chung của công nhân thế giới vừa có
đặc điểm riêng của giai cấp công nhân Việt Nam. Cụ thể:
+ Giai cấp công nhân bị giới tư sản, nhất là bọn đế quốc, thực dân áp bức, bóc lột
nặng nề.
+ Giai cấp công nhân có quan hệ gắn bó máu thịt với giai cấp nông dân.
+ Kế thừa truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc.
+ Sớm chịu ảnh hưởng của trào lưu vô sản thế giới nên nhanh chóng vươn lên trở
thành một động lực mạnh mẽ của phong trào dân tộc theo khuynh hướng cách
mạng tiên tiến của thời đại.
Như vậy, với ảnh hưởng của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân
Pháp, xã hội Việt Nam có chuyển biến quan trọng: Các giai cấp cũ vẫn còn tồn tại
nhưng bị phân hoá như địa chủ phong kiến, nông dân, giai cấp mới hình thành như
tư sản, tiểu tư sản. Giai cấp công nhân trưởng thành nhanh chóng.
Các giai cấp có địa vị kinh tế, xã hội khác nhau, song đều có điểm chung là lòng
yêu nước và sự phản kháng dân tộc trước sự xâm lược và thống trị của đế quốc.
Mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc, trong đó chủ yếu là mâu
thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân pháp và phản động tay sai.
* Những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam:


- Với đặc trưng xã hội Việt Nam là một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, mâu
thuẫn trong xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc, trong đó nổi lên hai mâu thuẫn cơ
bản là:
+ Mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp và phản động tay
sai (mâu thuẫn dân tộc)
+ Mâu thuẫn giữa nông dân Việt Nam với địa chủ phong kiến (mâu thuẫn giai
cấp)  Trong đó mâu thuẫn bao trùm là mâu thuẫn dân tộc, nó ngày càng mở rộng
và gay gắt hơn.
- các mâu thuẫn trên vừa là nguồn gốc vừa là động lực làm nảy sinh và thúc đẩy
các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp, chống phong kiến ở nước ta.
- Để giải quyết được các mâu thuẫn cơ bản trên, cách mạng Việt Nam phải đồng
thời thực hiện hai nhiệm vụ:
+ Đánh đuổi đế quốc Pháp giành độc lập dân tộc (nhiệm vụ dân tộc)
+ Đánh đổ giai cấp phong kiến giành ruộng đất cho nhân dân (nhiệm vụ dân chủ).
Song trước hết phải đánh đuổi được chủ nghĩa đế quốc và tay sai phản động
giành độc lập tự do.
VẤN ĐỀ 2. PHONG TRÀO YÊU NƯỚC THEO KHUYNH HƯỚNG DÂN
CHỦ TƯ SẢN TỪ NĂM 1919 ĐẾN NĂM 1925.
A. Kiến thức cơ bản cần nắm
- Học sinh nắm được những phong trào đấu tranh tiêu biểu của tư sản và tiểu tư sản
từ năm 1919-1925.
- Đánh giá được những mặt tích cực và hạn chế của phong trào đấu tranh của Tư
sản và tiểu tư san
B. Nội dung
I. Điều kiện bùng nổ phong trào đấu tranh ở Việt Nam sau chiến tranh thế
giới thứ nhất:
1. Khách quan:


Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tình hình thế giới có những chuyển biến mới,
tác động sâu sắc đến Việt Nam.
- Các nước đế quốc thắng trận đã họp hội nghị tại Véc xai để phân chia lại thế giới,
thiết lập trật tự hoà bình, an ninh mới.
- Năm 1917, cách mạng tháng 10 Nga thắng lợi cùng với sự suy yếu của các nước
đế quốc đã thúc đẩy mạnh mẽ các dân tộc trên thế giới đứng lên đấu tranh tự giải
phóng, gắn kết phong trào giải phóng dân tộc các nước phương Đông với phong
trào công nhân phương Tây trong đó có Việt Nam, nó mở ra thời đại cách mạng
chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc.
- ĐCS ở các nước TBCN, các nước thuộc địa và nửa thuộc địa lần lượt ra đời: ĐCS
Đức (1919), ĐCS Anh (1920), ĐCS Mĩ (1921), đặc biệt là sự ra đời ĐCS Pháp
(1920) và ĐCS TQ (1921) đã tạo điều kiện cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác
Lênin vào Việt Nam, tạo điều kiện cho những người yêu nước ở Việt Nam có thể
đứng chân, gây dựng và chỉ đạo phong trào cách mạng.
- Tháng 3/1919, quốc tế cộng sản được thành lập, đảm nhận sứ mệnh tập hợp, lãnh
đạo phong trào cách mạng và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước trên thế
giới đã tạo ra những thuận lợi lớn cho cách mạng thuộc địa và trong đó có cách
mạng Việt Nam.
- Tháng 12/1920, tại đại hội tua một bộ phận tích cực nhất của Đảng xã hội Pháp
đã bỏ phiếu tán thành ra nhập quốc tế cộng sản và tách ra để thành lập ĐCS Pháp.
Tạo điều kiện cho hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mac-Lênin về nước.
Những chuyển biến mới của tình hình thế giới có ảnh hưởng đến sự phát triển
của phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam.
2. Chủ quan:
- Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
hai ở Việt Nam đã tạo ra những chuyển biến sâu sắc về xã hội.


- Do chính sách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp đã làm xuất hiện hai mâu thuẫn
cơ bản trong xã hội Việt Nam, đó là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với
thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến.
- Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam.
 Những điều kiện trên đã làm bùng nổ mạnh mẽ phong trào dân tộc dân chủ ở
Việt Nam với sự tham gia của đông đảo các giai cấp trong xã hội Việt Nam.
II.Hoạt động của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và một số người Việt Nam
sống trên đất Pháp.
1.Hoạt động của Phan Bội Châu.
- Phan Bội Châu là một chí sĩ yêu nước thương nòi, đã nhiều năm bôn ba hoạt
động ở Nhật Bản, Trung Quốc để tìm cách cứu nước, song đều thất bại.
- Cách mạng tháng mười Nga thành công, nước Nga xô viết ra đời đã có ảnh
hưởng tới Phan Bội Châu.
- Từ đó, Phan Bội Châu đã tiếp xúc với đại sứ Nga ở Trung Quốc , đã dich cuốn
“điều tra chân tướng La Ngư, viêt truyện Phạm Hồng Thái.
- Tháng 6/1925, PBC bị thực dân Pháp bắt tại Thượng Hải (TQ), bị đưa về nước và
an trí tại Huế. Từ đó, PBC không thể tiến theo nhịp bước đấu tranh mới của dân
tộc.
2. Hoạt động của Phan Châu Trinh và một số người sống trên đất Pháp.
* Hoạt động của Phan Châu Trinh:
- Sau khi ra khỏi nhà tù Côn Đảo, năm 1911 PCT đã sang Pháp và tiếp tục hoạt
động.
- Đầu 1922, PCT viết Thất Điều Thư vạch ra 7 tội đáng chém của Khải Định nhân
dịp Khải Định sang Pháp dự cuộc triển lãm thuộc địa để rêu rao cái “gọi là công
lao khai hoá” của thực dân Pháp.
- Ông tổ chức các buổi diễn thuyết lên án chế độ quân chủ và quan trường ở Việt
Nam...


- Tháng 6/1925, PCT về nước. Mặc dù sức yếu ông vẫn tiếp tục hoạt động, đã phá
chế độ quân chủ, đề cao dân quyền.
* Hoạt động của một số người VN trên đất Pháp.
- Nhiều viật kiều ở Pháp đã tham gia hoạt động như chuyển tài liệu, sách báo tiến
bộ về nước và tập hợp trong các tổ chức yêu nước như Hội Liên Hiệp Thuộc Địa,
Hội những người lao động trí óc ở Đông Dương.
- Một số thanh niên, sinh viên yêu nước xuất thân trong các gia đình địa chủ, tư sản
lập ra Đảng Việt Nam độc lập, xuất bản báo Tái sinh.
III. Phong trào đấu tranh của tư sản, tiểu tư sản (1919 - 1925)
1.Hoạt động của tư sản.
* Nguyên nhân:
- Ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp, giai cấp tư
sản Việt Nam vốn nhỏ yếu về kinh tế và thường xuyên bị tư sản nước ngoài cạnh
tranh, chèn ép nên mâu thuẫn sâu sắc với tư sản nước ngoài, thực dân pháp và
phong kiến tay sai
* Các hoạt động của tư sản:
- Năm 1919, tư sản Việt Nam đã tổ chức cuộc tẩy chay tư sản Hoa kiều ở một số
tỉnh và thành phố như Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định ... vận động người
Việt Nam chỉ mua hàng của người Việt Nam, ‘chấn hưng nội hóa’, ‘bài trừ ngoại
hóa’.
- Năm 1923, địa chủ và tư sản Việt nam đấu tranh chống tư bản Pháp độc quyền
cảng Sài Gòn, độc quyền xuất cảng lúa gạo Nam Kì.
- Năm 1923, một số tư sản và địa chủ lớn ở Nam Kì như Bùi Quang Chiêu,
Nguyễn Phan Long... đã lập ra Đảng Lập hiến. Đảng này đưa ra một số khẩu hiệu
đòi tự do, dân chủ. Nhưng khi được thực dân Pháp nhượng bộ một số quyền lợi họ
lại thỏa hiệp với chúng.


- ở ngoài bắc có nhóm: Nam Phong của Phạm Quỳnh và nhóm Trung bắc tân văn
của Nguyễn Văn Vĩnh
* Nhận xét:
- Các phong trào diễn ra liên tục, rộng khắp, có mục đích rõ ràng.
- Phong trào đấu tranh còn mạng nặng tính thoả hiệp, cải lương khi được Pháp
nhượng bộ một ít quyền lợi.
- Đấu tranh chủ yếu vì quyền lợi kinh tế của giai cấp và yêu cầu tối thiểu về quyền
tự do dân chủ. Họ chưa đưa ra được mục tiêu giải phóng dân tộc và giải phóng giai
cấp nên nhanh chóng bị phong trào quần chúng vượt qua.
- Ý nghĩa: Mặc dù có những hạn chế nhưng phong trào đã thể hiện tinh thần yêu
nước và khả năng chống Pháp ở một mức độ nhất định của giai cấp tư sản Việt
Nam, tạo đà cho sự phát triển chung của phong trào yêu nước Việt Nam cuối
những năm 20. Đây là một trong những nhân tố dẫn tới sự ra đời của Đảng cộng
sản.
2. Hoạt động của tiểu tư sản:
* Nguyên nhân:
- Bao gồm: những người buôn bán nhỏ, chủ xưởng nhỏ, thợ thủ công, học sinh,
sinh viên, công chức, trí thức... sau chiến tranh có sự phát triển nhanh về số lượng.
- Họ có tinh thần dân tộc, chống thức dân Pháp và tay sai.
- Đặc biệt, bộ phận trí thức, học sinh sinh viên là tầng lớp thường nhạy cảm với
thời cuộc và tha thiết cách tân đất nước nên hăng hái đấu tranh vì độc lập tự do của
dân tộc.
 Đây là một lực lượng quan trọng của cách mạng
* Các hoạt động:
- Vào đầu những năm 20, đã có nhiều thanh niên yêu nước sang Quảng Châu –
Trung Quốc tìm đường cứu nước, trong đó có Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu.


- Năm 1923 họ đã thành lập tổ chức Tâm tâm xã. Tháng 6/1924, cử Phạm Hồng
Thái thực hiện mưu sát tên toàn quyền Đông Dương ở Sa Diện (Quảng Châu). Tuy
nhiên, sự kiện không thành, Phạm Hồng Thái đã anh dũng hi sinh. Sự kiện này đã
nhóm tiếp ngọn lửa chiếu đấu, khích lệ tinh thần đấu tranh của nhân dân ta, nhất là
thanh niên. Sự kiện được ví như “chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân.
- ở trong nước, TTS trí thức VN đã thành lập một số tổ chức chính trị như Việt nam
nghĩa đoàn, Hội phục việt, Đảng thanh niên với nhiều hoạt động phong phú sôi nổi
như mít tinh, biểu tình, bãi khoá…
- Nhiều tờ báo tiến bộ ra đời như: Chuông rè, An Nam trẻ, Người nhà quê, Tiếng
dân, Đông Pháp thời báo...
- Lập ra một số nhà xuất bản tiến bộ như: Nam đồng thư xã, Cường học thư xã,
Quan hải tùng thư...
- Năm 1925, đấu tranh đòi nhà cầm quyền Pháp thả nhà yêu nước Phan Bội Châu.
- Năm 1926, tổ chức cuộc truy điệu, để tang Phan Châu Trinh.
* Nhận xét:
- Phong trào mang tính chất dân chủ công khai, phát triển rộng khắp với nhiều hình
thức tổ chức và hoạt động phong phú, đã lôi kéo đuợc nhiều tầng lớp nhân dân
tham gia hơn so với phong trào của tư sản dân tộc. Các phong trào này nhằm mục
đích chính trị là chủ yếu.Tuy vậy phong trào vẫn mang tính tự phát.
- Phong trào đấu tranh thể hiện tinh thần yêu nước của giai cấp tiểu tư sản.
- Phong trào đấu tranh của tiểu tư sản trí thức phát triển mạnh đã cổ vũ mạnh mẽ
tinh thần yêu nước của nhân dân ta và góp phần chuẩn bị điều kiện cho những
phong trào dấu tranh mới sau này. Đây là một trong những nhân tố quan trọng
dẫn tới sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam.
VẤN ĐỀ III. PHONG TRÀO CÔNG NHÂN TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ
GIỚI THỨ NHẤT ĐẾN NĂM 1930
A. Kiến thức cơ bản cần nắm


- Học sinh nhận thức được nguyên nhân giai cấp công nhân đấu tranh mạnh mẽ sau
CTTG I.
- Hoạt động chính của công nhân từ 1919-1930.
- Vị trí của phong trào công nhân đối với cách mạng Việt Nam.
B. nội dung
I. Phong trào công nhân từ 1919-1925.
1.Hoàn cảnh lịch sử của phong trào công nhân Việt nam vào đầu thế kỷ XX.
* Hoàn cảnh thế giới:
Sau CTTG I, tình hình thế giới có những chuyển biến mới, tác động sâu sắc đến
cách mạng Việt Nam nói chung và phong trào công nhân nói riêng. Cụ thể:
- Năm 1917 cách mạng tháng 10 Nga thắng lợi đã mở đầu việc sụp đổ CNTB, làm
thức tỉnh các dân tộc phương Đông trong đó có Việt Nam, nó mở ra thời đại cách
mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc.
- ĐCS ở các nước TBCN, các nước thuộc địa và nửa thuộc địa lần lượt ra đời: ĐCS
Đức (1919), ĐCS Anh (1920), ĐCS Mĩ (1921), ĐCS Inđônêxia ( 1920), đặc biệt là
ĐCS TQ (1921) đã tạo điều kiện cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin vào Việt
Nam, tạo điều kiện cho những người yêu nước ở Việt Nam có thể đứng chân, gây
dựng và chỉ đạo phong trào cách mạng.
- Tháng 3/1919, quốc tế cộng sản được thành lập, đảm nhận sứ mệnh tập hợp, lãnh
đạo phong trào cách mạng và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước trên thế
giới đã tạo ra những thuận lợi lớn cho cách mạng thuộc địa và trong đó có cách
mạng Việt Nam.
- Tháng 12/1920, tại đại hội tua một bộ phận tích cực nhất của Đảng xã hội Pháp
đã bỏ phiếu tán thành ra nhập quốc tế cộng sản và tách ra để thành lập ĐCS Pháp.
Tạo điều kiện cho hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về nước.
* Hoàn cảnh trong nước.


- Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp làm cho xã hội
Việt Nam có chuyển biến lớn, đặc biệt là sự xuất hiện và phân hoá sâu sắc của giai
cấp trong xã hội.
- Sau CTTG I giai cấp công nhân tăng nhanh về số lượng và trưởng thành về chất
lượng( trước CTTG I là 10 vạn đến 1929 có 22 vạn). Giai cấp công nhân VN vừa
có đặc điểm chung của công nhân thế giới vừa có đặc điểm riêng của giai cấp công
nhân Việt Nam. Cụ thể:
+ Giai cấp công nhân bị thực dân, tư sản bóc lột nặng nề.
+ Giai cấp công nhân có quan hệ gắn bó máu thịt với giai cấp nông dân.
+ Kế thừa truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc.
+ Sớm chịu ảnh hưởng của trào lưu vô sản thế giới nên nhanh chóng vươn lên trở
thành một động lực mạnh mẽ của phong trào dân tộc theo khuynh hướng cách
mạng tiên tiến của thời đại.
-Đồng thời sau chiến tranh thế giới I giai cấp công nhân tiếp tục bị đánh đập,
ngược đãi, kinh rẻ đời sống khổ cực cộng với lòng yêu nước và truyền thống dân
tộc đã khiến công nhân ngày càng đấu tranh mạnh mẽ.
 Đây chính là những nguyên nhân dẫn tới sự bùng nổ của phong trào đấu tranh
công nhân.
2. Phong trào đấu tranh của công nhân:
Sau chiến tranh thế giới I, các cuộc đấu tranh của công nhân tuy còn lẻ tẻ và tự
phát nhưng đã nói lên ý thức giai cấp công nhân phát triển nhanh chóng làm cơ sở
cho các tổ chức và phong trào chính trị cao hơn về sau. Cụ thể:
- Năm 1920, công nhân Sài Gòn – chợ Lớn đã thành lập công hội do Tôn Đức
Thắng đứng đầu.
- Năm 1922, công nhân và viên chức các sở công thương của tư nhân Bắc Kỳ đấu
tranh đòi nghỉ ngày chủ nhật có trả lương.


- Cùng năm đó, có cuộc bãi công của công nhân nhà máy rệt, rượu, xay xát gạo ở
Nam Định, Hà Nội, Hải Dương.
- Tháng 8/1925, thợ may xưởng Ba Son ở cảng Sài Gòn đã bãi công để ngăn tàu
chiến Pháp chở lính sang tham gia đàn áp phong trào đấu tranh cách mạng của
nhân dân TQ và đòi tăng lương 20 %. Kết quả cuộc bãi công thắng lợi, nhà chức
trách Pháp phải chấp nhận tăng lương 10% cho công nhân Cuộc đấu tranh của
công nhân Ba Son có ý nghĩa hết sức to lớn, thể hiện tình đoàn kết giữa cách mạng
Việt Nam với cách mạng quốc tế. Sự kiện này đánh dấu bước tiến mới của phong
trào công nhân Việt Nam. Công nhân Việt Nam từ đây đi vào đấu tranh tự giác.
* Nhận xét:
- Như vậy, phong trào đấu tranh của công nhân từ 1919-1925, diễn ra sôi nổi, mạnh
mẽ và có quy mô tương đối lớn.
- Các cuộc đấu tranh vẫn mang nặng tính tự phát (chưa có sự phối hợp giữa các
nơi,diễn ra lẻ tẻ, chưa tổ chức lãnh đạo chặt chẽ, mục tiêu đấu tranh còn nặng về
kinh tế), do vậy công nhân vẫn chỉ là một trong các lực lượng tham gia phong
trào dân tộc dân chủ và còn nặng về tính tự phát.
- Mặc dù vậy, nó cũng chứng tỏ ý thức giác ngộ của giai cấp công nhân tăng, đặt
cơ sở cho các tổ chức, phong trào chính trị về sau.
II. Phong trào công nhân từ 1926-1929.
1.Hoàn cảnh:
Thời kỳ này, có những sự kiện lớn tác động đến phong trào công nhân, tạo
điều kiện cho phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ.
* Thế giới:
- Đại hội quốc tế cộng sản lần thứ V (1924) đã thông qua những nghị quyết quan
trọng về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa.
- Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Trung Quốc phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên,
vụ phản biến của Tưởng Giới Thạch và sự thất bại của công xã Quảng Châu 1927


đã cung cấp những bài học kinh nghiệm về tính hai mặt của giai cấp tư sản và về
vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân trong cách mạng dân tộc dân chủ ở các
nước thuộc địa.
* Trong nước:
- Tháng 6/1925, hội VNCMTN ra đời đã đẩy mạnh hoạt động trong phong trào
công nhân như mở lớp huấn luyện chính trị đào tạo cách bộ cách mạng, ra báo
thanh niên, xuất bản tác phẩm “đường kách mệnh”, đã thúc đẩy phong trào công
nhân Việt Nam phát triển mạnh mẽ, làm chủ nghĩa Mác – Lê nin được truyền bá
mạnh mẽ vào phong trào công nhân.
- Đặc biệt từ năm 1928, phong trào vô sản hoá của HVNCMTN và Tân Việt cách
mạng Đảng đã có tác dụng nâng cao nhanh chóng ý thức giác ngộ và lập trường
cách mạng của giai cấp công nhân, thúc đẩy phong trào công nhân phát triển nhanh
cả về số lượng và chất lượng.
- Xuất phát từ truyền thống yêu nước.
2. Phong trào đấu tranh .
- Trong 2 năm 1926 - 1927, đã liên tiếp bùng nổ 27 cuộc bãi công của công nhân.
Trong đó lớn nhất là cuộc bãi công của 1000 công nhân nhà máy sợi nam Định,
của 500 công nhân đồn điền cao su Cam Tiêm.
- Năm 1928, hội Việt Nam cách mạng thanh niên có chủ trương vô sản hóa, nhiều
cán bộ của hội đã đI vào các nhà máy xí nghiệp hầm mỏ, đồn điền cùng sinh hoạt
và làm việc với công nhân để truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê nin vào phong trào
công nhân, tuyên truyền vận động ý thức chính trị cho công nhân. Nhờ vậy, phong
trào công nhân phát triển mạnh mẽ, trở thành nòng cốt phong trào dân tộc dân chủ
trong cả nước.
- Trong 2 năm 1928-1929, đã có 40 cuộc đấu tranh của công nhân. Tiêu biểu như:
Bãi công của công nhân nhà máy Xi măng Hải Phòng, sợi Nam Định, nhà máy
Diêm, nhà máy Cưa Bến Thuỷ, nhà máy AVIA (Hà Nội).


- Phong trào công nhân đã mang tính thống nhất trong toàn quốc, mang tính chính
trị. Các phong trào đấu tranh không chỉ giới hạn trong một nhà máy, một địa
phương, một nghành mà bắt đầu có sự liên kết thành phong trào chung.
+ Tháng 5/1929, công nhân sửa chữa AVIA (hà Nội) dưới sự lãnh đạo của kỳ bộ
hội VNCMTN và chi bộ công sản đầu tiên đã tranh thủ được sự ủng hộ của nhân
dân, công nhân các nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh xung quanh
như : Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định.
+ Các cuộc đấu tranh của công nhân diễn ra sôi nổi hơn, quyết liệt hơn, tính tự phát
phong trào đấu tranh giảm đi, công nhân đấu tranh có ý thức, tổ chức và có quy mô
ngày càng lớn.
+ Tinh thần đoàn kết quốc tế của công nhân được biểu lộ trong các cuộc đấu tranh
nhân kỷ niệm ngày quốc tế lao động (1/5), kỷ niệm cách mạng tháng 10 Nga thành
công(7/11)
- Sự phát triển của phong trào công nhân đã dẫn đến HVNCMTN và Tân Việt cách
mạng Đảng không còn đáp ứng được vai trò lãnh đạo từ đó dẫn đến sự phân hoá,
xuất hiện ba tổ chức cộng sản là: ĐD cộng sản Đảng (6/1929), An Nam cộng sản
Đảng (7/1929), ĐDCSLĐ (9/1929). Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản đánh dấu
bước trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam.
- Sau khi ra đời, ba tổ chức cộng sản nhanh chóng xây dựng cơ sở Đảng trong
nhiều địa phương và trực tiếp lãnh đạo các cuộc đấu tranh của quần chúng, khiến
phong trào cách mạng Việt Nam phát triển mạnh. Nhưng các tổ chức cộng sản đều
hoạt dộng riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng của nhau, thậm trí công kích lẫn nhau
làm cho phong trào cách mạng trong cả nước có nguy cơ bị chia rẽ lớn.
- Trước tình hình đó với cương vị là phái viên của quốc tế cộng sản, Nguyễn ái
Quốc đã chủ động triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản (từ 6/1/1930 –
8/2/1930). Thành công của hội nghị đã dẫn đến sự ra đời ĐCSVN, mốc kết thúc
quá trình phát triển của phong trào công nhân từ tự phát vươn lên tự giác.


III. Vị trí của phong trào công nhân đối với sự thành lập Đảng cộng sản Việt
Nam.
- ĐCSVN ra đời là sự kết hợp của ba yếu tố ( phong trào công nhân, phong trào
yêu nước và chủ nghĩa Mác Lênin). Trong đó phong trào công nhân là một yếu tố
không thể thiếu. Vì: Phong trào công nhân là môi trường thực tiễn để rèn luyện giai
cấp công nhân, qua đấu tranh đấu tranh giai cấp công nhân trưởng thành và đủ sức
lãnh đạo cách mạng.
- Phong trào công nhân là một bộ phận của phong trào yêu nước Việt Nam. Phong
trào công nhân phát triển đã lôi cuốn phong trào yêu nước của các tầng lớp và góp
phần đưa phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản sang lập trường
cách mạng vô sản.
- Phong trào công nhân phát triển mạnh, có ý thức chính trị rõ rệt là nền tảng để
tiếp nhận chủ nghĩa Mác, tiếp nhận lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc của
Nguyễn ái Quốc.
- Phong trào công nhân phát triển đã thúc đẩy nhanh chóng sự ra đời ba tổ chức
cộng sản vào năm 1929 để dẫn đến kết quả tất yếu năm 1930 ĐCSVN ra đời.
VẤN ĐỀ 4. HOẠT ĐỘNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC (1911 – 1930)
A. Kiến thức cơ bản cần nắm
- Học sinh nhận thức được nguyên nhân Nguyễn ái Quốc đi tìm đường cứu nước.
- Những hoạt động cứu nước của Nguyễn ái Quốc từ năm 1911 đến 1930.
- Vai trò của Nguyễn ái Quốc đối với lịch sử dân tộc Việt Nam thời kỳ này
B. Nội dung
1. Nguyên nhân Nguyễn ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước:
-

Đất nước bị xâm lược, giải phóng dân tộc là yêu cầu cấp thiết đối với mọi
người dân Việt Nam:
+ Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta đến năm 1884 chỳng hoàn thành
quỏ Trình xõm lược và đặt ách cai trị lên đất nước ta. Chúng tiến hành khai thác


thuộc địa, bòn rút tài nguyên thiên nhiên, sức lao động của nhân dân ta làm cho
đời sống của nhân dân khổ cực. Xã hội Việt Nam xuất hiện hai mâu thuẫn cơ
bản: Mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp (dân tộc) và mâu
thuẫn giữa nông dân với phong kiến (giai cấp). Lịch sử đòi hỏi cần phải giải
quyết hai mâu thuẫn này, trong đó mâu thuẫn cần giải quyết hàng đầu là mâu
thuẫn dân tộc. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, các tầng lớp và giai cấp
trong xã hội Việt Nam không chỉ bị búc lột về kinh tế mà cũn chịu nỗi nhục mất
nước. Độc lập dân tộc là khát vọng của dân tộc Việt Nam.
+ Mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam ngày càng gay gắt, chủ yếu là mâu thuẫn
giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thưc dân Pháp và tay sai. Nhiệm vụ cứu
nước và giải phóng dân tộc được đặt ra vô cùng cấp thiết.
-

Sự khủng hoảng về đường lối cứu nước, đặt ra yêu cầu phải tìm một con
đường cứu nước mới phù hợp hơn với thực tiễn cách mạng Việt Nam:
+ Cuối thế kỉ XIX: nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp bị đàn áp dó
man. Con đường giải phóng dân tộc theo ngọn cờ phong kiến rơi vào tình trạng
bế tắc, liên tiếp thất bại.
+ Đầu thế kỉ XX: Các sĩ phu yêu nước tiến bộ đó tiếp thu tư tưởng mới, tiến
hành cuôc vận động cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản nhưng cũng
không thành công => sự nghiệp giải phóng dân tộc lâm vào cuộc khủng hoảng
sâu sắc về đường lối. Đặt ra yêu cầu phải tìm một con đường cứu nước mới,
phù hợp hơn với thực tiễn cách mạng Việt Nam.

-

Nguyễn Tất Thành sớm có chí đuổi giặc pháp, giải phóng đồng bào:
+ Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đỡnh nhà nho nghốo yêu
nước, cha là Nguyễn Sinh Sắc, mẹ là Hoàng Thị Loan, trên quê hương Kim
Liên, Nam Đàn, Nghệ An – Một vùng quê có truyền thống đấu tranh bất khuất.
+ Tiếp thu truyền thống yêu nước, đấu tranh bất khuất của gia đỡnh và quờ
hương, Nguyễn Ái Quốc sớm có chí “đuổi thực dân pháp, giải phóng đồng


bào”. Người rất khâm phục tinh thần yêu nước của các vị tiền bối nhưng ko tán
thành con đường của họ vì người đã nhận thấy sự bế tắc của những con đường
ấy nên quyết định ra đi tìm con đường cứu nước mới.
+ Do được tiếp xúc nền văn minh pháp với các khẩu hiệu “tự do - bỡnh đẳng bác ái” nên Nguyễn Ái Quốc quyết định sang phương Tây để “xem nước Pháp và
các nước khác làm thế nào rồi trở về giúp đồng bào, giải phóng dân tộc”
2- Quá trình tìm đường cứu nước đến với chủ nghĩa Mác Lênin (1911-1920)
- Ngày 5/6/1911, NAQ quyết định ra đi tìm đường cứu nước mới. Từ 1911 đến
1917, Người đã đi qua nhiều nước tư bản, đế quốc, thuộc địa và phụ thuộc ở châu
á, Châu Âu, chấu Phi, Châu Mĩ làm nhiều nghề khác nhau để kiếm sống và học
tập. Do được đi, được sống gần gũi với nhiều người lao động ở châu lục, Người đã
hiểu rõ sự tàn bạo của đế quốc, thực dân và nguyện vọng khát khao muốn được độc
lập, tự do của các dân tộc bị áp bức. Chủ nghĩa đế quốc giống như con đỉa hai vòi,
một vòi bám vào hút máu nhân dân chính quốc, một vòi bám vào hút máu nhân dân
thuộc địa.
- Năm 1917, Nguyễn ái Quốc từ Anh trở lại nước Pháp, tại đây Người đã tích cực
hoạt động trong các phong trào đấu tranh của công nhân Pháp. Hoạt động trong hội
những người Việt Nam yêu nước tại Pháp.
- Năm 1919, NAQ ra nhập Đảng xã hội Pháp. Đây là tổ chức chính trị duy nhất ở
Pháp theo đuổi lý tưởng của đại cách mạng Pháp là: tự do, bình đẳng, bác ái và đấu
tranh vì quyền lợi cho các nước thuộc địa.
- Ngày 18/6/1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Tất
Thành với tên gọi mới là Nguyễn ái Quốc gửi đến hội nghị Véc xai Bản yêu sách
của nhân dân An Nam”
+ Bản yêu sách đòi chính phủ Pháp và các nước đồng minh thừa nhận các quyền tự
do dân chủ quyền bình đẳng và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam.


+ Bản yêu sách không được chấp nhận, từ đây Người đã rút ra bài học “muốn
được giải phóng các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào lực lượng của bản thân
mình.
- Năm 1920, Nguyễn ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác Lê nin và chính thức tìm ra
con đường cứu nước:
+ Giữa tháng 7/1920, NAQ đọc bản “sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn
đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lê nin, đăng trên báo nhân đạo của Đảng xã
hội Pháp. Luận cương của Lênin đã giúp cho NAQ khẳng định con đường giành
độc lập và tự do của nhân dân Việt Nam: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc
phải đi theo con đường cách mạng vô sản.
+ Ngày 25/12/1920, NAQ tham dự đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII của
Đảng xã hội Pháp họp tại thành phố Tua. Người đã bỏ phiếu tán thành ra nhập
quốc tế cộng sản và thành lập Đảng cộng sản Pháp. Như vậy, NAQ trở thành Đảng
viên cộng sản, đồng thời là một trong những người tham gia thành lập Đảng cộng
sản Pháp.
Sự kiện này có nghĩa quan trọng đối với NAQ và với cách mạng Việt nam:
+ Giúp tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho Việt Nam, đó là con đường
cách mạng vô sản. Bước đầu giảI quyết được sự khủng hoảng về đường lối cách
mạng Việt Nam.
+ Đánh dấu bước ngoặt, quá trình chuyển biến của NAQ: Từ lập trường yêu
nước chuyển sang lập trường cộng sản.
II. NAQ hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác Lê nin, chuẩn bị về tư tưởng,
chính trị và tổ chức cho việc thành lập ĐCSVN (1921 - 1930)
1.Thời kỳ từ 1920 đến giữa 1923 (tại Pháp).
- Năm 1921, NAQ cùng một số người yêu nước của Angiêri, Marốc, Tuyniri
lập ra hội liên hiệp thuộc địa ở Pari.


+ Mục đích: Tập hợp những người dân thuộc địa sống trên đất Pháp cho cuộc đấu
tranh chống chủ nghĩa thực dân.
+ Cơ quan ngôn luận của hội là báo Người cùng khổ do Nguyễn ái Quốc làm chủ
nhiệm kiêm chủ bút.
- NAQ còn viết bài cho các báo nhân đạo (của ĐCS Pháp), đời sống công nhân
( của tổng liên đoàn lao động Pháp).
- Đặc biệt, Người viết tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp xuất bản ở Paris
năm 1925. Những tờ báo tiến bộ này đã được bí mật chuyển về nước và được
truyền tay cho nhiều người cùng đọc.
- Tác dụng:
+ Đây là bước chuẩn bị đầu tiên về tư tưởng, chính trị cho sự thành lập ĐCS Việt
Nam.
2.Thời kỳ từ giữa 1923 đến cuối 1924 ( ở Liên Xô).
- Tháng 6/1923, NAQ bí mật rời nước Pháp sang Liên Xô, tại đây Người tích cực
hoạt động:
+ Tháng 10/1923, NAQ dự hội nghị quốc tế nông dân và được bầu vào ban chấp
hành của hội.
+ Vừa nghiên cứu, học tập, vừa viết bài cho báo sự thật sự thật của ĐCS Liên Xô,
tạp chí thư tín quốc tế của quốc tế cộng sản.
+ Năm 1924, tại đại hội quốc tế cộng sản lần thứ V, NAQ đã trình bày quan điểm,
lập trường của mình về vị chí chiến lược của cách mạng các nước thuộc địa, về
mối quan hệ giữa phong trào công nhân ở các nước đế quốc với phong trào cách
mạng ở các nước thuộc địa, về vai trò và sức mạnh to lớn của giai cấp nông nhân ở
các nước thuộc địa.
- Tác dụng:


+ Đây là thời kỳ NAQ tiếp tục phát triển và hoàn thiện thêm về tư tưởng cách
mạng giải phóng dân tộc thông qua hoạt động thực tiễn của nước XHCN đầu tiên
trên thế giới và thông qua nghiên cứu sách báo Macxít.
+ NAQ có công lớn trong việc xây dựng, củng cố mối quan hệ chặt chẽ giữa
cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới.
3.Thời kỳ từ cuối 1924 đến giữa 1927 ( ở Trung Quốc)
- Ngày 11/11/1924, NAQ đến Quảng Châu(TQ) để trực tiếp đào tạo cán bộ, xây
dựng tổ chức cách mạng, truyền bá lý luận cách mạng giải phóng dân tộc vào Việt
Nam. Cụ thể:
+ NAQ mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ, đa số học viên là thanh niên học sinh,
trí thức VN yêu nước. Phần lớn số học viên đó sau khi học xong “bí mật về nước
truyền bá lý luận giải phóng dân tộc và tổ chức nhân dân”. Một số người được cử
sang học tại trường đại học Phương Đông ở Mátxcơva (LX) hoặc trường quân sự
Hoàng Phố (TQ).
+ Tháng 2/1925, NAQ lựa chọn một số thanh niên tích cực trong “tâm tâm xã” để
lập ra cộng sản đoàn.
+ Tháng 6/1925, trên cơ sở “cộng sản đoàn”, NAQ lập hội VNCMTN. Nhằm “tổ
chức và lãnh đạo quần chúng đoàn kết, tranh đấu để đánh đổ đế quốc Pháp và tai
sai để tự cứu lấy mình”.
+ Báo Thanh niên của Hội do Nguyễn ái Quốc sáng lập ra số đầu tiên ngày
21/6/1925.
+ Đầu 1927 xuất bản tác phẩm “Đường kách mệnh”, gồm những bài giảng của
Nguyễn ái Quốc ở các lớp huấn luyện tai Quảng Châu.
+Từ cuối 1928, hội VNCMTN chủ trương thực hiện phong trào “vô sản hoá”, đưa
các hội viên bí mật về nước đi vào các nhà máy, hầm mỏ cugnf sinh hoạt và lao
động với công nhân để tuyên truyền, vận động cách mạng, nâng cao ý thức chính
trị cho giai cấp công nhân  khiến phong trào quần chúng phát triển mạnh mẽ.


- Tác dụng:
Những hoạt động của NAQ ở TQ là bước chuẩn bị trực tiếp về tư tưởng, chính trị,
và tổ chức cho việc thành lập ĐCS ở Việt Nam.
4. Thời kỳ từ giữa 1927 đến 1930.
- Tháng 4/1927, NAQ rời Quảng Châu trở lại Liên Xô, tiếp tục hoạt động trong
quốc tế cộng sản, thành lập ĐCSVN vào đầu 1930.
-Với hoạt động mạnh mẽ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, đặc biệt từ năm
1928, Hội có chủ trương vô sản hóa.Cụ thể: Các cán bộ của Hội đã đI vào các nhà
máy, xí nghiệp để cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc nhằm truyền bá chủ nghĩa mác
Lê nin vào công nhân. Nhờ vậy phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ trở thành
nòng cốt trong phong trào đấu tranh.
- Đến cuối 1929, với sự xuất hiện và hoạt động của ba tổ chức cộng sản: Đông
Dương cộng sản Đảng, An Nam cộng sản Đảng, Đông Dương cộng sản liên đoàn
khiến phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam phát
triển sôi nổi. Tuy nhiên, sự hoạt động riêng rẽ của ba tổ chức cộng sản ở ba kì cùng
những đố kỵ tranh giành Đảng viên, quần chúng... đã ảnh hưởng không tốt tới
phong trào cách mạng. Dẫn đến yêu cầu cấp thiết lúc đó là phải thống nhất các tổ
chức cộng sản thành một đảng duy nhất để lãnh đạo phong trào đấu tranh.
- Trước tình hình đó NAQ với cương vị là phái viên của quốc tế cộng sản đã chủ
động triệu tập hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản ( từ 6/1/1930 đến 8/2/1930)
tại Cửu Long ( Hương Cảng- Trung Quốc) thành một đảng duy nhất là ĐCSVN.
Hội nghị đã thông qua chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt do Người soạn thảo.
Đây chính là cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã vạch ra đường lới đúng
dắn, sáng tạo cho cách mạng Việt Nam.
VẤN ĐỀ 5. SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BA TỔ CHỨC CÁCH
MẠNG (1925 – 1929)
A. Kiến thức cơ bản cần nắm


- Học sinh nhận thức được sự ra đời, hoạt động và vai trò của hội Việt Nam cách
mạng thanh niên đối với cách mạng Việt Nam.
- Sự ra đời, hoạt động và ý nghĩa của tân Việt đối với cách mạng Việt nam.
- Sự ra đời, hoạt động và ý nghĩa của Việt Nam quốc dân Đảng đối với cách mạng
nước ta.
B. Nội dung
I- Hội Việt Nam cách mạng thanh niên.
1. Sự ra đời.
- Ngày 11/11/1924, sau khi rời Liên Xô về Trung Quốc, NAQ đã mở lớp huấn
luyện, đào tạo cán bộ. Phần lớn số học viên sau khi học xong “bí mật về nước
truyền bá lý luận giải phóng dân tộc và tổ chức nhân dân”. Một số người được cử
sang học tại trường đại học phương Đông ở Mát xcơva (LX) hoặc trường quân sự
Hoàng Phố (TQ).
- Tháng 2/1925, NAQ lựa chọn một số thanh niên tích cực trong tâm tâm xã để tổ
chức thành nhóm cộng sản đoàn.
- Tháng 6/1925, NAQ thành lập hội VNCMTN.
2. Mục đích:
Nhằm : “tổ chức và lãnh đạo quần chúng đoàn kết lại để đánh đổ đế quốc
chủ nghĩa Pháp và tay sai để tự cứu lấy mình”.
3. Tổ chức:
- Hội có 5 cấp: Tổng bộ, kỳ bộ, tỉnh bộ, huyện bộ và chi bộ. Cơ quan lãnh đạo
cao nhất là Tổng bộ. Trụ sở của Tổng bộ đặt ở Quảng Châu (TQ).
- Địa bàn hoạt động ở cả ba miền Bắc Kì, Trung Kì và Nam Kì.
4. Hoạt động:
- Hoạt động quan trọng của hội là mở các lớp huấn luyện chính trị, đào tạo cán bộ
tại Quảng Châu. Từ 1925-1927, NAQ trực tiếp giảng dạy ở các lớp huấn luyện này,
đã đào tạo được 75 hội viên. Một số hội viên xuất sắc được chọn di học ở đại học


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×