Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu lợi ích kinh tế của người dân khi gia nhập hợp tác xã phi nông nghiệp ở thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

DƯƠNG VĂN THỦY

BÙI THU MINH

NGHIÊN CỨU LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI DÂN KHI GIA NHẬP

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HỢP TÁC XÃ PHI NÔNG NGHIỆP Ở THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC
NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

2016
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP – 2016


HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT
NAM


BÙI THU MINH

NGHIÊN CỨU LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI DÂN KHI GIA NHẬP
HỢP TÁC XÃ PHI NÔNG NGHIỆP Ở THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC
NINH

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Bảo Dương

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nghiên
cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để
bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2015

Tác giả luận văn

Bùi Thu Minh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page ii


LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng


nghiệp và gia đình.
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn
sâu sắc PGS. TS Phạm Bảo Dương đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian
và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ
môn Kinh tế nông nghiệp và chính sách, Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn - Học viện
Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và
hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức của UBND thị xã Từ
Sơn, cac HTX trên địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho
tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày

tháng

năm 2015

Tác giả luận văn

Bùi Thu Minh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 3


MỤC LỤC
Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii

Mục lục

iv

Danh mục viết tắt

vii

Danh mục bảng

ix

Danh mục biểu đồ

vii

PHẦN I MỞ ĐẦU

1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

2

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

2

PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

3

2.1 Cơ sở lý luận về lợi ích kinh tế của người dân khi gia nhập hợp tác xã phi
nông nghiệp

3

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

3

2.1.2 Vai trò, ý nghĩa, đặc điểm của hợp tác xã phi nông nghiệp

7

2.1.3 Nội dung nghiên cứu

11

2.1.4 Yếu tố ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người dân khi gia nhập
HTXPNN

15

2.2 Cơ sở thực tiễn về lợi ích kinh tế của người dân khi gia nhập hợp tác xã phi
nông nghiệp

19

2.2.1 Khái quát chung về lợi ích kinh tế của người dân khi gia nhập hợp tác
xã phi nông nghiệp ở một số nước trên thế giới

19

2.2.2 Lợi ích kinh tế của người dân khi gia nhập hợp tác xã phi nông nghiệp
ở Việt Nam
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

23
Page 4


2 2
. 5
PH 2
Ầ 7
3.1 2
Đặ 7
3 2
. 7
3 3
. 1
3.2 3
Cá 8
3 3
. 8
3 3
. 9
3.3 4
Hệ 1
PH 4
Ầ 2
4.1
Kh
T 4
ừ 2
4 4
. 2
4 4
. 3
4 4
. 4
4 5
. 4
4.2
Lợ
B 5
ắ 8
4 5
. 8
4 6
. 4
4 6
. 5
4 6
. 8
4 7
. 0
4 7
. 2
4 7
. 3
4 7
. 5
4
.
H7
X5
4.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người dân khi tham gia
HTXPNN
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

77
Page 5


4 77
.
4 79
.
4.4 83
Đị
4 83
.
4 87
.
PH 98

5.1 98
Kế
5.2 99
Ki
TÀ 1
I
0
PH 1

0

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 6


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BQ

Bình quân

CC

Cơ cấu

CN – TTCN

Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp

DT

Diện tích ĐVT

Đơn vị tính GTSX
Giá trị sản xuất HTX
Hợp tác xã
HTXPNN

Hợp tác xã phi nông nghiệp

HTXGTVT

Hợp tác xã giao thông vận tải

KHKT

Khoa học kỹ thuật

NQ/TW

Nghị quyết/trung ương

NN

Nông nghiệp



Lao động

KCN

Khu công nghiệp

PTNT

Phát triển nông thôn

SL

Số lượng

TN

Tự nhiên

TMDV

Thương mại dịch vụ

UBND

Uỷ ban nhân dân

QTDND

Quỹ tín dụng nhân dân

KD

Kinh doanh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page vii


DANH MỤC BẢNG
Số bảng

Tên bảng

Trang

3.1
30

Tình hình phân bổ, sử dụng đất đai của thị xã Từ Sơn qua 3 năm 2012 - 2014

3.2

Tình hình dân số và lao động của Thị xã Từ Sơn 3 năm 2012 - 2014

3.3
37

Kết quả phát triển và cơ cấu kinh tế của thị xã Từ Sơn qua 3 năm 2012 - 2014

4.1 S

g
ia
4.2 K
ết
4.3 T
ì
4.4 T
ì
4.5 L

4.6 L

4.7 N
ơ
4.8 S
o
g
ia
4.9 L

4.1 T
0

4.1 Đ
1
ịa
4.1 L
2

4.1 C
3
á
4.1 N
4
h
4.1 N
5
h
4.1 S
6

k
i
4.1 N
7
h

33

4
2
4
3
4
5
4
6
5
9
6
1
6
3
6
4
6
9
7
1
7
2
7
4
7
5
7
7
8
0
8
0
8
2

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 8


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số biểu đồ
4.1
4.2
4.3

Tên biểu đồ

Trang

S 6
ự 8
N7
h 2
N7
h 5

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 9


PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân,
do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong
hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của
thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong
quản lý hợp tác xã. Trên cơ sở nghị quyết của Đảng và thực tiễn hoạt động của
hợp tác xã kiểu mới, ngày 20/06/2013, tại kì họp thứ V Quốc hội khóa IIX đã
thông qua luật hợp tác xã sửa đổi (năm 2013).
Những năm vừa qua, nhiều hợp tác xã mới được thành lập và nhiều hợp
tác xã cũ được chuyển đổi sang hoạt động theo luật. Các HTX mới có trường hợp
do người dân thành lập, có trường hợp được phát triển từ tổ hợp tác, có trường
hợp được các tổ chức tư vấn của các cơ quan nhà nước, đoàn thể hay tổ chức phi
chính phủ hỗ trợ. Các HTX đặc biệt là HTX mới thành lập đã dần tuân thủ đúng
các quy định pháp luật, đảm bảo các giá trị, nguyên tắc HTX (Phạm Bảo Dương,
2004).
Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi vì nhiều lý do khác nhau có rất
nhiều HTX chuyển đổi một cách hình thức, số HTX này chiếm tỷ trọng không
nhỏ trong tổng số HTX nông thôn của tỉnh. Thực tế phát triển các HTX ở nông
thôn của tỉnh thời gian qua cho thấy đa phần các HTX hoạt động còn mang tính
đơn lẻ, thiếu sự liên kết theo hệ thống, phạm vi hoạt động nhỏ hẹp, phần lớn các
HTX có quy mô nhỏ, thiếu vốn để tổ chức các hoạt động sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ. Đại bộ phân nhân dân chưa có sự nhận thức đúng về HTX, coi HTX như
một tổ chức hỗ trợ, cho không vật tư sản xuất, đa số cơ sở vật chất của các HTX
còn nghèo nàn, lạc hậu, đất đai do HTX sử dụng và quản lý không còn, trình độ
quản lý của đội ngũ cán bộ HTX còn hạn chế (Phạm Bảo Dương, 2004).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 1


HTX là nơi mà khi gia nhập xã viên luôn mong muốn nhận được sự hỗ trợ
đầu vào cho sản xuất kinh doanh, thông qua HTX để được hỗ trợ về vốn, hỗ trợ
xã viên trong việc tiêu thụ sản phẩm, vào HTX để tìm kiếm việc làm và được

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 2


chia lợi nhuận. Một vấn đề đặt ra là khi tham gia vào HTX xã viên được hưởng
những lợi ích gì? Khả năng đáp ứng những mong muốn của xã viên như thế nào?
Khi gia nhập HTX xã viên có được ưu đãi về giá hay không?
Ở thị xã Từ sơn, tỉnh Bắc Ninh, vấn đề này chưa có người nghiên cứu nên tôi
mạnh dạn chọn đề tài “Nghiên cứu lợi ích kinh tế của người dân khi gia nhập
hợp tác xã phi nông nghiệp ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”làm luận văn tốt
nghiệp của mình.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 M ục tiêu t ổng q
uát
Nghiên cứu lợi ích kinh tế của người dân khi gia nhập hợp tác xã phi nông
nghiệp ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh từ đó đưa ra các giải pháp phát triển hợp
tác xã phi nông nghiệp ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

1.2.2 M ục tiêu cụ
thể
-

Góp phần hệ thống hóa và cơ sở lý luận thực tiễn về lợi ích kinh tế của

người dân khi gia nhập hợp tác xã phi nông nghiệp.
-

Phân tích, đánh giá thực trạng, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến lợi ích

kinh tế của người dân khi gia nhập hợp tác xã phi nông nghiệp ở thị xã Từ Sơn,
tỉnh Bắc Ninh.
-

Đề xuất các giải pháp phát triển hợp tác xã phi nông nghiệp ở thị xã Từ

Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1
cứu

Đối tượng nghiên

1.3.2 Phạm v i nghiên
cứu
1.3.2.1
dung:

Về

nội

- Nghiên cứu lợi ích kinh tế của người dân khi gia nhập hợp tác xã phi nông
nghiệp ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
- Các giải pháp phát triển hợp tác xã phi nông nghiệp.

1.3.2.2 Về không gian:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 3


Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
1.3.2.3
gian:

Về

thời

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu từ năm 2012 đến năm 2014.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 4


PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận về lợi ích kinh tế của người dân khi gia nhập hợp tác xã
phi nông nghiệp

2.1.1 M ột số khái niệm cơ b ản
a) Khái niệm hợp tác xã
Thế giới đã chứng kiến sự ra đời và phát triển của một loại hình tổ chức có
tên là “HTX” từ những năm đầu của thế kỷ XIX. Trải qua nhiều thăng trầm, đến
nay, HTX vẫn được biết đến như một lựa chọn cho những người có cùng chung
nhu cầu, lợi ích, tự nguyện tụ hợp thành những nhóm người để tạo ra sức mạnh
liên kết nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh
doanh, dịch vụ. Nhưng không phải tất cả những người tham gia, quản lý HTX
đều biết đến HTX theo nghĩa đầy đủ của nó để nhìn nhận, quản lý một cách hiệu
quả, thực sự đúng với nhu cầu, nguyện vọng của các thành viên.
Các nhà nghiên cứu về HTX trên thế giới cũng như ở Việt Nam đó cố
gắng đưa ra một số định nghĩa về HTX theo các nhìn nhận riêng của mình. Có ý
kiến cho rằng: “HTX là một doanh nghiệp được quản lý theo những mục tiêu
kinh tế xã hội chung của các thành viên”, có người lại khẳng định: “HTX là một
hiệp hội do một số cá nhân thành lập để thực hiện sản xuất kinh doanh”, một số ý
kiến khác lại cho rằng: “HTX là một doanh nghiệp do một nhóm người quản lý”
(Ban kinh tế -Ban chỉ đạo Trung ương, 2011).
Các quan điểm tuy có khác nhau nhưng tựu chung ở hai khía cạnh chính
coi HTX là một hiệp hội, một tổ chức kinh tế xã hội do một nhóm người đứng ra
thành lập và quản lý. Quan điểm khác coi HTX như một loại hình doanh nghiệp
của một nhóm người, hoạt động vì mục tiêu kinh tế và xã hội.
Ở Việt Nam, qua mỗi thời kỳ lịch sử, HTX lại được hiểu theo một nghĩa
khác nhau. Các nhà nghiên cứu cho rằng sự hợp tác có từ xa xưa, xuất phát từ
nhu cầu của người dân và được tổ chức dưới hình thức phường, hội và không
tuân theo một luật lệ nào. Từ những năm 1950 cho tới những năm 1990 là thời kỳ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 5


nở rộ của sự thành lập, phát triển, suy thoái của mô hình HTX kiểu cũ, đặc biệt là
trong lĩnh vực nông nghiệp. Với tư duy “HTX là nhà, xã viên là chủ”, hàng loạt
các HTX được thành lập trên cơ sở hợp tác hóa tư liệu sản xuất, lao động tập trung,
phân phối theo công điểm. Những năm gần đây, HTX đó được hiểu theo một nghĩa
rộng hơn là một tổ chức kinh tế- xã hội mang tính cộng đồng cao, thích hợp với
nhóm xã hội yếu thế, dễ bị tổn thương trước những tác động của thị trường như
người dân, thợ thủ công, tiểu thương, dân nghèo (Nguyễn Thị Tiên, 2012).
Ở nước ta, ngay từ những năm đầu thập kỷ 30 của thế kỷ XX, trong tác
phẩm kinh điển "Đường Kách mệnh", Hồ Chủ tịch đã nhận thức rất sớm về vai
trò của HTX đối với đất nước ta. Người cho rằng HTX là tổ chức do mọi người
tự nguyện liên kết tập hợp lại với nhau để nâng cao hiệu quả sản xuất, chống lại
đói nghèo, chống lại bóc lột, áp bức, đáp ứng nhu cầu về kinh tế và tinh thần của
từng người và của tất cả mọi người (Vũ Thị Thắng, 2000).
Theo điều 1, luật Hợp tác xã năm 2003: Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập
thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu
cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này
để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp
nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hợp
tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích
luỹ và các nguồn vốn khác của Hợp tác xã theo qui định của pháp luật”.
b) Khái niệm lợi ích kinh tế
Ngay từ khi mới xuất hiện, con người đã tiến hành các hoạt động kinh tế.
Hoạt động kinh tế luôn giữ vai trò trung tâm trong mọi hoạt động xã hội và nó là
cơ sở cho các hoạt động khác.
Trong hoạt động kinh tế, con người luôn có động cơ nhất định. Động cơ
thúc đẩy con người hành động. Mức độ hành động (mạnh hay yếu) tuỳ thuộc vào
mức độ chín muồi của động cơ - tuỳ thuộc vào nhận thức và thực hiện lợi ích của
họ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 6


Lợi ích là gì ? Theo C.Mác thì phạm trù lợi ích, ích lợi, có lợi được sử
dụng như là cùng nghĩa và có thể thay thế nhau. Lợi ích không phải là một cái gì
trừu tượng và có tính chất chủ quan, mà cơ sở của lợi ích là nhu cầu khách quan
của con người. Con người có nhiều loại nhu cầu (vật chất, chính trị, văn hoá), do
đó có nhiều loại lợi ích (lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích văn hoá, tinh thần).
Lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan, nó xuất hiện trong
những điều kiện tồn tại xã hội của con người. Hay nói khác, lợi ích kinh tế là mối
quan hệ xã hội nhằm thực hiện nhu cầu kinh tế của các chủ thể kinh tế. Những
nhu cầu kinh tế của con người khi nó được xác định về mặt xã hội thì nó trở
thành cơ sở, nội dung của lợi ích kinh tế.
Lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất, nó được quy
định một cách khách quan bởi phương thức sản xuất, bởi hệ thống quan hệ sản
xuất, trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất. Ph.Ăngghen viết: "Những
quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định nào đó biểu hiện trước hết dưới hình
thức lợi ích" (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1990).
V.I. Lênin cũng cho rằng: Lợi ích của giai cấp này hay giai cấp khác được
xác định một cách khách quan theo vai trò mà họ có trong hệ thống quan hệ sản
xuất, theo những hoàn cảnh và điều kiện sống của họ.
Là hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất, lợi ích kinh tế thể hiện trong
tất cả bốn khâu của quá trình tái sản xuất xã hội. Cần khẳng định rằng, ở đâu có
hoạt động sản xuất - kinh doanh thì ở đó có lợi ích kinh tế và chủ thể sản xuất kinh doanh cũng là chủ thể của lợi ích kinh tế.
Tổ chức và hoạt động của HTX thể hiện một nguyên tắc rất đơn giản và
cổ xưa trong tổ chức xã hội của loài người: Nếu một cá nhân không có đủ khả
năng để thực hiện công việc nhằm đạt được mục tiêu nào đó thì tất yếu cá nhân
đó sẽ phải tìm cách hợp sức với những cá nhân khác. Trong số rất nhiều nhu cầu,
mục tiêu của từng cá nhân cụ thể thì tất yếu có những nhu cầu, mục tiêu mà
nhiều hoặc đa số cá nhân trong xã hội đều có chung. Từ những mục tiêu, lợi ích
chung này, các cá nhân trong xã hội đã tìm ra nhiều phương pháp để hợp tác với

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 7


nhau để cùng đạt được mục tiêu, lợi ích chung và việc thành lập ra một tổ chức
để thực hiện là một trong những phương pháp đã phát huy hiệu quả tích cực.
c) Định nghĩa Hợp tác xã phi nông nghiệp
Từ khái niệm trên của Luật Hợp tác xã, có thể khái quát khái niệm về
hợp tác xã phi nông nghiệp như sau: “Hợp tác xã phi nông nghiệp là tổ chức
kinh tế tập thể do người dân, hộ gia đình (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu
cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật
Hợp tác xã để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác
xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh
lĩnh vực phi nông nghiệp và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”(Chính phủ, 1997).
d) Phân loại mô hình Hợp tác xã
Mô hình HTX được xác định theo nhiều tiêu chí khác nhau (Hồ Văn Vĩnh
Vĩnh và Nguyễn Quốc Thái, 2005). Chẳng hạn, mô hình theo tính chất của nhiệm
vụ kinh doanh có HTX sản xuất, HTX dịch vụ, HTX kinh doanh tổng hợp, HTX
chuyên ngành, HTX đa chức năng,.. mô hình HTX theo nguyên tắc hình thành,
hoạt động, cơ chế vận hành có HTX kiểu cũ, HTX kiểu mới; mô hình HTX theo
hình thức tổ chức bộ máy quản lý của HTX; mô hình HTX theo quy mô xã viên,
lao động; mô hình HTX theo đặc điểm của thành viên tham gia (HTX mà xã viên
là các hộ người dân, HTX của các trang trại, HTX của các đối tượng khác nhau)
mô hình HTX theo tiêu chí ngành nghề có HTXPNN, HTX vận tải, HTX xây
dựng, Quỹ Tín dụng nhân dân.
Như vậy, mô hình HTX là hình mẫu về một loại HTX cụ thể đang tồn tại
trong thực tế, hoặc được hình thành bởi tư duy nghiên cứu trong từng điều kiện
kinh tế- xã hội nhất định. Mô hình HTX là phạm trù của tổ chức và quản lý sản
xuất- kinh doanh, thuộc loại mô hình quản lý kinh tế vi mô (Chu Thị Hảo, 2005).
Do điều kiện thời gian và nguồn lực có hạn, trong nghiên cứu này chúng
tôi chỉ đề cập bước đầu đến một số loại mô hình: mô hình theo tính chất của
nhiệm vụ kinh doanh (HTX chuyên ngành, HTX đa chức năng), mô hình theo
tiêu chí ngành nghề và mô hình theo nguyên tắc hình thành, hoạt động, cơ chế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 8


vận hành (HTX kiểu cũ, kiểu mới). Các loại phân loại khác không được đề cập
trong báo cáo này. Cụ thể, trong báo cáo này:
HTX chuyên ngành là những HTX sản xuất- kinh doanh một loại sản
phẩm hàng hoá nhất định. HTX chuyên ngành có thể thực hiện nhiều khâu, công
đoạn để sản xuất- kinh doanh loại sản phẩm đó. HTX đa ngành nghề (hay còn gọi
là HTX tổng hợp) là những HTX tiến hành sản xuất kinh doanh nhiều loại sản
phẩm với nhiều khâu, công đoạn để sản xuất ra các loại sản phẩm đó.
HTX chuyển đổi: là những HTX được chuyển đổi theo quy định của Luật
HTX năm 1996. HTX chuyên ngành là những HTX sản xuất- kinh doanh một
loại sản phẩm hàng hóa nhất định. HTX chuyên ngành có thể thực hiện nhiều
khâu, công đoạn để sản xuất- kinh doanh loại sản phẩm đó.
HTX đa ngành nghề (hay còn gọi là HTX tổng hợp) là những HTX tiến
hành sản xuất kinh doanh nhiều loại sản phẩm với nhiều khâu, công đoạn để sản
xuất ra các loại sản phẩm đó.HTX chuyển đổi: là những HTX được chuyển đổi
theo quy định của Luật HTX năm 1996.
đ) Hợp tác xã phi nông nghiệp gồm các lĩnh vực như: HTX vệ sinh môi
trường, HTX dịch vụ chợ, HTX dịch vụ y tế, HTX giao thông vận tải, HTX dịch
vụ điện, Quỹ tín dụng (Chu Thị Hảo, 2005).
2.1.2 Vai trò, ý nghĩa, đặc điểm của hợp tác xã phi nông nghiệp
2.1.2.1 Vai trò
a) Đối với các thành viên
Vì mô hình HTX xuất phát và hình thành hoàn toàn trên tinh thần tự
nguyện, tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên nên HTX
là tổ chức liên kết hợp tác của bản thân các thành viên. Các thành viên giúp
đỡ được lẫn nhau thông qua việc hợp tác này. Nếu các thành viên có điều
kiện tiếp cận với các loại thị trường (thị trường nguyên, nhiên, vật liệu đầu
vào, thị trường dịch vụ, sản phẩm đầu ra) nhờ có mô hình kinh tế HTX các
thành viên đã có điều kiện tiếp cận với các sản phẩm và dịch vụ của thị
trường tín dụng, ngân hàng. Điều mà họ do địa bàn sinh sống bất lợi, tài sản
nghèo nàn...hầu như không bao giờ có được nếu chỉ trông chờ vào Nhà nước
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 9


hay sự hỗ trợ khác mà không tự tổ chức lấy cho mình những tổ chức kinh tế
hợp tác ( Nguyễn Văn Bích, Chu Tiến Quang, 2001).
b) Đối với địa phương.
Mô hình HTX ra đời sẽ cung cấp các dịch vụ tín dụng, ngân hàng cho dân
cư trên địa bàn hoạt động. Bất kể người dân nào cũng sẽ được hưởng các sản
phẩm, dịch vụ của HTX với tư cách là khách hàng. Qua hoạt động của HTX ý
thức tiết kiệm và tích luỹ của người dân được nâng cao. Những đồng vốn nhàn
rỗi được huy động để đưa vào đầu tư phục vụ cho phát triển, giảm sự lãng phí tài
nguyên cũng như tạo ra sự phồn vinh cho xã hội. HTX vừa là người quản lý tài
sản của thành viên, dân cư, vừa là nhà đầu tư trên địa bàn. Đó cũng là nơi học
nghề cho nhiều người. Trình độ và nhận thức của người nhân trên địa bàn cũng
sẽ được nâng cao thông qua các hoạt động tư vấn, thông tin của bản thân
HTX (Ban chỉ đạo tổng kết thực hiện nghị quyết TW5 về kinh tế tập thể, 2007).
c) Đối với Nhà nước.
Xét trên góc độ Nhà nước, hoạt động của những HTX sẽ bổ sung cho
những nỗ lực vĩ mô của Nhà nước như cung cấp vốn cho người nghèo, nông
thôn, nông nghiệp, thực hiện các mục tiêu xã hội lớn như tạo công ăn việc làm,
xoá đói giảm nghèo, ổn định tình hình trật tự kinh tế, chính trị, xã hội… ở những
nơi, lĩnh vực mà nhiều khi Nhà nước không có khả năng hay hoạt động không
hiệu quả thì mô hình HTX lại là phù hợp (Ban chỉ đạo tổng kết thực hiện nghị
quyết TW5 về kinh tế tập thể, 2007).
2.1.2.2 Ý nghĩa HTX
a) Về mặt chính trị
HTX về bản chất là một tổ chức kinh tế của người dân thuần tuý chứ
không phải là một tổ chức chính trị, xã hội. Nó không theo đuổi các mục tiêu
chính trị và cũng không có nhiệm vụ chính trị. Nó chỉ theo đuổi thuần tuý mục
tiêu lợi ích kinh tế của các thành viên. Tuy nhiên vì nó là một tổ chức gồm nhiều
thành viên, số lượng có thể lên tới vài nghìn người tại một địa bàn nên trên thực
tế có vai trò to lớn ở địa phương và do vậy cũng có ý nghĩa chính trị nhất định.
Thêm nữa, đó là một tổ chức dân chủ. Do vậy, nếu tổ chức này hoạt động và phát
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page
10


triển tốt, nó góp phần tích cực quan trọng vào việc ổn định trật tự, an ninh chính
trị, xã hội. Còn ngược lại, nó cũng sẽ có những tác động xấu tới ổn định trật tự,
an ninh chính trị, xã hội, đặc biệt khi các HTX này tan rã sẽ làm mất ổn định trật
tự chính trị xã hội. Mặc dù không mang nhiệm vụ chính trị nhưng do ý nghĩa
chính trị của nó mà chúng ta cần phải tạo điều kiện để các HTX này hoạt động
tốt, lành mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của Nhà
nước (Lương Xuân Quỳ, 2005).
b) Về mặt kinh tế.
HTX là một tổ chức kinh tế nên như mọi tổ chức kinh tế khác, nó tham gia
vào các hoạt động kinh tế và đem lại lợi ích kinh tế cho thành viên, xã hội và Nhà
nước, góp phần tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế ở địa phương, đặc biệt
thông qua hoạt động cho vay tín dụng của nó làm đòn bẩy cho nền kinh tế phát
triển. Với tư cách là một HTX, các HTX là kênh dẫn vốn, huy động vốn quan
trọng tạo huyết mạch cho nền kinh tế, đặc biệt ở các vùng điều kiện phát triển
kinh tế còn nhiều khó khăn, hạn chế. Với ý nghĩa này, các HTX xứng đáng được
Nhà nước quan tâm vun đắp, giúp đỡ để chúng làm tốt nhiệm vụ của nó, góp
phần phát huy tiền năng trong nhân dân thúc đẩy kinh tế phát triển.
c) Về mặt xã hội.
HTX tuy không phải là một tổ chức xã hội nhưng là một tổ chức có đông
thành viên, thu hút đa phần cá nhân và hộ gia đình tại một địa phương tham gia
nên rất có ý nghĩa về mặt xã hội. HTX phát triển góp phần duy trì và nâng cao mức
sống của thành viên – những người chịu thiệt thòi, thua thiệt trong cuộc cạnh tranh
nên có ỹ nghĩa xã hội to lớn. Nó góp phần duy trì và ổn định trật tự xã hội trên địa
bàn, đặc biệt thông qua các hoạt động kinh doanh và sinh hoạt của HTXPNN. Các
mối quan hệ xã hội trên các giá trị tinh thần đoàn kết, tình làng nghĩa xóm, tương
thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau thông qua HTX được duy trì, củng cố và phát huy.
Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của HTX vì thế cần được gìn giữ và
tôn trọng để các giá trị về đạo đức, xã hội của HTXPNN được bảo tồn và phát
huy, góp phần tạo ra một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh và phồn thịnh.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page
11


d) Về mặt văn hoá.
HTX cũng như các doanh nghiệp khác mang những nét văn hoá riêng của
mình. Tuy nhiên, do HTX là tập hợp của một tập thể các cá nhân, con người nên
nó đặc biệt coi trọng sự tham gia về cá nhân của những con người và khuyến
khích sự phát huy năng lực cá nhân, sự tích cực tham gia vào hoạt động chung
của tập thể như tham gia quản lý, tham gia điều hành
2.1.2.3 Các đặc điểm HTX
a) Đặc điểm HTX
HTX là tổ chức kinh tế tự chủ mang tính tương trợ. HTX được thành lập
để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; HTX là tổ chức kinh tế có
quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh; Lợi
nhuận là mục tiêu quan trọng nhất; Bình đẳng trước pháp luật với các thành phần
kinh tế (Nguyễn Văn Bích, Chu Tiến Quang, 2001).
Luật HTX quy định xã viên phải phát huy tinh thần tập thể, nâng cao ý
thức hợp tác trong HTX và cộng đồng xã hội. Các xã viên vừa góp vốn, vừa góp
sức vào HTX và cùng hưởng lợi. Luật HTX quy định các xã viên khi tham gia
vào HTX vừa phải góp vốn, vừa phải góp sức, cùng nhau sản xuất kinh doanh và
làm các dịch vụ, họ phân phối lợi nhuận theo nguyên tắc “lời ăn lỗ chịu”. Tự
nguyện gia nhập và ra khỏi hợp tác xã: Mọi công dân Việt Nam đủ điều kiện theo
quy định của luật này, tán thành điều lệ hợp tác xã đều có thể trở thành xã viên
hợp tác xã, xã viên có quyền ra khỏi hợp tác xã theo quy định của điều lệ HTX.
Quản lý dân chủ và bình đẳng xã viên hợp tác xã có quyền tham gia, quản
lý, kiểm tra, giám sát hợp tác xã và có quyền ngang nhau trong biểu quyết.
Tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh
dịch vụ tự quyết định và phân phối thu nhập. Chia lợi nhuận trước thuế đảm bảo
kết hợp lợi ích xã hội và sự phát triển của hợp tác xã sau khi làm song nghĩa vụ
nộp thuế.
b) Đặc điểm HTXPNN
Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực
nông nghiệp: Được thành lập để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 10


dịch vụ nông nghiệp; là một tổ chức kinh tế của nông dân, có đặc trưng gắn với
hộ nông dân. Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế mang tính xã hội cao:
Hợp tác xã nông nghiệp trước hết là để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng của
nông dân về sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nông nghiệp; Nông dân gia nhập
hợp tác xã vì họ cần được hợp tác xã phục vụ, cần hợp tác xã trợ giúp những việc
mà họ không thể tự làm hoặc làm một mình không có hiệu quả, khắc phục được
những nhược điểm và hạn chế khi sản xuất kinh doanh đơn lẻ.
Hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nông nghiệp của hợp tác xã chỉ là
công cụ nhằm làm tăng thêm lợi ích, hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ nông
dân; Mục tiêu của hợp tác xã là phục vụ nhu cầu, lợi ích chung của xã viên,
không phải vì lợi nhuận. Như vậy, hợp tác xã là một tổ chức kinh tế mang tính
hợp tác có tính xã hội sâu sắc, hỗ trợ các hộ nông dân tăng cạnh tranh trong kinh
tế thị trường; Hợp tác xã là một tổ chức dân chủ, xã hội cao của nông dân, trong
đó các thành viên được bình đẳng, phát huy vai trò của cộng đồng dân cư nông
nghiệp trong quản lí xã hội, kinh doanh. Đối tượng tham gia hợp tác xã bao gồm
tất cả những người nông dân, hộ nông dân và pháp nhân. Khi tham gia hợp tác
xã, xã viên hợp tác xã bắt buộc phải góp vốn, còn việc góp sức là tuỳ thuộc vào
từng loại hình hợp tác xã, vào yêu cầu của hợp tác xã và nguyện vọng của xã
viên, không bắt buộc xã viên phải góp sức. Việc thành lập hợp tác xã dựa trên cơ
sở hoàn toàn tự nguyện. Xuất phát từ nhu cầu, lợi ích chung, các thành viên liên
kết lại với nhau để phát huy sức mạnh tập thể của từng thành viên, cùng giúp đỡ
lẫn nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần của từng thành viên. Hợp tác xã có tư cách pháp nhân
và chỉ chịu trách nhiệm trả nợ trong giới hạn vốn điều lệ, vốn tích lũy và các
nguồn vốn khác của hợp tác xã tại thời điểm tuyên bố phá sản. Xã viên cũng chỉ
chịu trách nhiệm về các khoản nợ trong phạm vi vốn góp của mình.

2.1.3 Nội d ung nghiên
cứu
2.1.3.1 Lợi ích kinh tế trong cung cấp đầu vào
Khi gia nhập hợp tác xã phi nông nghiệp người dân luôn mong muốn nhận
được sự hỗ trợ đầu vào cho sản xuất kinh doanh, mua được giá nguyên liệu rẻ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 11


hơn vì HTX là chủ thể mua với khối lượng lớn, đảm bảo chất lượng và số lượng
hơn. Giá đầu vào và số lượng có tính ổn định hơn, không bị lên xuống thất
thường, hạn chế được sự biến thiên theo mùa vụ. Không bị ép giá đối với những
nguyên liệu đầu vào khan hiếm. Nguyên liệu đầu vào đảm bảo sự đồng đều, hạn
chế sự pha tạp làm ảnh hưởng đến chất lượng.
2.1.3.2 Lợi ích kinh tế về tiêu thụ sản phẩm
Tổ chức tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối bảo đảm và quyết định hiệu quả
của chuỗi sản xuất. Đây là bài toán phức tạp, không thể phó mặc cho người dân
thực hiện tự sản tự tiêu, rời rạc và thiếu chuyên nghiệp. Về bản chất, HTXPNN
ở nước ta không đối lập kinh tế hộ, mà thông qua ký kết các hợp đồng cung ứng
dịch vụ "đầu vào", chuyển giao và giám sát quy trình kỹ thuật, phối hợp kế hoạch
sản xuất, đầu mối góp phần triển khai các chính sách hỗ trợ và tổ chức tiêu thụ
"đầu ra"..., các HTXPNN đã, đang và sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp có vai trò tích
cực trong việc làm giảm chi phí sản xuất - tiêu thụ, ổn định và mở rộng quy mô,
nâng cao năng suất, sức cạnh tranh, cải thiện giá cả, hiệu quả sản xuất kinh doanh
nông nghiệp và thu nhập của các hộ xã viên; từ đó, gia tăng gắn kết và phát triển
cộng đồng, duy trì trật tự an toàn xã hội.
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm đòi hỏi những năng lực, trách nhiệm và kinh
nghiệm thị trường cao. Vì vậy, cần xây dựng và hoàn thiện mô hình các
HTXPNN theo đúng chuẩn mực và quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012; tăng
cường hỗ trợ các HTX nâng cao nhận thức và bản lĩnh, phản ứng thị trường, năng
lực quản trị, đàm phán, ma-két-tinh, xây dựng và quảng bá thương hiệu, duy trì
quan hệ đối tác; tiếp tục tháo gỡ các khó khăn về đất đai làm trụ sở, kho, bãi;
tăng định mức vay vốn tín chấp, thủ tục, lợi nhuận trước thuế suất, thời gian vay
phù hợp chu kỳ kinh doanh và giảm sức ép thời vụ, gắn với yêu cầu xây dựng
nông thôn mới, thúc đẩy sản xuất phi nông nghiệp hàng hóa theo hướng nâng cao
giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Đồng thời, các HTX cần đẩy mạnh liên kết doanh nghiệp, hộ xã viên và
bản thân có thể thành lập doanh nghiệp để thuận lợi về pháp nhân trong tổ chức
ký kết, triển khai thực hiện các hợp đồng liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm
(Nguyễn Thị Tiên, 2012).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 12


2.1.3.3 Lợi ích kinh tế về sử dụng tín dụng nội bộ ưu đãi
Tín dụng nội bộ là một trong số các dịch vụ quan trọng của hợp tác xã,
phần lớn xã viên hợp tác xã là hộ thuần nông, nguồn vốn hạn hẹp do đó gặp
không ít khó khăn trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Để có vốn hoạt động,
nhiều hộ xã viên đã vay nóng của tư thương với lợi nhuận trước thuế suất khá
cao, một số hộ muốn vay tiền của Ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác
nhưng lại không đủ điều kiện để vay hoặc thủ tục quá khó đối với nông dân.
Xuất phát từ tình hình này, Ban quản trị các hợp tác xã xây dựng phương
án trình Đại hội xã viên thống nhất đưa dịch vụ tín dụng nội bộ đi vào hoạt động
từ năm 1999, nhằm mục đích hỗ trợ một phần vốn cho xã viên để phát triển sản
xuất kinh doanh đồng thời huy động tiền gửi nhàn rỗi của xã viên để bổ sung vào
nguồn vốn của HTX.
Chủ nhiệm là người trực tiếp phụ trách dịch vụ này, phân công 1 kế toán
có kinh nghiệm, được tập huấn về nghiệp vụ tín dụng nội bộ chịu trách nhiệm tư
vấn hướng dẫn thủ tục cho xã viên, theo dõi, thống kê, hoạch toán riêng hoạt
động tín dụng nội bộ đúng với quy định của pháp luật.
2.1.3.4 Lợi ích về nâng cao thu nhập
Thông qua HTX để được hỗ trợ vốn; được hưởng dịch vụ vệ sinh môi
trường, chia lợi nhuận trước thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX, tìm
việc làm và hỗ trợ xã viên tiêu thụ sản phẩm. Ra nhập HTX để tăng hiệu quả sản
xuất, tăng thu nhập như tìm việc làm, hỗ trợ vốn và tiêu thụ sản phẩm, giúp đỡ hộ
xã viên tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh mà có thể hộ xã viên đơn lẻ làm
kém hiệu quả.
Trước những mong muốn, nhu cầu của hộ xã viên và trước thực trạng
hoạt động hiện nay của HTX, HTX phải làm gì để đáp ứng ngày càng tốt hơn các
yêu cầu của người dân. HTX là tổ chức kinh tế xã hội tự chủ do chính các xã viên
lập ra và tổ chức hoạt động. Do vậy, mọi hoạt động cũng như lợi ích của HTX
đều hướng tới xã viên. HTX hỗ trợ cho hộ xã viên về khoa học kỹ thuật, hỗ trợ
các dịch vụ đầu vào, sau khi sản xuất ra sản phẩm HTX còn là nơi tiêu thụ sản

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 13


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×