Tải bản đầy đủ

Buổi thảo luận thứ 6 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

BUỔI THẢO LUẬN THỨ 6: BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG.


I.

VẤN ĐỀ 1: CĂN CỨ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG:
1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng?
Điều 604 BLDS 2005 và Nghị quyết 03/2006 đã cụ thể hóa các điều kiện căn cứ

làm phát sinh trách nhiệm bồi thường. Về nguyên tắc chung thì trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các điều kiện sau:
- Thứ nhất, phải có thiệt hại xảy ra. Thiệt hại này phải là thiệt hại thực tế, bao gồm
thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần. Nếu không có thiệt hại thì
không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường cho dù có hành vi trái pháp luật.
- Thứ hai, phải có hành vi trái pháp luật. Nội hàm của hành vi trái pháp luât, Nghị
quyết số 03/2006/NQ-HĐTP đã làm rõ theo nghĩa: Hành vi trái pháp luật là những xử
sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái
với các quy định của pháp luật xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
Nếu không có hành vi trái pháp luật thì trách nhiệm bồi thường không phát sinh cho dù
có thiệt hại. Có một số hành vi mà luật theo hướng hành vi đó không trái với pháp luật

như phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, có sự ưng thuận của nạn nhân trong một số
trường hợp.
- Thứ ba, phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp
luật. Nội hàm của quan hệ nhân quả: Nghị quyết số 03/2006 cho biết: “Thiệt hại xảy ra
phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là
nguyên nhân gây ra thiệt hại”. Nếu thiếu một trong hai thì không có mối quan hệ nhân
quả. Nếu không có mối quan hệ nhân quả thì sẽ không có trách nhiệm bồi thường cho


dù có thiệt hại, cho dù có hành vi trái pháp luật. Trong thực tiễn xét xử, việc xác định
quan hệ nhân quả đôi khi rất khó.
- Thứ tư, phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại. Nếu không có lỗi thì
không phát sinh trách nhiệm bồi thường. Lỗi là tâm lí, nhận thức bên trong nhưng trong
thực tiễn xét xử, Tòa án không qua tâm đến nhận thức mà quan tâm hành vi. Tòa án xác
định là có lỗi không dựa vào nhận thức mà dựa vào hành vi.
2. Thế nào là hành vi trái pháp luật? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông
qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật.
Cơ sở pháp lí: Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006.
3. Trong vụ việc trên, ông Trung có hành vi trái pháp luật không? Vì sao?
Trong vụ việc trên, ông Trung đã thực hiện hành vi trái pháp luật.
Vì, hành vi của ông Trung đã gây thiệt hại cho người khác, có thể nói hành vi ấy
đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ.
4. Trong vụ việc trên có tồn tại thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại
và hành vi trái pháp luật không? Vì sao?
Trong vụ việc trên đã có tồn tại thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại
và hành vi hành vi trái pháp luật. Căn cứ theo Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP thì:
- Thứ nhất, về thiệt hại: Trong tình huống nêu trên, không nói cụ thể thiệt hại
do ông Trung gây ra là thiệt hại vật chất hay tinh thần. Nhưng, ông Trung đã có thực
hiện hành vi trái pháp luật, đã gây ra thiệt hại cho người khác.
- Thứ 2, về mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật: Ở đây
có thiệt hại xảy ra (thiệt hại gây cho người khác của ông Trung) từ việc thực hiện hành


vi trái pháp luật của ông Trung.
5. Thế nào là lỗi với tư cách là một căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng?
Theo khoản 1, Điều 604 BLDS 2005: “Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý (…)
mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Bộ luật cho rằng “lỗi” là một điều kiện phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưng không định nghĩa thế nào là lỗi


mà chỉ nêu “lỗi cố ý” hay “lỗi vô ý” trong phần không thực hiện nghĩa vụ dân sự. Nghị
quyết 03/2006/HĐTP ngày 8-7-2006 cũng không định nghĩa lỗi là gì mà chỉ định nghĩa
“lỗi cố ý” hay “lỗi vô ý” và định nghĩa này giống khái niệm “lỗi cố ý”, “lỗi vô ý” được
Bộ luật dân sự quy định trong phần không thực hiện nghĩa vụ dân sự. Mặc dù BLDS và
Nghị quyết 03 không định nghĩa “lỗi” là gì nhưng thông qua định nghĩa “lỗi cố ý” và
“lỗi vô ý” chúng ta thấy một điểm chung là trong cả hai loại này đều có “nhận thức” về
thiệt hại của người có hành vi gây thiệt hại. Theo học lý, lỗi cũng được hiểu là “trạng
thái tâm lý” của người có hành vi gây thiệt hại. Chẳng hạn, theo một tác giả “lỗi là trạng
thái tâm lý của con người có thể làm chủ, nhận thức được hành vi của mình và hậu quả
của hành vi đó”. Một nhà bình luận BLDS cũng cho rằng: “Quy định ở trên cho thấy, lỗi
là thái độ tâm lý hay trạng thái tâm lý của người gây thiệt hại đối với hành vi”. Quan hệ
tâm lý ở đây bao gồm hai yếu tố, đó là lý chí và ý chí. Yếu tố lý chí thể hiện ở nhận thức
thực tại khách quan (nhận thức được hoặc không nhận thức được mặc dù đủ điều kiện
nhận thức khả năng gây thiệt hại của hành vi). Yếu tố ý chí thể hiện ở năng lực điều
khiển hành vi (khả năng kiềm chế hành vi gây thiệt hại hoặc có khả năng thực hiện hành
vi khác phù hợp với pháp luật).
Như vậy, một người bị coi là có lỗi khi người gây thiệt hại nhận thức được


hoặc không nhận thức được nhưng có đủ điều kiên thực tế để nhận thức được tính chất
gây thiệt hại của hành vi và có đủ điều kiện để điều khiển một hành vi khác không gây
thiệt hại”.
Như vây, theo các văn bản nêu trên, lỗi là yếu tố cần để phát sinh trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Lỗi là trạng thái tâm lý của người có hành vi gây
thiệt hại, phản ánh thái độ nhận thức của con người đó đối với hành vi và hậu quả của
hành vi mà họ thực hiện.
6. Lỗi và hành vi trái pháp luật nêu trên khác nhau ở điểm nào?
Về bản chất, lỗi được xác định là quan hệ giữa chủ thể thực hiện hành vi trái
pháp luật với xã hội mà nội dung của nó là sự phủ định những yêu cầu của xã hội đã
được thể hiện thông qua các quy định của pháp luật. khi một người có đủ nhận thức và
điều kiện để lựa chọn cách xử sự sao cho phù hợp với pháp luật, tránh gây thiệt hại cho
chủ thể khác nhưng vẫn thực hiện hành vi gây thiệt hại thì người đó bị coi là có lỗi.
Như vậy, lỗi là trạng thái tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, phản ánh thái độ
nhận thức của con người đó đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà họ thực hiện.
Còn hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện
thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật.
Lỗi là cái thể hiện bên trong còn hành vi trái pháp luật được thể hiện bên ngoài.
7. Trên cơ sở sự khác biệt giữa lỗi và hành vi trái pháp luật nêu trên, ông
Trung có lỗi trong việc gây thiệt hại không? Vì sao?
Trên cơ sở sự khác biệt giữa lỗi và hành vi trái pháp luật nêu trên, ông Trung
không lỗi trong việc gây thiệt hại. Vì lỗi là trạng thái tâm lý của người có hành vi gây
thiệt hại, phản ánh thái độ nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu quả của hành


vi mà họ thực hiện. Ông Trung do rối loạn thần kinh, không nhận thức được hành vi
của mình khi gây thiệt hại cho người khác.
8. Trong thực tiễn xét xử, đối với hoàn cảnh như ông Trung nêu trên, người
gây thiệt hại có chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không? Nếu có, cho biết thực
tiễn xét xử mà anh/chị đã biết.
Trong thực tiển xét xử, đối với hành cảnh như ông Trung nêu trên, người gây
thiệt hại có chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Tại bản án số 877/2008/HSPT ngày 26-11-2008 của Tòa phúc thẩm Tòa án
nhân dân tối cao tại Hà Nội: ông Thanh và vợ là bà Lam đều là công nhân nghỉ mất sức.
Từ trước đến nay không có mâu thuẫn, va chạm với ai. Từ cuối tháng 8-2006 ông
Thanh có biểu hiện thần kinh không ổn định, gia đình đã thường xuyên khóa cổng và
trông coi. Ngày 1-6-2006, ông Thanh nhảy qua tường bao quanh ra đường ngõ. Ông
Bun là người cùng phố phát hiện được đến can ngăn bị Thanh đẩy ra rồi tiếp tục chạy ra
đường trục ngõ 92 và chạy đến xưởng mộc của bà Ngào. Ông Thanh vào hòm đựng
dụng cụ đồ mộc lấy một đục vuông, một kéo sắt gặp ai tấn công người đó. Toàn bộ 6
người bị thương, đã được đưa đi cấp cứu, riêng cháu Sơn đã chết trên đường đi đến
bệnh viện. Tại bản giám định pháp y số 02/2007/PYTT ngày 9-3-2007 của Trung tâm
giám định pháp y tâm thần tỉnh Nam Định kết luận: bị can Thanh bị bệnh rối loạn “loạn
thần cấp”. Bị can gây án trong tình trạng đang trong giai đoạn cấp tính, mọi hành vi của
bị can đều do bệnh tật chi phối. Tại bản án sơ thẩm, Tòa án: “Áp dụng Điều 610; Điều
310 BLDS, buộc bị cáo Trần Xuân Thanh phải bồi thường cho bà Phạm Thị Thảo số
tiền 40.000.000 đồng, đã bồi thường 5.700.000 đồng, còn phải bồi thường tiếp
34.300.000 đồng”. Như vậy, mặc dù người gây thiệt hại không nhân thức được hành vi


của mình do bị tâm thần nhưng Tòa án vẫn buộc bồi thường thiệt hại.
9. Những thay đổi trong BLDS 2015 so với BLDS 2005 về yếu tố lỗi và suy
nghĩ của anh/chị về những thay đổi về yếu tố “lỗi” trong những căn cứ làm phát
sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
- Những thay đổi trong BLDS 2015 so với BLDS 2005 về yếu tố lỗi:
Theo điều 604 BLDS 2005, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
yêu cầu người gây thiệt hại phải có “lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý”. Nghị quyết số 03 đã khẳng
định “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các
yếu tố sau đây: Phải có thiệt hại xảy ra, Phải có hành vi trái pháp luật, Phải có mối quan
hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật, Phải có lỗi cố ý hoặc vô ý
của người gây thiệt hại”. Với quy định trên, lỗi là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi
thường. Nếu theo hướng này, người điên (chưa bị Tòa án tuyên bố mật năng lực hành vi
dân sự) không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại vì không có lỗi (vô ý hay cố ý)
và điều này rất bất lợi cho người bị thiệt hại. Trong thực tiễn xét xử, Tòa án ở nước ta
theo hướng người điên cũng phải bồi thường khi gây ra thiệt hại. Ở góc độ văn bản,
Luật Thương mại trước đây có yêu cầu yếu tố “lỗi” để làm phát sinh trách nhiệm bồi
thường nhưng Luật Thương mại năm 2005 đã bỏ yếu tố lỗi và việc bỏ này không những
không gây ra bất kỳ khó khăn gì mà còn tạo thuận lợi trong việc vận dụng. Văn bản mới
và hiện đại nhất do Quốc hội thông qua về bồi thường thiệt hại là Luật Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại của Nhà nước cũng theo hướng này, bỏ yếu tố lỗi. Ở góc độ so sánh,
Pháp trước đây đã từ rất lâu theo hướng người điên gây thiệt hại (không có lỗi) vẫn phải
chịu trách nhiệm bồi thường1.
1

Về những nhược điểm từ việc yêu cầu yếu tố lỗi, xem thêm Đỗ Văn Đại, Luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp


Chính vì vậy, BLDS 2015 đã bỏ yếu tố lỗi trong các căn cứ làm phát sinh trách
nhiệm bồi thường thiệt hại. Tại khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 khẳng định “người nào
có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền,
lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường
hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Ở đây, chỉ cần tồn tại yếu tố có
thiệt hại xảy ra trên thực tế, có hành vi trái pháp luật (xâm phạm tới lợi ích hợp pháp
của người khác mà không thuộc trường hợp không chịu trách nhiệm bồi thường) và có
mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế xảy ra thì đã làm
phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, không cần xem xét người gây thiệt hại có lỗi
hay không có lỗi. Tuy nhiên, cũng cần làm rõ rằng mặc dù yếu tố lỗi không còn tồn tại
trong danh sách các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường nhưng lỗi vẫn còn nguyên
giá trị trong việc xem xét mức độ thiệt hại được bồi thường sẽ được trình bày ở phần
sau2.
- Theo nhóm em, thay đổi của BLDS 2015 là hợp lý, phù hợp với thực tiễn. Việc
thay đổi này, cụ thể là bỏ yếu tố lỗi trong những căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã bảo vệ được quyền lợi hợp cho người bị thiệt hại.
Đồng thời, tạo sự công bằng hơn giữa những người điên gây thiệt hại (tức không có lỗi)
và những người bình thường.
II. VẤN ĐỀ 2: XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI VẬT CHẤT KHI TÍNH MẠNG BỊ XÂM
HẠI:
1. Đoạn nào của bản án trên cho thấy Tòa án đã chấp nhận yêu cầu bồi
đồng Việt Nam - Bản án và Bình luận án (Tập 1), Nxb. Đại học quốc gia Tp. HCM 2014, tr.138.
2
Đỗ Văn Đại (chủ biên), Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, Nxb. Hồng Đức - Hội luật gia Việt
Nam 2016 (xuất bản lần thứ hai), tr.545.


thường chi phí vé máy bay và thuê ô tô với tư cách là chi phí hợp lý cho việc mai
táng?
Bản án trên cho thấy Tòa án đã chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí vé máy bay
và thuê ô tô với tư cách là chi phí hợp lý cho việc mai táng “ Hội đồng xét xử thấy, chi
phí hợp lý cho việc mai táng anh Quyên gồm: Chi phí vé máy bay 5.175.000đ, tiền thuê
ô tô từ sân bay tới bệnh viện 500.000đ, tiền thuê xe ô tô chở thi hài anh Quyên về quê
22.000.000đ, tiền bồi dưỡng lái xe 600.000đ, tiền chi phí trên đường đưa thi hài anh
Quyên về quê là 2.000.000đ; tiền thuê lều bạt, bàn ghế 3.000.000đ; tiền đất, công đào
huyệt 2.500.000đ; tiền xe chở người bị hại đi mai táng là 1.500.000đ; tổng
37.275.000đ”.
2. Nghị quyết số 03 của HĐTP có quy định chi phí đi lại dự lễ tang được bồi
thường không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Nghị quyết số 03 của HĐTP không có qui định chi phí hợp lý đi lại dự tang lễ
được bồi thường “Các khoản chi phí hợp lý qui định tại các điểm a và c khoản 1 Điều
609, các điểm b và c khoản 1 Điều 610 và điểm a khoản 1 Điều 611 BLDS là chi phí
thực tế cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ thiệt hại,phù hợp với giá trung bình ở
từng địa phương tại thời điểm chi phí”.
3. Trong vụ việc trên, Tòa án có cho biết ai bỏ ra chi phí máy bay và thuê ô tô
trên không?
Trong vụ việc trên Tòa án không cho biết ai bỏ ra chi phí máy bay và thuê ô tô vì
điều này không được nhắc đến.


4. Căn cứ vào thực tiễn xét xử, cách giải quyết trên có thuyết phục không? Vì
sao?
Căn cứ vào thực tiễn xét xử, cách giải quyết trên hoàn toàn thuyết phục. Vì trên
thực tế chi phí máy bay và thuê ô tô có thể được xem là chi phí hợp lý phù hợp với tập
tục địa phương và cần thiết trong trường hợp này. Chi phí này được xem như chi phí
hợp lý cho việc mai táng. BLDS 2005 qui định: Điều 610 “Thiệt hại do tính mạng bị
xâm phạm.”
“1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại
trước khi chết;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người thiệt hại có nghĩa vụ vấp
dưỡng.”
Theo Nghị quyết số 03/HĐTP: “2. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
2.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa,bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại
trước khi chết bao gồm: các chi phí được hướng dẫn tại các tiểu mục 1.1, 1.4 và thu
nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được hướng dẫn tại
tiểu mục 1.2 mục 1 Phần II này.
2.2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài,
các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và
các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ
chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ,
bốc mộ…”.


5. Nếu đó là chi phí mà cháu nạn nhân bỏ ra để dự tang lễ thì có được bồi
thường không? Vì sao?
Nếu đó là chi phí mà cháu nạn nhân bỏ ra để dự tang thì không được bồi thường vì
đây không được coi là chi phí hợp lý cho việc mai táng theo qui định tại điểm b khoản 1
Điều 610.
6. Tòa án đã buộc người gây thiệt hại bồi thường tiền cấp dưỡng cho ai?
Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Tòa án buộc người gây thiệt hại phải bồi thường tiền cấp dưỡng cho hai cháu
Phạm Thị Thu Trang và Phạm Quỳnh Nga.
“Về trợ cấp nuôi con của người bị hại, đại diện người bị hại yêu cầu mỗi tháng
các bị cáo phải trợ cấp nuôi hai cháu Phạm Thị Thu Trang và Phạm Quỳnh Nga mỗi
cháu số tiền là 800.000 đồng, thời gian trợ cấp tính từ ngày 25/5/2008 đến khi các cháu
đủ 18 tuổi nhưng yêu cầu này không được các bị cáo chấp nhận nên cần phải buộc họ
phải trợ cấp theo qui định của pháp luật.”.
7. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến
tiền cấp dưỡng.
Theo em hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến tiền cấp dưỡng là hợp lý
theo đúng qui định của pháp luật.
8. BLDS 2005 có quy định ngày bắt đầu phát sinh trách nhiệm bồi thường
tiền cấp dưỡng và ngày kết thúc trách nhiệm này cho người thân của nạn nhân
không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.


Theo BLDS thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị
xâm phạm. Theo khoản 2 Điều 612 BLDS:
“2. Trong trường hợp người bị thiệt hại chết thì những người mà người này có
nghĩa vụ cấp dưỡng trong thời hạn sau đây:
a) Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết và
còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười
tám tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đã tham gia lao động và
có thu nhập đủ nuôi sống bản thân.
b) Người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền
cấp dưỡng đến khi chết.
9. Trong thực tiễn xét xử (ngoài bản án được bình luận), hướng xác định ngày
phát sinh trách nhiệm bồi thường tiền cấp dưỡng như thế nào? Nêu rõ bản
án/quyết định mà anh/chị biết.
Trong thực tiễn xét xử ngoài bản án đang bình luận còn có một số bản án khác
liên quan đến hướng phát sinh trách nhiệm tiền cấp dưỡng như sau:
- Bản án số 833/2007/HSST ngày 25/9/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân
tối cao tại Hà Nội.
- Bản án số 10/2013/HSST ngày 8/3/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình
Dương.
Hai bản án trên có hướng xác định ngày phát sinh trách nhiệm bồi thường tiền
cấp dưỡng kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm cụ thể là từ ngày tính mạng cá nhân
bị xâm phạm (chết).
Tuy nhiên trong thực tiễn xét xử cũng có trường hợp thời gian cấp dưỡng
được tính bắt đầu từ ngày Tòa tuyên án. Ví dụ bản án số 241/2005/HSPT ngày
31/5/2005.
Đồng thời thực tiễn xét xử cũng cho thấy có trường hợp Tòa án địa phương
không nêu thời điểm bắt đầu của trách nhiệm bồi thường tiền cấp dưỡng. Ví dụ bản án


số 26/HS-GĐT ngày 8/9/2006 của hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: “Về
thời gian cấp dưỡng Tòa án sơ thẩm không quyết định cụ thể từ thời điểm nào”.
10. Trong vụ việc trên, Tòa án đã xác định ngày bắt đầu trách nhiệm bồi
thường tiền cấp dưỡng là ngày nào?
Tòa án xác định ngày bắt đầu trách nhiệm bồi thường tiền cấp dưỡng là ngày 255-2008.
11. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến
ngày bắt đầu trách nhiệm bồi thường tiền cấp dưỡng.
Về hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến ngày bắt đầu trách nhiệm bồi
thường tiền cấp dưỡng là hợp lý khi tính bắt đầu từ ngày 25/5/2008 tức ngày tính mạng
anh Quyên bị xâm hại.
12. Nếu cháu Nga sinh ngày 28/10/2008 thì ngày bắt đầu trách nhiệm cấp
dưỡng là ngày nào? Vì sao? Nêu câu trả lời lần lượt đối với BLDS 2005 và BLDS
2015.
Nếu cháu Nga sinh ngày 28/10/2008 thì ngày bắt đầu trách nhiệm cấp dưỡng là
ngày 25/10/2008 vì theo hướng dẫn tại Quyết định 03/HĐTP thì ngày bắt đầu cấp
dưỡng là ngày tính mạng bị xâm hại.
III. VẤN ĐỀ 3: XÁC ĐỊNH NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG (CÙNG
GÂY THIỆT HẠI):
1. Trong phần “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” của BLDS


2005, trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt hại phát sinh trong những
trường hợp nào?
- Theo quy định tại Điều 616 BLDS 2005: “Trong trường hợp nhiều người cùng gây
thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách
nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức
độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt
hại theo phần bằng nhau”. Căn cứ theo đó, chúng ta thấy những căn cứ để phát sinh
trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
 Phải có thiệt hại
Thiệt hại là điều kiện đầu tiên khi xác định trách nhiệm dân sự nói chung và trách
nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại nói riêng. Nếu hành vi trái pháp luật mà không gây
thiêt hại thì vấn đề đền bù không được đặt ra. Theo nguyên tắc, thiệt hại trong trách
nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cũng là thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng nói riêng và trong trách nhiệm dân sự nói chung. Tuy nhiên, thiệt
hại trong trách nhiệm liên đới có đặc trưng riêng:


Thứ nhất, thiệt hại là hậu quả của hành vi trái pháp luật của nhiều

người, không nhất thiết các hành vi trái pháp luật đó phải đồng thời được thực hiện.
• Thứ hai, giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật của một hoặc
một số trong số những người có hành vi trái pháp luật có thể không có mối quan hệ
nhân quả, hay nói cách khác là không có mối liên hệ trực tiếp mà chỉ có mối quan hệ
gián tiếp.

• Thứ ba, thiệt hại là một thể thống nhất, không phân chia.
 Hành vi trái pháp luật


Nếu như trong trách nhiệm dân sự thông thường thì chủ thể thực hiện hành vi có thể
là một các nhân, pháp nhân hay tổ chức khác thì trong trách nhiệm liên đới bồi thường
thiệt hại hành vi trái pháp luật có thể được thực hiện bởi nhiều người. Bởi trách nhiệm
dân sự liên đới bồi thường thiệt hại là trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhiều người.
Nhiều người cùng liên đới chịu trách nhiệm cũng có thể do họ cùng thực hiện một hành
vi cụ thể hoặc từng người thực hiện từng hành vi riêng rẽ nhưng những hành vi này lại
gây ra cùng một hậu quả.
Việc xác định phạm vi chủ thể liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho
người có quyền đặc biệt khó khăn trong những trường hợp khi chỉ có một hay một số
người có hành vi vi phạm nghĩa vụ nhưng chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không
chỉ có những người này mà còn có những người khác. Các căn cứ để buộc những người
mặc dù không thực hiện hành vi vi phạm nghĩa vụ nhưng vẫn phải cùng với người vi
phạm liên đới chịu trách nhiệm:


Theo quy định của pháp luật: nếu không có quy định của pháp luật thì

khó có thể bắt buộc những người không trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm nghĩa vụ
liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cùng với những người có hành vi trực tiếp
gây ra thiệt hại. Trong nhiều trường hợp, xuất phát từ đặc điểm của mối quan hệ giữa
các chủ thể mà pháp luật quy định trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.
• Mối liên hệ giữa các chủ thể: nếu pháp luật không quy định nhưng trên
thực tế trong mối quan hệ với người bị thiệt hại, người không thực hiện hành vi trái
pháp luật và người thực hiện hành vi trái pháp luật được coi là một chủ thể thống nhất.
 Mối quan hệ nhân quả
Chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật chỉ chịu trách nhiệm về những hậu quả trực


tiếp do chính hành vi đó gây ra. Trong trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại, việc
xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra là căn cứ
xác định phạm vi chủ thể liên đới chịu trách nhiệm. Khi xác định mối quan hệ nhân quả
để xác định trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại thì phải xác định mối quan hệ giữa
hành vi trực tiếp gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra. Nếu các hành vi không cùng xảy ra
đồng thời thì cần phải xác định được mối quan hệ nhân quả giữa các hành vi nối tiếp
nhau.
 Lỗi
Lỗi trong trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt hại có một số đặc điểm sau đây:


Thứ nhất, lỗi có thể là lỗi của người không trực tiếp thực hiện hành vi

gây thiệt hại cho người khác nhưng hành vi có lỗi của họ là nguyên nhân dẫn đến hành
vi trái luật của người trực tiếp gây thiệt hại;
• Thứ hai, hình thức của lỗi có ý nghĩa quan trọng, hầu như là quyết định
trong việc xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của từng chủ thể liên đới chịu trách
nhiệm.
2. Trong Bản án số 19, bà Khánh bị thiệt hại trong hoàn cảnh nào? Có xác
định chính xác được người gây thiệt hại cho bà Khánh không?
- Trong bản án số 19, bà Khánh bị thiệt hại trong hoàn cảnh: khi anh Hải (em vợ
anh Lễ) đến mua thuốc lá tại nhà chị Hiền, tại đây anh Hải hỏi: “nhà có đàn ông
không?” thì chị Tám và chị Hiền có phản ứng, hai bên xảy ra xô xát, giằng co và có bể
một số trứng và hai chiếc ghế gỗ của bà Khánh.


- Trong trường hợp này, không xác định chính xác được người gây thiệt hại trực tiếp
cho bà Khánh. Ở đây khó có thể cho răng số trứng và hai chiếc ghế gỗ bị hư hỏng là do
hành vi của cả ba người gây ra và có nhiều khả năng thiệt hại này là chỉ do một trong ba
người gây ra.
3. Đoạn nào của Bản án số 19 cho thấy Tòa án đã theo hướng chị Tám, chị
Hiền và anh Hải liên đới bồi thường?
- Đoạn của bản án cho thấy Tòa án theo hướng chị Tám, chị Hiền và anh Hải liên
đới bồi thường: “Xét thiệt hại về tài sản của bà Khánh do xô xát giữa chị Tám, chị Hiền
và anh Hải đã dẫn đến là 02 chiếc ghế gỗ bị gãy chân và các loại bánh, trứng tại quán bà
Khánh bị đổ, bễ…trong quá trình xô xát là có thật. Do vậy, cần buộc những người này
phải liên đới bồi thường cho bà Khánh”.
4. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết nêu trên của Tòa án về trách
nhiệm liên đới.
Hướng giải quyết của Tòa về trách nhiệm liên đới trong vụ việc này là rất thuyết
phục. Căn cứ theo Điều 616 BLDS 2005 thì trong trường hợp nhiều người cùng gây
thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trong sự
việc được nêu ra, chị Hiền, chị Tám và anh Hải là người phải chịu trách nhiệm liên đới
bồi thường cho bà Khánh là phù hợp theo quy định của pháp luật.
5. Trong Quyết định số 226, ai là người trực tiếp gây thiệt hại lại cho bộ Hộ?
- Trong Quyết định, người trực tiếp gây thiệt hại cho bà Hộ là bà Lan. Bởi bà Lan
đã đánh vào mặt gây thương tích ở mắt trái làm cho bà Hộ bị loét giác mạc mắt trái.


6. Trong Quyết định số 226, ai là người phải liên đới nồi thường thiệt hại cho
bà Hộ?
- Trong Quyết định, ông Bảo là người phải liên đới bồi thường thiệt hại cho bà Hội.
Bởi việc ông Bảo kêu các con đánh bà Hộ là hành vi trái pháp luật và gây hậu quả là bà
Hộ bị chấn thương mắt trái, nên ông Bảo cũng phải chịu trách nhiệm liên đới cùng bà
Lan bồi thường thiệt hại cho bà Hộ.
7. Hướng giải quyết trong Quyết định số 226 đã có tiền lệ chưa? Nếu có, nêu
tóm tắt tiền lệ đó.
- Hướng giải quyết trong quyết định đã có tiền lệ. Tại ản án số 52/2007/DSPT ngày
16-3-2007 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Tóm tắt: này 31-1-2003, ông Hữu và ông Kim mang đồ lễ tết đến nhà mẹ đẻ (cụ
Lụa) để thắp hương thì xảy ra xô xát với ông Mỹ và các con trai, con rể ông là Anh,
Đức, Sĩ và Thủy. Ông Hữu, ông Kim bị trói. Do bị trói lâu, tay phải ông Hữu bị liệt và
phải điều trị một thời gian. Nay ông Hữu yêu cầu ông Mỹ và các con ông là Đức, Anh,
Sĩ, Thủy phải liên đới bồi thường thiệt hại cho ông la 20.690.400 đồng.
Trong vụ việc nêu trên, việc ông Hữu bị trói là có thật nhưng không có căn cứ chính
xác để xác định ai ai là người trực tiếp tham gia trói buộc ông, căn cứ vào lời khai giữa
những người liên quan trong vụ án về người tham gia trói ông cũng không thống nhất,
ông Hữu cũng không xác định được ai là người trực tiếp trói mình. Trong trường hợp
này, do không xác định được ai là người trực tiếp gây ra thiệt hại đối với ông Hữu nên
Tòa án đã theo hướng buộc cả ông Mỹ, anh Anh, Đức, Sỹ phải liên đới bồi thường thiệt


hại về sức khỏa cho ông Hữu. Riêng đối với anh Thủy Tòa án bác yêu cầu đòi bồi
thường thiệt hại của ông Hữu do trong quá trình xét xử không có căn cứ nào cho thấy
thời điểm xảy ra vụ việc có mặt anh Thủy nên việc buộc anh Thủy phải liên đới là
không hợp lí.
8. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên cảu Tòa án liên quan đến
trách nhiệm liên đới.
- Hướng giải quyết của Tòa án là hợp lí. Căn cứ vào điều kiện làm phát sinh trách
nhiệm liên đới bồi thường thì khi xác định mối quan hệ nhân quả thì phải xác định mối
quan hệ giữa hành vi trực tiếp gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra. Còn nếu các hành vi
không cùng xảy ra đồng thời thì cần phải xác định được mối quan hệ nhân quả giữa các
hành vi nối tiếp nhau, hay nói cách khác là nguyên nhân gián tiếp gây nên thiệt hại.
Trong trường hợp này, mặc dù ông Bảo không trực tiếp gây ra thiệt hại cho bà Hộ
nhưng hành vi kêu các con đánh bà Hộ là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến hậu quả
thương tật mắt trái của bà Hộ nên ông Bảo phải chịu trách nhiệm liên đới. Tòa Giám
đốc thẩm theo hướng người “kêu”, “chủ mưu, khởi xướng, rủ rê” người khác gây thiệt
hại được coi là người “cùng gây thiệt hại” cho dù họ không trực tiếp gây ra thiệt hại.
Hướng xác định như vậy là thuyết phục để bảo vệ người bị thiệt hại và cho thấy chỉ cần
có sự thống nhất ý chí về việc gây thiệt hại là đủ để coi là “cùng gây thiệt hại” làm
phát sinh trách nhiệm liên đới3.
9. Bản án số 19, bà Khánh đã yêu cầu bồi thường bao nhiêu và yêu cầu ai bồi
thường?
Đỗ Văn Đại, Luật Bồi thường thiệt hại ngaoài hợp đồng Việt Nam_Bản án và bình luận bản án, Nxb.ĐH Quốc
gia TP.HCM 2014, trang 19.
3


- Trong bản án, bà Khánh trước đây đã yêu cầu bồi thường 324.000đ (ba trăm hai
mươi bốn ngàn đồng), nhưng sau đó bà yêu cầu 800.000đ (tám trăm ngàn đồng) và yêu
cầu anh Hải phải bồi thường cho bà toàn bộ số tiền này mà không yêu cầu chị Tám, chị
Hiền bồi thường thiệt hại.
10. Bản án số 19, Tòa án đã anh Hải bồi thường bao nhiêu?
- Trong bản án, Tòa án đã cho rằng “bà Khánh chỉ khởi kiện yêu cầu đối với anh
Hải, do đó Tòa án chỉ xem xét phần trách nhiệm của anh Hải, buộc anh Hải bồi thường
thiệt hại tài sản cho bà Khánh bằng một phần ba số tiền bà yêu cầu là 267.000đ”.
11. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến anh
Hải.
- BLDS 2005 chưa quy định cụ thể về vấn đề liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Người bị thiệt hại có thể yêu cầu một hay một số người bồi thường toàn bộ thiệt hại
(hay một phần thiệt hại) và họ cũng có thể miễn một hay một số người thực hiện nghĩa
vụ dân sự liên đới. Tuy nhiên, BLDS không cho biết trong trường hợp nào thì người bị
thiệt hại miễn cho một hoặc một số người liên đới và câu hỏi đặt ra là khi người bị thiệt
hại chỉ yêu cầu một hay một số người liên đới bồi thường thiệt hại thì có được coi là họ
miễn cho người còn lại hay không?4 Trong vụ việc này, bà Khánh “yêu cầu anh Hải bồi
thường cho bà toàn bộ số tiền này” và không yêu cầu chị Tám, chị Hiền bồi thường thiệt
hại. Việc bà Khánh chỉ yêu cầu anh Hải bồi thường toàn bộ thiệt hại phải chăng chỉ là
thực hiện quyền yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn

Đỗ Văn Đại, Luật Bồi thường thiệt hại ngaoài hợp đồng Việt Nam_Bản án và bình luận bản án, Nxb.ĐH Quốc
gia TP.HCM 2014, trang 26, 27.
4


bộ nghĩa vụ trên cơ sở khoản 1 Điều 298 hay đã miễn trách nhiệm cho chị Tám và chị
Hiền trên cơ sở khoản 3 và 4 Điều 298 BLDS 2005. Theo quan điểm của nhóm, yêu cầu
trên nên được coi là quyền thực hiện yêu cầu trên cơ sở khoản 1 Điều 298 BLDS 2005,
buộc anh Hải bồi thường toàn bộ thiệt hại mà không theo hướng của Tòa là buộc anh
Hải chỉ phải bồi thường 1/3 số tiền bà Khánh yêu cầu.
IV. VẤN ĐỀ 4: GIẢM MỨC BỒI THƯỜNG DO HOÀN CẢNH KINH TẾ:
1. Theo BLDS 2005, trong những điều kiện nào một người được giảm mức
thiệt hại mà họ có trách nhiệm bồi thường? Nêu rõ từng điều kiện được quy định
trong BLDS.
Theo BLDS 2005 để được giảm mức bồi thường khi gặp hoàn cảnh khó khăn.
BLDS ghi nhận một nguyên tắc mang tính nhân đạo cho phép được giảm mức bồi
thường. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 605 Bộ luật dân sự 2005: “Người gây thiệt hại
có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả
năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình” và Điểm c tiểu mục 2.2 Mục 2 Nghị quyết
03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng chi tiết một số quy định của Bộ luật dân sự
2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
“Người gây thiệt hại chỉ có thể được giảm mức bồi thường khi có đủ hai điều
kiện sau đây:
- Do lỗi vô ý mà gây thiệt hại;
- Thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của
người gây thiệt hại, có nghĩa là thiệt hại xảy ra mà họ có trách nhiệm bồi thường so với
hoàn cảnh kinh tế trước mắt của họ cũng như về lâu dài họ không thể có khả năng bồi


thường được toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại đó.”
Như vậy, một người được giảm mức thiệt hại mà họ có trách nhiệm bồi thường khi
có các điều kiện:
- Với điều kiện thứ nhất "lỗi vô ý" thì theo BLDS người gây thiệt hại chỉ được
giảm mức bồi thường thiệt hại khi các yếu tố phát sinh trách nhiệm bồi thường đã hội
đủ và nếu do "lỗi vô ý" mà gây thiệt hại cho người khác. Trong phần bồi thườnh thiệt
hại ngoài hợp đồng thì BLDS không quy định "lỗi vô ý" là gì. Tuy nhiên, theo Nghị
quyết số 03/2006/NQ-HĐTP: "Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy
trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết
trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại,
nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được". Ở đây, phải xác
định được người gây thiệt hại và lỗi vô ý của họ.
- Điều kiện tiếp theo là thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước
mắt và lâu dài cuả người gây thiệt hại. Như vậy, nếu người phải bồi thường là chủ thể
mà khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của họ không thể bảo đảm được việc bồi
thường toàn bộ thì có thể xử bồi thường thấo hơn thiệt hại. Việc xác định thế nào là thiệt
hại quá lớn so với khu vực kinh tế trước mắt hoặc lâu dài của người gây thiệt hại là một
vấn đề phức tạp, các cơ quan có trách nhiệm cũng chưa có giải thích hoặc hướng dẫn cụ
thể. "Khái niệm quá lớn không thể quy định cụ thể bởi cùng thiệt hại với đại lượng
không đổi đối với cá nhân này là rất lớn nhưng với người khác lại không coi là lớn"5.
Do đó khái niệm "quá lớn" cũng không thể quy định cụ thể, bởi cùng thiệt hại với một
đại lượng không đổi, đối với cá nhân này là rất lớn, nhưng với người khác lại không coi
5

Ngô Quỳnh Hoa và Vũ Thị Hiền: Hỏi đáp pháp luật về bồi thường thiệt hại, Nxb. Lao động-Xã hội, 2003.


là lớn. Do vậy, tùy từng hoàn cảnh mà chúng ta xác định điều kiện này.
Ngoài ra trong BLDS 2005 còn các điều luật khác quy định về việc giảm mức
bồi thường thiệt hại trong hợp đồng như:
Điều 448: Bồi thường thiệt hại trong thời hạn bảo hành. Bên bảo hành được giảm
mức bồi thường nếu bên mua không áp dụng các biện pháp cần thiết mà khả năng cho
phép nhằm ngăn chặn hạn chế thiệt hại.
Điều 597: Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Người thực hiện công việc không có ủy
quyền và vô ý gây ra thiệt hại.
2. Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án xác định bà Lan có lỗi vô ý đối với
thiệt hại của ông Mạnh?
Đoạn của bản án cho thấy Tòa án xác định bà Lan có lỗi vô ý đối với thiệt hại của
ông Mạnh là "Trong trường hợp này, việc xảy ra cháy nhà và gây thiệt hại cho ông
Mạnh là do lỗi của bà Lan là để cho hệ thống điện quá cũ kỹ gây nên chập điện cháy
nhà và thời điểm phát cháy bà đã nhờ người làm thuê trông coi mà không có sự cảnh
giác cao độ, tuy nhiên đây chỉ là lỗi vô ý".
3. Suy nghĩ của anh/chị về cách xác định lỗi vô ý trên của Tòa án đối với bà
Lan.
Cách xác định lỗi vô ý đối với bà Lan của Tòa án chưa đủ sức thuyết phục, bởi lẽ
Tòa án chỉ cho rằng bà Lan để cho hệ thống điện quá cũ kỹ, và thời điểm cháy bà nhờ
người khác trông coi không có sự cảnh giác cao độ nên gây ra cháy. Tòa án xác định
như vậy quá chung chung không thấy được lỗi vô ý của bà Lan ở đâu. Ở đây bà Lan biết
được việc để hệ thống điện cũ kỹ nhưng do thiếu sự cảnh giác cao độ nên vụ cháy xảy


ra gây thiệt hại cho ông Mạnh.
4. Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án giảm mức bồi thường cho bà Lan?
Tòa án giảm mức bồi thường cho bà Lan ở đoạn " và hoàn cảnh kinh tế của bà Lan
hiện nay rất khó khăn, nợ nần, bệnh tật, tuổi cao, nuôi con bệnh tâm thần và mức bồi
thường trên là quá cao so với khả năng kinh tế của bà Lan nên cần xem xét giảm mức
bồi thường cho bà 20% là phù hợp".
5. Mức bồi thường được giảm là bao nhiêu? Đoạn nào của bản án cho câu trả
lời?
Mức bồi thường được giảm là 20%, đoạn cho thấy câu trả lời là: “giảm mức bồi
thường cho bà 20% là phù hợp, nghĩ nên buộc bà Lan bồi thường cho ông Mạnh 80% mức
thiệt hại nêu trên, tức là 76.160.000 đồng”.
6. Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án quyết định giảm mức bồi thường cho
bà Lan (đánh giá từng điều kiện nêu trong BLDS 2005 để giảm mức bồi thường).
Việc Tòa án giảm mức bồi thường cho bà Lan là hoàn toàn hợp lý. Về phía bà Lan
có đủ các điều kiện để được giảm mức bồi thường này.
• Lỗi vô ý gây nên thiệt hại: Tòa án đã xác định đây là lỗi vô ý, bà Lan không biết
trước được thiệt hại có thể xảy ra, càng không muốn thiệt hại xảy ra.
• Đánh giá mức thiệt hại: trên thực tế để xác định mức bồi thường thiệt hại có là quá
lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài hay không là rất khó. Để xác định được
điều này cần dựa vào bản thống kê chính xác, chi tiết, khách quan về thiệt hại và hoàn cảnh
của người phải bồi thường. Các tiêu chí đánh giá là mức thu nhập thực tế, chi phí cho sinh
hoạt và sản xuất, những người phụ thuộc,... Trong hoàn cảnh của bà Lan, Tòa án đã xác


nhận các điều kiện hoàn cảnh như cao tuổi, bệnh tật, nợ nần và phải nuôi thêm người con bị
bệnh tâm thần và mức bồi thường trên là quá cao so với khả năng kinh tế của bà Lan. Hoàn
cảnh như vậy có thể thấy khả năng trước mắt và lâu dài để bồi thường toàn bộ là không có.
Như vậy là đủ các điều kiện do luật định ra để bà Lan có thể được giảm mức bồi
thường thiệt hại. Tòa án giảm mức bồi thường cho bà Lan như vậy rất nhân đạo tạo điều
kiện giúp bà Lan vượt qua khó khăn khi bị tai nạn.
7. Nếu bà Lan không có lỗi (mà vẫn phát sinh trách nhiệm bồi thường) thì có
thể yêu cầu giảm mức bồi thường theo BLDS 2005 không? Vì sao?
Nếu bà Lan không có lỗi (mà vẫn phát sinh trách nhiệm bồi thường) thì bà không thể
yêu cầu giảm mức bồi thường thiệt hại theo Điều 605 của BLDS 2005.
Vì lúc đó không còn yếu tố lỗi, không thỏa mãn yêu cầu thứ nhất (lỗi vô ý). Đây là
yêu cầu bắt buộc đầu tiên của quyền yêu cầu giảm mức bồi thường thiệt hại do hoàn cảnh
kinh tế. Bộ luật chỉ cho phép giảm mức bồi thường đối với "lỗi vô ý" cho nên bà Lan sẽ
không được giảm mức bồi thường.
8. Những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 và suy nghĩ của anh/chị về
những thay đổi này liên quan đến chủ đề đang được nghiên cứu.
* Những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 liên quan đến chủ đề đang được
nghiên cứu:
+ Thứ nhất, BLDS 2015 thay cụm từ “người gây thiệt hại” bằng cụm từ “người
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại”.
- Khoản 2 Điều 605 BLDS 2005 chỉ quy định khả năng được yêu cầu giảm


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×