Tải bản đầy đủ

Nhân vật người phụ nữ mường trong truyện ngắn của hà thị cẩm anh

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NÔNG THỊ THUÝ HƯƠNG

NHÂN VẬT NGƯỜI PHỤ NỮ MƯỜNG TRONG
TRUYỆN NGẮN CỦA HÀ THỊ CẨM ANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thái Nguyên - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NÔNG THỊ THUÝ HƯƠNG

NHÂN VẬT NGƯỜI PHỤ NỮ MƯỜNG TRONG
TRUYỆN NGẮN CỦA HÀ THỊ CẨM ANH


Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 82 20 121

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Việt Trung

Thái Nguyên - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Các nội dung
nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một
công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Nông Thị Thuý Hương

i


LỜI CẢM ƠN
Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn
PGS.TS Trần Thị Việt Trung, người đã tận tình, chu đáo, trách nhiệm hướng dẫn
và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ
văn, khoa Sau đại học, cán bộ phòng Quản lí khoa học trường Đại học sư phạm - Đại
học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong cả quá trình học tập và
nghiên cứu tại trường.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, động viên,
giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2018
Tác giả luận văn

Nông Thị Thuý Hương

ii



MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ

Lời cam đoan ..................................................................................................... i
Lời

cảm

ơn

.......................................................................................................ii Mục lục
...........................................................................................................iii

MỞ

ĐẦU ......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề .............................................................................................. 2
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................ 8
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.................................................................................... 9
5. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 9
6. Đóng góp của luận văn ................................................................................. 9
7. Cấu trúc của luận văn.................................................................................. 10
NỘI DUNG .................................................................................................... 11
Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ VĂN XUÔI DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT
NAM HIỆN ĐẠI VÀ NỮ NHÀ VĂN DÂN TỘC MƯỜNG HÀ THỊ
CẨM ANH .................................................................................................... 11
1.1. Vài nét khái quát về văn xuôi dân tộc thiểu số thời kỳ hiện đại ................ 11
1.2. Nữ nhà văn dân tộc Mường Hà Thị Cẩm Anh .......................................... 19
*Tiểu kết chương 1 ......................................................................................... 26
Chương 2. NGƯỜI PHỤ NỮ MƯỜNG - NHÂN VẬT TRUNG TÂM
TRONG SÁNG TÁC CỦA HÀ THỊ CẨM ANH ........................................ 27
2.1. Nhân vật trung tâm trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh ......................... 27
2.1.1 Khái niệm “nhân vật”............................................................................. 27
2.1.2 Nhân vật trung tâm – người phụ nữ Mường trong sáng tác của Hà Thị
Cẩm Anh ......................................................................................................... 27
3


2.2 Những nhân vật phụ nữ với vẻ đẹp truyền thống mang đậm bản sắc
văn hoá Mường.............................................................................................. 29
2.2.1 Vẻ đẹp về ngoại hình ............................................................................. 29
2.2.2 Vẻ đẹp nội tâm - thứ nhan sắc vững bền của người phụ nữ xứ Mường.. 35
2.3. Những thân phận, những bi kịch cá nhân của những người phụ nữ
Mường trong cuộc sống thời kỳ hiện đại........................................................ 41
* Tiểu kết chương 2 ........................................................................................ 55
Chương 3. MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU
TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT
NGƯỜI PHỤ NỮ .......................................................................................... 57
3.1 Nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật và ngôn ngữ nhân vật ................. 57
3.1.1 Nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật ................................................. 57
3.1.2 Ngôn ngữ nhân vật ................................................................................. 62
3.2 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện và tình huống truyện .............................. 68
3.2.1. Nghệ thuật xây dựng cốt truyện ............................................................ 68
3.2.2. Nghệ thuật tạo dựng tình huống truyện ................................................. 79
* Tiểu kết chương 3 ........................................................................................ 88
KẾT LUẬN ................................................................................................... 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 92
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Văn học dân tộc thiểu số (DTTS) là một bộ phận quan trọng của văn học
Việt Nam một nền văn học phong phú và giàu bản sắc. Trong diện mạo của nền văn
xuôi Việt Nam hiện đại thì văn xuôi các DTTS có một vẻ đẹp riêng, sắc thái riêng.
Các nhà văn DTTS đã luôn có ý thức tạo nên một tiếng nói văn chương của chính dân
tộc mình trên cơ sở luôn hướng ngòi bút của mình và việc phản ánh cuộc sống, con
người và hiện thực miền núi một cách say sưa và tự hào. Những sáng tác của họ là
những tấm gương phản chiếu vẻ đẹp bản sắc văn hoá của dân tộc mình, gương mặt
con người và thiên nhiên miền núi của mình. Nghiên cứu các tác phẩm của các nhà
văn như: Bàn Tài Đoàn, Nông Minh Châu, Triều Ân, Vi Hồng, Vi Thị Kim Bình, Y
Điêng, Mã A Lềnh, La Quán Miên, Inrasara, Y Phương, Lò Ngân Sủn, Cao Duy Sơn,
Hà Lâm Kỳ, Hlinh Niê, Niê Thanh Mai, Bùi Thị Như Lan...v.v…chúng ta đều thấy
được vẻ đặc trưng của tâm hồn, tính cách của người miền núi nói chung, của từng dân
tộc nói riêng. Bên cạnh các nhà văn dân tộc thiểu số có tên tuổi thì ta không thể
không nhắc đến Hà Thị Cẩm Anh - một cây bút văn xuôi tiêu biểu của xứ Mườn - đặc
biệt là trong khoảng thời gian 20 năm trở lại đây.
1.2. Những sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh đã góp phần vào sự phát triển của
văn xuôi DTTS trong thời kỳ Đổi Mới - với một phong cách riêng mang đậm bản sắc
văn hóa Mường. Bản sắc Mường được thể hiện trong những trang viết của Hà Thị
Cẩm Anh ở cảm hứng viết về thiên nhiên, con người và những phong tục tập quán
của dân tộc Mường cùng cuộc sống của cộng đồng Mường thời kỳ hiện đại. Nhà văn
đã thổi hồn dân tộc vào trang viết của mình nhờ việc sử dụng ngôn ngữ mang đậm
bản sắc Mường, những câu văn mang âm hưởng sử thi, những câu chuyện cổ dân gian
Mường và một thế giới nhân vật phong phú, đa dạng trong cộng đồng Mường, góp
phần tạo nên nét độc đáo riêng cho văn xuôi các DTTS Việt Nam. Đặc biệt trong thế
giới nhân vật của nhà văn nổi bật lên là hình tượng nhân vật người phụ nữ dân tộc
Mường. Đây là một hình tượng nghệ thuật tiêu biểu, có vai trò quan trọng trong sáng
tác của bà, thể hiện rõ tư tưởng nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của nữ nhà văn.
Do đó, nghiên cứu về nhân vật người phụ nữ Mường trong truyện ngắn của Hà Thị
Cẩm Anh cũng chính là đã đi vào nghiên
1


cứu phần cơ bản nhất trong các tác phẩm của nhà văn; nghiên cứu những mặt sáng
tạo, mặt thành công (cũng như hạn chế) trong quá trình sáng tác của bà. Đồng thời,
qua đó cũng thấy được rất rõ những quan niệm rất truyền thống nhưng cũng rất hiện
đại và mới mẻ của bà trong quan niệm về con người, về cuộc sống và việc phản ánh
hiện thực một cách đa chiều, đa góc cạnh của bà trong tác phẩm.
1.3 Nghiên cứu về nhân vật người phụ nữ Mường trong các sáng tác của Hà
Thị Cẩm Anh là một việc làm có ý nghĩa thực tiễn. Bởi nó sẽ góp phần vào việc
nghiên cứu về văn chương các dân tộc thiểu số Việt nam hiện đại nói chung và góp
phần nghiên cứu về chân dung con người dân tộc thiểu số nói riêng – thông qua nhân
vật người phụ nữ - những người luôn gìn giữ những nét đẹp của bản sắc văn hoá dân
tộc, nhưng cũng là những người chịu tác động nhiều nhất của những mặt tốt đẹp,
thuận lợi cũng như mặt lạc hậu, tiêu cực của xã hội từ xưa cho tới nay. Thông qua
đó, chỉ ra những sáng tạo, những cái mới trong việc phản ánh nội dung cũng như
trong nghệ thuật viết truyện của nữ nhà văn dân tộc Mường này; cũng như sự thể hiện
quan điểm nghệ thuật của tác giả về việc phản ánh con người và hiện thực vào trong
các sáng tác của mình thời kỳ Đổi Mới.
1.4 Bản thân tôi là người con của dân tộc Tày, là một giáo viên giảng dạy Ngữ
văn của trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc, một trường dân tộc miền núi có nhiệm
vụ đào tạo con em các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc, chúng tôi muốn
nghiên cứu về văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và nghiên cứu về hình
tượng nhân vật người phụ nữ Mường trong truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh nói
riêng - nhằm góp phần khẳng định những vẻ đẹp truyền thống cũng như vẻ đẹp hiện
đại của con người dân tộc thiểu số ngày nay, cùng những thách thức khó khăn mà họ
phải đối mặt, nhằm giáo dục các thế hệ học sinh người dân tộc thiểu số luôn biết trân
trọng, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước.
Từ những lý do trên, cùng với niềm yêu thích say mê các sáng tác của Hà Thị
Cẩm Anh - tôi mạnh dạn lựa chọn vấn đề “Nhân vật người phụ nữ Mường trong
truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Trong đội ngũ các nhà văn dân tộc thiểu số với các tên tuổi quen thuộc như:

2


Nông Minh châu, Vi Hồng, Vi Thị Kim Bình, Ma Trường Nguyên, Cao Duy Sơn,
Mã A Lềnh, Inrasara, La Quán Miên, Đoàn Ngọc Minh…thì Hà Thị Cẩm Anh - nhà
văn dân tộc Mường trong 20 năm trở lại đây đã gặt hái được khá nhiều thành công,
nhưng cũng lặng lẽ khiêm nhường như bà - văn chương của bà vẫn còn như là một
“mảnh trời riêng” chưa được nhiều người chú ý nghiên cứu, đánh giá. Tên tuổi và
sự nghiệp của bà chủ yếu mới chỉ được một số nhà văn, nhà phê bình đề cập đến
trong một số bài báo, hoặc trong lời giới thiệu, lời tựa các tập truyện ngắn của nhà
văn khi ra mắt hoặc được nhắc tới trong các công trình nghiên cứu chung về văn
xuôi DTTS. Cho tới nay chúng tôi mới thông kê một số bài viết đề cập trực tiếp đến
sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh trong đó có nhắc tới những nhân vật người phụ nữ
trong sáng tác của bà.
2.1. Những ý kiến chung về sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh
Hà Thị Cẩm Anh được biết đến với cái tên “Nhà văn của thung lũng Si Dồ” bởi
hầu hết các sáng tác của bà đều gắn với không gian của Mường Dồ, Mường Danh,
Mường Phấm. Đó là tên đất, tên rừng nơi nhà văn sinh ra và lớn lên. Vì thế trong bài
viết Đọc truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh, Đỗ Đức đã khẳng định: “Hà Thị Cẩm
Anh, chị người Mường. Mảnh đất chị chọn cho cho văn chương là Mường Vang, là
làng Chiềng, là thung lũng Si Dồ - Xứ Thanh” [13]. Còn tác giả Nguyên Tĩnh trong
bài Hà Thị Cẩm Anh và thung lũng Si Dồ thì cho rằng Hà Thị Cẩm Anh đã tìm thấy
“cái Mường trong văn học” rất riêng :“Có một thung lũng Sì Dồ trong tác phẩm của
Hà Thị Cẩm Anh đang rõ nét được khắc họa. Nó là hình bóng quê nhà bản Mường
mà nhà văn gửi gắm. Là những câu chuyện của trai Mường yêu gái Mường gặp bao
trắc trở phản bội nhưng vượt lên số phận để có tình yêu hồn hậu thủy chung của
người Mường. Hà Thị Cẩm Anh đã có thung lũng Sì Dổ trong tác phẩm của mình đó
là quê hương không có ở ngoài đời” [44]. Từ tình yêu với mảnh đất xứ Mường nhà
văn đã trải lòng: “Tôi buâng khuâng đi giữa đất Mường ở thung lũng Si Dồ với các
truyện ngắn: Đêm tháng tám. Ngôi nhà sàn cũ kỹ. Đêm khua luông dành cho người
chết. Cây gội già tàn tật. Thằng Chinh ngốc. Chuyện xưa... cùng với sự phập phồng,
niềm vui và nỗi buồn của tác giả với cuộc đời” [13]. Từ sự trải lòng ấy nhiều tập
truyện ngắn được ra đời. Đọc các tác phẩm của nhà văn và cảm nhận thấy các truyện
ngắn được viết nên
3


thật tự nhiên - như hơi thở - như là chính cuộc sống vậy. Như nhận xét về tập truyện
ngắn Nước mắt của đá, Lã Thanh Tùng cho rằng: “Trên tay các bạn đang là máu thịt
chị, bảy truyện ngắn tròn trịa, ấm nóng, bảy tiếng thở dài và bảy bài ca u buồn…Bảy
truyện ngắn trong tập Nước mắt của đá giống như bảy chú lùn siêng năng kết đoàn
cùng xây đắp một tổ ấm ngăn nắp mời gọi, để mỗi độc giả khi lạc vào có thể tự
mình thể nghiệm một vai Bạch Tuyết ê chề mà hạnh phúc” [44].
Còn trong bài viết Văn học hiện đại dân tộc Mường: những khuôn mặt thì
tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền lại khẳng định sức sáng tạo bất ngờ và mạnh mẽ, dữ dội
của Hà Thị Cẩm Anh: “Ở tuổi 16, chị đã có Thím cò khoai gây dư luận văn chương
tỉnh Thanh, có mặt trong nhóm văn học Ngọc Trạo miền Tây Thanh Hóa. Bẵng đi
thời gian dài vì sự vất vả của cuộc sống chị không viết. Năm 1998, Hà Thị Cẩm Anh
cầm bút trở lại và lần này thì quyết liệt. Có ai ngờ người phụ nữ đã bước vào tuổi
“lục thập hoa giáp” lại có một trận maratông trong văn chương và gây bất ngờ như
vậy. Những gì chất chứa trong con người chị đã bung như nham thạch núi lửa tuôn
trào. Chị viết liên tục, sôi động và trầm lắng những gì đã quan sát, trải nghiệm, để
những Đêm Khua Luống dành cho người chết, Ngôi nhà sàn cũ kĩ, Gốc gội xù
xì…để lại nhiều dư ba trong bạn đọc” [16].
Có thể thấy bằng tình yêu, sự gắn bó với quê hương, với vùng đất xứ Ba
Mường nhà văn Hà Thi Cẩm Anh đã tạo được tiếng nói riêng cho văn chương của
mình một cách đáng tự hào. Như tác giả Thy Lan khi đọc tập truyện ngắn Một nửa
người đàn bà của Hà Thị Cẩm Anh đã nói rằng :“Văn chương chị trong trẻo, tự
nhiên như nước suối, lại phong phú mượt mà như lá rừng, dung dị như nhà sàn, bếp
lửa, đôi khi cũng dữ dội như suối dâng, thác đổ và trần trụi, hoang dã như cây cổ
thụ ngàn năm. Đọc truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh ta có được cái say của hương rượu
cần, ta nhìn thấy cái bảng lảng của gió thổi, mây bay, cái trùng điệp và vững trãi
của núi cao, rừng rậm” [23]. Đúng là như vậy:“Chín truyện ngắn của Hà Thị Cẩm
Anh trong tập Một nửa của người đàn bà là chín cung bậc tình yêu núi rừng, yêu con
người. Nhà văn đã phóng bút bằng tâm hồn, ký ức và trải nhiệm” [23].
Trong bài viết Hà Thị Cẩm Anh với những chuyện ở thung lũng Si Dồ của
PGS. TS Hoả Diệu Thuý đã nhận định: “Người con của xứ sở mụ Dạ Dần của ậu mo,

4


của Xường của Rang cũng đã gánh vác sứ mệnh mà tổ tiên và cội nguồn giao phó.
Đó là phô diễn vẻ đẹp của sức sống quê hương bằng những tác phẩm văn chương”
[47]. Ngay từ những tác phẩm đầu tay của mình nhà văn Hà Thị Cẩm Anh đã để lại
ấn tượng sâu sắc về không gian, thời gian, con người vùng đất xứ Mường, để những
chất men làm say lòng người cứ thể ngầm dần, ngấm dần vào những ai đang bước
vào nơi ấy. Với những dòng chữ, những câu văn giản dị nhưng lại để lại ấn tượng
khó phai trong lòng người đọc.
Và trong luận văn Cảm hứng về vẻ đẹp dân tộc Mường trong sáng tác của
Hà Thị Cẩm Anh Nguyễn Thị Bích Dậu đã viết: “Có thể nói các sáng tác của Hà
Thị Cẩm Anh đậm đà bản sắc văn hoá Mường. Những trang viết của nhà văn chan
chứa nỗi niềm đối với mảnh đất quê hương. Tuy bây giờ Hà Thị Cẩm Anh đã sống ở
thành phố nhưng mảnh đất xứ Mường vẫn gắn bó máu thịt với nhà văn. Hình bóng
của quê hương bản Mường in dấu trong tuổi thơ của tác giả ngày nào vẫn hiện lên
tươi nguyên chất sống. Phải nặng tình với quê hương sâu sắc đến mức nào thì trang
viết của nhà văn mới đằm sâu tình cảm đến thế khi viết về cuộc sống, con người và
thiên nhiên xứ Mường Thanh Hoá ” [12].
2.2. Những ý kiến về nhân vật người phụ nữ trong truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh
Từ tình yêu thiết tha, gắn bó với con người, mảnh đất xứ Mường của nhà văn
Hà Thị Cẩm Anh ta thấy trong các sáng tác của bà đều viết về cuộc đời, số phận, của
những người phụ nữ với bao mảnh đời khác nhau. Điều đó khiến cho người đọc phải
trăn trở, suy nghĩ, xót xa, cảm thương khi tìm hiểu về những nhân vật nữ trong sáng
tác của bà.
Với sự xúc động sâu sắc, sự cảm nhận tinh tế cùng thái độ trân trọng, những
câu chuyện, những tác phẩm viết về thân phận người phụ nữ Mường của nhà văn Hà
Thị Cẩm Anh - PGS.TS Trần Thị Việt Trung trong bài viết Đau đáu nỗi niềm về
thân phận người phụ nữ Mường trong truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh đã bộc lộ
tình cảm, cảm xúc mạnh mẽ, mãnh liệt của mình: “Trái tim tôi như bị bóp nghẹt, thổn
thức và buốt nhói khi đọc những tác phẩm viết về thân phận của những người phụ nữ
Mường ở thung lũng Si Dồ của chị. Hiếm có một nữ nhà văn nào lại trung thành đến
thế, thủy chung đến thế, yêu thương, thiết tha và trăn trở, xót xa đến thế với mảnh đất

5


xứ Mường, với những thân phận của những phụ nữ xứ Mường như chị” [51, tr.253].
Đó chính là sự yêu mến, trân trọng và cảm phục đối với nữ nhà văn dân tộc Mường
viết về mảnh đời bất hạnh, những số phận éo le và nghiệt ngã của những người phụ
nữ của mình. Cũng chính vì vậy, trong bài Người phụ nữ trong xã hội hiện đại qua
những trang văn nữ tác giả Đỗ Ngọc Yên đã khẳng định: “Có đọc những trang văn
do chính chị em viết về giới của mình mới tận thấu hiểu hết nỗi cùng cực đến ê chề
của người phụ nữ Việt Nam, mà nhiều khi cánh mày râu rất khó cảm nhận một cách
vừa tinh tế, vừa sâu sắc đến như vậy” [53]. Ta thấy được rất rõ điều này trong các
truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh khi viết về hình tượng người phụ nữ Mường vì họ
là những nhân vật chính, nhân vật trung tâm trong các tác phẩm của nhà văn. Hình
ảnh người phụ nữ Mường được hiện lên với vẻ đẹp về ngoại hình, nội tâm. Đặc biệt
là vẻ đẹp nội tâm của người phụ nữ Mường trong bài viết: Những mạnh nguồn cảm
hứng mang đậm bản sắc văn hoá Mường trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh
được tác giả Đào Thuỷ Nguyên và Nguyễn Thị Bích Dậu ngợi ca, khẳng định: “Với
người Mường lòng thuỷ chung còn là lẽ sống, niềm tin, là điểm tựa để người phụ nữ
Mường vượt qua bao chông gai, thử thách, tiếp tục sống và vươn lên” [50,tr.432].
Còn tác giả Nguyễn Thị Bích Dậu lại viết : “ Ta không chỉ xót xa cho số phận
bất hạnh của những người phụ nữ mà hơn thế còn cảm phục trước sức sống mãnh
liệt, dẻo dai của họ. Giống như nước suối rừng không bao giờ cạn, cây rừng không
thể bị quật ngã trước những cơn bão táp thì người phụ nữ Mường cũng đứng vững
trước mọi giông tố của cuộc đời” [12]. Đó là cách sống của người phụ nữ trong sáng
tác của Hà Thị Cẩm Anh, họ sống với bề ngoài như chiếc bóng, nhưng thực ra họ
đang âm thầm hi sinh cho gia đình, cho những người yêu thương xung quanh họ.Vì
họ luôn đứng dậy bằng sức mạnh niềm tin, hy vọng của chính mình.
Trong bài viết Mùa xuân trong văn xuôi các dân tộc thiểu số, tác giả Vi Anh
đã khẳng định : “Giải vía nói đến nỗi vất vả của một nữ kiểm lâm viên với những tình
tiết gây xúc động. Truyện kết thúc vào những ngày sắp sang xuân cũng là lúc xua đi
những buồn đau của quá khứ, cô tìm được hạnh phúc của đời mình với người đàn
ông đã nhẫn nại đợi chờ” [9]. Mỗi nhân vật nữ trong truyện ngắn của Hà Thị Cẩm
Anh dù phải trải qua những cảnh ngộ, hoàn cảnh éo leo trong cuộc sống nhưng cuối

6


cùng hạnh phúc cũng đến với họ “Đọc Cây gội già tàn tật, người đọc không thể
không xót xa cho hoàn cảnh của người con gái khi sinh ra lại mang một khuôn mặt dị
dạng. Cả Mường Vang khiếp sợ mỗi khi nhìn thấy cô. Vì thế, cô đã bỏ vào rừng và
tìm thấy sự đồng cảm với cây gội già tàn tật. Kết thúc truyện có hậu là phần thưởng
ngọt ngào của cổ tích giữa đời thường khi cô được đón nhận tình yêu của một chàng
trai Mường tốt và có một gia đình hạnh phúc” [12,tr.46].
Trong cuốn sách Nghiên cứu, phê bình về văn học dân tộc thiểu số tác giả
Trần Thị Việt Trung đã khẳng định :“Trong tất cả các sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh
chị đều viết về người phụ nữ với những mảnh đời, thân phận, hoàn cảnh khác nhau.
Dưới ngòi bút của chị hình ảnh người phụ nữ Mường hiện lên với vẻ đẹp tự nhiên,
tươi tốt, rực rỡ, đầy tính phồn thực, đầy khả năng làm vợ, làm mẹ, làm chủ các "bếp"
trong Mường... của những cô gái Mường xinh đẹp, duyên dáng, khỏe mạnh. Họ
không những chỉ có vẻ đẹp ở hình thức bên ngoài, mà chủ yếu tác giả luôn nhấn
mạnh ở họ là vẻ đẹp bên trong: Cái duyên thầm, sự đảm đang, khéo léo, đặc biệt là
đức vị tha, đức hy sinh hết mình của họ đối với những người thân yêu trong gia đình,
đối với làng bản, với quê hương, với rừng núi thân thương. Họ là những người luôn
chịu thiệt thòi trong cuộc sống. Đặc biệt nhân vật nữ trong sáng tác của Hà Thị Cẩm
Anh luôn có một sức sống mãnh liệt như loài hoa hướng dương luôn hướng về phía
mặt trời - cho dù có bị đè nén, bị vùi dập, bị oan ức, đày ải tới mức nào đi chăng
nữa” [51, tr.255]. Bài viết này đã khẳng định vẻ đẹp của người phụ nữ Mường –
những người phụ nữ đẹp cả về ngoại hình lẫn tính cách được nhà văn Hà Thị Cẩm
Anh phản ánh một cách cụ thể, sinh động trong các sáng tác của mình.
Có thể thấy những ý kiến, đánh giá, phê bình về sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh
trên đây là rất chính xác và tinh tế, nhưng dù sao đó mới là những ý kiến, những nhận
định, những bài nghiên cứu lẻ chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu như một chuyên luận
riêng về đặc điểm nhân vật người phụ nữ Mường trong các sáng tác của Hà Thị Cẩm
Anh. Theo khảo sát của chúng tôi thì cho tới nay chưa có công trình nào nghiên cứu
một cách chuyên biệt hệ thống về hình tượng người phụ nữ Mường trong văn xuôi Hà
Thị Cẩm Anh. Do đó, chúng tôi chọn vấn đề này để làm đề tài của luận văn của mình
với mục đích: Chỉ ra những sáng tạo độc đáo của nhà văn trong việc xây dựng hình
7


tượng người phụ nữ DTTS qua các tác phẩm văn xuôi của nữ nhà văn Hà Thị Cẩm
Anh. Từ đó, khẳng định những đóng góp quan trọng của nhà văn trong việc góp phần
hoàn chỉnh thêm về bức chân dung về người phụ nữ dân tộc thiểu số nói riêng và
người phụ nữ Việt nam nói chung trong thời hiện đại.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Triển khai đề tài Nhân vật người phụ nữ Mường trong truyện ngắn của Hà
Thị Cẩm Anh chúng tôi nhằm những mục đích sau:

- Tìm hiểu vẻ đẹp nhân vật người phụ nữ Mường về ngoại hình và nội tâm
được khắc họa trong truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh để thấy được điểm nhìn riêng
và những đóng góp của nữ nhà văn trong nền văn học thời kỳ Đổi Mới.

- Tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật người phụ nữ Mường trong truyện
ngắn Hà Thị Cẩm Anh để thấy được tài năng của nhà văn trong xây dựng nhân vật
người phụ nữ và trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là:
- Những tác phẩm văn xuôi của Hà Thị Cẩm Anh nói chung, đặc biệt đi sâu
vào nghiên cứu những vấn đề viết về hình tượng nhân vật người phụ nữ DTTS của
nữ nhà văn.
- Nghiên cứu khái quát về văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam và một số tác
phẩm của các nhà văn dân tộc thiểu số khác viết về hình tượng nhân vật người phụ
nữ DTTS (để so sánh, đối chiếu).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về đặc điểm hình tượng người phụ nữ dân tộc thiểu số trong toàn
bộ sáng tác văn xuôi của Hà Thị Cẩm Anh, cụ thể gồm sáu tập truyện ngắn sau:
+ Người con gái Mường Biện (Tập truyện và ký 2002)
+ Bài xường ru từ núi (Tập truyện ngắn, 2004)
+ Nước mắt của đá (Tập truỵên ngắn 2005)
+ Mưa bụi (Tập truyện ngắn 2008)
+ Một nửa của người đàn bà (Tập truyện ngắn 2013)

8


+ Bình minh xanh (Tập truyện ngắn 2017)
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài Nhân vật người phụ nữ Mường trong truyện ngắn Hà
Thị Cẩm Anh, chúng tôi xác định những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu khái quát về văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
trong đó có một số nhà văn nữ dân tộc thiểu số - mà Hà Thị Cẩm Anh là một đại diện
tiêu biểu trong thời kỳ Đổi Mới.
- Làm rõ những đặc điểm của hình tượng nhân vật người phụ nữ dân tộc
Mường trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh (ở các phương diện: Nội dung phản ánh
và hình thức nghệ thuật).
- Chỉ ra những nét riêng mang tính mới, tính sáng tạo cùng những đóng góp
tiêu biểu của nhà văn trong nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật người phụ nữ
miền núi. Qua đó khẳng định những giá trị nhân văn, nhân bản, giá trị hiện thực trong
các sáng tác của nhà văn Hà Thị Cẩm Anh trong đời sống văn học các DTTS Việt Nam
hiện đại.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
như sau:
- Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành ( văn học với văn hoá học, dân tộc học,
nhân chủng học, lịch sử, …)
- Phương pháp thống kê, phân loại.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu; và vận dụng một số thao tác nghiên cứu của
thi pháp học
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính chất hệ thống, toàn diện
về hình tượng nhân vật người phụ nữ dân tộc Mường trong sáng tác của Hà Thị Cẩm
Anh. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần khẳng định những nét độc đáo, sáng tạo trong
cách khám phá và thể hiện hình tượng người phụ nữ dân tộc Mường trong các tác
phẩm truyện ngắn của nữ nhà văn dân tộc Mường - Hà Thị Cẩm Anh
9


- Kết quả của luận văn sẽ góp phần vào việc nghiên cứu một cách hệ thống
hình tượng nhân vật phụ nữ dân tộc thiểu nói riêng về hình tượng con người dân tộc
thiểu số nói chung trong sáng tác của các nhà văn DTTS Việt Nam hiện đại.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo, Phụ lục, phần
Nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát về văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại và nữ nhà
văn dân tộc Mường - Hà Thị Cẩm Anh.
Chương 2: Nhân vật người phụ nữ Mường - nhân vật trung tâm trong sáng tác
của Hà Thị Cẩm Anh.
Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật tiểu biểu trong quá trình xây dựng
hình tượng nhân vật người phụ nữ .

10


NỘI DUNG
Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ VĂN XUÔI DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN
ĐẠI VÀ NỮ NHÀ VĂN DÂN TỘC MƯỜNG HÀ THỊ CẨM ANH
1.1. Vài nét khái quát về văn xuôi dân tộc thiểu số thời kỳ hiện đại
Trong dòng chảy của nền văn học Việt Nam hiện đại thì văn học DTTS hiện
đại là một bộ phận khăng khít cấu thành của nền văn học dân tộc một nền văn học
phong phú đa dạng và giàu bản sắc. Văn học các DTTS đã góp phần quan trọng làm
nên đặc điểm này. Đặc biệt là trong lĩnh vực văn xuôi - do chính các nhà văn DTTS
tạo dựng và chuyên viết về đề tài dân tộc và miền núi.
Vào đầu thế kỷ XX, văn xuôi quốc ngữ đã được hình thành và phát triển khá
mau chóng trong đời sống văn học nước nhà. Văn xuôi dân tộc và miền núi cũng đã
được hình thành và từng bước khẳng định vị trí, vai trò của mình với sự tham gia góp
sức của nhiều tác giả thuộc các dân tộc khác nhau trong đó có những tác giả là người
dân tộc Kinh nhưng lại viết về đề tài dân tộc và miền núi như : Thế Lữ, Lan Khai,
Lưu Trọng Lư, Lê Văn Trương, Nguyễn Tuân...; giai đoạn ngay sau năm 1945 cũng
có những tác phẩm ghi dấu ấn sâu đậm trong bạn đọc viết về cuộc sống và con người
miền núi của các tác giả: Nam cao, Tô Hoài, Nguyên Ngọc... Và từ năm 1975 đến
nay lại có Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Phạm Duy Nghĩa, Đỗ Bích Thuý,
Tống Ngọc Hân... Được kế thừa thành tựu văn xuôi của những tác phẩm người Kinh
viết về miền núi, và được sự quan tâm của Đảng và Nhà Nước nên từ sau kháng chiến
chống Pháp các gương mặt nhà văn DTTS đã dần xuất hiện ngày càng nhiều hơn và
ngày càng khẳng định sự có mặt của mình trong đời sống văn học nước nhà, đem lại
cho độc giả cả nước những hiểu biết chân thực, toàn diện và đầy đủ hơn về hiện thực
đời sống, về con người, về bản sắc văn hoá… của đồng bào các dân tộc ít người ở các
vùng miền trên đất nước. Nhiều thế hệ các nhà văn dân tộc thiểu số thuộc các dân tộc
khác nhau đã xuất hiện và khẳng định một cách vững chắc sự có mặt của mình trong
đời sống văn xuôi DTTS hiện đại. Ví dụ như: Vùng Đông Bắc có các nhà văn: Vi

11


Hồng, Triều Ân, Vi Thị Kim Bình, Cao Duy Sơn, Đoàn Ngọc Minh, Bùi Thị Như
Lan...; Vùng Tây Bắc có: Kha Thị Thường, Mã A Lềnh, Hà Lâm Kỳ, Tống Ngọc
Hân, Mã Anh Lâm...; Vùng Tây Nguyên có: Y Điêng, Kim Nhất, Hlinh Niê, Nê
Thanh Mai...; Vùng Nam Bộ có: Lý Lan, Inrasara, Trà Vigia...
Theo kết quả nghiên cứu cùng những nhận xét, đánh giá của một số nhà
nghiên cứu chuyên về văn học DTTS (như nhà nghiên cưu phê bình Lâm Tiến, nhà
nghiên cứu phê bình Trần Thị Việt Trung...) về sự vận động và phát triển của văn học
DTTS Việt Nam thời kỳ hiện đại thì:
Văn xuôi DTTS chủ yếu hình thành và phát triển sau năm 1945, đây là thời kỳ
văn học phát triển theo định hướng đường lối văn nghệ của Đảng nên mảng văn học
dân tộc thiểu số được quan tâm phát triển cả về lực lượng sáng tác, số lượng, chất
lượng tác phẩm và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Ví dụ như tác giả Nông
Quốc Chấn trong bài viết Mấy vấn đề về văn học các dân tộc thiểu số đã đưa ra
những nhận định khái quát về những thành công ban đầu mà văn xuôi dân tộc thiểu số
đã đạt được trong những năm trước đó: “Mười năm qua, trong dân tộc Tày - Nùng,
dân tộc Thái, lần lượt xuất hiện một số anh chị em viết bút kí, truyện ngắn, truyện
vừa…, việc này đã chứng minh là nền văn xuôi của các dân tộc thiểu số đã có cơ sở
để xây dựng” [10, tr. 40]. Như vậy văn xuôi DTTS thực sự được ra đời sau một vài
năm khi miền Bắc được giải phóng. Các cây bút văn xuôi là người DTTS dần xuất
hiện nhiều hơn. Người đi tiên phong trong giai đoạn đầu là Nông Viết Toại với truyện
ngắn đầu tay Nước ruộng (1952). Nhưng tác phẩm chỉ được coi như một sự “tập
dượt” của chính tác giả về thể loại văn xuôi. Đến 1958, Nông Minh Châu mới chính
thức đưa văn xuôi góp mặt trong dòng chảy của văn học các DTTS với truyện ngắn
Ché Mèn được đi họp. Tác phẩm đã được Giải khuyến khích trong đợt thi sáng tác
truyện ngắn của Tạp chí văn nghệ (năm 1958). Đây cũng là tác phẩm văn xuôi đầu
tiên của một tác giả người dân tộc thiểu số được nhận giải thưởng toàn quốc và là tác
phẩm đã mở đầu, đánh dấu sự có mặt của văn xuôi các DTTS ở phương diện sáng tác
văn chương cũng như sử dụng văn xuôi và ngôn ngữ mẹ đẻ để thể hiện hình ảnh
những con người DTTS mới với những thay đổi sâu sắc trong cách sống, cách nghĩ,
cách làm để phá bỏ những tập tục cũ nghèo nàn, lạc hậu, mê tín dị đoan vươn lên
xây dựng và
12


làm chủ cuộc sống mới trên quê hương miền núi. Tác phẩm của Nông Minh Châu ra
đời đã mở đường cho hàng loạt truyện ngắn của các tác giả DTTS xuất hiện và được
chú ý như : Ngôi sao trên đỉnh núi Phja Hoàng, Cây su su noọng Ỷ, Nước suối tiên
đào của nhà văn dân tộc Tày Vi Hồng; Bên bờ suối tiên của Triều Ân, Đêm giao
thừa, Đặt tên của Vi Thị Kim Bình; Ké Nàm của Hoàng Hạc; Mương Nà Pàng của
Nông Viết Toại,... Các tác phẩm văn xuôi thời kỳ này tập trung phản ánh hiện thực về
cuộc sống con người, quê hương miền núi với tình cảm yêu mến, ngợi ca, với niềm
tin vào sức sống mãnh liệt trong tâm hồn của những con người vùng cao. Với sự có
mặt của nhiều tác giả là người DTTS văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam đã dần được
khẳng định - như nhà lý luận phê bình Lâm Tiến đã từng phát biểu một cách tự hào
về vị trí vai trò quan trọng của văn học DTTS:“Góp phần xứng đáng vào công cuộc
cách mạng, cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ và xây dựng Xã hội Chủ nghĩa,
trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền văn học Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
[42, tr. 153].
Tuy nhiên, văn xuôi các dân tộc miền núi chỉ có thể được ghi nhận từ những
năm 60 và đặc biệt những năm sau chiến tranh. Đây chính là thời kỳ văn xuôi miền
núi có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Thời kỳ này các nhà văn DTTS có ý thức dùng
văn học phản ánh hiện thực cuộc sống và phục vụ cho nhiệm vụ chính trị, xã hội của
vùng dân tộc và miền núi. Vì vậy, văn xuôi DTTS luôn bám sát chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Truyện ngắn và kí
của văn học DTTS ra đời trong khoảng những năm sáu mươi, đến 1989 đã có khá
nhiều tập truyện ngắn và kí cùng với hàng trăm tác phẩm đã được xuất bản. Lực
lượng sáng tác là người DTTS đông đảo hơn và thành tựu sáng tác cũng rõ ràng và
rực rỡ hơn. Thời kỳ này văn xuôi DTTS phát triển khá mạnh về số lượng cũng như
chất lượng, giúp chúng ta có thể nhận ra một cách rõ ràng về diện mạo riêng cùng
những đặc điểm riêng của văn xuôi DTTS. Có thể kể tên các tác phẩm văn xuôi tiêu
biểu của các tác giả người DTTS như: Tiếng hát rừng xa của Hoàng Hạc; Đoạn
đường ngoặt của Nông Viết Toại (1973); Tiếng chim Gô của Nông Minh Châu
(1979); Niềm vui của Vi Thị Kim Bình (1979); Tiếng khèn A Pá của Triều Ân
(1980); Cột mốc giữa lòng sông của Mã A Lềnh (1981); Những bông Ban tím của

13


Sa Phong Ba (1981); Hạt giống mới của Hoàng Hạc (1983); Chiếc Vòng bạc của Lò
Ngân Sủn (1987), Đường qua đèo mây của Triều Ân (1988); Đuông thang của Vi
Hồng (1988); Xứ lạ mường trên của Hoàng Hạc (1989)…
Bên cạnh thể loại truyện ngắn và kí còn có thể loại tiểu thuyết, thể loại này
cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể. Đầu tiên là tác phẩm Muối lên rừng của
Nông Minh Châu, sau đó là tác phẩm Hơ Giang của Y Điêng (dân tộc Ê Đê); và đến
Vi Hồng với một loạt các tiểu thuyết như: Đất bằng (1980), Núi cỏ yêu thương (1984),
Thung lũng đá rơi (1985) thể loại tiểu thuyết của văn học DTTS đã khẳng định được

sự có mặt của mình trong thể loại tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nói chung
Nội dung chủ yếu của văn xuôi các dân tộc thiểu số thời kỳ này là phản ánh
công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và cuộc kháng chiến chống Mĩ ở cả nước và ở
miền núi. Đồng thời, phản ánh những vận động, đổi mới trong đời sống các dân tộc
thiểu số như: Xây dựng đất nước, xây dựng cuộc sống mới với những việc làm cụ thể:
Xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, xây dựng công trình thủy điện, làm thủy lợi, xây
dựng quê hương mới, chống mê tín dị đoan, chống các phong tục cổ hủ lạc hậu, bước
đầu chống nạn tham ô, tham nhũng... Bên cạnh đó một số tác giả thì đi sâu khai thác
đời sống riêng, cùng thế giới nội tâm các nhân vật với tư cách con người cá nhân
trong thời kỳ hiện đại ở miền núi.
Bên cạnh sự xuất hiện của tiểu thuyết, truyện ngắn xuất hiện khá nhiều, đặc
biệt từ sau năm 1975. Đây là thời kỳ văn xuôi DTST phát triển với một bước mới,
về cả số lượng cũng như chất lượng. Bên cạnh những nhà văn xuất hiện từ trong
thời kì chống Pháp (1946- 1954) như: Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Nông Minh
Châu, Nông Viết Toại...; đến giai đoạn kháng chiến chống Mĩ ( 1954 – 1975) như:
Triều Ân, Vi Hồng, Hoàng Hạc, Hùng Đình Quý, Mà Thế Vinh, Môlô Yclavi,Vi Thị
Kim Bình, Vương Trung, Vương Anh, Y Điêng...; và từ sau 1975 đến nay xuất hiện
nhiều các cây bút mới, sung sức như: Mã A Lềnh, Triệu Lam Châu, La Quán Miên,
Lò Cao Nhum, Inrasara, Cao Duy Sơn, Hà Lâm Kì, Ma Trường Nguyên, Hà Lí,
Kim Nhất, Hà Thị Cẩm Anh, Kha Thị Thường, Hữu Tiến, Đoàn Lư, Đoàn Ngọc
Minh, Hoàng Hữu Sang, Sa Phong Ba, H'Linh Niê, Bùi Thị Như lan, Niê Thanh Mai
...
Vào cuối những năm 80 và đầu những năm 90 văn xuôi các DTTS rất phát
14


triển và được độc giải ghi nhận. Đây chính là thời kì chuyển từ cơ chế quản lý quan
liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường (định hướng xã hội chủ nghĩa). Đời sống kinh tế,
chính trị của miền núi cũng có những chuyển biến mạnh mẽ, khiến cho đời sống văn
học nghệ thuật miền núi cũng có một sự chuyển biến lớn. Sự thay đổi này có ảnh
hưởng và tác động mạnh đến cách phản ánh hiện thực và tư duy nghệ thuật của các
nhà văn DTTS. Từ năm 1990 trở đi, đời sống văn nghệ sôi nổi hơn. Văn xuôi miền
núi thời kỳ này có sự mở rộng về đề tài và chủ đề, cùng sự ra đời của những tác phẩm
có dấu hiệu đổi mới trong cách nhìn, trong tư duy nghệ thuật cùng sự phát triển ngày
càng đông đảo hơn về đội ngũ tác giả là người DTTS.
Nếu như trước đây, văn học hầu như chỉ tập trung phản ánh những mặt tốt
đẹp của hiện thực cuộc sống của con người thì giai đoạn này nhờ có sự đổi mới
trong cách nhìn, cách phản ánh hiện thực - hiện thực được mở ra phong phú hơn, đa
chiều hơn. Những mặt trái, những mảng khuất lấp mà văn học trước đây chưa đi vào
phản ánh nay được đề cập đến nhiều hơn. Các nhà văn DTTS đã nắm bắt được vấn
đề mang tính “thời sự” này để phản ánh một hiện thực mới trong các sáng tác của
mình. Các tiểu thuyết: Người trong ống (1990), Gã ngược đời (1990), Vào hang
(1990), Chồng thật vợ giả (1994)…của Vi Hồng được dư luận quan tâm bởi những
vấn đề có tính thời sự này. Hoàng Thế Sinh với tiểu thuyết Xứ mưa (2000); Cao
Duy Sơn trong tiểu thuyết Đàn trời (2006), Ngôi nhà xưa bên suối (2007)...; Triều
Ân với Nắng vàng bản (1992), Nơi ấy biên thùy (1994), Dặm ngàn rong ruổi
(2000)... Bên cạnh những tác phẩm chú ý đến vấn đề mang tính xã hội còn một số
các tác phẩm đã đi vào các khía cạnh của đời tư con người ví dụ như: Gió
hoang(1992), Bến đời (1995), Mùa hoa hải đường(1998) của Ma Trường Nguyên;
tập truyện Số phận đàn bà của Hoàng Thị Cành; các tập truyện Tiếng chim kỷ
giàng (2004), Mùa hoa mắc mật (2005), Hoa mía (2006)... của Bùi Thị Như Lan;
đến các tập truyện Nước mắt của đá (2005), Mưa bụi (2008), Một nửa người đàn
bà (2013) của Hà Thị Cẩm Anh...
Có thể thấy, văn học DTTS thời kì này đã có sự phát triển về số lượng, chất
lượng và đã có những dấu hiệu đổi mới trong cách nhìn cách phản ánh và trong tư
duy nghệ thuật. Ví dụ như cuốn tiểu thuyết Người lang thang của Cao Duy Sơn; các

15


tiểu thuyết Mùa hoa hải đường, Trăng yêu, Bến đợi của Ma Trường Nguyên; tiểu
thuyết Dòng đời của Hữu Tiến; Đất bản quê cha của Vương Trung...Với những
phong cách khá tiêu biểu như vậy“tiểu thuyết các dân tộc miền núi đã tự khai phá
một con đường rộng rãi hòa vào dòng chảy của văn học hiện đại dân tộc” [18,tr.43].
Bên cạnh những thành tựu nổi bật của tiểu thuyết, truyện ngắn cũng đạt được
những thành công đáng ghi nhận. Truyện ngắn Hoa bay cuối trời của Cao Duy Sơn có
sự vận dụng và kết hợp độc đáo của văn hóa Tày - Việt, mang lại một vẻ đẹp vừa lạ
vừa quen, vừa truyền thống vừa hiện đại. Tính nhân văn được thể hiện một cách xúc
động qua các câu chuyện về các hoàn cảnh, các số phận, cùng cách ứng xử văn hoá
của những con người miền núi chân thật, thô mộc nhưng thật giàu tình người, giàu
lòng vị tha. Nhà văn Bùi Thị Như Lan với một loạt những truyện ngắn đã đóng góp
cho sự đổi mới mảng văn xuôi DTTS miền núi ở khía cạnh khai khác chiều sâu
tâm hồn con người nhất là những con người là phụ nữ và các chiến sỹ quân đội là
người DTTS (Lời sli vắt ngang núi, Bồng bềnh sương núi, Mùa hoa gắm); nhà văn
Hà Thị Cẩm Anh với truyện ngắn Gốc gội xù xì, Một nửa người đàn bà, Giải vía...
đã phân tích, lí giải diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật (đặc biệt là nhân vật người
phụ nữ Mường) một cách hợp lí với lối kể chuyện chân thật, mộc mạc, giản dị, dễ hiểu
nhưng giàu tính biểu tượng, sâu sắc và cảm động lòng người.
Văn xuôi miền núi thời kì Đổi Mới có sự mở rộng đề tài, chủ đề, và có sự thay
đổi trong cách nhìn, cách phản ánh hiện thực và tư duy nghệ thuật và có sự đi lên.
Bên cạnh các tác giả ở giai đoạn trước vẫn tiếp tục sáng tác như: Vi Hồng, Triều Ân,
Mã A Lềnh, Sa Phong Ba, Cao Duy Sơn... còn có thêm nhiều gương mặt mới như: Hà
Thị Cẩm Anh, Hữu Tiến, Hoàng Quảng Uyên, Đoàn Ngọc Minh, Bùi Thị Như Lan,
Linh Nga NiêKdam, Niê Thanh Mai... Những nhà văn này có ý thức đi sâu vào phản
ánh hiện thực cuộc sống thời kỳ hiện đại và hội nhập; đi sâu vào phản ánh số phận
con người với bao vui, buồn, hạnh phúc và bất hạnh.
Với sự góp mặt của nhiều cây bút văn xuôi DTTS như đã kể trên đã góp phần
tạo nên diện mạo một nền văn xuôi Việt Nam hiện đại phong phú, giàu bản sắc.
Trong đội ngũ các nhà văn DTTS ấy đã xuất hiện khá nhiều các cây bút nữ. Các cây
bút văn xuôi nữ DTTS xuất hiện chậm hơn một chút so với các cây bút nam DTTS.

16


Phải đến những năm 1968-1970 mới xuất hiện một số cây bút văn xuôi nữ, và từ sau
Đổi Mới đến nay thì các nhà văn nhữ DTTS mới xuất hiện nhiều hơn và đã đạt được
những thành tựu đáng ghi nhận. Nhà văn nữ DTTS thuộc thế hệ đầu tiên phải kể đến
như: Nhà văn Vi Thị Kim Bình là người dân tộc Tày (tỉnh Lạng Sơn). Bà là một cán
bộ ngành Y và là người luôn tận tụy với công việc, với cái tâm của người thầy thuốc.
Bà viết bằng tấm lòng và tình cảm của mình cái tâm của người thầy thuốc miền núi
đối với quê hương, con người ở nơi đây. Vi Thị Kim Bình là nhà văn nữ dân tộc thiểu
số tiêu biểu lớp đầu tiên viết khá thành công về hình ảnh con người, cuộc sống của
đồng bào các dân tộc vùng cao biên giới Việt Nam. Hầu hết các tác phẩm của bà đều
viết về người phụ nữ, trong đó phần nhiều là những người phụ nữ dân tộc mang bản
tính dịu dàng, mộc mạc, giản dị, dù mỗi cuộc đời ở những hoàn cảnh khác nhau, số
phận khác nhau, nhưng ở họ luôn toát ra vẻ đẹp của sự hi sinh, lòng vị tha của sự
vươn lên mạnh mẽ trong cuộc sống thời chiến tranh cũng như thời hoà bình. Trong đó
có những tác phẩm tiêu biểu và đạt được nhiều giải thưởng khác nhau của bà như:
Đặt tên, Những bông Huệ trắng.
Trong đội ngũ các nhà văn nữ DTTS cần phải nhắc đến tên tuổi của một số
nhà văn Tây Nguyên hiếm hoi như: Kim Nhất, Linh Nga Niê Kdam, Niê Thanh
Mai. Đầu tiên là nhà văn Kim Nhất - người dân tộc Ba Na. Kim Nhất có giọng điệu
riêng, cứ rủ rỉ rù rì, “có gì kể nấy” nên được bạn đọc gọi là: “người kể chuyện buôn
làng”. Bà đã xuất bản gần 20 đầu sách và là Hội viên Hội Nhà Văn, Hội VHNT các
DTTS Việt Nam.
Tiếp đến là nhà văn Linh Nga Niê Kdam - một hiện tượng đáng ghi nhận trong
văn xuôi Tây Nguyên thời kì hiện đại. Chị đã có một số lượng tác phẩm văn xuôi đáng
kể, trong đó có những tác phẩm được đánh giá cao như: Con rắn màu xanh da trời,
Gió đỏ, Pơ Thi mênh mang mùa gió, Trăng Xí Thoại, Đi tìm hồn chiêng, Nhân
danh ai. Sáng tác của Hlinh Niê đề cập đến mọi mặt đời sống của nhân dân Tây
Nguyên thời kỳ hiện đại hoá, bên cạnh đó nhà văn đã rất có ý thức đi sâu vào những
nét riêng độc đáo của con người và mảnh đất này qua những phong tục, lễ hội, trang
phục của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

17


Và nhà văn Kha Thị Thường - nhà văn dân tộc Thái sinh năm 1979 của (tỉnh
Nghệ An) là một cây bút viết khoẻ, viết chắc. Các tác phẩm tiêu biểu của bà là: Kí ức
xanh (1998), Đêm canh ba (2000), Lũ núi (2002), Mùa hoa lù cù ( 2008). Trong đó
có một tác phẩm (Mùa hoa lù cù) là tác phẩm dành cho thiếu nhi dân tộc thiểu số.
Tiếp đến là nhà văn Đoàn Ngọc Minh một nữ nhà văn dân tộc Tày của Cao
Bằng. Những năm tháng sáng tác đầu tiên chị thường viết cho thiếu nhi (Dòng sông
kỉ niệm, Phía sau đỉnh Khau Khoang, Cánh chim). Sau đó là một loạt tác phẩm văn
xuôi viết về cuộc sống con người miền núi cao như: Lời hẹn (1997); Dòng sông kỉ
niệm (1997); Cánh chim (1999); Sông ngàn lau (2001); Gió xoáy (2004); Gọi nắng
(2004); Núi Bó Phạ trở về (2003); Thằng bạn tôi (1995); Mùa lá rụng (2000);
Chuyện của đại tá Thi (2001)… khá thành công trong tác phẩm của mình.
Đáng chú ý là nhà văn nữ DTTS Bùi Thị Như Lan - một nhà văn quân đội
thuộc quân khu I chị hay viết về đề tài cuộc sống con người miền núi phía Bắc, và
nhất là những số phận, cảnh ngộ của những người phụ nữ (có chồng tham gia quân
đội) và những người lính là người DTTS. Là một nhà văn nữ còn khá trẻ, khỏe, Bùi
Thị Như Lan đã đi và lăn lộn trên khắp mọi miền thuộc biên giới phía Bắc nên bà có
nhiều vốn sống, có nhiều tư liệu thực tiễn. Bà có các tác phẩm truyện ngắn tiêu biểu
như: Tiếng chim kỷ giàng, Mùa hoa mắc mật, Hoa mía, Lời sli bay cao, Bồng
bềnh sương núi, Cọn nước đôi, Cọn nước đôi, Mùa hoa Bjoóc phạ, Tiếng kèn
pílè. Bà cũng đã đạt được nhiều Giải thưởng với các tác phẩm: Bố ơi (1999), Núi
đợi, Gió hoang (2004), Hoa mía (2006), Tiếng chim kỷ giàng (2007), Mùa hoa
Bjoóc phạ (2013)...
Nhìn vào đội ngũ các nhà văn nữ dân tộc thiểu số như đã nói ở trên có thể
thấy: Trong khoảng hơn nửa thế kỉ qua, bên cạnh đội ngũ nhà văn DTTS là nam thì
các nhà văn nữ cũng đã xuất hiện và trưởng thành nhanh chóng cùng với sự phát triển
về số lượng và nâng cao chất lượng về tác phẩm. Hàng loạt những tác phẩm được ra
đời bởi các nữ nhà văn DTTS như: Vi Thị Kim Bình, Kim Nhất, Lý Lan, Linh Nga
Niếk Đam, Kha Thường, Hà Thị Cẩm Anh, Đoàn Thị Ngọc Minh, Bùi Thị Như Lan,
Niê Thanh Mai...Những tác phẩm của họ đã góp phần tạo nên một bộ phận văn xuôi
giàu bản sắc trong nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại.

18


Nữ nhà văn DTTS Hà Thị Cẩm Anh là một cây bút dân tộc Mường tiêu biểu.
Các tác phẩm của chị chủ yếu viết về cuộc sống con người, thiên nhiên xứ Mường
với một tấm lòng thương mến, trân trọng. Trong cuộc sống hiện đại ngày nay – Hà
Thị Cẩm Anh luôn khao khát được lưu giữ và bảo tồn những giá trị văn hoá truyền
thống của dân tộc Mường, giữ mãi vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ như chính nó vốn có
như vậy. Qua hàng loạt truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh đã giúp người đọc hiểu rõ
thêm về vẻ đẹp hồn hậu, nhân ái, thuỷ chung, giàu nghị lực và khát vọng vươn lên
trong cuộc sống của đồng bào dân tộc Mường nói chung và người phụ nữ Mường nói
riêng. Chị xứng đáng là nhà văn nữ DTTS tiêu biểu xuất sắc có đóng góp nhiều trong
thời kì Đổi mới.
1.2. Nữ nhà văn dân tộc Mường Hà Thị Cẩm Anh
Hà Thị Cẩm Anh - cây bút văn xuôi tiêu biểu của văn học DTTS Việt Nam
thời kỳ Đổi mới. Tên thật của bà là Hà Thị Ngọ (sinh ngày 10 tháng 10 năm 1948) là
người dân tộc Mường ở vùng đất Cẩm Thuỷ - Thanh Hoá. Bà công tác tại Hội Văn
học – Nghệ thuật Thanh Hoá, là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Văn
học – Nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam…Trong hơn mười năm gần đây nhà
văn đã có sáu tập truyện ngắn và ký. Với các tác phẩm đặc sắc của mình bà đã nhận
nhiều Giải thưởng của Trung ương và địa phương như: Giải thưởng của Hội Nhà văn
và Uỷ ban toàn quốc các Hội VHNT Việt Nam. Giải nhất cuộc thi truyện ngắn Báo
Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam năm 2004- 2005, Giải B cuộc thi viết về môi
trường: Qua thơ và truyện: Hành tinh xanh mãi xanh do Hội Nhà văn Việt Nam
cùng Báo Thiếu niên Tiền Phong tổ chức năm 2001, Giải thưởng đặc biệt của UBTQ
các hội Văn học – nghệ thuật Việt Nam tặng cho tác giả là Hội viên Hội Văn học –
nghệ thuật các Dân tộc Thiểu số Việt Nam (đạt giải cao nhất – giải A) cho tập truyện
ngắn Một nửa người đàn bà, Giải B cuộc vận động Sáng tác và công bố các tác
phẩm Văn học – Nghệ thuật có tư tưởng và chất lượng cao về hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giai đoạn 1930 – 1975 do UBTQ các Hội VH –
NT Việt Nam phát động năm 2014 – 2015. Giải thưởng của Hội VHNT các dân tộc
thiểu số Việt Nam: Giải B năm 2000, Giải C năm 2002, Giải B năm 2003, Giải B
năm 2004, Giải B năm 2005, Giải C năm 2007, Giải B năm 2008, Giải A năm 2014.
Giải thưởng của bộ ngành Trung ương: Giải C cho kịch bản Phim truyện Tiếng hát
19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×