Tải bản đầy đủ

Thơ nguyễn hữu quý

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NÔNG THỊ PHƯƠNG THẢO

THƠ NGUYỄN HỮU QUÝ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NÔNG THỊ PHƯƠNG THẢO

THƠ NGUYỄN HỮU QUÝ
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 82.20.121


LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Đức Hạnh

THÁI NGUYÊN - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn khoa học Thơ Nguyễn Hữu Quý là
công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là
trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác.
Tôi xin hoàn toàn trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Tác giả luận văn

Nông Thị Phương Thảo

i


LỜI CẢM ƠN
Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn
PGS.TS Nguyễn Đức Hạnh - Giám đốc Nhà Xuất bản Đại học Thái Nguyên người đã định hướng, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực
hiện đề tài luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy, cô Khoa Ngữ Văn
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ và tạo điều kiện
cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Tôi xin cảm ơn Nhà thơ quân đội Nguyễn Hữu Quý đã tận tình giúp đỡ
và cung cấp cho tôi những thông tin, tài liệu liên quan để tôi hoàn thành việc
nghiên cứu đề tài này.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp và cơ quan Thành ủy thành phố Bắc Kạn đã quan tâm, động viên, chia
sẻ và tạo mọi điều kiện để giúp tôi hoàn thành khóa học.
Thái Nguyên, ngày 7 tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn

Nông Thị Phương Thảo

ii




MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ......................................................................................................ii
MỤC LỤC ..........................................................................................................iii
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ...............................................................................
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................... 8
4. phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 8
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................. 9
6. Đóng góp của luận văn .................................................................................... 9
7. Bố cục của luận văn .........................................................................................
9
PHẦN NỘI DUNG........................................................................................... 11
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI VÀ THƠ NGUYỄN HỮU QUÝ ......
11
1.1.

Khái quát về thơ Việt Nam từ đổi mới (1986) đến nay........................... 11

1.1.1. Bối cảnh lịch sử xã hội ............................................................................ 11
1.1.2. Các khuynh hướng thơ Việt Nam đương đại ..........................................
12
1.1.3. Khái niệm hậu chiến và đề tài sau chiến tranh ........................................
15
1.2.
16

Thơ Nguyễn Hữu Quý .............................................................................

1.2.1. Tiểu sử nhà thơ ........................................................................................ 16
1.2.2. Quan điểm sáng tác ................................................................................. 18
1.2.3. Quá trình sáng tác và các giải thưởng ..................................................... 19
1.3.
21

Nguyễn Hữu Quý và thế hệ các nhà thơ trưởng thành từ người lính......

Tiểu kết chương 1 .............................................................................................. 26
Chương 2. QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT, CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO
VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN HỮU QUÝ ..... 27
3


2.1.

Quan niệm nghệ thuật.............................................................................. 27

2.1.1. Khái niệm quan niệm nghệ thuật............................................................. 27
2.1.2. Quan niệm nghệ thuật trong thơ Nguyễn Hữu Quý ................................
28
2.2.
40

Cảm hứng chủ đạo trong thơ Nguyễn Hữu Quý .....................................

4


2.2.1. Khái niệm cảm hứng chủ đạo .................................................................. 40
2.2.2. Một số cảm hứng chủ đạo trong thơ Nguyễn Hữu Quý .......................... 41
2.3.

Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Hữu Quý ............................................ 53

2.3.1. Khái niệm cái tôi trữ tình......................................................................... 53
2.3.2. Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Hữu Quý ............................................ 54
Chương 3. BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT, KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN
NGHỆ THUẬT TRONG THƠ NGUYỄN HỮU QUÝ ....................................

62
3.1.

Biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nguyễn Hữu Quý ................................ 62

3.1.1. Khái niệm biểu tượng nghệ thuật ............................................................ 62
3.1.2. Hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong thơ Nguyễn Hữu Quý................. 62
3.2.

Không gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Hữu Quý ............................... 72

3.2.1. Khái niệm không gian nghệ thuật............................................................ 72
3.2.2. Các kiểu không gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Hữu Quý................. 73
3.3.

Thời gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Hữu Quý .................................. 81

3.3.1. Khái niệm thời gian nghệ thuật ............................................................... 81
3.3.2. Các kiểu thời gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Hữu Quý .................... 83
Tiểu kết chương 3 .............................................................................................. 87
KẾT LUẬN....................................................................................................... 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 91

5


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Từ sau năm 1945 đến nay, văn học nước nhà luôn được tô đậm bởi
đội ngũ nhà văn - chiến sĩ trưởng thành từ trong khói lửa của cách mạng và
chiến tranh. Có thể thấy “Đội ngũ những người cầm bút trong quân đội, nếu
được tập hợp lại đã có thể thành một binh đoàn. Đây là một binh đoàn chủ lực
tinh nhuệ đặc biệt, cùng với các loại hình nghệ thuật khác đã làm nên sức
mạnh tinh thần hào hùng trong suốt nửa thế kỷ qua...” [28]. Trong binh đoàn
chủ lực tinh nhuệ đặc biệt đó có ba thế hệ nhà thơ mang áo lính nối tiếp nhau
đồng hành cùng dân tộc làm nên nền thi ca cách mạng hào hùng - lãng mạn nhân văn với hình ảnh trung tâm bộ đội cụ Hồ. Có thể kể đến những tên tuổi
như: Thâm Tâm, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng, Chính Hữu (Thơ
chống Pháp); Phạm Ngọc Cảnh, Phạm Tiến Duật, Trần Đăng Khoa, Nguyễn
Khoa Điềm, Hữu Thỉnh… (Thơ chống Mỹ); Nguyễn Việt Chiến, Lê Mạnh
Tuấn, Mai Nam Thắng, Nguyễn Bình Phương, Trần Quang Đạo, Nguyễn Hữu
Quý (Thời hậu chiến và đổi mới sau năm 1975).
Thành tựu Thơ Việt Nam sau đổi mới (1986) có sự đóng góp quan trọng
của các nhà thơ bộ đội. Họ là lực lượng giữ vai trò nòng cốt của đội ngũ nhà
thơ Việt Nam hiện đại. Nguyễn Hữu Quý là một trong những gương mặt nổi
bật trong lớp nhà thơ này. Thông qua việc tìm hiểu, đánh giá về thơ Nguyễn
Hữu Quý sẽ góp phần tôn vinh những sáng tác của bộ phận thi sĩ trưởng thành
từ người lính (Anh bộ đội Cụ Hồ làm thơ).
1.2. Nguyễn Hữu Quý sinh ra và lớn lên ở Quảng Bình. Sau khi tốt nghiệp
trung học, ông tham gia quân ngũ. Ngay từ những năm đầu của cuộc đời bình
nghiệp, Nguyễn Hữu Quý đã có những sáng đầu tay. Tuy nhiên chỉ khi trở về
với thời bình, các sáng tác của ông mới xuất hiện nhiều trên văn đàn. Những
tác phẩm của ông bên cạnh đề tài chung là chiến tranh, còn có nhiều sáng tác
thấm đượm cảm hứng đời tư thế sự, tái hiện một cách chân thực cuộc sống sau
1


chiến tranh với nhiều góc cạnh khác nhau. Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất
Quảng Bình - nơi là tâm điểm của chiến tranh, nên nhà thơ đã chứng kiến biết
bao cuộc đời và số phận con người, cũng như sự khốc liệt do chiến tranh tàn
phá. Do vậy, nhà thơ luôn đau đáu về vết thương chiến tranh, về "cái chết", sự
ám ảnh số phận chung của con người bằng một cảm xúc sâu lắng để viết, với
tâm thế tri ân, đền ơn đáp nghĩa. Thơ Nguyễn Hữu Quý đã góp một tiếng nói
riêng vào dòng thơ hiện đại Việt Nam sau đổi mới. Mỗi tác phẩm đều có giá trị
sáng tạo, giá trị chân - thiện - mĩ về cuộc sống, con người trong xã hội. Đọc thơ
ông, độc giả cảm động trước cái tâm đằm thắm, đôn hậu và nhân từ của một
nhà thơ trưởng thành từ người lính viết về người lính. Với những tình cảm trân
trọng, thấu hiểu, thơ ông đã khẳng định sự hi sinh của các đồng chí, đồng đội những người góp phần làm nên sự đơm hoa kết trái cho nền độc lập tự do của
dân tộc; cùng với đó là những băn khoăn, trăn trở, day dứt, suy tư trước sự thay
đổi của cuộc sống hiện dại.
Hiện nay, Nguyễn Hữu Quý vẫn tiếp tục sáng tác bằng cái tâm trong sáng
của mình để xứng đáng với sự mong mỏi của bạn đọc. Hơn 20 năm cầm bút và
không ngừng lao động sáng tạo nghệ thuật, ông đã xuất bản một khối lượng tác
phẩm không hề khiêm tốn với nhiều thể loại, cùng nhiều giải thưởng cao quý.
Nhưng tình hình nghiên cứu một cách toàn diện Thơ Nguyễn Hữu Quý còn
khiêm tốn, chưa tương xứng với giá trị các tác phẩm và tầm vóc của nhà thơ.
Thực hiện công trình nghiên cứu khoa học một cách toàn diện, mang tính hệ
thống về thơ Nguyễn Hữu Quý là cần thiết và đặc biệt có ý nghĩa hơn vào thời
điểm này khi mà sự phân hóa về thị hiếu thẩm mĩ của người đọc là vô cùng lớn;
cùng với các nâng thang giá trị văn học nói chung và thơ nói riêng đang có sự
biến đổi dữ dội. Nếu đề tài nghiên cứu thành công sẽ góp phần đánh giá một
cách đúng đắn về thành tựu thơ Việt Nam hiện đại sau đổi mới nói chung và vị
trí thơ Nguyễn Hữu Quý nói riêng; qua đó, góp một phần định hướng tiếp nhận
cho người đọc đối với các sáng tác thơ Việt Nam hiện đại.
2


Đề tài của chúng tôi là đề tài đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện nhất
về thơ Nguyễn Hữu Quý. Với mong muốn đây sẽ là tư liệu tham khảo bổ ích
phục vụ cho công tác dạy - học phần văn học Việt Nam hiện đại trong nhà
trường và cho những ai muốn tìm hiểu về thành tựu, hạn chế, xu hướng vận
động phát triển của thơ Việt Nam hiện đại. Tìm hiểu về thơ Nguyễn Hữu Quý,
chúng tôi hy vọng sẽ đem đến cho độc giả biết thêm một đại diện mới mà tên
tuổi của ông gắn liền với những thi phẩm đã, đang và sẽ luôn song hành cùng
hồn thơ dân tộc.
Vì những lí do trên, luận văn muốn đi sâu tìm hiểu về thơ Nguyễn Hữu
Quý trên một số phương diện nội dung và đặc sắc về nghệ thuật thông qua việc
khảo sát một số tập thơ của của ông, để từ đó đưa ra một cái nhìn tổng quan,
một cảm nhận mới về những giá trị nội dung, nghệ thuật đặc sắc cũng như vị trí
thơ Nguyễn Hữu Quý trong dòng chảy thơ ca Việt Nam đương đại.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Khi nói đến văn học Việt Nam từ sau năm 1986, mọi người mặc định đây
là thời kỳ văn học thực sự có những đổi mới sâu sắc và toàn diện; thậm chí, có
khi chỉ cần nhắc đến khẩu hiệu “nhìn thẳng vào sự thật”, nói thật của nhà văn
lúc bấy giờ, độc giả đã thấy văn học khác trước rất nhiều. Xu hướng ca ngợi
một chiều, rập khuôn, thu mọi sự đánh giá về “văn học đổi mới” vào thứ hình
dung mặc định đã và đang đưa đến rất nhiều ngộ nhận về giai đoạn văn học đặc
biệt này. Đã hơn 30 mươi năm trôi qua, nghĩa là chúng ta đã có một độ lùi thời
gian cần thiết, để nhìn lại và nhận điện, lý giải đúng hơn về văn học từ sau đổi
mới (1986) đến nay.
Là một nhà thơ trưởng thành từ người lính, trải qua cuộc đời binh nghiệp
và tham gia cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, cùng với hành trình sáng tác
hơn 20 năm, tên tuổi của Nguyễn Hữu Quý được gắn liền với các tập thơ như:
“Mười nghìn khát vọng”, “Huệ trắng”, “Làng Đảo”, “Im lặng trên cao”,
“Những hồi chuông màu đỏ”... Thông qua việc nghiên cứu, chúng tôi nhận
3


thấy thơ Nguyễn Hữu Quý được giới thiệu, nghiên cứu chưa nhiều; đến nay
vẫn còn rất ít những công trình nghiên cứu lớn về thơ ông, mặc dù đã có một số
bài viết thể hiện sự quan tâm tìm hiểu và bước đầu khám phá, nghiên cứu một
số sáng tác tiêu biểu và cảm hứng sáng tác của nhà thơ, cụ thể như:
2.1. Trong các công trình nghiên cứu về thơ Nguyễn Hữu Quý, luận văn
thạc sĩ của tác giả Đặng Thị Nhung - Trường Đại học khoa học - Đại học Huế
với đề tài “Đặc điểm cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Hữu Quý” [27] là công
trình nghiên cứu đầu tiên có sự xem xét, khảo sát về thơ Nguyễn Hữu Quý. Tuy
nhiên, công trình mới chỉ dừng lại ở việc phân tích các dạng thức của cái tôi trữ
tình và phương thức thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Hữu Quý mà
chưa nghiên cứu một cách toàn diện những đặc sắc về giá trị nghệ thuật, giá trị
nội dung trong trong thơ ông.
2.2. Nhận định chung về thơ Nguyễn Hữu Quý, trong bài viết Thơ Nguyễn
Hữu Quý, nhà lí luận phê bình văn học Nguyễn Thanh Tú khẳng định: “Khi tập
thơ Mười nghìn khát vọng của Nguyễn Hữu Quý được in ra (1997), bạn đọc đã
nhận thấy một giọng thơ có hứa hẹn xuất hiện trên thi đàn. Thực ra Làng đảo
(2002) không hay hơn Mười nghìn khát vọng nhưng rồi đến Sinh ở cuối dòng
sông (2004) vượt trội cũng đã cho thấy sự dần ổn định của một giọng điệu giàu
chất suy tưởng, hướng nội, đầy ngẫm ngợi, có chiều sâu. Tôi thấy hai câu thơ
trong Sinh ở cuối dòng sông: "Ta - dòng sông phẳng lặng/Nuôi sóng thần đáy
sâu”, anh đã nói đúng về thơ mình. Tự nhận là "dòng sông phẳng lặng" là cách
nói khiêm tốn về sự êm đềm, trầm lặng nhưng "sóng thần đáy sâu”, lại là một
"sự kiêu” nhưng là kiêu hãnh về sự dữ dội, về sự bung phá bất ngờ” [46].
3. Ngoài ra còn có các bài viết, bài bình về một số tác phẩm, hình ảnh và
biểu biểu tượng nghệ thuật trong các sáng tác thơ Nguyễn Hữu Quý:
Với bài viết Người bẻ ghi cho những chuyến thơ chiều - Bài in trên tạp chí
Văn nghệ Quân đội năm 2008, Nguyễn Đào Nguyên đã nhận xét: “Sau ba tập
thơ Mười nghìn khát vọng-1997, Huệ trắng-1999, Làng đảo- 2002 và một tập
4


trường ca Sinh ở cuối dòng sông-2003, vừa qua Nguyễn Hữu Quý lại trình làng
thi tập mới lấy tên Im lặng trên cao. Tập hợp những bài thơ anh viết trong
khoảng năm năm gần đây. Vẫn chân thực bình dị, vẫn ám ảnh trầm hùng
thường thấy trong những bài thơ hồn vía nhất. Nhưng ở tập thơ mới này
Nguyễn Hữu Quý đã nhấn vào những nốt tâm trạng mà với trước đó chỉ là thưa
vắng, không thành một chủ âm. Việc đặt tên cho đứa con tinh thần lần này cũng
như cái gam cảm xúc chủ đạo được tô đậm qua hơn phân nửa số lượng bài thơ
cho thấy độ dày của trải nghiệm sống, những đường nét đằm lắng hơn, cô đơn
hơn trong trạng huống cảm nhận sự sống của tác giả. Nhà thơ viết vẫn đều tay,
vẫn chắc chắn, nhưng độ chắt lọc và sự đa dạng thì tăng thêm. Thơ Nguyễn
Hữu Quý ngoài sự cảm nhận về Tổ quốc, quê hương, về nỗi đau chiến tranh,
còn mang một vẻ trầm buồn, se sắt trước những đắc thất của phận người” [24].
Cảm nhận về tập thơ Im lặng trên cao của Nguyễn Hữu Quý, Nguyễn
Đào Nguyên đã viết: “Đó là cái im lặng hướng thiện, siêu việt thế gian. Đó
cũng là một cách tồn tại của con người. Một cách thế nghiêng nhiều hơn về
minh triết Á đông. Bởi lên cao là nối với đại không, với vũ trụ, nơi hóa giải vui
buồn đắc thất của đời người. Nếu Im lặng trên cao là im lặng của con người đã
có nhiều trải nghiệm, của hồn thơ đang chín, là hệ quả của những gì làm nên
người thơ Nguyễn Hữu Quý thì Im lặng là một tự sự chân thành nhưng không
kém phần sâu lắng khiến người đọc yêu thích. Nói cách khác, để có được im
lặng ngoài sự vượt lên những va đập của sóng đời trước hết anh có hạnh phúc
được hưởng nâng niu từ những nguồn thương vô hạn, đã học với những bậc
thầy gần gũi nhưng thông tuệ và các bài học mà anh tích góp ấy được nhà thơ
thổ lộ trong tác phẩm này” [25].
Trong bài viết Cảm thức làng trong “Hạ Thủy những giấc mơ” - in trên
Tạp chí Văn học nghệ thuật số tháng 8 năm 2016, nhà lí luận phê bình Đỗ Ngọc
Yên đã khẳng định: “Viết về biển đảo từ cảm thức văn hóa làng, theo tôi biết là
chưa nhiều và có lẽ nhà thơ Nguyễn Hữu Quý là người đầu tiên chọn cách tiếp
5


cận này. Tập trường ca “Hạ thủy những giấc mơ” gồm 9 khúc, khoảng 1.250
câu thơ, được viết theo thể tự do, dễ đọc và dễ cảm nhận. Nhưng điều làm tôi
thú vị là biển đảo hiện lên qua thơ anh không hề xa ngái, cũng không phải là
một cái gì đó quá trừu tượng, khiến ta không thể đến gần, tiếp cận nó được.
Trái lại, sau khi đọc xong tập sách, tôi thấy biển dường như gần ta hơn, gần đến
mức như bao làng quê ta, nơi cho đến hôm nay vẫn còn dung dưỡng gần 80%
dân số cả nước và chắc chắn từ xa xưa là 100%. Cũng vì thế mà biển được hiện
lên rõ nét và bao quát hơn nhờ vào độ nén đến mức căng cứng xúc cảm nghệ
thuật mà nhà thơ đã truyền cho người đọc” [48].
Với nhà thơ Nguyễn Bình Phương trong bài viết Hành trình sinh ở cuối
dòng sông ông nhận định: “Trong Sinh ở cuối dòng sông, cuộc chiến tranh bảo
vệ đất nước bỗng nhiên gần gũi đến lạ lùng bởi vì nó được đọc ra không phải từ
sách vở mà đọc ra từ mỗi hạt cát, ngọn cỏ, mỗi số phận con người. Dường như
với cái làng cát trắng ấy chiến tranh và hy sinh là một phần của cuộc sống, là cái
phần tàn khốc nhất nhưng cũng vĩ đại nhất. Chính vì thế mà tất cả những gì
thuộc về quê hương cũng trở nên thiêng liêng hơn và sâu sắc hơn” - Bài in trên
Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 576, tháng 6 năm 2003 [30, tr. 15].
Cảm nhận về hình tượng người mẹ trong thơ Nguyễn Hữu Quý, Hoàng
Thụy Anh đã viết: Từ một người mẹ cụ thể, mẹ của mình, Nguyễn Hữu Quý đã
khái quát hình tượng mẹ, nâng lên thành mẹ miền Trung với đòn gánh cong
cong trĩu nặng màu nâu rám của đất đai, ruộng đồng, quê hương. Nỗi vất vả,
gian khổ, tần tảo, giản dị, đôn hậu của mẹ cũng chính là vẻ đẹp của con người
miền Trung. Lồng nhập hình ảnh mẹ trong hình ảnh quê hương miền Trung,
Nguyễn Hữu Quý đã gửi gắm tất thảy tình yêu thương của mình dành cho mẹ,
cho dải đất “trĩu gánh gập ghềnh” và hơn cả, nhà thơ đã bất tử, vĩnh cửu hình
tượng mẹ miền Trung, khắc sâu vào trái tim của người dân Lạc Hồng.
Đọc Trường ca Sinh ở cuối dòng sông, nhà thơ Mai Nam Thắng khẳng
định: “Có thể nói, một trong những thành công của trường ca là đã kết hợp một
6


cách sáng tạo ba yếu tố Mẹ - Quê hương - Dòng sông như một chỉnh thể hữu cơ
để phục vụ cho chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Đó là tình yêu Tổ quốc, khát
vọng hòa bình và ý chí thống nhất non sông. Trường ca kết thúc bằng một khúc
thay cho vĩ thanh gồm 84 câu lục bát khá nhuyễn, khá chắt lọc và đồng vọng
nhưng đoạn thơ văn xuôi ở phần IX mang tựa đề Những cánh buồm đêm trước
đó đã có thể khép lại bản trường ca bởi nó đã nói lên tất cả: Cha đã trở lại Linh
Giang bằng tôi. Cũng như bao người lính khác đã trở lại sông Lam, sông Mã,
sông Hồng… bằng những khát khao đoàn tụ. Đất nước này không kẻ nào chia
cắt được: Như em mang sông Hồng vào với Linh Giang; những đứa con của
lính yêu nhau khi bắc qua sông cây cầu chín nhịp; chín nhịp cầu Gianh - chín
nhịp cầu vồng, rước duyên quan họ qua dòng Linh Giang…” [45].
Hiện nay, bên cạnh những bài viết về thơ Nguyễn Hữu Quý của các tác
giả nêu trên, còn một số bài phê bình đăng trên các báo, tạp chí của nhiều tác
giả khác đề cập đến một số đặc điểm của thơ Nguyễn Hữu Qúy, đặc biệt là
những bài viết về hình ảnh người lính, người mẹ, Tổ quốc, quê hương… Tất cả
các bài viết đã tập trung đưa ra những nhận định về giá trị nội dung, đặc sắc về
nghệ thuật trong các sáng tác thơ của ông. Qua đó, khẳng định nét riêng và
đóng góp của Nguyễn Hữu Quý đối với sự phát triển của thơ Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay.
Qua các bài nghiên cứu, phê bình, chúng tôi nhận thấy các tác giả bước
đầu đã chỉ ra được những đặc điểm chính trong thơ của Nguyễn Hữu Quý. Tuy
nhiên, những bài viết này mới chỉ tập trung vào nghiên cứu tìm hiểu về từng
mảng sáng tác, từng chủ đề, bài thơ cụ thể, mà chưa có một công trình nào
nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về thơ Nguyễn Hữu Quý. Nhưng với chúng
tôi những bài viết, đánh giá, hay ý kiến nhận xét của những người đi trước
chính là các gợi ý quý báu, quan trọng để làm cơ sở cho việc gợi mở hướng
triển khai nghiên cứu đề tài này. Vì vây, tôi lựa chọn đề tài Thơ Nguyễn Hữu

7


Quý để làm đề tài Luận văn thạc sĩ với hy vọng sẽ góp một phần vào việc
khẳng định

8


những giá trị đặc sắc trong các tác phẩm thơ của ông. Từ đó khắc họa chân
dung nhà thơ Nguyễn Hữu Quý trong lòng độc giả và tiến trình thơ ca Việt
Nam hiện đại.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Quan niệm nghệ thuật, cảm hứng chủ đạo, cái tôi trữ tình, biểu tượng nghệ
thuật, không gian thời gian và thời gian nghệ thuật của Thơ Nguyễn Hữu Quý.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của một đề tài luận văn thạc sĩ, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu một số tác phẩm thơ tiêu biểu của Nguyễn Hữu Quý trong các chặng
đường sáng tác từ năm 1986 đến nay gồm các tập:“Mười nghìn khát vọng” 1997, “Huệ trắng” - 1999, “Làng Đảo” - 2002, “Im lặng trên cao” - 2007.
Bên cạnh đó, luận văn tiến hành khảo sát và tìm hiểu một số tập thơ của các tác
giả khác cùng là nhà thơ quân đội cùng thời; từ đó có sự so sánh, đối chiếu
nhằm làm nổi bật vấn đề trong từng khía cạnh mà đề tài luận văn đề cập tới.
4. phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tổng hợp tư liệu: Để có cái nhìn khái quát vấn đề.
- Phương pháp hệ thống: Người viết có thể hệ thống được sự hình thành,
vận động và phát triển của các yếu tố cấu thành thơ Nguyễn Hữu Quý, cũng
như có cái nhìn và đánh giá riêng về thơ ông.
- Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh: Luận văn tiến hành
phân tích những sáng tác thơ cụ thể của Nguyễn Hữu Quý trên nhiều chiều.
trong một cái nhìn chung của cá nhân nhà thơ và thời đại. Sự nghiên cứu này
đồng thời dựa trên sự so sánh thơ Nguyễn Hữu Quý với các thế hệ cùng thời và
các chặng đường sáng tác của ông.
- Phương pháp thi pháp học: Sử dụng phương pháp thi pháp học để
nghiên cứu các hình thức nghệ thuật của trong từng tác phẩm, giúp chúng ta
hiểu được các giá trị văn hoá và đồng thời cũng là con đường tiếp cận tác phẩm
8


văn học rất đa dạng. Vận dụng phương pháp này sẽ góp phần đưa các nghiên
cứu văn học đến những tìm tòi mới.
- Phương pháp lịch sử: Vận dụng phương pháp này để tìm hiểu những ảnh
hưởng của hoàn cảnh lịch sử, xã hội và các yếu tớ về con người, Tổ quốc, quê
hương… đối với việc góp phần làm nên thơ Nguyễn Hữu Quý.
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, mục đích chúng tôi hướng tới là tìm hiểu một số phương
diện về nội dung và nghệ thuật thơ Nguyễn Hữu Quý thông qua những nét chủ
đạo trong cảm hứng sáng tác của nhà thơ. Phát hiện những đặc điểm sáng tạo
về nghệ thuật trong thơ, từ đó góp một tiếng nói vào việc khẳng định những vị
trí, tài năng nghệ thuật của nhà thơ Nguyễn Hữu Quý nói riêng và thơ Việt
Nam đương đại nói chung.
5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi sẽ tìm hiểu và nghiên cứu một cách hệ thống, khái quát, toàn
diện về thơ Nguyễn Hữu Quý trong sự thống nhất giữa giá trị nội dung và hình
thức nghệ thuật để tìm hiểu cảm hứng chủ đạo, cái tôi trữ tình và những đặc sắc
về biểu tượng nghệ thuật, không gian, thời gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn
Hữu Quý
6. Đóng góp của luận văn
Nếu đề tài thực hiện thành công, thì đây sẽ là công trình nghiên cứu đầu
tiên, phân tích một cách hệ thống khá toàn diện về giá trị nội dung, giá trị nghệ
thuật, khẳng định thành tựu và những đóng góp của thơ Nguyễn Hữu Quý đối
với thơ Việt Nam đương đại. Kết quả đề tài nghiên cứu của luận văn sẽ là một
tài liệu tham khảo phục vụ quá trình giảng dạy, học tập và tìm hiểu về thành
tựu của thơ Việt Nam giai đoạn từ sau đổi mới (1986) đến nay.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính
của luận văn có cấu trúc gồm 3 chương:
9


- Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài và thơ Nguyễn Hữu Quý
- Chương 2: Quan niệm nghệ thuật, cảm hứng chủ đạo và cái tôi trữ tình
trong thơ Nguyễn Hữu Quý.
- Chương 3: Biểu tượng nghệ thuật, không gian nghệ thuật và thời gian
nghệ thuật trong thơ Nguyễn Hữu Quý.

10


PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI VÀ THƠ NGUYỄN HỮU QUÝ
1.1. Khái quát về thơ Việt Nam từ đổi mới (1986) đến nay
1.1.1. Bối cảnh lịch sử xã hội
Chiến thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra vào mùa xuân năm 1975
như một mốc son trong lịch sử dân tộc. Đất nước thống nhất, non sông thu về
một mối, nhân dân sum họp, niềm vui hoà hợp và hàn gắn vết thương chiến
tranh diễn ra sôi nổi và kịp thời trên khắp mọi miền của cả nước, đặc biệt là
những vùng quê trước đây bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Với những thuận
lợi và không ít khó khăn sau chiến tranh, nhưng cuộc sống hoà bình đã nhanh
chóng đem lại sức sống mới trên khắp các miền quê của cả nước. Nhưng
không lâu sau hoà bình, hai cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và phía Tây
Nam Tổ quốc diễn ra đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân và
sự phát triển kinh tế của đất nước. Khi hai cuộc chiến tranh biên giới kết thúc,
nhân dân ta lại tiếp tục gặp những khó khăn về thiên tai, bão lũ, hạn hán diễn
ra trong nhiều năm, cùng với đó là những hạn chế về nhiều mặt trong công tác
lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành đất nước của Đảng và Chính quyền. Do
vậy, để khắc phục những khó khăn trên, Đảng ta xác định một trong những
nhiệm vụ mang tính chiến lược đối với đất nước thời kỳ này là phải tiến hành
công cuộc đổi mới toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Năm 1986 là mốc quan trọng đánh dấu sự sáng suốt về sách lược và chiến
lược của Đảng để đưa đất nước thoát khỏi khó khăn, nhanh chóng khôi phục
kinh tế, tạo ra không khí dân chủ cho toàn xã hội. Đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hoá và hiện đại hoá chính là bệ phóng để đưa đất nước nhanh chóng hàn
gắn vết thương chiến tranh, từng bước phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế. Từ
đầu thế kỷ XXI đến nay, đất nước bước vào một thời kì mới - thời kì khôi phục,

11


xây dựng và phát triển và đạt được nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt. Đời sống
của nhân dân được cải thiện cả về vật chất và tinh thần. Vị trí Việt Nam trên
trường quốc tế được khẳng định. Bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình
hội nhập quốc tế đang đặt ra nhiều vấn đề, đặc biệt là nguy cơ mai một bản sắc
văn hóa dân tộc, đòi hỏi phải có giải pháp phù hợp để hội nhập mà không bị
hòa tan. Dưới tác động của mặt trái cơ chế thị trường cũng làm ảnh hưởng đến
nhân cách của con người trong xã hội. Sự phân hóa giàu - nghèo làm sâu sắc
thêm những mâu thuẫn xã hội; dễ nảy sinh tham nhũng, tội phạm, bạo lực; kích
thích chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, lối sống chạy theo đồng tiền bất
chấp đạo lý của một bộ phận người dân...
1.1.2. Các khuynh hướng thơ Việt Nam đương đại
Công cuộc đổi mới được khởi xướng vào năm 1986 là một sự kiện trọng
đại làm thay đổi cuộc sống nước ta. Nó tác động đến nhiều lĩnh vực của đời
sống xã hội. Do vậy, văn học cũng không thể nằm ngoài xu thế chung ấy. Văn
học không còn mang nặng tính ngợi ca mà đã dám “nói thẳng”, “nói thật” về
nhiều vấn đề khúc mắc, nhiều sự thật đau lòng. Theo đó, cá tính sáng tạo của
nhà thơ cũng được giải phóng triệt để hơn. Không thể phủ nhận một thực tế là
cơ chế kinh tế thị trường đã làm cho cuộc sống khởi sắc hơn, nhưng mặt khác,
con người dường như sống với nhau lạnh lùng hơn, mối quan hệ giữa các cá
nhân trong xã hội lỏng lẻo hơn. Bối cảnh lịch sử và văn hóa mới, cả mặt phải
và mặt trái của nó khiến các nhà thơ không thể nhìn cuộc sống như trước đây
mà buộc họ phải thích ứng với những thay đổi nhiều khi chóng mặt của cuộc
sống. Điều đó dẫn tới sự thay đổi sâu sắc về tư duy nghệ thuật của thơ trong
giai đoạn này.
Đầu tiên, các nhà thơ đã có ý thức nhìn cuộc đời bằng cái nhìn tỉnh táo, do
vậy thơ hiện ra như một hình thức tra vấn không ngừng về đời sống. Khát vọng
đổi mới ấy trong nghệ thuật đã được tiếp sức bởi công cuộc đổi mới của đất
nước. Màu sắc duy lí khá đậm trong thơ cho thấy ý thức tạo dựng nhãn quan
12


nghệ thuật mới của nhiều nghệ sĩ. Ý thức ấy bộc lộ qua hai dấu hiệu cơ
bản: thứ nhất, thơ ca đã bắt đầu bứt thoát khỏi những trận mưa trữ tình mang
tính đơn thanh và sự ngọt ngào thường thấy trong thơ 1945-1975, để tiến đến
sự đa dạng với những câu thơ trúc trắc, mang tính đối thoại cao, giọng điệu thơ
gần gũi với đời sống thường ngày; thứ hai, cái nhìn tỉnh táo của nhà thơ thực ra
là cái nhìn giàu chất suy tư, là bề ngoài của một nỗi đam mê lớn bên trong. Gắn
liền với những thay đổi ấy trong cấu trúc tư duy nghệ thuật là vị thế của nhà thơ
trong hoàn cảnh mới. Nhà thơ không phải là những người rao giảng đạo đức
hay minh họa cho một tư tưởng sẵn có mà phải góp phần đánh thức những khát
khao, những niềm trắc ẩn của con người trên cơ sở trình bày cảm nhận của
mình về các giá trị nhân sinh trong đời sống của con người bằng kinh nghiệm
cá nhân.
Các nhà thơ đã nỗ lực khám phá sự phong phú của “cái tôi ẩn giấu”, dám
phơi bày những bi kịch nhân sinh, phản biện những giá trị vốn đã quá ổn định
để đi tìm những giá trị mới trong đời sống xã hội hiện tại. Đây là lí do nhiều tác
phẩm xuất hiện cảm hứng “giải thiêng” và khát vọng muốn tìm đến những hình
thức tổ chức ngôn từ mới lạ. Trong nghệ thuật, không phải mọi nhận thức
chung về tư tưởng xã hội đều đồng nhất với những suy nghĩ cá nhân và văn bản
văn học không phải là những văn bản tuyên huấn có tính hình ảnh. Với tư cách
là một nghệ sĩ, cái quan trọng nhất là nhà thơ phải tạo ra được quan niệm riêng
về đời sống. Quan niệm ấy không hiện lên qua những lời thuyết lý khô khan mà
phải hoá thân vào từng câu chữ và hình tượng. Đó là lý do khiến các nhà thơ
sau 1986 chú ý nhiều hơn đến tính đa nghĩa của ngôn ngữ. Bên cạnh xu hướng
đưa thơ gần với đời sống là một cực khác: Ý thức tạo ra tính nhòe mờ trong
ngôn ngữ và biểu tượng. Xu hướng này muốn gia tăng chất ảo trong thơ, buộc
người đọc phải giải mã các sinh thể nghệ thuật qua nhiều chiều liên tưởng văn
hóa khác nhau.

13


Công cuộc đổi mới đã mở rộng cánh cửa giao lưu, hội nhập với thế giới,
và thơ, trước vận hội này, thơ cũng không thể nằm yên trong mô hình nghệ
thuật cũ. Bắt đầu xuất hiện những giọng thơ lạ, đậm chất “Tây”. Điều đó dẫn
tới nhiều cuộc trạnh luận về “ta” và “tây” trong thơ kéo dài đến mấy năm sau
sự kiện “Sự mất ngủ của lửa” (Nguyễn Quang Thiều) và thơ của một số nhà thơ
khác như Lê Đạt, Dương Tường, Đặng Đình Hưng. Các cây bút này có ý thức
phá vỡ các chiều tuyến tính, tạo nên những dòng chảy đứt nối và gia tăng tính
đồng hiện của các hình ảnh thơ hoặc cố gắng tỉnh lược các mối quan hệ bề nổi,
đặt những hiện tượng khác nhau bên cạnh nhau và buộc người đọc tự xác lập
mối lên hệ giữa chúng.
Như vậy, nhìn một cách tổng quát, thơ từ 1986 đến nay đã vận động một
cách mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa. Mặc dù, thơ chưa có được những đỉnh
cao nghệ thuật nhưng có sự thay đổi về tư duy và nhận thức một cách toàn diện
hơn. Do vậy, thơ Việt Nam trong giai đoạn này đã thực hiện một cuộc tạo đà
mạnh mẽ cho những kết tinh nghệ thuật trong các chặng đường tiếp theo.
Thơ Việt Nam đương đại phát triển và diễn ra trong điều kiện lịch sử - xã
hội đang có nhiều thay đổi nên việc xuất hiện nhiều khuynh hướng, trào lưu,
trường phái là một điều cần thiết và hợp quy luật. Nó thể hiện sự kiếm tìm dân
chủ và khát vọng đổi mới trong học thuật, sáng tạo để tạo ra sự đa dạng cho cả
nền thơ và đa dạng trong bút pháp của từng chủ thể sáng tạo. Quan sát toàn
cảnh, thơ Việt Nam đương đại, chúng ta chứng kiến sự tồn tại nhiều khuynh
hướng và nhiều nhóm thơ. Thậm chí có những nhà thơ có thể sáng tác theo
nhiều khuynh hướng, ở nhiều nhóm thơ trong những thời khoảng khác nhau. Vì
vậy, có tình trạng đan xen, cộng hưởng về thi pháp, khuynh hướng thơ. Nhưng
trong tổng thể thơ Việt Nam đương đại có thể phân chia thành các khuynh
hướng sau:
(1) Khuynh hướng nghiêng về thi pháp truyền thống: Xuất hiện từ Thơ
mới và thơ kháng chiến mà chủ thể chính là các nhà thơ trước 1945 và các nhà
thơ trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ.
Nhưng
14


đến thơ Việt Nam đương đại, khuynh hướng này vẫn có ảnh hưởng không nhỏ
tới sáng tác của các nhà thơ. Mặc dù nghiêng về thi pháp truyền thống nhưng
trong khuynh hướng thơ Việt Nam đương đại vẫn có sự cách tân trong bút pháp
nghệ thuật, cấu trúc bài thơ và hình ảnh. Các nhà thơ tiêu biểu cho khuynh
hướng sáng tác này có thể kể đến các tác giả như: Nguyễn Hữu Quý, Dương
Kiều Minh, Nguyễn Ánh Nông…
(2) Khuynh hướng nghiêng về thi pháp hiện đại với các thể nghiệm đa
dạng từ các trường phái thơ hiện đại phương Tây (tượng trưng, siêu thực) mà
chủ thể chính của chúng là các nhà thơ trẻ trưởng thành sau 1975, và một bộ
phận các nhà thơ lớp trước, muốn đổi mới, thể nghiệm theo thi pháp hiện đại
trước đây mà họ đã thể nghiệm dở dang như Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình
Hưng, Hoàng Cầm, Dương Tường…
(3) Khuynh hướng nghiêng về thi pháp hậu hiện đại mà chủ thể là các nhà
thơ trẻ trưởng thành sau 1975 như Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Đặng
Thân, Inrasara, Nguyễn Bình Phương, Ly Hoàng Ly, Trần Tiến Dũng, Nguyễn
Hữu Hồng Minh,… nhóm thơ Ngựa biển, Vụt hiện, Dự báo phi thời tiết…
Sự chuyển biến của đời sống xã hội, văn hóa, tư tưởng của đất nước từ
năm 1986 đến nay đã dẫn đến nhu cầu đổi mới thơ ca, mà trước tiên là đổi mới
quan niệm thẩm mĩ về hiện thực và con người, từ đó hình thành các khuynh
hướng thơ khác nhau. Các khuynh hướng thơ này đồng hành tồn tại kéo theo
những đặc điểm thi pháp nội dung và thi pháp hình thức đa dạng khác nhau như
thể loại, triết mỹ, ngôn ngữ… Những yếu tố này ảnh hưởng ít nhiều lẫn nhau,
nhưng nhìn chung đan xen, xem ghép lẫn nhau về thi pháp. Khó mà phân chia
rạch ròi thi pháp riêng thuần tuý của từng nhà thơ, từng thi phẩm.
1.1.3. Khái niệm hậu chiến và đề tài sau chiến tranh
1.1.3.1. Khái niệm hậu chiến
Theo Từ điển tiếng Việt hậu chiến là “thuộc về sau chiến tranh” [29,
tr.558]. Như vậy, văn học hậu chiến có thể được hiểu là văn học viết sau chiến

15


tranh. Nó dùng để chỉ văn học Việt Nam sau năm 1975. Ngoài ra những sáng
tác văn học trong giai đoạn này còn được gọi là “Văn học đương đại Việt Nam”
nằm trong phạm trù “Văn học hiện đại”.
1.1.3.2. Đề tài sau chiến tranh thời hậu chiến
Trong văn học nước nhà, đề tài chiến tranh luôn là đề tài lớn được các nhà
văn, nhà thơ khai thác không chỉ là của văn học chiến tranh mà cả văn học hậu
chiến. Bởi cả dân tộc ta bước ra cuộc chiến đau thương mà oanh liệt nhưng
những dư âm của chiến tranh vẫn còn hiện hữu trong cuộc sống hàng ngày.
Cùng với sự phát triển của đất nước, xã hội đã có nhiều thay đổi nên nhận thức
và cách tái hiện chiến tranh của các tác giả đã có nhiều cách nhìn khác nhau.
Những đổi thay trong quan điểm sáng tác, nhiều nhà văn đã thẳng thắn
nhìn vào chiến tranh để tái hiện những tổn thất, đau thương mà dân tộc ta đã
trải qua. Họ dùng hình thức bi kịch để tái hiện chiến tranh. Tiêu biểu cho
khuynh hướng này có thể kể đến các tác giả như Bảo Ninh với “Nỗi buồn chiến
tranh”, Dương Hướng với “Bến không chồng”, Nguyễn Trí Huấn với “Chim én
bay”, Trần Huy Quang với “Nước mắt đỏ”… Tiếp cận chiến tranh với góc nhìn
của những người chiến thắng, một số nhà văn đã sử dụng hình thức tráng ca
tiêu biểu như: Hồ Phương với “Ngàn dâu”, Phan Tứ với “Người cùng quê”,
Nam Hà với “Đất Miền Đông”, Đặng Đình Loan với “Đường thời đại”… Bên
cạnh những nhà văn sinh ra và trưởng thành trong chiến tranh, thì văn học hậu
chiến có sự góp mặt của các tác giả không trải qua cuộc chiến. Do vậy, họ nhìn
chiến tranh với những phương diện rất riêng: Nguyễn Đình Tú với “Xác
phàm”, Nguyễn Bình Phương với “Mình và họ”… Lối viết của thế hệ nhà văn
trực tiếp trải qua chiến tranh thiên hướng “tả trận”, với cảm hứng sử thi và lãng
mạn để kể chuyện về chiến tranh. Còn thế hệ nhà văn sinh ra sau chiến tranh
nghiêng về “nghiền ngẫm” thế sự.
1.2. Thơ Nguyễn Hữu Quý
1.2.1. Tiểu sử nhà thơ
Nguyễn Hữu Quý sinh ngày 14 tháng 4 năm 1956 tại Thanh Trạch, Bố
Trạch, Quảng Bình. Mùa hè năm 1974, sau khi vừa tốt nghiệp cấp III, ông xếp
16


bút lên đường nhập ngũ. Ban đầu, Nguyễn Hữu Quý công tác tại Đoàn 559, sau
đó chuyển sang Binh đoàn Trường Sơn (Binh đoàn 12). Từ 1974 đến 1996 ông
đã lăn lộn cùng đồng đội và nhân dân hai nước Việt - Lào trên tuyến đường
Trường Sơn hùng vĩ. Nguyễn Hữu Quý tận mắt chứng kiến bao kỳ tích lịch sử
hào hùng, bao chiến công hiển hách, tội ác của giặc Mỹ và cùng với những gian
khổ, khó khăn, mất mát, đau thương của quân và dân ta đã trải qua. Đồng thời
ông cũng chứng kiến nhiều đồng chí, đồng đội dũng cảm chiến đấu hi sinh, các
bà mẹ trong ngày đất nước thống nhất không thấy con ra trận trở về. Đó là
nguồn lực thôi thúc Nguyễn Hữu Quý cầm bút sáng tác.
Nguyễn Hữu Quý ý thức rất sớm về con đường sáng tác của mình. Do
vậy, ông theo học cử nhân Văn tại Trường Đại học Khoa học Huế. Đến năm
1987 ông tốt nghiệp, đó là nền tảng vững chắc cho thơ ông sau này. Sau khi
học xong cử nhân Văn, ông lại tiếp tục trở lại quân ngũ. Hơn hai mươi năm
sống nghiệp nhà binh để lại cho Nguyễn Hữu Quý nhiều kỷ niệm và cảm xúc.
Không những vậy, nó còn in đậm trong đề tài sáng tác của ông. Trong thơ
Nguyễn Hữu Quý, đề tài chiến tranh, cùng với chiều sâu cảm nhận về Tổ quốc,
về quê hương, về nỗi đau chiến tranh luôn gây ấn tượng mạnh nhất và trở thành
nguồn cảm hứng chủ đạo trong các sáng tác của nhà thơ.
Với niềm đam mê văn chương cuộc đời, Nguyễn Hữu Quý đã thật sự
chuyển bước ngoặt lớn bằng việc bước hẳn sang con đường nghệ thuật. Năm
1997 ông chuyển công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội với các chức danh
biên tập viên, trưởng ban thơ. Tuy quê ở Quảng Bình, lấy vợ và sinh sống một
thời gian khá dài tại Quảng Trị là nơi anh đóng quân nhưng khi đi theo con
đường viết văn Nguyễn Hữu Quý và gia đình đã chuyển ra Hà Nội sống.
Mặc dù chính thức bước sang nghiệp văn chương từ năm 1997 bằng việc
tham gia Hội viên hội nhà báo Việt Nam. Đến năm 2000 Nguyễn Hữu Qúy
chính thức được kết nạp vào hội viên hội nhà văn Việt Nam. Đây là bước ngoặt
lớn trong văn nghiệp của ông. Đó là sự khẳng định tên tuổi cũng như những
đóng góp của Nguyễn Hữu Quý cho văn nền học nước nhà.
17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×