Tải bản đầy đủ

chuyen đe TV 2018

PHÒNG GD VÀ ĐT THÔNG NÔNG
TRƯỜNG PTDTBT THCS CẦN NÔNG

HỒ SƠ
ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN CẤP HUYỆN
TÊN SÁNG KIẾN: “ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC PHÂN
MÔN TIẾNG VIỆT Ở TRƯỜNG PTDTBT THCS CẦN NÔNG ”
LĨNH VỰC ÁP DỤNG: Ngữ Văn
Người thực hiện: NÔNG THỊ HỒNG
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị : trường PTDTBT THCS Cần Nông

1


Cần Nông, tháng 10 năm 2018

2


Phßng GD - §T th«ng n«ng

TRƯỜNG PTDTBTTHCS CẦN NÔNG

BÁO CÁO SÁNG KIẾN
TÊN SÁNG KIẾN: “ NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG DẠY –HỌC PHÂN MÔN TIẾNG
VIỆT LỚP 6 Ở TRƯỜNG PTDTBT THCS
CẦN NÔNG ”
LĨNH VỰC ÁP DỤNG: NGỮ VĂN

Người thực hiện: NÔNG THỊ HỒNG
Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị : trường PTDTBTTHCS Cần Nông

CỘNG
HỘI2018
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Cần
Nông,HÒA
thángXÃ
9 năm
Độc lập - Tự do- Hạnh phúc
3


ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng khoa học huyện Thông Nông
Tôi ghi tên dưới đây:
Tt Họ và tên

1

Nông Thị Hồng

Ngày tháng Nơi công tác

Chức

Trình độ Tỉ lệ (%)


năm sinh

danh

chuyên

đóng

môn

vào việc tạo
ra sáng kiến
100%

12/09/1985

trường

Giáo

Cao

PTDTBT

viên

Đẳng

góp

THCS Cần THCS
Nông

Hạng III

I. Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: Nâng cao chất lượng dạy- học
Tiếng Việt ở trường PTDTBTTHCS Cần Nông.
II. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
III. Lĩnh vực áp dụng: Ngữ Văn.
IV. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc thử: Áp dụng vào giảng dạy
trong chương trình Phần Tiếng Việt tại trường PTDTBT THCS Cần Nông.
Sáng kiến đã thực hiện từ năm 2016 -2017 và 2017-2018 đối với Bài 23 tiết 95 Ẩn
dụ -Bài 24 tiết 101 Hoán dụ. Dự kiến năm học 2018-2019 dự kiến thực hiện như
sau:
Lớp 6: Số từ - Lượng từ: Tuần 12 ( tháng 11 năm 2018)
Ẩn dụ

Tuần 25 ( tháng 02 năm 2019)

Hoán dụ

Tuần 27 (tháng 03 năm 2019)

Câu trần thuật đơn không có từ là tuần 32 (tháng 4 năm 2019)
V. Mô tả bản chất sáng kiến.
1. Thực trạng trước khi áp dụng sáng kiến.
1.1. Thực trạng trước khi áp dụng sáng kiến

4


Việc dạy từ ngữ, ngữ pháp liên quan trực tiếp và nhiều nhất đến việc dạy
văn trong nhà trường. Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi "văn học là nghệ
thuật ngôn từ".
Văn học xây dựng các hình tượng nghệ thuât bằng phương tiện ngôn từ. Tất
cả các đơn vị của ngôn ngữ từ các đơn vị ngữ âm đến các đơn vị ngữ pháp đều góp
phần làm tròn nhiệm vụ này. Đặc biệt là những bài học về các biện pháp tu từ từ
vựng.
Thế nhưng, từ trước đến nay, việc dạy những bài học này cũng chủ yếu là
dạy như những bài học lý thuyết khác. Ở mục bài học giáo viên thường dùng
phương pháp cũ như phân tích dữ liệu trong bài thông qua hệ thống ngôn ngữ bài
học để hình thành khái niệm, hoặc phương pháp vấn đáp gợi tìm để hướng dẫn
học sinh hình thành khái niệm. Các phương pháp này có ưu điểm là dễ tiến hành,
phù hợp với đặc trưng của phần Tiếng Việt và trình độ của tư duy của người học.
Tuy nhiên tiến hành dạy – học bằng các phương pháp này dễ dẫn đến việc mổ xẻ
và phân tích vụn vặt do thao tác phân tích chia nhỏ các hiện tượng ngôn ngữ. Dễ
bỏ qua việc phân tích giá trị sử dụng của các đơn vị ngôn ngữ trong các tình huống
giao tiếp do quá chú ý đến phân tích cấu trúc ngôn ngữ. Và phương pháp này đối
với một số bài sẽ không củng cố lại được hết kiến thức trước đó, cũng chưa giúp
cho học sinh tự tìm ra điểm khác biệt giữa các biện pháp tu từ ở bài trước và bài
sau. Do vậy học sinh chưa tự hình thành được kĩ năng so sánh sự khác biệt giữa
các từ loại, các biện pháp tu từ… Chính điều này làm cho các em rối hơn khi phân
biệt các từ loại, các biện pháp tu từ; nhầm lẫn giữa từ loại này và từ loại kia. Học
Tiếng Việt là để các em nói đúng hơn, hay hơn. Nhưng nếu các em đến việc phân
biệt giữa các từ loại còn lơ mơ, không rõ ràng thì làm sao các em có thể hiểu được
cái hay cái đẹp trong mỗi ý thơ mà tác giả gửi gắm? và chính bản thân các em làm
sao có thể nói đúng hơn, hay hơn?.
1.2. Giải pháp đã sử dụng
Nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy và học Tiếng việt, bản thân tôi
cũng băn khoăn và đưa ra một số giải pháp để giảng dạy cho phù hợp với học sinh
như: Phân tích ngữ liệu, rèn luyện theo mẫu, phương pháp giao tiếp…
5


- Phương pháp phân tích ngữ liệu: Thực chất của phương pháp này là từ việc
quan sát, phân tích các hiện tượng ngôn ngữ theo các chủ đề để tìm ra dấu hiệu đặc
trưng của chúng và rút ra những kiến thức cần ghi nhớ. Tức là trên cơ sở VD mẫu,
GV cho HS quan sát, PT, so sánh đối chiếu để tìm ra nét đặc trưng cơ bản của khái
niệm và qui tắc từ đó hình thành kiến thức mới cho HS. Phương pháp này tốt cho
việc hình thành kiến thức mới, nhưng không hệ thống đươc kiến thức cũ, do vậy
HS không thể phân biệt được cái đã học và cái đang học khác nhau ở điểm nào.
Ngoài ra khi sử dụng phương pháp này, giáo viên thường phải sử dụng hệ thống
câu hỏi gợi mở, đôi khi chia nhỏ câu hỏi quá khiến bài học trở nên lẩn quẩn và mất
thời gian.
- Phương pháp rèn luyện theo mẫu: là phương pháp hoạt động có ý thức, trong
đó GV chọn và giới thiệu các mẫu hoạt động lời nói, để HS hiểu và nắm vững cơ
chế của chúng, rồi bắt chước mẫu đó một cách sáng tạo vào lời nói của mình.
Phương pháp này trải qua 4 thao tác cơ bản:
+ Cung cấp mẫu lời nói.
+ GV hướng dẫn HS phân tích mẫu theo các yêu cầu cụ thể
+ HS mô phỏng mẫu một cách sáng tạo để tạo ra lời nói của mình.
+ Kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm
Phương pháp này có đặc điểm là dễ thực hiện, tuy nhiên nhiều học sinh sẽ sa
vào mô phỏng theo mẫu một cách máy móc, không khơi gợi được trí tưởng tưởng
và sự sáng tạo của học sinh. Học sinh cũng khó phân biệt được trọng tâm bài học,
thiếu kĩ năng so sánh với bài trước khiến các em cảm thấy mông lung khó hiểu.
- Phương pháp giao tiếp: Phương pháp giao tiếp là phương pháp dẫn dắt HS vận
dụng lí thuyết đã học vào thực hiện các hoạt động giao tiếp thông qua các tình huống
cụ thể với các thao tác cơ bản :
+ Tạo tình huống kích thích nhu cầu giao tiếp và định hướng giao tiếp cho HS(mục
đích, nội dung, nhân vật giao tiếp, cách thức giao tiếp).
+HS căn cứ nhiệm vụ giao tiếp để tạo ra lời nói cụ thể.
+ Đánh giá, nhận xét, rút kinh nghiệm về mẫu lời nói được tạo ra
+Rút ra kiến thức cần ghi nhớ và ứng dụng thực hành trong tình huống giao tiếp
khác
Tuy nhiên để thực hiện tốt phương pháp này giáo viên cần chú ý đến các yếu
tố: mục đích giao tiếp, nội dung giao tiếp, nhân vật giao tiếp, cách thức và hoàn cảnh
6


giao tiếp. Khi sử dụng phương pháp này, nhiều học sinh thực hiện tương đối tốt
nhưng chủ yếu là dành cho việc tìm hiểu kiến thức mới chứ không thể dung song
song vừa phân biệt được kiến thức mới và kiến thức cũ về các từ loại, các phép tu từ
gần giống nhau đặc biệt là các phép tu từ từ vựng. Từ chỗ khó phân biệt dẫn đến tình
trạng các em sợ học vì nó mông lung khó hiểu, khó phân biệt. Đặc biệt trong các
văn bản thơ các em không phát hiện được các phép tu từ mà tác giả sử dụng. Từ đó
các em không có hứng thú với môn học, cảm thấy môn học khó hiểu, trừu tượng và
càng sợ các em sẽ càng rời xa môn học. Trong những năm gần đây, hiện tượng dùng
từ sai và sử dụng các phép tu từ chưa đúng của học sinh khiến cả xã hội dở khóc dở
cười nhưng lại mang một điều gì đó thất vọng và đáng suy nghĩ.
Xảy ra tình trạng như vậy, theo tôi là có 2 nguyên nhân cơ bản :
+ Thứ nhất : Người học chưa thật sự yêu thích môn học, thấy khó là từ bỏ.
Không chịu trau dồi vốn từ của bản thân, không tìm hiểu nghĩa của từ cần sử dụng
dẫn đến việc dùng sai từ hoặc lẫn lộn giữa các từ loại và các phép tu từ.
+ Thứ hai: Người dạy chưa truyền tải lượng thông tin một cách có hệ thống
tới người học, đôi khi bị sa vào phân tích, mổ xẻ vụn vặn, lượng thông tin quá
nhiều khiến các em khó tiếp thu và không nhận ra trọng tâm bài học.
Chính từ những nguyên nhân này đã thôi thúc tôi thực hiện sáng kiên “ Nâng
cao chất lượng dạy – học phân môn Tiếng Việt ở trường PTDTBTTHCS Cần
Nông”.
Trong quá trình lên lớp và tìm hiểu, tôi đã nghiên cứu và tìm hiểu một cách
dạy – học mới cho một số bài trong phần Tiếng Việt. Đó là cách dạy – học những
điều chưa biết trên cơ sở những điều đã biết, lấy cái đã biết đặt cạnh cái chưa biết
rồi so sánh tìm ra điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng, tạm gọi là so sánh
ngang. Nghĩa là đối chiếu so sánh các đơn vị kiến thức ngang nhau, gần giống
nhau để người học nhận ra, rút ra sự khác biệt giữa các từ loại, các phép tu từ.
Đồng thời để củng cố đơn vị kiến thức đã học trước đó.
Ví dụ: lấy so sánh để đặt cạnh ẩn dụ, hoặc ẩn dụ đặt cạnh hoán dụ. Câu đơn
đặt cạnh câu ghép, nói quá đặt cạnh nói giảm nói tránh, nghĩa tường minh đặt cạnh
7


nghĩa hàm ẩn…Ẩn dụ vốn cũng là so sánh, nhưng ẩn dụ là so sánh ngầm. Nếu
trong phép tu từ so sánh, vật được so sánh và vật được mang ra so sánh đều có mặt
đầy đủ trong câu tạo thành 2 vế, thì ở phép tu từ ẩn dụ, vật được so sánh ẩn đi,
trong câu chỉ có vật được mang ra so sánh. Có thể tóm tắt theo sơ
đồ như sau:
Cấu tạo
câu

Vế A
( Vật được so
sánh)

So sánh

Rừng đước

Vế B
(Vật được mang ra so
sánh)
dựng lên cao ngất như hai

dãy trường thành vô tận

Có đầy đủ cả 2 vế A và B
(Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng)
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Vế A (Bác Hồ) bị ẩn đi, trong câu chỉ xuất hiện vế B
(Mặt trời - vật được mang ra so sánh)

Ẩn dụ:

-> “Mặt trời” trong câu thơ thứ 2 là hình ảnh ẩn dụ. Bác Hồ được ví như
mặt trời bởi vì Bác soi sáng, dẫn đường chỉ lối cho dân tộc ta thoát khỏi
cuộc sống nô lệ tối tăm, đi tới độc lập, tự do, hạnh phúc.
Để dạy – học theo phương pháp này, giáo viên thực hiện như sau:
* Khâu chuẩn bị : ngoài việc nghiên cứu tài liệu, chuẩn bị đồ dùng dạy học,
giáo viên cần:
- Xây dựng hệ thống liên tưởng cho đối tượng dạy – học bằng cách tìm hiểu
trong chương trình Tiếng Việt mà học sinh đã học hoặc trong vốn kiến thức mà
các em đã biết chọn ra một hoặc một số đối tượng cùng loại vừa có điểm gần gũi
vừa có điểm khác biệt với đối tượng ngôn ngữ cần tìm hiểu để tạo thành với đối
tượng đó một hệ thống nhỏ.
-

Xác định hệ thống câu hỏi với các tiêu chuẩn:
+ Tính khoa học : Câu hỏi đúng, chính xác về nội dung kiến thức, kĩ năng; hợp lí

trong cách trình bày, sắp xếp.

8


+ Tính sư phạm: Ngôn ngữ trong sáng, rõ ràng, ngắn gọn; đảm bảo tính vừa sức
và phân hóa trong dạy – học.
+ Tính hệ thống: câu hỏi trước gợi mở, dẫn dắt câu hỏi sau, câu hỏi sau bổ sung
hoàn thiện cho câu hỏi trước. Các câu hỏi chi phối, ràng buộc lẫn nhau, đồng thời
giữ những vị trí nhất định không thể thay thế hoặc đổi chỗ cho nhau.
+ Tính hấp dẫn: Để cuốn hút học sinh vào việc tìm tòi, khám phá tri thức mới,
câu hỏi xuất phát từ những gì quen thuộc, vốn có nhưng lại không cũ mòn, nhàm
chán; hỏi những điều thực sự mới mẻ nhưng không quá xa lạ.
+ Tính đa dạng: Đưa ra những kiểu câu hỏi khác nhau với nhiều mức yêu cầu
khác nhau, hướng tới việc mục đích so sánh, đối chiếu để tìm ra những điểm thống
nhất và khác biệt giữa các đối tượng trong các ví dụ.
- Các bước lên lớp như sau:
+ Bước 1: Giáo viên đưa ra ví dụ trong đó có chứa đối tượng ngôn ngữ cần tìm
hiểu và hệ thống liên tưởng đã được lựa chọn giúp học sinh nhận diện đơn vị ngôn
ngữ đã học, đã biết.
+ Bước 2: Giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi dẫn dắt để học sinh qua phân tích
các hiện tượng ngôn ngữ trong ví dụ mà tìm ra điểm giống nhau và điểm khác biệt
giữa hiện tượng ngôn ngữ cần tìm hiểu với cái đã học, đã biết.
+ Bước 3: Giáo viên gợi ý để học sinh trả lời bằng cách dựa vào khái niệm về hiện
tượng ngôn ngữ đã học hoặc hiểu biết về hiện tượng ngôn ngữ đã biết, dựa vào
điểm khác biệt của hiện tượng ngôn ngữ cần tìm hiểu so với hiện tượng kia mà rút
ra khái niệm, kết luận về đối tượng tìm hiểu.
+ Bước 4: Phân tích – chứng minh:
Giáo viên cung cấp ngữ liệu mới có chứa hiện tượng ngôn ngữ vừa học, yêu
cầu học sinh phát hiện hiện tượng ngôn ngữ mới đó, chứng minh phát hiện của
mình là đúng bằng việc vận dung tri thức ngôn ngữ vừa được hình thành. Thao tác
này cần được làm nhiều lần để học sinh thực sự nắm và vận dụng được khái niệm,
quy tắc vừa học.
9


Bước này giúp học sinh củng cố, khắc sâu lí thuyết và hình thành kĩ năng cơ
bản.
+ Bước 5: Phân tích – phán đoán:
Giáo viên tiếp tục đưa ra bài tập nhanh, bài tập này có chứa hiện tượng ngôn
ngữ vừa học lẫn giữa các hiện tượng ngôn ngữ khác, yêu cầu học sinh phát hiện
nhanh hiện tượng ngôn ngữ vừa học, không cần chứng minh. Đây là thao tác có thể
tiết kiệm được thời gian, nhưng muốn áp dụng đạt hiệu quả thì các bước trước học
sinh đã thành thạo. Bước này được sử dụng để thành thục hóa kĩ năng nhận diện
hiện tượng ngôn ngữ dựa theo lí thuyết.
+ Bước 6: Phân tích – tổng hợp:
Giáo viên đưa ra những bài tập củng cố bài học. Bài tập này có các yêu cầu
nhận xét, đánh giá tác dụng của việc đưa hiện tượng ngôn ngữ vừa học vào giao
tiếp, các bài tập yêu cầu về sử dụng ngôn ngữ đó hay vận dụng hiện tượng ngôn
ngữ đó vào những hoạt động nói, viết cụ thể. Đây là thao tác hướng dẫn học sinh
sử dụng hiện tượng ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp, là bước cuối cùng và hết sức
quan trọng, toàn bộ bài học đều hướng tới mục đích này.
Bài 23
Tiết 95 TIẾNG VIỆT

ẨN DỤ

Hoạt động 1: 17’ HD học sinh tìm A. BÀI HỌC
hiểu mục I - Ẩn dụ là gì.

I.

GV: Theo chương trình giảm tải của

1. Ví dụ:

Bộ giáo dục và đào tạo thì bài học
này chỉ tìm hiểu phần I ẩn dụ và tác
dụng của ẩn dụ.

ẨN DỤ LÀ GÌ?

a, Thân em như dải lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?
b , Anh đội viên nhìn Bác
Càng nhìn lại càng thương
Người Cha mái tóc bạc

H: Trong 2 ví dụ trên, VD nào chứa

Đốt lửa cho anh nằm
10


biện pháp tu từ nào đã học?
( VD a)

2. Nhận xét:
So sánh

Ân dụ

H: Đó là biện pháp tu từ nào?
( so sánh)
H: So sánh là gì? ( đối chiếu A – B)
H: Thực hiện so sánh khi nào? ( khi
B tương đồng với A
H: so sánh để làm gì?

- Đối chiếu A – B
- Khi B tương đồng
A
- Nhằm tăng sức
gợi hình gợi cảm.

H: “Người Cha” trong VD b chỉ ai?
( Bác Hồ)
H: “Người Cha” tương ứng với vế
nào trong so sánh? ( vế B – đối tượng

- Đối chiếu A – B

được đem ra so sánh)

( ẩn A, chỉ có B

H: “Người Cha” và “Bác Hồ” có

(so sánh ngầm)

điểm gì giống nhau?
( là nam giới, độ tuổi trung niên, có
tình yêu thương kín đáo, sự chăm sóc
chu đáo dành cho các con….)

- Khi

B tương

đồng với A.

H: Có các điểm giống nhau thì gọi là
gì? (Tương đồng)
H: Có điểm gì giống và khác với so
sánh? (có 2 vế - nhưng A bị ẩn đi, chỉ
có B nhưng ta vẫn ngầm hiểu vế A:
BH như người Cha mái tóc bạc -> so
sánh ngầm => Ẩn dụ
GV: Điểm này cũng giống với so
11


sánh là thực hiện dựa trên nét tương

- Tăng sức gợi

đồng của các sự vật.

hình gợi cảm cho

H: Ví như vậy tạo cảm giác gì? Làm

sự diễn đạt

cho câu thơ có tính biểu cảm ( tình
cảm của Bác đối với các chiến sĩ dạt
dào, thầm kín, gần gũi giống tình
cảm cha con ) và tính hàm súc cao
(chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc)
H: Thế nào là ẩn dụ?
Học sinh đọc ghi nhớ ( 2 HS)
* Bài tập củng cố:
H: Tìm ẩn dụ trong vd?
H: tại sao mặt trời 2 là ẩn dụ?

3. Ghi nhớ : SGK /68
* Tìm phép ẩn dụ trong 2 câu thơ sau:
Mặt trời của bắp thì ở trên đồi
Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng.
(Nguyễn Khoa Điềm)
=>“Mặt trời” trong câu thơ thứ 2 là ẩn
dụ : đứa con được ví như mặt trời của
người mẹ, con là nguồn sống, nguồn nuôi
dưỡng niềm tin của người mẹ vào ngày
mai, vào tương lai
VD2: Tìm hình ảnh ẩn dụ trong các câu
thơ

H : Tìm hình ảnh ẩn dụ trong các
câu thơ ?
(Người giai nhân khách đợi bến cây
già
Tình du khách thuyền qua không
buộc chặt).
Thuyền về có nhớ bến chăng

a. Người giai nhân khách đợi bến cây già
Tình du khách thuyền qua không buộc
chặt
b. Thuyền về có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
=> Thuyền: Người đi xa (thường chỉ
người con trai).
Bến: Chỉ người ở lại ( Thường chỉ người
12


Bến thì một dạ khăng khăng đợi con gái).
thuyền
H : Thuyền và bến chỉ ai ?

GV chuyển ý: Như vậy là chúng ta B. LUYỆN TẬP.
đã đi tìm hiểu xong khái niệm và tác
dụng của ẩn dụ. Để củng cố và khắc
sâu kĩ hơn về bài học, chúng ta
chuyển sang phần Luyện tập
2. Tính mới, tính sáng tạo, tính hiệu quả của sáng kiến.
2.1. Tính mới.
* Đối với giáo viên:
Đây là một phương pháp mới, lần đầu tiên được áp dụng trong trường PTDT
BT THCS Cần Nông. Phương pháp này không trùng với các sáng kiến của các giáo
viên khác đã làm thực hiện trước đây.
* Đối với học sinh:
Phương pháp này có tính thay đổi chuyển biến tích cực so với những phương
pháp đã dạy trước đây, phù hợp với đối tượng học sinh của trường và nâng cao
được hiệu quả, chất lượng dạy - học các bài học Tiếng Việt có đặc điểm gần giống
nhau trong dạy và học chương trình Tiếng Việt trường PTDTBTTHCS Cần Nông.
2.2. Tính sáng tạo.
Đây là phương pháp mới và sáng tạo trong dạy – học tiếng việt ở trường THCS.
Phương pháp này sáng tạo hơn các phương pháp khác là đối với những từ loại, các
phép tu từ gần giống nhau, học sinh khó phân biệt, giáo viên sẽ vận dụng phương
pháp này để dạy cái chưa biết dựa trên cơ sở cái đã biết. Qua đó, học sinh hình
thành được khái niệm về cái chưa biết và rút ra được sự khác biệt giữa chúng.

13


Ví dụ : Khái niệm về ẩn dụ và hoán dụ rất giống nhau. Ẩn dụ là dựa trên nét
tương đồng, còn hoán dụ dựa trên nét tương cận. Do đó, HS khó phân biệt được hai
phép một cách rõ ràng. Học sinh rất hay nhầm lẫn giữa hai phép tu từ này. Vậy để
học sinh phân biệt được rõ rang, thì khi dạy – học Hoán dụ, giáo viên đặt Hoán dụ
bên cạnh Ẩn dụ, vừa so sánh sự khác biệt vừa hình thành kiến thức mới, từ đó hình
thành khái niệm về Hoán dụ và để HS rút ra được sự khác nhau giữa hai phép tu từ
này.
Đây là phương pháp dạy học có tính khoa học dựa trên tư duy logic của
con người. Cơ sở của phương pháp này là tư duy của con người thường được sắp
xếp hiện thực theo hệ thống. Khi người ta nghĩ hoặc nói ra một từ nào đó thì
nhiều từ khác đồng thời cũng hiện lên trong ý thức của người ấy. Đó là những từ
ngữ có quan hệ tương đồng, tương phản về ý nghĩa có thể xuất hiện đồng thời và
những từ ngữ cùng trường nghĩa có thể xuất hiện trước, sau trong chuỗi kế tiếp với
từ ban đầu. Do vậy, đặt các đối tượng cạnh nhau để xem xét sẽ giúp cho người đọc
tự rút ra được những tri thức cần thiết vể đối tượng.
Sáng kiến đảm bảo được những yêu cầu sau:
- Có luận đề: Đặt vấn đề ngắn gọn, rõ ràng ( Giới thiệu được thực trạng, mục đích
ý nghĩa cần đạt, những giới hạn cần có..)
- Có luận điểm: Có những biện pháp tổ chức thực hiện cụ thể.
- Có luận cứ khoa học, xác thực thông qua các phương pháp hoạt động thực tế.
- Có luận chứng: Có những số liệu cụ thể thuyết phục được người đọc.
Toàn bộ nội dung được trình bày hợp lý, có quan hệ chặt chẽ giữa các vấn đề
được nêu, có sử dụng các phương pháp để phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát
được mục tiêu, vấn đề được nêu ra; phù hợp với quy luật, với xu thế chung, không
phải là ngẫu nhiên.
Giải pháp này là cách dạy mới, lần đầu tiên tôi áp dụng vào bài giảng của
mình trong chương trình ngữ văn lớp 6 ở trường PTDTBT THCS Cần Nông. Qua
bài giảng tôi thấy học sinh hứng thú hơn, tích cực làm việc hơn trong giờ học.
2.3. Về hiệu quả:
14


Đây là phương pháp có thể giúp học sinh hiểu được ý nghĩa, giá trị của các
đơn vị ngôn ngữ cụ thể qua vị trí, vai trò của nó trong hệ thống. Qua đó mà hiểu
thêm về hệ thống và các đơn vị khác trong hệ thống. Đồng thời phương pháp này
cũng giúp học sinh rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo sử dụng Tiếng Việt, rèn luyện tư duy
lôgic, hệ thống, củng cố lại những điều đã biết, đã học một cách có hệ thống.
* Kết quả quá trình dạy:
- Nhìn chung sau bài học các em nắm được các khái niệm cơ bản thông qua
các ví dụ có hệ thống và lôgic.
- Học sinh lấy được các ví dụ để minh hoạ
- Học sinh làm tốt các bài tâp và biết vận dụng vào để đặt câu, viết đoạn
văn.
Kết quả kiểm tra 15 phút của bài " Ẩn dụ" so với năm trước khi chưa thực
hiện kinh nghiệm này, học sinh có nhiều tiến bộ.
Đề kiểm tra 15 phút : Ẩn dụ là gì? ẩn dụ khác so sánh ở điểm nào?
Xác định phép ẩn dụ trong đoạn thơ sau:
“Chỉ có biển mới hiểu mới hiểu
Thuyền đi đâu về đâu
Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu nhung nhớ”
Kết quả
Kết quả

Số lượng Điểm

Điểm

Điểm

học sinh

khá

trung

giỏi

Năm học

Điểm yếu

Điểm
kém

bình

2016- 2017

30

1

7

14

4

4

2017 - 2018

36

8

10

16

2

0

3. khả năng và điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến.
Phương pháp này có thể áp dụng vào giảng dạy trong chương trình Phần Tiếng
Việt tại trường PTDTBT THCS Cần Nông.
Đặc biệt là các bài sau:
15


STT Tên bài
1
Từ mượn

Lớp

2

So sánh

6

3

Số từ và lượng từ

6

4

Ẩn dụ

6

5

Hoán dụ

6

6
7

Câu trần thuật đơn có từ là
Câu trần thuật đơn không có từ là

6
6

8

Từ trái nghĩa

7

9

Từ đồng âm

7

10

Điệp ngữ

7

11

Chơi chữ

7

12

Câu rút gọn

7

13

Câu đặc biệt

7

14

Nói quá

8

15

Nói giảm nói tránh

8

16

Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ý

Ghi chú

6

9
3. Những thông tin cần được bảo mật: không có.
4. Điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Để dạy- học theo phương pháp này cần có những điều kiện sau:
- Giáo viên nắm vững kiến thức các từ loại, các phép tu từ liên quan đến bài

học. Làm chủ kiến thức trên lớp và tổ chức lớp học theo định hướng mà giáo viên
đã dự kiến.
- Chuẩn bị kỹ nội dung lên lớp, hệ thống câu hỏi logic, rõ ràng, khoa học, dế
hiểu với người học.
- Học sinh tập trung vào bài giảng và nắm vững kiến thức phần trước.
VI. Đánh giá những lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến
của tác giả.
Trong bối cảnh hiện nay, học sinh không thiết tha với môn Ngữ Văn, nhiều
em sử dụng sai từ ngữ, hiểu không đúng về các phép tu từ đã phần nào làm cho cả
xã hội có cái nhìn lệch lạc về bộ môn và những người thầy trực tiếp giảng dạy bộ
môn này.
16


Vì vậy, việc sử dụng sáng kiến “ Nâng cao chất lượng dạy – học Tiếng Việt 6
ở trường PTDTBT THCS Cần Nông” thực sự rất cần thiết. Khi sử dụng sáng kiến
này, cả thầy và trò đều có sự cố gắng nỗ lực để hướng tới mục tiêu của môn học.
Thầy nghiên cứu kỹ bài, nắm vững được từng từ loại sẽ hướng dẫn cho học sinh tốt
hơn. Ngược lại, trong quá trình lên lớp, trò sẽ vừa được hệ thống kiến thức cũ,
đồng thời nắm bắt bắt được kiến thức mới dựa trên những kiến thức đã biết. Điều
này làm cho các em hứng thú tìm tòi khám phá tri thức mới. Bước đầu làm phong
phú hóa về phương pháp dạy và học bộ môn, nâng cao hơn chất lượng học tập của
HS tại nhà trường.
Sau quá trình nghiên cứu, tôi đã vận dụng phương pháp trên vào quá trình
giảng dạy bước đầu đã có những dấu hiệu khả quan. Tôi nhận thấy trong giờ học,
thầy và trò cùng làm việc tích cực, học sinh hứng thú trong giờ học. Số lượng học
sinh hiểu bài cao hơn, các em nắm được kiến thức bài trước bài sau, không lẫn lộn
giữa các phương pháp. Và đặc biệt là về việc xác định các biện pháp tu từ từ vựng
trong môn Ngữ Văn của các em dễ dàng hơn. Nhiều học sinh biết vận dụng những
phép tu từ này vào diễn đạt làm cho bài viết hay hơn, sinh động hơn.
VII. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến của cá nhân đã
tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu.
Khi áp dụng sáng kiến, có thể nhận thấy trong giờ học, thầy và trò cùng làm
việc tích cực, học sinh hứng thú trong giờ học. Số lượng học sinh hiểu bài cao hơn,
các em nắm được kiến thức bài trước bài sau, không lẫn lộn giữa các từ loại. Và
đặc biệt là về việc xác định hai từ loại này của các em dễ dàng hơn. Nhiều học sinh
biết vận dụng những từ loại này vào diễn đạt làm cho bài viết hay hơn, sinh động
hơn.
VIII. Danh sách những người đã tham gia áp dụng sáng kiến: không có.
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trên trong đơn là trung
thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
XÁC NHẬN CỦA TỔ TRƯỞNG
CHUYÊN MÔN

Cần Nông,ngày 20 tháng 10 năm 2018
NGƯỜI ĐỀ NGHỊ

17


Nông Thị Hồng
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

18


TRƯỜNG PTDTBT THCS CẦN NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

GIẤY CHỨNG NHẬN SÁNG KIẾN
HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ CẦN NÔNG
Chứng nhận
Bà : Nông Thị Hồng, Giáo viên trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS Cần Nông
Là tác giả sáng kiến: Nâng cao chất lượng dạy – học phân môn Tiếng Việt trường PTDTBT THCS Cần
Nông
Do chủ đầu tư tạo ra sáng kiến là: Nông Thị Hồng
Cần Nông, ngày tháng năm 2018
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Hiệu trưởng

19


Giấy chứng nhận sáng kiến số……………….
1. Tóm tắt nội dung sáng kiến:
Tên sáng kiến: Nâng cao chất lượng dạy – học phân môn Tiếng Việt trường PTDTBT THCS Cần Nông
Dạy học Tiếng Việt bằng phương pháp: so sánh ngang, tức là đối chiếu so sánh các đơn vị kiến thức ngang nhau, gần
giống nhau để người học nhận ra, rút ra sự khác biệt giữa các từ loại, các phép tu từ. Đồng thời để củng cố đơn vị kiến thức đã
học trước đó. Phương pháp này phù hợp với đối tượng học sinh của trường và nâng cao được hiệu quả, chất lượng dạy - học các
bài học, giúp học sinh hiểu được ý nghĩa, giá trị của các đơn vị ngôn ngữ cụ thể qua vị trí, vai trò của nó trong hệ thống. Qua đó
hiểu thêm về hệ thống và các đơn vị khác trong hệ thống. Đồng thời phương pháp này cũng giúp học sinh rèn luyện kĩ năng, kĩ
xảo sử dụng Tiếng Việt, rèn luyện tư duy lôgic, hệ thống, củng cố lại những điều đã biết, đã học một cách có hệ thống.
2. Lợi ích kinh tế-xã hội có thể thu được do áp dụng sáng kiến
Khi áp dụng sáng kiến, có thể nhận thấy trong giờ học, thầy và trò cùng làm việc tích cực, học sinh hứng thú trong giờ học.
Số lượng học sinh hiểu bài cao hơn, các em nắm được kiến thức bài trước bài sau, không lẫn lộn giữa các từ loại. Và đặc biệt là
về việc xác định hai từ loại này của các em dễ dàng hơn. Nhiều học sinh biết vận dụng những từ loại này vào diễn đạt làm cho
bài viết hay hơn, sinh động hơn.

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×