Tải bản đầy đủ

Cơ cấu vốn cho nông nghiệp

I.Cơ cấu vốn cho nông nghiệp
1.Vốn NSNN:
Theo số liệu chưa đầy đủ của Bộ Kế hoạch-Đầu tư, trong vòng 5 năm qua,
Chính phủ đã đầu tư cho khu vực nông nghiệp, nông thôn 113.000 tỉ đồng,
chỉ chiếm 8,7% vốn đầu tư của nhà nước dành cho nền kinh tế và chỉ đáp
ứng 17% nhu cầu phát triển hạ tầng cho khu vực nông nghiệp, nông thôn.
Không chỉ đầu tư ít mà chính sách bảo hộ nông nghiệp của Việt Nam quy ra
tiền hiện chỉ ở mức 4% giá trị ngành nông nghiệp (tương đương khoảng 260
triệu đô la Mỹ), trong khi cam kết của Việt Nam và Tổ chức thương mại thế
giới (WTO), bảo hộ nông nghiệp có thể lên tới 10%, tức 650 triệu đô la Mỹ.
Ngay cả ngân sách nhà nước dành cho khuyến nông, tức chi cho bộ máy
hướng dẫn kỹ thuật nông nghiệp lẫn việc đầu tư thực hiện các mô hình trình
diễn nông nghiệp cho nông dân tham khảo cả nước chỉ có 100 - 200 tỉ đồng
mỗi năm, trong khi cam kết với WTO có thể cao gấp 30 lần số tiền này.
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp-Phát triển nông thôn, hiện cả nước có có
16.000 doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào nông nghiệp với vốn 1,3 tỉ đô la
Mỹ, chỉ chiếm 9,4% về số lượng và 9% tổng vốn đầu tư của khu vực doanh
nghiệp tư nhân cả nước.
Nguồn vốn tín dụng dành cho nông nghiệp nông thôn với mức tăng trưởng
bình quân gần 22%/năm,so với nhu cầu thực tiễn, nguồn vốn này mới chỉ
như “muối bỏ bể”, chưa kể nhiều chính sách đã quá lạc hậu, không còn phù

hợp.
Thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, nếu như cuối năm 1998, dư nợ
tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn mới chỉ đạt 34 ngàn tỷ
đồng, thì sau 10 năm, dư nợ cho vay khu vực này của ngành Ngân hàng đã
tăng gần 9 lần, đạt trên 292.919 tỷ đồng (chiếm 16,7% tổng dư nợ cho vay
nền kinh tế).
Tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân là 21,78%; cơ cấu nợ tiếp tục được
cải thiện theo hướng tăng dần tỷ trọng đầu tư vốn trung và dài hạn. Riêng
trong năm 2009, cho vay trung dài hạn chiếm 40%, cho vay ngắn hạn chiếm
60%.


2.Vốn đầu tư
Trong khi xu thế FDI vào khu vực nông nghiệp của cả thế giới đang ngày
một tăng, thì ở Việt Nam lại đang xảy ra điều ngược lại. Nếu như lượng giải
ngân FDI trung bình trong khu vực nông – lâm – ngư nghiệp của Việt Nam
trong 20 năm, từ 1988 đến 2007 là khoảng 100 triệu USD/năm, thì con số
này giảm xuống còn 62 triệu trong giai đoạn 2002-2004 và chỉ còn 51 triệu
trong giai đoạn 2005-2007. Tỷ trọng của FDI trong khu vực nông – lâm –
ngư nghiệp cũng giảm một cách tương ứng.

Trong năm 2009, mặc dù chưa có số liệu về vốn FDI giải ngân, nhưng nhìn
vào tỷ trọng 0,4% của vốn FDI đăng ký trong lĩnh vực nông – lâm – ngư
nghiệp cũng có thể thấy vai trò của FDI trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt
Nam đang tiếp tục suy giảm.

Điều đáng lo ngại không chỉ ở chỗ dòng FDI vào nông - lâm - ngư nghiệp ở
Việt Nam đi ngược lại xu thế chung của thế giới, và do vậy khó tận dụng
được cơ hội thị trường và lợi thế của Việt Nam, mà còn là sự không tương
thích giữa tầm quan trọng của khu vực nông nghiệp trong nền kinh tế nước
ta.

Trong khi nông - lâm - ngư nghiệp chiếm tới hơn 50% lực lượng lao động,
đóng góp khoảng 20% cho GDP và chiếm khoảng 23% tổng kim ngạch xuất
khẩu của cả nước thì tỷ trọng đầu tư cho khu vực này lại giảm gần một nửa,
từ 13,8% vào năm 2000 xuống chỉ còn 7,1% vào năm 2008, chủ yếu do sự
suy giảm của đầu tư nhà nước.
Vài năm trở lại đây, ngành nông nghiệp thu hút khoảng 200 dự án có vốn
đầu tư nước ngoài (FDI) với số vốn xấp xỉ 200 triệu đô la Mỹ hàng năm, tính
ra mức vốn bình quân trong mỗi dự án FDI trong ngành nông nghiệp chỉ 1


triệu đô la Mỹ, thấp hơn nhiều so với các ngành khác. Tính tới nay, vốn FDI
vào nông nghiệp, nông thôn chỉ chiếm 3% tổng vốn nước ngoài đầu tư vào
Việt Nam.


Theo đề án phát triển tam nông của Ngân hàng Nông nghiệp-Phát triển nông
thôn Việt Nam (Agribank), vốn đầu tư của các tổ chức tín dụng vào khu vực
nông nghiệp, nông thôn vừa thấp lại manh mún, phân tán, lãi suất cho vay
chưa tương xứng với lợi nhuận và thu nhập trong nông nghiệp.
Tới cuối năm 2008, tổng dư nợ của vốn tín dụng nông nghiệp, nông thôn
tăng 15,1% so với năm 2007, đạt 248.000 tỉ đồng, chỉ chiếm có 20 % so với
tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế. Điều đáng nói, theo thống kê của
Agribank, tỷ trọng dư nợ tín dụng trong tổng dư nợ của nền kinh tế đang có
xu hướng giảm dần, mặc dù dư nợ tín dụng nông nghiệp vẫn tăng qua hàng
năm.
Trước năm 2006, tỷ trọng dư nợ tín dụng nông nghiệp trong tổng dư nợ từ
23-27% thì 2 năm gần đây, giảm xuống còn 19-20%. Tốc độ tăng trưởng dư
nợ cũng tương tự, như năm 2007, tăng trưởng dư nợ của nền kinh tế đạt mức
cao nhất trong vòng chục năm qua, với 51% thì tăng trưởng dư nợ tín dụng
nông nghiệp bằng một nửa, còn các năm khác thì tăng trưởng dư nợ tín dụng
nông nghiệp thường thấp hơn 5-10%.
Cơ cấu đầu tư của tín dụng nông nghiệp cũng mất cân đối trầm trọng. Theo
số liệu của Trung tâm thông tin tín dụng thuộc Ngân hàng Nhà nước, đầu tư
vốn tín dụng cho nông nghiệp thì Đông Nam bộ chiếm cao nhất với 42%,
đồng bằng sông Hồng 29%, đồng bằng sông Cửu Long 10%, Tây Nguyên có
3% và vùng Tây Bắc chỉ có 1%.
3.Vốn tư nhân
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp-Phát triển nông thôn, hiện cả nước có có
16.000 doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào nông nghiệp với vốn 1,3 tỉ đô la
Mỹ, chỉ chiếm 9,4% về số lượng và 9% tổng vốn đầu tư của khu vực doanh
nghiệp tư nhân cả nước.
Còn doanh nghiệp ngành nông nghiệp thì có tới 42% có vốn dưới 1 tỉ đồng
và không ít doanh nghiệp phải hoạt động dựa tới 90% từ nguồn vốn vay
ngân hàng, do vậy, với các tổ chức tín dụng, cho vay khu vực doanh nghiệp
nông nghiệp là nơi có nhiều rủi ro cao.
Với nông dân, vốn tự có của họ chủ yếu là sức lao động và các tài sản giản
đơn do gia đình tự tạo dựng, còn vốn tự có bằng tiền để cùng hợp vốn với
vốn tín dụng của ngân hàng chiếm tỷ trọng rất thấp, thậm chí nhiều nơi


không có. Theo điều tra của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông
nghiệp-nông thôn, từ năm 2002 trở lại đây, mức tích lũy trung bình của một
người dân ở nông thôn chỉ từ 800.000 - 1.000.000 đồng/năm. việc nông dân
sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư rất hiếm, ngoại trừ các trang trại trồng trọt,
chăn nuôi có quy mô lớn. Phần đông nông dân chỉ “lấy công làm lời” như
một cách tự trả công lao đồng cho mình chứ hiếm khi nghĩ tới lợi nhuận và
tái đầu tư.
IV.Tác động đến hoạt động sản xuất NNNT
Khu vực nông nghiệp, nông thôn Việt Nam chiếm hơn 70% dân số và
hơn 72% lực lượng lao động nhưng chỉ chiếm 17% tổng dư nợ cho vay
nền kinh tế của hệ thống tổ chức tín dụng. Kinh tế thị trường phát triển,
nông nghiệp, nông thôn và người nông dân càng khó có cơ hội tiếp cận
với các nguồn tài chính - tín dụng.
1.Nguồn tài chính không tương xứng : cung chưa đáp ứng đủ cầu
Theo các số liệu chưa đầy đủ thì trong 5 năm (2003-2007) Việt Nam đầu tư
cho phát triển nông nghiệp (NN) chỉ đạt 113 nghìn tỷ đồng, chiếm 8,7% vốn
đầu tư Nhà nước và mới chỉ đáp ứng 17% nhu cầu của khu vực NN. Bảo hộ
NN mới chỉ ở mức 4% (260 triệu USD) trong khi cam kết với WTO là 10%
(650 triệu USD) so với giá trị sản lượng nông nghiệp.
Đầu tư cho khuyến nông chỉ là 0,13% GDP (trong khi các nước khác tỷ lệ
này là 4%). Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào NN, nông thôn mới
chiếm 3% tổng nguồn FDI… Là khu vực sinh lời thấp, chi phí cao, nhiều rủi
ro khách quan (thiên tai, dịch bệnh, khả năng trả nợ của khách hàng thấp…)
nên luồng vốn đầu tư, đặc biệt là vốn thương mại không đổ vào nhiều.
Ước đến tháng 6/2008, dư nợ cho vay đối với hộ sản xuất của Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NHNo&PTNT) và hệ thống Quỹ Tín
dụng Nhân dân, cộng với vốn của Ngân hàng Chính sách Xã hội cho vay hộ
nghèo và các đối tượng chính sách đạt khoảng 181.500 tỷ đồng, số dư nợ
này chỉ chiếm khoảng 17% tổng dư nợ cho vay các thành phần kinh tế của
các tổ chức tín dụng Việt Nam. Một ví dụ về sự đầu tư không tương xứng
với đóng góp của nông dân, nông nghiệp là khu vực nông thôn TP Hà Nội
(trước ngày 1/8/2008) có khoảng 1,2 triệu dân sinh sống, chiếm 35% tổng số
dân TP Hà Nội nhưng khu vực này chỉ chiếm 2,6% tổng dư nợ của các tổ
chức tín dụng trên địa bàn.


cơ cấu dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng theo vùng kinh tế như sau:
Vùng Đông Nam Bộ chiếm 42%; vùng Đồng bằng sông Hồng 29%; Đồng
bằng sông Cửu Long 10%; vùng Duyên hải miền Trung 7%: Bắc Trung Bộ
4%; Đông Bắc Bộ 4%; Tây Nguyên 3%; Tây Bắc 1%.
Nguồn: Trung tâm Thông tin tín dụng
2.Sử dụng không hiệu quả
Nguồn vốn đã ít mà theo phản ánh của một số tổ chức tín dụng thì việc phân
bổ vốn cho nông nghiệp vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại. Ví dụ: Vốn của Nhà
nước chưa đáp ứng được nhu cầu để thực hiện các chương trình, dự án dài
hạn.
Việc phân bổ vốn đầu tư còn mất cân đối và chưa hợp lý, thiếu trọng điểm,
trọng tâm còn biểu hiện tình trạng ban phát; nguồn vốn đầu tư cho phát triển
nông nghiệp - nông thôn có nhiều kênh đáp ứng cho nhiều đối tượng, nhưng
chưa được phối hợp đồng bộ để đầu tư, sử dụng có hiệu quả mà còn trong
tình trạng dàn trải, chồng chéo; do thiếu nguồn vốn giá rẻ nên lãi suất các
khoản cho vay thương mại đối với nông nghiệp - nông thôn ở mức rất cao...
Đây là một trong những lý do tại sao tình hình khu vực nông nghiệp VN
chưa có những cải thiện mạnh mẽ cả về mức sống và trình độ kinh tế.
Có nhiều nguyên nhân làm cho khu vực nông thôn khó tiếp cận các nguồn
tài chính. Trước hết do tích lũy của khu vực nông nghiệp rất thấp. Theo điều
tra của Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn


(Bộ No&PTNT) từ năm 2002, mức tích lũy trung bình một người ở nông
thôn tăng lên rõ rệt nhưng cũng chỉ đạt chưa đầy 800.000 đồng/năm, rất thấp
để có thể đầu tư hiệu quả và có tích lũy để tái đầu tư hoặc mở rộng sản xuất.
Đặc biệt, từ năm 2007 đến nay, tỷ lệ lạm phát càng cao, mức tích lũy của
người dân càng thấp trong khi vốn cần để đầu tư sản xuất ngày càng
nhiều. Trong khi đó không có vốn huy động thành thị chuyển về cho vay
nông thôn mà lại có tình trạng vốn huy động từ địa bàn nông thôn lại chuyển
ra cho vay tại đô thị (qua điều chuyển vốn trong hệ thống các tổ chức tín
dụng và tiền gửi dân cư ra TP).
Nguồn vốn từ ngân sách, vốn tín dụng Nhà nước lãi suất ưu đãi đầu tư các
dự án, các vùng được khuyến khích, vốn đầu tư và tài trợ của nước
ngoài cho khu vực nông nghiệp, nông dân còn quá nhỏ bé so tỷ trọng đầu tư
vào các khu vực khác (như đã nêu ở trên).
Rủi ro tín dụng của các định chế tài chính khi cho vay các hộ nông dân và cá
nhân là khá cao.
Từ năm 2007 đến nay, đặc biệt là 7 tháng đầu năm 2008, thị trường tiền tệ
Việt Nam có những biến động khá phức tạp. Các tổ chức tín dụng phục vụ
đối tượng nông thôn ngày càng khó huy động vốn trên địa bàn, trên thị
trường liên NH cả trong và ngoài nước. Trong 6 tháng đầu năm 2008 do các
ngân hàng thương mại tăng lãi suất tiền gửi rất cao nên hệ thống quỹ tín
dụng nhân dân bị giảm nguồn tiền gửi do khách hàng rút tiền ra gửi các ngân
hàng đô thị được hưởng lãi suất cao hơn. Tình hình này không những làm
giảm nguồn tiền gửi mà còn ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các
quỹ tín dụng. Với mặt bằng lãi suất hiện nay thì tiền gửi sẽ bị hút từ địa bàn
nông thôn ra đô thị và khu vực nông thôn ngày càng thiếu vốn vì không thể
chịu được mức lãi suất cho vay cao.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×