Tải bản đầy đủ

Giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã huyện lục nam, tỉnh bắc giang

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

DƯƠNG NGÔ HÙNG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC CẤP XÃ HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP – 2016


HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

DƯƠNG NGÔ HÙNG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC CẤP XÃ HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

CHUYÊN NGÀNH : KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ


: 60.62.01.15

Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. PHẠM VĂN HÙNG

HÀ NỘI, NĂM 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng
dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 15 tháng 01 năm 2016
Tác giả

Dương Ngô Hùng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page ii


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã
nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động
viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng
và biết ơn sâu sắc PGS.TS. Phạm Văn Hùng, người đã tận tình chỉ dẫn, định
hướng và truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào
tạo, Bộ môn Phân tích định lượng, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học
viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực
hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức
Huyện uỷ, UBND huyện Lục Nam, Phòng Nội vụ, Chi cục Thống kê huyện Lục
Nam và các phòng ban chuyên môn của huyện, UBND các xã, thị trấn và người
dân; Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá


trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi
hoàn thành luận văn./.
Hà Nội, ngày 15 tháng 01 năm 2016
Tác giả

Dương Ngô Hùng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 3


MỤC LỤC
Lờ ii
iLờ
i
iM
ii
ục
Da
nh
Da

v
v
vi

nh
Da ii
nh
PH 1 x

1.1 1

1.2 3
M
1.2 3
.1
1.2 3
.2
1.3 3

1.4 5
Đố
1.4 5
.1
1.4 5
.2
PH 7

2.1 7

2.1 7
.1
2.1 9
.2
2.1 1
.3
2.1 0
1
.4
2.1
.5
2.1

2
1
6
1

.6
2.2

2.2

7
2
3

.1 lư 2
2.2n 3
.2 ng 2
2.2cán 4
2
.3
2.2
.4

8
3
0

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 4


PH III
ẦN
P
3.1Đặ

3
2
3

3.1 cĐiề
.1
3.1 uĐiề

2
3
2
3

.2
3.1 uĐá
.3
3.1 nh
Đá

4
4
1
4

.4
nh
3.2Ph
3.2 ươ
Ph

2
4
3
4

.1
3.2 ươ
Ph
.2
ươ
3.3Hệ

3
4
4
4

3.3 thố

.1
3.3 cCá

5
4
5
4

.2
PH cIV
ẦN
K
4.1Kh

6
4
7

ái
Bắ
c
4.2Đá

4
7
4

nh
4.2 Ch
.1
4.2 ất
Ch

9
4
9
5

.2
4.2 ất
Ch
.3
4.2 ất
Ch

2
5
9
6

.4
ất
4.3Đá
4.3 nh
Th

1
6
2
6

.1
4.3 ực
Nh
.2
ận
4.4Đá

2
6
3
7

4.4 nh
Nh
.1
4.4 ữn
Nh

6
7
6
7

.2
ữn 8
4.5Giả
7
4.5 iYê 9
.1 u20
20
4.5 Nh
.2 ữn

7
9
8
0

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 5


4.5.3 Mục tiêu nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã huyện Lục Nam
84
4.5.4 Giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã huyện Lục Nam
85
PH 99

5.1 99
Kế
5.2 10
Ki
5.2
.1
5.2

101
101

.1

IPH

102
104



6

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 6


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BHXH

Bảo hiểm xã hội

BHYT

Bảo hiểm y tế

CNH

Công nghiệp hóa

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

CNTT

Công nghệ thông tin

CHXHCN

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

HĐND

Hội đồng nhân dân

HĐH

Hiện đại hóa

MTTQ

Mặt trận Tổ quốc

QLNN

Quản lý nhà nước

QLKT

Quản lý kinh tế

THPT

Trung học phổ thông

THCS

Trung học cơ sở

UBND

Ủy ban nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page vii


DANH MỤC BẢNG
Số bảng
3.1 T
ìn
3.2 T
ìn
3.3 K
ết
4.1 T

4.2 T

4.3 T

v
à
4.4 T

4.5 T

4.6 T

c
ô
4.7 K
ết
c
h
4.8 T

c
á
4.9 T

đ
ội
4.1 T
0

l
ư
4.1 S
1


Tên bảng

Trang

3
6
3
8
4
0
4
7
4
9
5
0
5
4
5
5
5
7
5
9
6
0
6
2
6
7
8
1

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 8


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số biểu đồ

Tên biểu đồ

Trang

4.1

Tổng hợp nhận xét, đánh giá cán bộ, công chức cấp xã

4.2

Tổng hợp nhận xét, đánh giá của cán bộ, công chức đối với cán bộ,

4.3

51

công chức cấp xã

63

Đánh giá của cán bộ thôn, nhân dân về cán bộ, công chức cấp xã

64

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 9


PHẦN I
MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra mục tiêu xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức giai đoạn 2011- 2020 là "Xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng
lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân. Quy định rõ và đề cao
trách nhiệm của người đứng đầu". Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 18/3/2002 về
“Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống chính trị cơ sở xã, phường,
thị trấn”. Ngày 30 tháng 01 năm 2008 Ban Chấp hành Trung ương Đảng kỳ họp
thứ 6, khoá X đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW xác định "Thực hiện mạnh
mẽ chủ trương trẻ hoá, tiêu chuẩn hoá, thể chế hoá và từng bước nhất thể hoá
chức danh cán bộ; tạo bước chuyển có tính đột phá về xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức ở cơ sở".
Để đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội, triển khai thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở địa phương, cơ sở, thực hiện tốt cải
cách hành chính nhà nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà Xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và
vì dân, ngày 08 tháng 11 năm 2011 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 30c/NQCP về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 –
2020, trong 5 mục tiêu chương trình là thực hiện tốt nội dung “Xây dựng và nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”.
Tại kỳ họp thứ 4, ngày 13 tháng 11 năm 2008, Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật cán bộ, công chức số
22/2008/QH12 quy định rõ về cán bộ, công chức cấp xã; ngày 22/10/2009 Chính
phủ ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, chế độ,
chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 1


động không chuyên trách ở cấp xã...
Thời gian qua, thực hiện Nghị quyết của Trung ương và các Nghị định của
Chính phủ; Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bắc Giang đã có nhiều giải pháp tích cực để
nâng cao trình độ, năng lực cho cán bộ, công chức cấp xã. Ngày 11 tháng 7 năm
2014 Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Đề án số 05-ĐA/TU về tạo nguồn Bí
thư đảng ủy, chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn đến năm 2025 và những năm
tiếp theo. UBND tỉnh ban hành Quyết định số 370/2013/QĐ-UBND ngày
30/7/2013 về quy định tổ chức tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn trên
địa bàn tỉnh Bắc Giang; Quyết định số 313/2014/QĐ-UBND ngày 05/6/2014 về
Quy định quản lý cán bộ chuyên trách xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Bắc
Giang,….Các cấp ủy đảng đã coi trọng và đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi
dưỡng, quy hoạch từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã từng bước được phát triển cả
số lượng, chất lượng. Việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã và đưa
sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng về cấp xã công tác đã trẻ hóa và
nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Hệ thống chính trị ở cơ
sở đã có nhiều chuyển biến tích cực góp phần to lớn trong quá trình xây dựng phát
triển kinh tế xã hội, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống nhân
dân.
Trong những năm qua, Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
huyện Lục Nam đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi, lựa chọn
tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã. Tuy nhiên, do lịch sử để lại một số cán bộ, công chức cấp xã còn chưa
qua đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, hình thức chắp vá như tại chức, từ xa,…
còn thiếu và yếu về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, phương pháp công tác, kiến
thức pháp luật, hành chính, tin học; cá biệt còn cán bộ, công chức chỉ có trình độ
văn hoá trung học phổ thông và lòng nhiệt tình trong công tác; trong công tác còn
bị động, trong khi đó phải kiêm nhiệm nhiều công việc. Vì vậy chưa đáp ứng tốt
nhất yêu cầu quản lý, điều hành ở địa phương, cơ sở.
Trên thực tế cán bộ, công chức cấp xã đang phải tiếp nhận, xử lý một khối
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 2


lượng công việc ngày càng nhiều. Trong khi đó lại không được đào tạo cơ bản,
nhiều chế độ chính sách thay đổi thường xuyên nhưng chậm được cập nhật. Việc
áp dụng công nghệ thông tin, xử lý thông tin trong công việc còn nhiều hạn chế,
hiệu quả thực thi công vụ chưa cao, nên phần nào ảnh hưởng tới công tác quản
lý, điều hành ở địa phương. Chưa có những đổi mới nâng cao hiệu quả công tác,
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.
Từ những lý do trên, nhằm đánh giá thực trạng, những tồn tại, hạn chế,
những bất cập và rút ra những bài học kinh nghiệm quản lý đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã có tâm, có tầm, có tài và có sức khỏe để thực thi nhiệm vụ được giao
đảm bảo sự hài lòng của người dân, tôi chọn đề tài nghiên cứu ‘‘Giải pháp
nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã huyện Lục Nam, tỉnh Bắc
Giang" nhằm củng cố kiến thức chuyên môn, rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa
học; đồng thời góp phần vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp xã huyện
Lục Nam, tỉnh Bắc Giang thời gian qua, từ đó đề xuất định hướng và hệ thống
các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên
địa bàn trong thời gian tới.

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cán bộ,

công chức nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nói riêng;
- Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã và các
yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng của đội ngũ này đối với huyện Lục Nam;
- Đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ,
công chức cấp xã huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang trong những năm tới.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã? Những nội dung nghiên cứu về chất
lượng cán bộ, công chức như thế nào? Những nội dung ảnh hưởng đến chất
lượng cán bộ, công chức cấp xã?
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 3


Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 4


Lục Nam, tỉnh Bắc Giang trong những năm gần đây được thực hiện như thế nào?

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 4


Thực trạng về số lượng, chất lượng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
huyện Lục Nam từ năm 2012-2014 như thế nào?
Những hạn chế, tồn tại trong công tác quản lý cán bộ, công chức cấp xã
trên địa bàn huyện?
Những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý, lãnh đạo, chỉ đạo,
thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Lục
Nam, tỉnh Bắc Giang. Chất lượng trong công tác của đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã; các chế độ, chính sách liên quan đến cán bộ, công chức cấp xã. Thực hiện
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện.
Chủ thể nghiên cứu: Cán bộ, công chức cấp xã; cán bộ, công chức thuộc
UBND huyện, huyện ủy Lục Nam nơi trực tiếp quản lý cán bộ, công chức cấp
xã; cơ quan tham mưu Phòng Nội vụ, Chi cục thống kê huyện Lục Nam; Sở Nội
vụ tỉnh Bắc Giang và các đơn vị liên quan.
Khách thể nghiên cứu của đề tài là: Những quy định về cán bộ, công chức;
cán bộ, công chức cấp xã, chế độ, chính sách, công tác quản lý, đánh giá; đào tào
và bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
1.4.2.1 Phạm vi về nội dung
- Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
huyện; những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ, công chức cấp xã trên địa
bàn huyện.
- Công tác đánh giá xếp loại và sử dụng cán bộ, công chức cấp xã trên địa
bàn huyện.
- Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã huyện
Lục Nam, tỉnh Bắc Giang trong những năm tới.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 5


1.4.2.2 Phạm vi về không gian
Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
tại 5 xã và trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
1.4.2.3 Phạm vi về thời gian
Đề tài thực hiện trong 12 tháng (từ 01/01/2015 đến 31/12/2015)
Thông tin thứ cấp thu thập từ năm 2012 đến 31/12/2014 và số liệu điều tra
năm 2015.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 6


PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Cán bộ, công chức cấp xã
a. Cán bộ cấp xã: Theo Điều 61 Luật cán bộ, công chức (2008), Điều 3, Nghị
định 92/2009/NĐ-CP, ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng,
một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn, thì:
“Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân
Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND,
UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội;
hưởng lương từ ngân sách nhà nước, gồm các chức vụ sau: Bí thư, Phó Bí thư
Đảng uỷ; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch
Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động
nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); Chủ tịch
Hội Cựu chiến binh Việt Nam”.
b. Công chức cấp xã: Theo Điều 3, Nghị định 92/2009/NĐ-CP, ngày 22/10/2009
của Chính phủ công chức là “công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức
danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã trong biên chế và hưởng lương
từ ngân sách nhà nước, gồm có 7 chức danh: Trưởng công an xã, Chỉ huy trưởng
Quân sự; Công chức Văn phòng – thống kê; Địa chính nông nghiệp – xây dựng và
môi trường; Tài chính – kế toán; Tư pháp – hộ tịch; Văn hóa – xã hội” (Chính phủ,
2009).
Tóm lại, cán bộ, công chức cấp xã là công dân Việt Nam, được bầu hoặc
tuyển dụng vào giữ chức vụ hoặc làm công tác chuyên môn ở cấp xã, có trách
nhiệm tham mưu, giúp Đảng ủy, HĐND, UBND cấp xã thực hiện nhiệm

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 7


vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực được phân công và thực hiện các nhiệm
vụ khác được giao.
2.1.1.2 Chất lượng, chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
a. Chất lượng:
Từ điển Hán Việt của Hoàng Phê (2000), Viện ngôn ngữ học do Nhà xuất
bản Đà Nẵng thì: Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người,
một sự vật, sự việc.
Theo tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Á: "chất lượng là mức độ phù hợp
với yêu cầu người tiêu dùng".
Tóm lại, dù tiếp cận theo cách nào thì ‘chất lượng’ cũng phải đảm bảo phù
hợp với tiêu chuẩn đã được công bố, phù hợp với những đòi hỏi của người sử
dụng, kết hợp cả tiêu chuẩn và đòi hỏi của người tiêu dùng.
b. Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã: Hiểu một cách khái quát là “cái tạo nên
phẩm chất, giá trị của một con người, một sự việc”. Theo đó, chất lượng cán bộ,
công chức cấp xã, như sau:
- Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã được thể hiện ở hiệu lực,
hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã và phụ thuộc vào: Mối quan
hệ giữa số lượng với vai trò, vị trí và chức năng nhiệm vụ được giao, bảo đảm tính
hợp lý, ở sự tinh giản tối ưu, gọn nhẹ, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả của tổ
chức, để mỗi cá nhân phát huy năng lực, sở trường của mình hoàn thành tốt
công việc được giao, bên cạnh đó bảo đảm về cơ sở vật chất để phục vụ những
hoạt động.
- Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thể hiện qua: Phẩm chất
chính trị, đạo đức đó là quan điểm, lập trường tư tưởng, đạo đức lối sống, đạo đức
công vụ sự tín nhiệm của nhân dân và uy tín trước tập thể và gói gọn lại chữ Tâm
(Thiều Chửu, 2001).
- Chất lượng cán bộ, công chức thể hiện qua: Trình độ chuyên môn, bao
gồm trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý Nhà nước,
quản lý kinh tế, sự am hiểu và năng lực thực hiện tốt đường lối của Đảng, chính

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 8


sách, pháp luật của Nhà nước; khả năng phán đoán, nhìn xa trông rộng, xây dựng
kế hoạch dài hạn, tập hợp quần chúng, người dân, được phản ánh bằng chữ Tầm.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 9


(Thiều Chửu, 2001).
- Chất lượng cán bộ, công chức là: trình độ, năng lực công tác, kỹ năng,
phương pháp, khả năng hoàn thành nhiệm vụ, là tập hợp khả năng về quản lý,
điều hành, giao tiếp, khả năng thích ứng và xử lý công việc được gói gọn, phản
ảnh bởi chữ Tài của cán bộ, công chức.
- Chất lượng cán bộ, công chức được biểu hiện qua: Trí lực có thể lực, sức
khỏe, để phát huy năng lực, sở trường của bản thân và không ngần ngại tham gia
công việc được giao trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào.
Từ đó cho thấy, chất lượng cán bộ, công chức cấp xã trước hết do chất
lượng từng cán bộ, công chức tạo nên, nhưng phụ thuộc vào cơ cấu của đội ngũ
đó. Vì vậy, có thể thấy rằng: Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là
tổng hợp các yếu tố: tâm, tầm, tài, sức khỏe… hội tụ đầy đủ những yếu tố và mức
độ đáp ứng yêu cầu đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.
2.1.2 Yêu cầu cán bộ, công chức cấp xã
Ngày 18 tháng 3 năm 2002, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (khóa IX) ban hành Nghị quyết về đổi mới, nâng cao chất
lượng hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn đã nêu rõ: “Xây dựng đội ngũ
cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với nhân dân,
biết phát huy sức mạnh, không tham nhũng, không ức hiếp dân. Mọi đảng viên
phải nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu, vững vàng về chính trị, đạo đức
trong sáng, có lối sông lành mạnh, gắn bó với nhân dân”.
Để cụ thể hóa quan điểm của Đảng trên, ngày 05/12/2011 Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 112/2011/NĐ-CP về công chức xã, phường, thị trấn, Bộ
Nội vụ là cơ quan giúp Chính phủ về công tác cán bộ, ngày 16/01/2004 của Bộ
trưởng Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV về ban hành quy
định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức cấp xã, Thông tư số 06/2012/TTBNV ngày 30/10/2012 hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và
tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn.
2.1.2.1 Yêu cầu chung
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 9


Theo Điều 3, Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của
Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ,
công chức cấp xã phải đáp ứng những yêu cầu sau đây:
“Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội; có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả đường
lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ở địa phương. Cần kiệm
liêm chính, chí công vô tư, công tâm thạo việc, tận tuỵ với dân. Không tham
nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức kỷ luật trong công
tác, trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín
nhiệm. Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên môn, đủ năng
lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao”.
2.1.2.2 Yêu cầu cụ thể
Tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ, công chức cấp xã là dựa trên căn cứ các quy
định của Trung ương để các địa phương thực hiện việc xây dựng tiêu chuẩn cụ
thể trên địa bàn mình trong đó bao gồm về độ tuổi tham gia lần đầu, trình độ học
vấn, trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, trình độ tin học, tiếng dân
tộc (đối với cán bộ, công chức vùng cao), ngoại ngữ, chuyên ngành đào tạo phù
hợp với vị trí việc làm… bảo đảm yêu cầu cụ thể do cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền quy định:
- Cán bộ chuyên trách cấp xã là Chủ tịch các tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị- xã hội do các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội Trung ương quy
định.
- Cán bộ, công chức chuyên trách cấp xã làm việc trong HĐND, UBND
cấp xã do Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định, UBND tỉnh quy định cụ thể trên địa
bàn. Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ Nội vụ về tiêu
chuẩn đối với cán bộ, công chức cấp xã; …
2.1.3 Vai trò của cán bộ, công chức cấp xã
Vai trò của cán bộ, công chức cấp xã gồm những nội dung sau:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 10


- Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quyết định trong việc
triển khai tổ chức thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước tại cơ sở. Là người giữ vai trò trụ cột, có tác
dụng chi phối mọi hoạt động, do vậy họ không những phải nắm vững đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, đoàn thể cấp trên để tuyên truyền,
tổ chức cho quần chúng thực hiện mà còn phải am hiểu sâu sắc đặc điểm, tình
hình kinh tế- xã hội, những yếu tố văn hóa địa phương để đề ra những biện pháp
cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách ấy cho phù hợp với điều kiện đặc thù
của địa phương (Đoàn Văn Tình, 2015).
- Cán bộ, công chức cấp xã là những người trực tiếp gần gũi, gắn bó với
nhân dân, sống, làm việc và hàng ngày có mối quan hệ chặt chẽ với dân.
Thông qua họ mà ý Đảng, lòng dân tạo thành một khối thống nhất, làm cho
Đảng, Nhà nước "ăn sâu, bám rễ" trong quần chúng nhân dân, tạo nên quan hệ
thống nhất, khăng khít giữa Đảng – Nhà nước với nhân dân, củng cố niềm tin của
nhân dân đối với Đảng và Nhà nước (Đoàn Văn Tình, 2015).
- Cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quyết định trong việc xây dựng,
củng cố nâng cao năng lực điều hành của chính quyền cơ sở, là trung tâm đoàn
kết, tập hợp mọi tiềm năng, nguồn lực ở địa phương, động viên nhân dân ra sức
thi đua hoàn thành thắng lợi các mục tiêu về kinh tế- xã hội, thực hiện tốt nhiệm
vụ chính trị của địa phương. Có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng. Thúc đẩy hoạt động của
MTTQ và các tổ chức chính trị xã hội ở cơ sở; dẫn dắt, định hướng các phong
trào, tổng kết rút kinh nghiệm, biểu dương và nhân rộng các điển hình tiên
tiến ở cơ sở (Đoàn Văn Tình, 2015).
- Cán bộ, công chức cấp xã là một trong những nguồn cung cấp cán bộ
cho cấp trên, thực tiễn ở cơ sở là môi trường rèn luyện, giáo dục, phấn đấu, tu
dưỡng và trưởng thành. Qua đó tích lũy kinh nghiệm thực tiễn, năng lực lãnh
đạo, quản lý, điều hành, phong cách làm việc. Khi được giao các vị trí cao hơn
thường vững vàng, thích ứng nhanh hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Tóm lại, vai trò của cán bộ, công chức cấp xã đặc biệt quan trọng, sự
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 11


nghiệp đổi mới đất nước muốn thành công phải tạo sự chuyển biến tích cực từ cơ
sở, mà sự chuyển biến lại phụ thuộc rất quan trọng ở đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã (Đoàn Văn Tình, 2015).
2.1.4 Nội dung nghiên cứu chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là một nội dung quan
trọng; trong phạm vi đề tài này chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu những nội dung
để cán bộ, công chức cấp xã phải vừa có Tâm, vừa có Tầm, có Tài và có sức
khỏe để đảm đương tốt nhiệm vụ được giao, cụ thể như sau:
2.1.4.1 Cán bộ, công chức cấp xã phải có chữ “Tâm”
Theo từ điển ngôn ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản Bách khoa (2006) tâm, có
nghĩa là: “quả tim, trung tâm,… tinh thần, thông minh cho ta suy nghĩ”; theo Hán
Việt tự điển của Thiền Chửu (2001), Tâm là “Tim, đời xưa cho tim là vật để nghĩ
ngợi, cho nên cái gì thuộc về tư tưởng đều gọi là tâm. Như tâm cảnh, tâm địa...
nghiên cứu về chỗ hiện tượng của ý thức người gọi là tâm lý học. Như viên tâm
giữa vòng tròn, trung tâm…”; theo Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia
năm 2012 thì: Tâm, là đạo đức (thái độ công tác: có nhiệt huyết; luôn trăn trở với
việc đổi mới phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả; có thái độ quan hệ đúng mực
với mọi người. Đạo đức cách mạng: Thể hiện phẩm chất chính trị, tư tưởng bằng
lập trường kiên định, lòng trung thành; Có tinh thần giác ngộ, giáo dục mọi
người cùng thực hiện các chuẩn mực đạo đức và biết đặt lợi ích của mình trong
lợi ích của tập thể và xã hội).
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh (1974): Về đạo đức của người cán bộ, công
chức thì ta thấy được phạm trù trung tâm là “Đức” và “Tài” và theo Người thì coi
đạo đức là cái gốc, là nền tảng của người cán bộ cách mạng, là “nguồn cội” làm
cho tinh thần cách mạng không bao giờ cạn: “Cũng như sông phải có nguồn mới
có nước, không có nguồn thì sông cạn; cây phải có gốc, không có gốc thì cây khô
héo. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, không có đạo đức thì dù có
tài giỏi đến mấy cũng không thể lãnh đạo nhân dân được”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh (1995): Đạo đức cán bộ, công chức là “công
bộc của dân”, là “đầy tớ của dân”, vì “Nước ta là dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 12


vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách
nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính
quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến
xã do dân tổ chức nên. Tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Đạo
đức cán bộ, công chức chỉ có một mục đích: Vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của
nhân dân; chỉ có một tinh thần: Tận tụy, hy sinh vì dân, vì nước. Như vậy, đạo
đức nghề nghiệp theo quan điểm của Người là cán bộ, đảng viên phải hết lòng,
hết sức phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng; phải đi đầu, đi trước trong mọi công
việc, bởi vậy trong tác phẩm nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa
cá nhân, Người khẳng định: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.
Từ những lý do trên nghĩa rộng ra cái Tâm của cán bộ công chức bao
gồm: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, quan hệ trong công tác, là trung tâm
trong xử trí công việc, trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức cấp xã.
2.1.4.2 Cán bộ, công chức cấp xã phải có cái ”Tầm”
Theo từ điển ngôn ngữ Việt Nam, tầm là: chừng, độ mức, tìm (tầm kiếm);
theo Hán Việt tự điển của Thiền Chửu (2001), Tầm là “Tìm,… Dùng, như tương
tầm sư yên, sẽ dùng quân vậy”; theo Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia
(2012) thì “Tầm – Biết nhìn xa, trông rộng (tư duy chiến lược), biết dùng người.
Cán bộ, công chức phải có được cái “Tầm” là có trình độ chuyên môn, có trình
độ chuyên môn, kiến thức quản lý nhà nước bảo đảm theo yêu cầu, phương pháp
phù hợp với vị trí chức năng, nhiệm vụ được giao; biết nhìn xa, trông rộng (tư
duy chiến lược), biết dùng người, bảo đảm theo yêu cầu, phương pháp phù hợp
với vị trí chức năng, nhiệm vụ được giao”.
- Về chuyên môn: Được đào tạo phù hợp theo yêu cầu theo vị trí chức
danh, chức vụ, có kiến thức sâu rộng trên các mặt, tư duy chiến lược, biết dùng
người, phân công phù hợp với năng lực, theo từng vị trí, nhiệm vụ, thời điểm,
thường xuyên cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc, quản lý; trang bị
kiến thức QLNN, QLKT theo quy định để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao (Bộ
Nội vụ, 2009).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 13


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×