Tải bản đầy đủ

Buổi thảo luận thứ 4 môn Luật Dân sự Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

BUỔI THẢO LUẬN THỨ 4
Vấn đề 1
Đối tượng dùng để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự

Câu 1: Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 liên quan đến
tài sản có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
Vấn đề liên quan đến tài sản có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự của BLDS 2015 có nhiều thay đổi so với BLDS 2005, cụ thể như sau:
Thứ nhất, về số lượng điều luật
BLDS 2015 chỉ có 1 điều luật (Điều 295 về Tài sản bảo đảm) trong khi đó
BLDS 2005 có tới 3 điều luật về tài sản bảo đảm (Điều 320 về Vật bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ dân sự; Điều 321 về Tiền, giấy tờ có giá dùng để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự và Điều 322 về Quyền tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự)

1


BLDS 2005 đã quy định theo hướng liệt kê như trên “dường như chỉ là sự lặp
lại các loại tài sản theo quy định tại Điều 163 của Bộ luật”1. Càng liệt kê thì càng

không đủ, cho nên BLDS 2015 đã rút gọn thành một điều luật, sử dụng thuật ngữ
chung “tài sản”. Đây có thể coi là một thành công đáng kể vì khái niệm “tài sản”
rộng hơn rất nhiều so với khái niệm “vật”, “tiền, giấy tờ có giá” hay “quyền tài
sản” như BLDS 2005 đã liệt kê, do đó việc sử dụng thuật ngữ tài sản sẽ có thể mở
ra cơ hội đa dạng hóa các loại tài sản là đối tượng của giao dịch bảo đảm, qua đó
thúc đẩy giao lưu dân sự.
Thứ hai, về biện pháp bảo đảm
Trong phần về Biện pháp bảo đảm, BLDS 2005 có quy định làm rõ yếu tố
“tương lai”của tài sản bảo đảm tại khoản 2 Điều 320. Nhưng đến BLDS 2015,
Điều 295 không có quy định làm rõ thế nào là tài sản hiện có hay tài sản hình
thành trong tương lai, vì điều này đã được quy định rõ tại khoản 1 Điều 108 về tài
sản hiện có và khoản 2 Điều 108 về tài sản hình thành trong tương lai là như thế
nào. Cách quy định như vậy là rất thuyết phục, làm cho BLDS không rườm rà mà
nội dung cũng không thiếu.
Thứ ba, về vấn đề sở hữu tài sản bảo đảm

1 Viên Thế Giang, Thực trạng pháp luật về tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và hướng sửa đổi,

Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 04/2015, tr.36.

2


So với BLDS 2005, BLDS 2015 đã có quy định mới về bảo đảm nghĩa vụ bảo
lãnh. Cụ thể là tại khoản 3 Điều 336 BLDS 2015: “các bên có thể thỏa thuận sử
dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh”
Theo đó, có thể hiểu nghĩa vụ trả tiền vay được bảo đảm bằng nghĩa vụ bảo
lãnh và đến lượt nghĩa vụ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của người bảo lãnh.
Thực ra, hướng trong BLDS 2015 vừa nêu là rất phổ biến và không thực sự mới so
với thực tiễn xét xử như: trường hợp A cho B vay và dùng tài sản của mình để bảo
đảm. Ở đây, Tòa án nhân dân tối cao vẫn theo hướng C là người bảo lãnh, nghĩa vụ
bảo lãnh bảo đảm cho hợp đồng vay và nghĩa vụ bảo lãnh lại được bảo đảm bằng
tài sản của C và thông thường là thế chấp.
Mặt khác, tại Điều 44 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP cũng đã tồn tại hướng
trên: “Các bên có thể thỏa thuận về việc xác lập giao dịch bảo đảm để bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, nghĩa vụ của bên được bảo lãnh đối với bên bảo lãnh
theo quy định của Bộ luật Dân sự, Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp
luật có liên quan”.
Như vậy, hướng này của BLDS 2015 là thuyết phục về mặt lý luận cũng như
thực tiễn và đang được Tòa án nhân dân tối cao áp dụng trong những hoàn cảnh


như vừa nêu.
Thứ tư, về giá trị của tài sản bảo đảm
3


BLDS 2015 đã bổ sung thêm quy định về giá trị của tài sản bảo đảm là có thể
lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm (khoản 4 Điều 295).
Quy định này được đưa vào để loại bỏ một thực tế là đôi khi có người yêu cầu giá
trị tài sản bảo đảm phải lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm.
Theo khoản 1 Điều 320 BLDS 2005: “Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch”. Đến BLDS
2015, quy định này không được giữ lại. Sở dĩ, phần Biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ bỏ quy định này không phải là cho phép sử dụng tài sản không được phép
giao dịch để bảo đảm mà là do các quy định chung (như quy định về điều kiện có
hiệu lực của giao dịch dân sự) đã có hướng giải quyết.

Câu 2: Đoạn nào của bản án số 208 cho thấy bên vay dùng giấy chứng
nhận sạp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay?
Trong phần “Nhận thấy” của Bản án số 208/2010/DT-PT ngày 09/03/2010
của Tòa án nhân dân TP.HCM có đoạn như sau:
“…Vào ngày 14/9/2007 bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo có thế
chấp cho ông một giấy sử dụng sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vay 60.000.000
đồng, thời hạn vay là 6 tháng, lãi suất thỏa thuận là 3%/tháng…”.
4


“Bị đơn bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo đã xác nhận có thế chấp
một giấy tờ sạp D2 – 9 tại chợ Tân Hương để vay 60.000.000 đồng cho ông Phạm
Bá Minh là chủ dịch vụ cầm đồ Bá Minh”.
Như vậy, theo như hai đoạn trên của Bản án đã cho thấy bên vay (bà Khen và
ông Thảo) đã dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền
vay.

Câu 3: Giấy chứng nhận sạp có là tài sản không? Vì sao?
Giấy chứng nhận sạp không là tài sản vì theo Khoản 1 Điều 105 BLDS 2015
(Điều 163 BLDS 2005) thì tài sản gồm có vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản
Thứ nhất, Vật. Vật được coi là tài sản phải là vật hữu hình, cảm nhận được
bởi năm giác quan của con người, chiếm giữ một phần trong không gian và đáp
ứng được một nhu cầu nào đó về vật chất và tinh thần của con người2. Ở đây, giấy
chứng nhận sạp tuy là vật hữu hình có thể cầm, nắm, quản lý nhưng lại không đáp
ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của con người.
Thứ hai, Tiền. Tiền là một loại tài sản riêng biệt, chỉ có Ngân hàng Nhà nước
độc quyền phát hành; thực hiện chức năng thanh toán đa năng, công cụ tích lũy tài
2 Hoàng Thế Liên (chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự 2005, Nxb.Chính trị Quốc gia – Sự thật

2013, Tập I, trang 380

5


sản và công cụ định giá các loại tài sản khác. Theo cách diễn giải trên thì giấy
chứng nhận sạp hiển nhiên không là tiền.
Thứ ba, Giấy tờ có giá. Theo quy định tại khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam năm 2010: “Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ
trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong
một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”. Theo đó, giấy tờ
có giá bao gồm:
 Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác
(Điều 1 Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005);
 Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu (điểm c
khoản 1 Điều 4 của Pháp lệnh ngoại hối năm 2005);
 Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và các công cụ khác làm phát
sinh nghĩa vụ trả nợ (khoản 16 Điều 3 Luật Quản lý nợ công 2009);
 Các loại chứng khoán: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua
cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng
tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; hợp đồng góp
vốn đầu tư; các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định
(khoản 1 Điều 6 của Luật Chứng khoán);
6


 Trái phiếu doanh nghiệp (Điều 2 của Nghị định số 52/2006/NĐ-CP
của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp).
Như vậy, giấy chứng nhận sạp không thuộc các loại giấy tờ có giá trên.
Thứ tư, Quyền tài sản. Quyền tài sản được quy định tại Điều 181 BLDS
2005: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong
giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”. Theo đó, những quyền tài sản là:
quyền chuyển giao tài sản, quyền đòi nợ, quyền sở hữu đối với phát minh, sáng
chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa… Các quyền này phải đáp ứng
yêu cầu trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao được trong giao dịch dân sự.3
Như vậy, giấy chứng nhận sạp chỉ là giấy đăng ký sử dụng sạp, không phải quyền
sở hữu và cũng không trị giá được bằng tiền nên giấy chứng nhận sạp không là
quyền tài sản.
Như vậy, theo những căn cứ và lập luận như trên thì giấy chứng nhận sạp
không là tài sản.

Câu 4: Việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ dân sự có
được Tòa chấp nhận không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
3 Hoàng Thế Liên (chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự 2005, Nxb.Chính trị Quốc gia – Sự thật

2013, Tập I, trang 385

7


Việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự không
được Tòa chấp nhận. Đoạn cho thấy câu trả lời nằm ở phần “Xét thấy” của Bản án
số 208/2010/DT-PT ngày 09/03/2010 của Tòa án nhân dân TP.HCM: “Xét sạp thịt
heo do bà Khen đứng tên và cầm cố, nhưng giấy chứng nhận sạp D2 – 9 chợ Tân
Hương là giấy đăng ký sử dụng sạp, không phải quyền sở hữu, nên giấy chứng
nhận trên không đủ cơ sở pháp lý để bà Khen thi hành án trả tiền cho ông Minh”.

Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết và cơ sở pháp lý của Tòa
án đối với việc dùng giấy tờ liên quan đến tài sản để bảo đảm nghĩa vụ dân sự.
Hướng giải quyết và cơ sở pháp lý của Tòa án đối với việc dùng giấy tờ liên
quan đến tài sản để bảo đảm nghĩa vụ dân sự là hợp lý. Trong vụ án này, ta cần xác
định rõ đối tượng được sử dụng để bảo đảm là tài sản nêu trong giấy tờ hay chính
giấy tờ này được dùng để bảo đảm. Ở đây do đối tượng được cầm giữ là giấy đăng
ký sử dụng sạp, không phải quyền sở hữu, cũng không phải là sạp hàng D2 – 9 tại
chợ Tân Hương nên nó không đủ cơ sở pháp lý để bà Khen thi hành án trả nợ cho
ông Minh.

8


Câu 6: Trên cơ sở so sánh pháp luật, suy nghĩ của anh/chị về khả năng cho
phép dùng giấy tờ liên quan đến tài sản để bảo đảm nghĩa vụ dân sự.
Trong những giấy tờ không có giá (nên không là tài sản), có những giấy tờ
liên quan đến tài sản như giấy đăng ký xe, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
giấy chứng nhận sở hữu nhà, giấy đăng ký kinh doanh hay giấy phép lái xe. Trong
thực tiễn xét xử, có bản án theo hướng cho phép sử dụng loại giấy tờ này để bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Ví dụ, trong một bản án năm 2003, theo Tòa án, “xét việc ông Hùng có giao
cho bà Ngân giữ để làm tin một xe dream lùn của Trung Quốc không có giấy tờ
gốc và một giấy đăng ký xe gắn máy số A1017771, bà Ngân có trách nhiệm hoàn
trả xe và giấy tờ xe cho ông Hùng ngay khi nhận đủ tiền do ông Hùng giao trả”. Từ
đó, Tòa án đã quyết định, “ngay khi nhận được tiền do ông Hùng giao trả bà Ngân
có trách nhiệm phải giao trả cho ông Hùng một xe dream lùn Trung Quốc, một thẻ
đăng ký xe mô tô số A1017771 và 200.000đ (hai trăm ngàn đồng)”4
Mặt khác, về việc chấp nhận sử dụng giấy tờ liên quan đến tài sản để đảm bảo
nghĩa vụ dân sự như thực tiễn vừa nêu không phải là đặc thù của Việt Nam. Ở nước
ngoài, như ở Pháp thì án lệ cũng như văn bản pháp luật chấp nhận cầm giữ giấy tờ
liên quan đến tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Xin dẫn một đoạn

4 Bản án số 387/DSPT ngày 19-3-2003 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

9


trong cuốn chuyên khảo do các chuyên gia hàng đầu của Pháp về biện pháp bảo
đảm để hiểu rõ hơn điều này: “văn bản cũng như án lệ đã áp dụng một nguyên tắc
chung theo đó một thứ không được giao dịch hay bản thân nó không có giá trị vẫn
có thể được cầm giữ. Cơ quan lập pháp đã cho phép công chứng viên, thừa phát
lại cầm giữ tài liệu trong một hồ sơ. Án lệ đã ghi nhận tính hợp pháp của việc cầm
giữ giấy tờ của kiểm toán viên, người quản lý chung cư, người được ủy quyền; án
lệ cũng chấp nhận cầm giữ giấy tờ hành chính như giấy đã đóng phí hải quan,
giấy tờ liên quan đến xe, giấy tờ thiết lập công cụ làm việc…”5.
Ở Việt Nam, tuy pháp luật chưa quy định rõ ràng về vấn đề này thế nhưng từ
thực tiễn xét xử đã cho thấy chúng ta hoàn toàn đồng ý phương pháp dùng giấy tờ
liên quan đến tài sản để đảm bảo nghĩa vụ dân sự điều này đã được nói đến ở phần
trên. Thiết nghĩ cho phép sử dụng giấy tờ có liên quan đến tài sản để đảm bảo
nghĩa vụ dân sự là hoàn toàn có khả năng cao. Chúng ta nên xét về bản chất của
việc bảo đảm trong giao dịch dân dân sự, thực chất bảo đảm là một biện pháp nào
đó để gây áp lực lên chính bên vay, hối thúc bên vay hoàn thành nghĩa vụ trả nợ
của mình thế nên cần có thêm những Nghị định quy định rõ hơn về giấy tờ liên
quan đến tài sản có được xem là giấy tờ đem đi bảo đảm hay không để hợp thức
hóa về mặt hình thức.

5 Đỗ Văn Đại, Luật nghĩa vụ dân sự và đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự - Bản án và bình luận án,

Nxb.CTQG 2012, tr. 430.

10


Câu 7: Đoạn nào của Quyết định số 02 cho thấy các bên đã dùng quyền sử
dụng đất để cầm cố ?
Trong Quyết định số 02/2014/QĐ-UBTP ngày 28/02/2014 có các đoạn như
sau cho thấy các bên đã dùng quyền sử dụng đất để cầm cố :
Trong phần “Nhận thấy” của Quyết định số 02 có đoạn: “...Vào ngày
30/08/1995 (âm lịch), ông Ôn, bà Xanh và ông Rành đã xác lập giao dịch “thục
đất làm ruộng” (BL31). Theo thỏa thuận này thì ông Ôn, bà Xanh là người có tài
sản là quyền sử dụng đất (QSDĐ) hợp pháp, ông Rành có tài sản là 30 chỉ vàng.
Thực hiện giao dịch ông Ôn, bà Xanh giao QSDĐ cho ông Rành canh tác, đổi lại
ông Rành đưa cho ông Ôn, bà Xanh 30 chỉ vàng 24k để sử dụng, hai bên thỏa
thuận nếu quá 03 năm ông Ôn, bà Xanh không chuộc lại đất cũng bằng số vàng
trên thì ông Rành có quyền canh tác số ruộng đất này vĩnh viễn...”
Trong phần “Xét thấy” của Quyết định số 02 có đoạn: “Ngày 30/8/1995 vợ
chồng ông Võ Văn Ôn và Lê Thị Xanh cùng ông Nguyễn Văn Rành thỏa thuận việc
thục đất. Hai bên có lập “Giấy thục đất làm ruộng” với nội dung giống như việc
cầm cố tài sản”

11


Câu 8: Văn bản hiện hành có cho phép dùng quyền sử đất để cầm cố
không? Nêu cơ sở văn bản khi trả lời ?
Trong BLDS cũng như các luật có liên quan khác như Luật đất đai hay Luật
nhà ở thì chưa có quy định về việc cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố.
Tuy nhiên, trong Nghị định 11/2012/NĐ-CP Về sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao
dịch bảo đảm đã có quy định quyền sử dụng không là tài sản bảo đảm, cụ thể là tại
khoản 2 Điều 1 Nghị định 11/2012/NĐ-CP quy định:
“1. Tài sản bảo đảm là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai
mà pháp luật không cấm giao dịch.
2. Tài sản hình thành trong tương lai gồm:
a) Tài sản được hình thành từ vốn vay;
b) Tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp
tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm;
c) Tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu,
nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký
theo quy định của pháp luật.
Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất”.
12


Câu 9: Trong Quyết định trên, Tòa án có chấp nhận cho phép dùng quyền
sử dụng đất để cầm cố không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Trong quyết định trên, Tòa án cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố.
Thể hiện trong phần “Quyết định” của Quyết định số 02/2014/QĐ-UBTP: “Chấp
nhận kháng nghị số 02/2014/KN-DS ngày 20/01/2014 của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Tiền Giang”
Mà kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang có
nhận xét như sau: “... Với giao dịch trên cho thấy, mặc dù pháp luật dân sự không
quy định cụ thể cho người sử dụng đất có quyền quyền cầm cố QSDĐ nhưng xét về
bản chất của giao dịch này thấy rằng giữa các bên đương sự đã thực hiện một
giao dịch cầm cố tài sản cho nhau và giao dịch này không trái pháp luật, không
trái đạo đức xã hội và tuân thủ đúng quy định của pháp luật về hình thức, nội
dung của hợp đồng cầm cố tài sản được bộ luật dân sự quy định từ điều 326 đến
điều 341. Hơn nữa xem xét các quy định của bộ luật dân sự về hợp đồng vô hiệu
thì giao dịch “thục đất làm ruộng” nêu trên không thuộc trường hợp giao dịch dân
sự vô hiệu mà bộ luật dân sự quy định từ điều 125 đến điều 138. Do đó, cần phải
hiểu và xem xét giao dịch “thục đất làm ruộng” giữa ông Ôn bà Xanh và ông

13


Rành là giao dịch tương tự như là giao dịch cầm cố tài sản và phải được pháp luật
thừa nhận mới đảm bảo khách quan...”

Câu 10: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án trong Quyết
định số 02.
Hướng giải quyết trên của Tòa án là hoàn toàn thuyết phục vì :
Thứ nhất, với hướng giải quyết trên, xã hội không bị ảnh hưởng, lợi ích chung
không bị xâm hại. Do đó, không nên cấm các bên thỏa thuận cầm giữ giấy tờ liên
quan đến tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Thứ hai, thực tế các giấy tờ trên không có giá nên không quy đổi được thành
tiền nhưng việc cho phép bên có quyền cầm giữ giấy tờ sẽ tạo áp lực cho bên có
nghĩa vụ để thúc đẩy họ thực hiện nghĩa vụ; nếu bên có nghĩa vụ muốn sử dụng
giấy tờ đã giao cho bên có quyền thì phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình cho
bên có quyền. Hiện nay quan niệm của chúng ta về biện pháp bảo đảm còn khá hạn
hẹp, khô cứng vì BLDS hiện hành chỉ quy định một cách minh thị những biện pháp
bảo đảm có đối tượng là tài sản. Mục đích của bảo đảm là để bên có nghĩa vụ thực
hiện nghĩa vụ của mình, việc cầm giữ giấy tờ liên quan đến tài sản không xâm hại

14


đến lợi ích chung của xã hội nhưng tạo áp lực cho bên có nghĩa vụ, thúc đẩy người
có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ nên cần được pháp luật ghi nhận.
Thứ ba, khi người có quyền chấp nhận cầm giữ giấy tờ có liên quan đến tài
sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì tại sao chúng ta không cho phép họ làm? Có
ý kiến cho rằng không nên chấp nhận bảo đảm bằng giấy tờ không có giá vì đối với
loại giấy tờ này chúng ta không thể thi hành án được. Quan điểm như vậy là không
thuyết phục nhìn từ góc độ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự: Ở đây, Tòa án chỉ
cần quyết định cho phép người có quyền duy trì việc cầm giữ giấy tờ nên không
cản trở việc thi hành án. Hơn nữa, bên cạnh việc cho phép bên có quyền cầm giữ
giấy tờ, Tòa án hoàn toàn vẫn buộc bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình
(song song với việc cầm giữ giấy tờ) và nếu bên có nghĩa vụ vẫn không thực hiện
nghĩa vụ, bên có quyền vẫn có thể tiến hành thi hành án đối với nghĩa vụ dân sự
chưa được thực hiện như các nghĩa vụ dân sự thông thường khác.
Thứ tư, trong pháp luật Việt Nam, đã có quy định cho phép bên có quyền cầm
giữ giấy tờ không có giá nhưng liên quan đến tài sản để buộc bên có nghĩa vụ thực
hiện nghĩa vụ. Do đó việc cầm giữ giấy tờ không có giá để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự là hoàn toàn có thể trong pháp luật Việt Nam.

15


Thứ năm, hướng giải quyết trên của Tòa án hiện nay chưa được phổ biến. Ở
nước ngoài như Pháp, án lệ cũng như văn bản pháp luật chấp nhận cầm giữ giấy tờ
liên quan đến tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Với những lý do trên, chúng ta nên duy trì và phát triển hướng thực tiễn xét
xử trên của Tòa án.

Câu 11: Đoạn nào của Bản án số 04 cho thấy người nhận thế chấp quyền
sử dụng đất là cá nhân?
Trong phần trình bày của bà Phạm Thị Ngọc Hồng cho thấy người nhận thế
chấp quyền sử dụng đất là cá nhân: “tôi đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho bà Long để nhờ bà Long vay 50.000.000 đồng của Ngân hàng đầu tư và phát
triển tỉnh Vĩnh Long, chứ tôi không có thế chấp để vay tiền của bà Long...”

Câu 12: Có quy định nào cho phép cá nhân nhận quyền sử dụng đất để
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không? Nếu có, nêu cơ sở văn bản.
Theo BLDS 2005 và Luật đất đai 2003 thì chủ thể nhận quyền sử dụng đất
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là không hạn chế, cụ thể tại khoản 7 Điều 113
Luật đất đai 2003 có quy định là Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là
16


đất thuê có quyền thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng
được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản
xuất, kinh doanh.

Câu 13: Đoạn nào của Bản án số 04 cho thấy Tòa án không chấp nhận
cho cá nhân nhận quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ ?
Trong phần “Xét thấy” của Bản án số 04/2010/DSPT ngày 13/01/2010 của
Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long có đoạn cho thấy Tòa án không chấp nhận cho cá
nhân nhận quyền sử dụng đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ như sau:
“Theo quy định tại khoản 1 Điều 106 và điểm d khoản 2 Điều 110 của Luật
đất đai quy định người sử dụng đất được thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng
đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn. Pháp luật
chưa cho phép thế chấp quyền sử dụng đất giữa các cá nhân với nhau. Do vậy,
việc bà Phạm Thị Ngọc Hồng giao các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà
Vương Kim Long để vay tiền là không đúng quy định của Pháp luật, nên bị coi là
vô hiệu theo quy định tại Điều 128 của Bộ luật dân sự...”

Câu 14: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án.
17


Hướng giải quyết trên của Tòa án không hợp lý. Vì:
Thứ nhất, theo Điều 342 BLDS 2005 thì chỉ quy định: “Thế chấp tài sản là
việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế
chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp” chứ không nêu rõ
chủ thể nhận quyền thế chấp bằng quyền sử dụng đất là ai.
Thứ hai, theo Điều 342 BLDS 2005 và Điều 715 BLDS 2005 cùng với các
quy định tại Luật đất đai 2003 thì chủ thể của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất bao gồm:
 Bên thế chấp là người sử dụng đất được Nhà nước thông qua các quy định
của pháp luật, cho phép thực hiện quyền thế chấp quyền sử dụng đất, bao gồm các
chủ thể sau:
 Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà
tiền sử dụng đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; Người
Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư tại Việt Nam được Nhà nước Việt
Nam giao đất có thu tiền sử dụng đất; Người Việt Nam định cư ở nước
ngoài được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp,
khu công nghệ cao, khu kinh tế (khoản 2 Điều 110, khoản 2 Điều 119,
khoản 1 Điều 120 Luật đất đai 2003)
18


 Tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất trước ngày Luật đất đai
có hiệu lực thi hành mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả
trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn
lại ít nhất là năm năm thì có quyền thế chấp bằng quyền sử dụng đất trong
thời hạn đã trả tiền thuê đất (Điều 111 Luật đất đai 2003).
 Tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền đã trả
cho việc nhận chuyển nhượng đó không có nguồn gốc từ ngân sách nhà
nước (khoản 2 Điều 112 Luật đất đai 2003)
 Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất trước ngày Luật đất
đai có hiệu lực thi hành mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc
đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả
tiền còn lại ít nhất là năm năm thì có quyền thế chấp bằng quyền sử dụng
đất trong thời hạn đã trả tiền thuê (Điều 113, Điều 114 Luật đất đai 2003)
 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài
đầu tư tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất thu tiền thuê đất
một lần cho cả thời gian thuê (khoản 3 Điều 119 Luật đất đai 2003)
 Bên nhận thế chấp bằng quyền sử dụng đất có thể là tổ chức tín dụng, tổ
chức, hộ gia đình hoặc cá nhân.

19


Như vậy, có thể thấy BLDS 2005 cũng như Luật đất đai 2003 thì chỉ hạn chế
chủ thể với bên thế chấp còn chủ thế với bên nhận thế chấp bằng quyền sử dụng
đất thì không bị hạn chế. Thậm chí, tại khoản 7 Điều 113 Luật đất đai 2003 có
quy định là Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê có quyền thế
chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động
tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản xuất, kinh doanh.

20


Vấn đề 2:
Đăng kí giao dịch bảo đảm

Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 so với điểm mới của BLDS 2005 về đăng
kí giao dịch bảo đảm
Theo Bộ luật dân sự 2015 thì sẽ không còn tồn tại điều luật nào quy định về
đăng kí giao dịch đảm bảo quy định tại Điều 323 BLDS 2005 nữa mà thay vào đó
sẽ là quy định về đăng ký biện pháp đảm bảo tại Điều 298 BLDS 2015. Đây là thay
đổi rất lớn trong BLDS 2015 về giao dịch đảm bảo để khắc phục những sai sót
cũng như những bất cập mà BLDS 2005 mắc phải khi quy định về giao dịch bảo
đảm.
Xét thấy cách tiếp cận của BLDS 2005 về giao dịch bảo đảm gây ra nhiều
vướng mắc trong việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm
giữa giao dịch bảo đảm bằng tài sản (ví dụ như cầm cố, thế chấp) với bảo lãnh. Do
bảo lãnh theo quy định của pháp luật hiện hành (BLDS 2005) lại không thuộc diện
đăng ký giao dịch bảo đảm, vì giao dịch bảo đảm với tư cách là đối tượng của hoạt
động đăng ký chỉ có thể các biện pháp bảo đảm bằng một tài sản cụ thể (mang tính
chất đối vật), không bao hàm bảo lãnh, tín chấp. Nghĩa là, trong trường hợp có nhu
21


cầu, các bên trong quan hệ bảo lãnh cũng không thể thực hiện việc đăng ký giao
dịch bảo đảm. Do đó, nếu lấy tiêu chí đăng ký để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán
sẽ không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo lãnh. Tuy nhiên,
nếu lấy theo tiêu chí xác lập giao dịch, thì không phù hợp với tinh thần của Điều
325 BLDS 2005 quy định về nguyên tắc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa
các giao dịch bảo đảm. Đến BLDS 2015 đã đổi thành đăng kí các biện pháp bảo
đảm đã giải quyết được vấn đề còn nan giải là xác định thứ tự ưu tiên thanh toán
khi xử lý tài sản đảm bảo giữa giao dịch đảm bảo bằng tài sản và bảo lãnh (khi
được xem là một biện pháp bảo đảm không thuộc diện đăng kí giao dịch đảm bảo).
Mặt khác, ở BLDS 2015 còn quy định: Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch
đảm bảo có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định. Việc sử dụng cụm từ
“trong trường hợp luật có quy định” thay thế cho “trong trường hợp pháp luật có
quy định” đã thể hiện sự thay đổi trong tư duy lập pháp, phù hợp với các quy định
của hiến pháp và các quy định khác có liên quan. Bởi lẽ chỉ khi luật có quy định
đăng kí là điều kiện có hiệu lực của biện pháp bảo đảm thì các bên mới phải tuân
thủ quy định đó và văn bản dưới luật không thể áp đặt những trường hợp phải đăng
kí biện pháp bảo đảm => thu hẹp phạm vi cũng như tránh tình trạng lạm quyền.
Và một thay đổi nữa giữa BLDS 2005 và BLDS 2015 đó là ở khoản 2 Điều
297 BLDS 2015 xuất hiện cụm từ “hiệu lực đối kháng với người thứ ba” thay thế

22


cho quy định về “giá trị pháp lý đối với người thứ ba” tại khoản 3 Điều 323
BLDS 2005. Vì căn cứ theo quy định tại Điều 308 BLDS 2015 thì khi biện pháp
bảo đảm phát sinh hiệu lực đối với người thứ ba thì bên nhận bảo đảm được quyền
truy đòi tài sản và được quyền ưu tiên thanh toán. Vì vậy, chế định đăng kí biện
pháp bảo đảm của BLDS 2015 đã ghi nhận hai quyền là quyền ưu tiên thanh toán
và quyền truy đòi bằng cách thay thế thuật ngữ khá mới là hiệu lực đối kháng với
người thứ ba. Còn ở chế định đăng ký giao dịch bảo đảm của BLDS 2005 bằng
việc quy định cụm từ có giá trị pháp lý với người thứ ba thì chỉ ghi nhận quyền ưu
tiên thanh toán khi biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối với người thứ ba =>
đảm bảo một cách tốt nhất quyền lợi của người thứ ba.

Câu 2: Hợp đồng thế chấp số 03.00148/HĐTC ngày 27/5/2003 trong quyết
định trên có thuộc trường hợp phải đăng kí hay không?
Hợp đồng thế chấp số 03.00148/HĐTC ngày 27/5/2003 trong quyết định trên
thuộc trường hợp phải đăng kí vì theo khoản 1 Điều 2 nghị định số
08/2000/NĐCP ngày 10/03/2000 của chính phủ về giao dịch bảo đảm quy định về
những trường hợp sau đây phải được đăng kí giao dịch bảo đảm trong đó có điểm a
quy định về trường hợp là “việc cầm cố thế chấp tài sản mà pháp luật quy định tài
sản đó phải đăng kí quyền sở hữu”. Theo hợp đồng thế chấp số 03.00148/HĐTC
23


ngày 27/5/2003 thì tài sản thế chấp bao gồm nhà xưởng, kho, văn phòng, nhà bảo
vệ, nhà vệ sinh, nhà nghỉ, nhà máy, hệ thống thoát nước, tường rào, đường nội bộ
gắn liền với 6.012m2 đất tại khu công nghiệp Đồng An, Bình Dương. Mà theo quy
định tại điểm a khoản 1 điều 130 luật đất đai thì khi thế chấp quyền sử dụng đất và
tài sản là bất động sản gắn liền với đất phải đăng kí giao dich bảo đảm.

Câu 3: Hợp đồng thế chấp trên đã được đăng ký chưa? Đoạn nào của
Quyết định cho câu trả lời?
Hợp đồng thế chấp trên chưa được đăng ký, thể hiện trong phần “Xét thấy”
của Quyết định số 02/KDTM-GĐT ngày 09/01/2014 của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao: “Hợp đồng thế chấp tài sản số 03.00148/HĐTC ngày
27/5/2003 đã vi phạm về hình thức không được đăng kí giao dịch bảo đảm nên
không phát sinh hiệu lực. Ngân Hàng phải tiến hành lại thủ tục đăng kí đảm bảo
theo quy định của pháp luật”.

Câu 4: Hướng giải quyết của Tòa cấp phúc thẩm đối với hợp đồng thế chấp
nêu trên. Vì sao Tòa phúc thẩm lại giải quyết như vậy?

24


Tòa phúc thẩm cho rằng hợp đồng thế chấp trên không phát sinh hiệu lực, Tòa
phúc thẩm cũng đã nhận định: “Hợp đồng thế chấp tài sản số 03.00148/HĐTC
ngày 27/5/2003 đã vi phạm về hình thức, không được đăng kí giao dịch bảo đảm
nên không phát sinh hiệu lực. Ngân hàng phải tiến hành lại thủ tục đăng ký giao
dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật”
Tòa phúc thẩm giải quyết như vậy bởi vì Tòa phúc thẩm căn cứ vào quy định
tại khoản 1 Điều 16 Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của chính
phủ về giao dịch bảo đảm (đang có hiệu lực tại thời điểm các bên ký kết hợp đồng
thế chấp tài sản số 03.00148/HĐTC ngày 27/5/2003) nay đã được thay thế bằng
Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của chính phủ thì: “Giao dịch
đảm bảo có hiệu lực kể từ thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản. Trong trường
hợp giao dịch bảo đảm phải đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, thì
giao dịch này có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký”
Mà theo điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị định số 08/2000/NĐCP ngày
10/3/2000 của chính phủ về giao dịch bảo đảm thì trường hợp sau đây phải đăng kí
tại cơ quan đăng kí giao dịch bảo đảm “a) Việc cầm cố, thế chấp tài sản mà pháp
luật quy định tài sản đó phải đăng kí quyền sở hữu…”. Quy định tại điểm a khoản
1 Điều 130 Luật đất đai thì thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản là bất dộng sản
gắn liền với đất phải đăng kí giao dịch bảo đảm.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×