Tải bản đầy đủ

Thảo luận lần 3 Luật Lao động

THẢO LUẬN LẦN 3: LUẬT LAO ĐỘNG.
1.Tình huống 1:
Công ty P còn nợ lại tiền lương và phụ cấp cho ông Thành 04 tháng : 11/2012,
2/2013, 4/2013, 7/2013. Mà theo BLLĐ thì trường hợp công ty không thể trả lương
đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng1, cụ thể Công ty phải trả thêm 1
khoản tiền ít nhất bằng số tiền trả chậm nhân với lãi suất trần huy động tiền gửi có
kỳ hạn 01 tháng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả
lương, khi Ngân hàng Nhà nước không quy định trần lãi suất thì được tính theo lãi
suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng của ngân hàng thương mại, nơi doanh
nghiệp, cơ quan mở tài khoản giao dịch thông báo tại thời điểm trả lương2.
Như vậy yêu cầu của ông Thành đối với Công ty P về việc thanh toán tiền lương
các tháng 11/2012, 2/2013, 4/2013, 7/2013 và tiền lãi chậm thanh toán tạm tính đến
ngày 31/8/2013 là đúng luật và được chấp nhận.
Theo K1 Đ36 và K1 Đ48 BLLĐ thì ngày 31/8/2013 hợp đồng lao động giữa ông
Thành và Công ty P đã chấm dứt nên ông Thành được hưởng trợ cấp thôi việc.
Theo K3 Đ14 NĐ05/2015 thì thời gian tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian
người lao động đã làm việc thực tế trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo
hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người


sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc , căn cứ vào các điểm a, b khoản này thì

thời gian thực tế được tính cả thời gian thử việc tức là từ ngày 01/8/2010, và thời
gian người lao động đã tham gia BHTN bao gồm thời gian người sử dụng lao động
đã đóng BHTN theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động
đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động 1 khoản tiền tương đương
với mức đóng BHTN theo quy định của pháp luật, mà trong thời gian làm việc tại
Công ty từ ngày 01/9/2010 đến 31/7/2013, ông Thành không được Công ty đóng
các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,bảo hiểm thất nghiệp theo luật định ,
như vậy công ty đã vi phạm pháp luật về đóng BHXH cụ thể tại K1 Đ134 Luật
BHXH 2006 và Điểm K1 Đ201 BLLĐ, mức phạt đối với hành vi không đóng
BHXH của Công ty đối với ông Thành được quy định tại Điểm a,c K2 Đ26
NĐ95/2013 cụ thể là phạt tiền với mức từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng
BHXH bắt buộc , BHTN tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối
đa không quá 75.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi chậm đóng
hoặc đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, BHTN.
Như vậy , yêu cầu được hưởng trợ cấp thôi việc của ông Thành là đúng luật và
được chấp nhận. Ngoài ra công ty còn bị phạt vi phạm đối với hành vi không đóng
BHXH, BHTN theo luật định.



1.

Điều 96 BLLĐ 2012.

2.

Khoản 2, Điều 24 NĐ05/2015.

2. Tình huống 2.
Theo quan điểm của nhóm chúng em, hành vi tự ý tạm giữ lương tháng 6, 7 và 15
ngày tháng 8 của NLĐ ( thực chất là không trả lương cho NLĐ vào thời điểm nhận
lương ) mà chưa có cơ sở chứng minh việc anh Thức có làm việc hay không của
Công ty T là hoàn toàn trái pháp luật lao động. Căn cứ theo quy định của BLLĐ thì
Công ty T lựa chọn hình thức trả lương theo tháng cho anh Thức nên phải trả
lương tháng một lần hoặc nửa tháng một lần và phải trả ngay trong tháng mà người
lao động làm việc ( bao gồm tiền lương cơ bản 3 triệu 300 ngàn đồng và phụ cấp
công việc 600 ngàn đồng căn cứ theo Điều 3 Thông tư 23/2015)3. Công ty hoàn
toàn chưa chứng minh được rõ ràng anh Thức có sai phạm trong thời gian làm việc
hay không và cũng không có cơ sở bằng chứng nào cho thấy anh Thức có tự ý nghỉ
việc hay không. Công ty chỉ có nêu ra được việc không có nhân viên bán hàng của


công ty T tại đại lý Hoàng Yến và chưa có nhân viên nào đi bán hàng cùng với anh
Thắng; anh Thức không nộp báo cáo ghi rõ chi tiết doanh số bán hàng hằng ngày,


không đồng ý và chống đối lại quyết định yêu cầu đi bán hàng ở khu vực Nha
Trang. Với những sai phạm mà công ty T đưa ra thì cũng chỉ có thể xử lý kỷ luật
đối với anh Thức nhưng công ty T lại không tổ chức một cuộc họp có biên bản hay
đối thoại nào với anh Thức về việc xử lý kỷ luật đối với anh. Hơn nữa, không có
hình thức xử lý kỷ luật nào là tạm giữ lương và đặc biệt là tuyệt đối nghiêm cấm
hình thức phạt tiền, cắt lương thay cho việc xử lý kỷ luật lao động4. Căn cứ theo
khoản 2 Điều 95 BLLĐ và Điều 5 Thông tư 23/2015 thì Công ty T vẫn có nghĩa vụ
phải trả lương đầy đủ và đúng kỳ hạn nếu HĐLĐ vẫn còn hiệu lực và mối quan hệ
lao động của anh Thức với công ty T vẫn đang diễn ra trên cơ sở HĐLĐ đó. Yêu
cầu hoàn trả tiền phụ cấp điện thoại, phụ cấp ngày làm việc bằng xe máy của anh
Thức là không có căn cứ nếu anh Thức không chứng minh được ngày làm việc
thực tế của mình vì khoản tiền phát sinh dựa trên chế độ hỗ trợ của Công ty khi
làm việc của NLĐ và không nằm trong cơ cấu tiền lương ghi trong HĐLĐ theo
Thông tư 23/2015 và thông tư 47/2015. Căn cứ theo Điều 3 thông tư 23/2015 và
Điều 4 thông tư 47/2015 thì tiền lương của anh Thức chỉ bao gồm mức lương cơ
bản theo công việc là 3 triệu 300 ngàn đồng và phụ cấp công việc là 600 ngàn đồng
(tổng là 3 triệu 900 ngàn đồng).
Về yêu cầu tiền thưởng quý II, quý III của anh Thức thì căn cứ theo Điều 103
BLLĐ, “Tiền thưởng là khoản tiền mà NSDLĐ thưởng cho NLĐ căn cứ vào kết
quả sản xuất kinh doanh hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của NLĐ”.


Như vậy, tiền thưởng bản chất đúng theo tên gọi của nó là chỉ là khoản tiền
NSDLĐ thưởng cho NLĐ vì đã hoàn thành tốt công việc. Trong trường hợp của
anh Thức, do anh Thức đã có nhiều sai phạm: không tuân thủ sự điều động của
Công ty,thời gian làm việc không rõ ràng, không gửi báo cáo, vô tổ chức kỷ luật,…
và không bán được hàng ở cả quý II và quý III theo doanh số mà công ty T đưa ra
dẫn đến việc không hoàn thành tốt công việc. Chính vì vậy, Công ty có thể căn cứ
vào mức độ hoàn thành công việc của anh Thức để quyết định việc có chi trả hay
không tiền thưởng của quý II và quý III năm 2013. Do anh Thức không chứng
minh được doanh số bán hàng của mình đạt mức chuẩn công ty đã đưa ra và không
có cơ sở nào ghi nhận lại nên công ty T có quyền không chi trả tiền thưởng quý II,
quý III/2013.
Về yêu cầu hoàn trả tiền thưởng Tết của anh Thức, do Công ty đã giải thích và quy
chế về thưởng Tết của công ty đã quy định, “Công ty chỉ thưởng Tết đối với những
người có mặt thực tế làm việc tại công ty T tại thời điểm công ty T xét thưởng cuối
năm”. Quy chế về thưởng Tết này của công ty nếu đã được công bố công khai tại
nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể NLĐ thì hoàn
toàn hợp pháp. Do vậy, công ty T không thể chi trả tiền thưởng Tết cuối năm cho
anh Thức do anh không còn làm việc tại công ty T sau tháng 8/2013 căn cứ theo
Điều 103 BLLĐ.


Về yêu cầu hoàn trả tiền nghỉ phép năm của anh Thức, do anh Thức có 8 ngày nghỉ
phép năm tính đến tháng 8/2013 và đây là những ngày nghỉ có hưởng nguyên
lương nên anh Thức có quyền yêu cầu tiền lương những ngày chưa nghỉ phép nếu
chưa nghỉ hết số ngày trên. Công ty T có giải thích anh Thức nghỉ bệnh 4 ngày để
trừ vào tổng số 8 ngày nghỉ phép năm tính đến hiện tại của anh Thức là chưa thỏa
đáng vì còn phải căn cứ vào 4 ngày nghỉ bệnh của anh Thức có phải là nghỉ phép
năm hay không hay chỉ là ngày nghỉ không lương theo thỏa thuận giữa NLĐ và
NSDLĐ của khoản 3 Điều 116 BLLĐ. Nếu 4 ngày nghỉ bệnh của anh Thức là nghỉ
không lương có lý do, được NSDLĐ là công ty T đồng ý thì 4 ngày nghỉ bệnh này
không được trả lương và không được gộp vào tổng số ngày nghỉ hằng năm. Chính
vì vậy, nếu anh Thức chưa hề xin nghỉ hằng năm có hưởng nguyên lương ngày nào
thì công ty có nghĩa vụ phải hoàn trả tiền lương của 8 ngày nghỉ hằng năm cho anh
Thức căn cứ theo Điều 114 BLLĐ.
Về khoản tiền bảo hiểm xã hội và tiền bảo hiểm y tế, nếu đúng như phía công ty T
đã giải thích rằng sau ngày 20/11/2012, công ty T đã tổ chức cuộc họp có đại diện
công ty T và đại diện NLĐ là công đoàn cơ sở công ty T và đã ra thông báo nội bộ
điều chỉnh mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo pháp luật Việt Nam, theo
đó NLĐ sẽ đóng 7% BHXH và 1,5 % BHYT thì việc Công ty bù vào lương của
NLĐ một khoản tiền bằng 9,5% lương cơ bản để NLĐ đóng BHXH, BHYT và nếu
số tiền tương đương 9,5% lương cơ bản của NLĐ mà công ty T bù vào cho NLĐ


đủ để chi trả BHXH, BHYT thì việc công ty T trừ vào lương anh Thức mỗi tháng
198.000 đồng tiền BHXH, 49.500 đồng tiền BHYT hoàn toàn không làm giảm đi
mức lương thực nhận, mức lương theo HĐLĐ của anh Thức. Chính vì vậy, việc
yêu cầu hoàn trả khoản tiền đóng BHXH và tiền BHYT anh Thức đã bị công ty T
trừ hằng tháng là không được chấp nhận.
Kết luận, tranh chấp của công ty T và anh Thức sẽ được giải quyết như sau:
Công ty T phải hoàn trả khoản tiền lương tháng 6, tháng 7 và 15 ngày của tháng
8 năm 2013 cho anh Thức căn cứ theo Điều 90, Điều 95 BLLĐ, Điều 3 Thông tư
23/2015 và Điều 4 Thông tư 47/2015 là 9.750.000 đồng, trong đó bao gồm:
- Mức lương cơ bản của tháng 6, 7 và 15 ngày của tháng 8 năm 2013:
3.300.000 * 2 + 3.300.000/2 = 8.250.000 (đồng)
- Phụ cấp công việc của tháng 6, 7 và 15 ngày của tháng 8 năm 2013:
600.000 * 2 + 600.000/2 = 1.500.000 (đồng )
Công ty T phải hoàn trả thêm cho anh Thức lãi suất chậm trả lương của tháng 6,
tháng 7 và 15 ngày của tháng 8 năm 2015 theo lãi suất huy động tiền gửi do Ngân
hàng Nhà nước công bố tại thời điểm thi hành thi hành quyết định hoàn trả5. Công
ty T phải hoàn trả tiền lương 8 ngày nghỉ phép năm cho anh Thức.


3. Khoản 2 Điều 95 BLLĐ và Điều 5 Thông tư 23/2015.
4. Điều 125 BLLĐ và Điều 128 BLLĐ.
5. Điều 96 BLLĐ.

3. Tình huống 3
Theo quan điểm của nhóm em thì yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đon
Công ty liên doanh TNHH Bông Sen Yamachi trả tiền thưởng Quí 3/2013 số tiền
1.320.000 đồng không được chấp nhận .
-

Thứ nhất: căn cứ khoản 2 điều 105 BLLĐ 2012 qui định về tiền thường như

sau: “Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai
tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại
cơ sở”. Theo quyết định số DCI/GD2013-01-08 ngày 01 tháng 8 năm 2013 có qui
định ở mục 3.1.2 điều kiện nhận thưởng quí là không nhận thư nhắc nhở trong suốt


quí và trong quá trình nhận thưởng. Như vậy công ty đã công bố công khai quy chế
nhận thưởng và ông An đã vi phạm.
-

Thứ hai: căn cứ khoản 1 điều 103 BLLĐ 2013 “Tiền thưởng là khoản tiền

mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất
kinh doanh hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của người lao động”. Như
vậy căn cứ theo các dữ liệu từ tình huống trên, ngày 13/09/2013 trong ca trực ông
Nguyễn Hoàn An đã xin phép khách (được khách đồng ý) lái lùi xe Innova cho gọn
bãi đậu xe để giữ trật tự và việc lùi xe của ông tuyệt đối an toàn không gây hậu
quả. Mặc du ông Hoàng An chỉ là nhân viên trực cổng chứ không phải tài xế mà tự
ý lái lùi xe của khách mặc dù có sự ngăn cản của ông Tổng Giám đốc khách sạn
đó. Nhằm ngăn chặn nguy cơ có thể xảy ra, gây ảnh hưởng đến sự an toàn, tình
hình hoạt động của công ty cũng như nhắc nhở nhân viên phải có trách nhiệm và
làm tốt công việc được giao, Công ty đã gửi thư nhắc nhở ông Nguyễn Hoàng An 2
lần. Tuy nhiên sau 2 lần nhắc nhở trên phía ông An không hợp tác, không thể hiện
thái độ nhận lỗi nên Công ty không xét thưởng Quí 3 năm 2013 cho ông.
-

Thứ ba: Theo Khoản 1, Điều 12 Nghị định 05/2015/NĐ-Cp hướng dẫn Bộ

luật lao động quy định: “ Người sử dụng lao động phải quy định cụ thể tiêu chí
đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của doanh nghiệp, làm cơ sở
đánh giá người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng


lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ do người sử dụng lao
động ban hành sau khi có ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở”.
Giữa trong hợp đồng lao động giữa Công ty và ông Hoàng An không có thỏa thuận
về tiền thưởng theo Quí mà chỉ có thỏa thuận về tiền thưởng tháng lương thứ 13 và
theo chính sách thưởng Quí 3 năm 2013 thì điều kiện để được trả thưởng là khi
người lao động không nhận thư nhắc nhở trong suốt quí về cho đến ngày nhận
thưởng và trong Thỏa ước lao động tập thể cũng không đề cập đến khoản thưởng
Quí. Vì trong hợp đồng không có thỏa thuận thưởng quí và chỉ dựa theo Quyết
định của Tổng giám đốc nên không thể dựa vào khoản 1 điều 103 BLLĐ và Khoản
1, Điều 12 Nghị định 05/2015 để giải thích vì không có căn cứ xác định ông An
không hoàn thành công việc nên phải thưởng cho ông An. Do đó, yêu cầu cầu của
nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn Công ty liên doanh TNHH Bông Sen Yamachi
trả tiền thưởng Quí 3/2013 số tiền 1.320.000 đồng không được chấp nhận.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×