Tải bản đầy đủ

CHUYÊN ĐỀ CHỦ ĐỀ NITROGEN VÀ HỢP CHẤT

KHOA MÔI TRƯỜNG
LỚP 10CMT

Chapter 4.10:

GVHD: Ts.Tô Thị Hiền

1. Nguyễn Thị Hương

1022131

2. Vũ Thị Phượng

1022231

3. Mai Thanh Hồng Thủy

1022293

4. Phạm Thị Kim Trong


1011322

5. Hùynh Thị Ngọc Vàng

1022345

TPHCM 05.2013


4.10 NITROGEN
4.10.1 Giới thiệu
Các kỹ sư môi trường thường quan tâm đến hợp chất nitơ vì nó là chất dinh dưỡng cần thiết và
có lợi cho sinh vật sống và là chất ô nhiễm, có khả năng gây hại. Nitơ có thể tồn tại ở 7 dạng oxi hóa
khác nhau: NH3(-III), N2(0), N2O(I), NO(II), N2O3(III), NO2(IV), N2O5(V), do đó nó phức tạp trong
hóa môi trường. Vi khuẩn có thể oxi hóa và làm giảm N trong điều kiện hiếu khí và kỵ khí. Nitơ ô
nhiễm có khả năng gây ảnh hưởng đến nước mặt và nước ngầm và là mối quan tâm hiện tại. Vấn đề
chính:
• Thành phần nitrat có trong nước uống
• Nồng độ amoni và nitrat cao đã gây ra hiện tượng phú dưỡng hóa nước ven biển và nước
trong nội địa
• Acid nitrit trong mưa và nước chảy tràn từ các cánh đồng có sử dụng phân bón chứa N đã
gây nên sự acid hóa ở các hồ, suối và nước ngầm.
NH4+ - N và NO3- -N thường dưới 1mg/L trong nước ngọt không ô nhiễm và điều này có thể
hạn chế sự phát triển của sinh vật phù du. Tuy nhiên ở 1 số khu vực, ion amoni và nitrat tăng lên có
khả năng gây hại và chủ yếu là do sự thải bỏ nước thải và dòng chảy tràn từ nông nghiệp. Nitơ hữu cơ
hòa tan trong nước cũng là một thông số quan trọng. Nồng độ nitrit thường ít hơn 0.1mg/L nhưng
hiện nay trong nước thải nó tăng đáng kể. Thành phần Nitơ có trong nước biển cũng quan trọng ,tuy
nhiên, thông tin về quá trình biến đổi định lượng của nitơ trong những môi trường này rất ít.
Phân tích N ở những vùng nước khác nhau nhằm đánh giá sự phơi nhiễm, ảnh hưởng sức
khỏe, kiểm soát ô nhiễm nitrat và amoni. Những lý do chính để tiến hành quan trắc N là mức độ ô
nhiễm, những ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe, chi phí kiểm soát N cao, sự nhiễm bẩn. Trong công
trình xử lý nước thải, thông tin về hàm lượng nitơ cần được biết để đánh giá khả năng xử lý bằng
phương pháp sinh học. Công trình sinh học yêu cầu chất dinh dưỡng để xử lý nước thải hiệu quả hơn
và trong 1 số trường hợp cần thiết thêm N vào nước thải nếu nồng độ của nó quá ít.
Đưa ra phương pháp phân tích amoni, nitrit, nitrat, N hữu cơ rất khác nhau, được mô tả riêng
biệt. Nồng độ của hợp chất N được thể hiện bằng dơn vị mgN/L, mặc dù 1 số bài báo cáo có đơn vị là
mg loài/L. Điều này dẫn đến 1 số nhầm lẫn, vì vậy cần phải thận trọng khi báo cáo hay kiểm tra kết
quả ví dụ 4.9



Ví dụ 4.9
Một mẫu nước thải được phân tích và cho kết quả báo cáo như sau:
NO3- = 9.52 mg /L

NH3 = 52.8 mg/L

NO2- = 0.57 mg /L

Kết quả phân tích chính xác (trong khoảng mgN/L)
Tính toán hệ số chuyển đổi (CF) cho mỗi loài bằng cách chia khối lượng nguyên tử của N cho
khối lượng phân tử hay ion của loài
NH3, CF = 14/17 = 0.82
NO3 -, CF = 14/62 = 0.23
NO2 -, CF = 14/46 = 0.30
Nhân kết quả báo cáo với hệ số chuyển đổi
0.82 x 52.8 mg NH3/L = 43.3 mg NH3-N /L
0.23 x 9.52 mg NO3 -/L = 2.19 mg NO3 - -N/L
0.30 x 0.57 mg NO2 -/L = 0.17 mg NO2 - -N/L
4.10.2 Ammonia
Trong tất cả các dung dịch nước, amoni trong trạng thái cân bằng với ammonia hòa tan.
NH4+

NH3 + H+

Tất cả N tồn tại hoặc NH4 hoặc NH3 được xem là ammonia-N trong xác định này. Tại giá trị
pH 6-8 và nhiệt độ từ 5-30 oC tỉ lệ giửa NH3 so với Nito tổng thay đổi từ 0.1% - 5.0% . Tuy nhiên
trong nước thải pH có giá trị từ 10-11 và cao hơn nên NH3 tăng càng nhiều 91-99%.
Hướng dẫn EC cho NH4+-N là 2mg/L đối với nước bề mặt đã được phân loại A 3( nước xử lý để
có thể làm nước uống). Lượng amoni trong nước cao thể hiện nguồn nước bị ô nhiễm. Nước cống là
nguồn chính ammonia. Ammonia trong nước cống là kết quả của sự phân hủy urea (CO(NH 2)2), bởi
vi khuẩn urease. Ammonia tự do độc hơn ion ammoni. pH ảnh hưởng đáng kể đến độc tính của
NH3/NH4+ trong nước. Có thể tính nồng độ riêng biêt của NH 3 tự do và NH4+ tại những giá trị pH và
nhiệt độ khác nhau sử dụng dữ liệu bảng 4.17
Bảng 4.17 Phần trăm tương đối NH3 trong nước của tổng NH3 + NH4+


Có một số phương pháp tiêu chuẩn để xác định ammonia trong nước: so màu, chuẩn độ và
phương pháp dụng cụ sử dụng điện cực màng nhạy cảm với ammonia. Như các hợp chất môi trường
khác, có 2 yếu tố chính ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp xác định nồng độ ammonia: nồng
độ và sự có mặt của chất gây ảnh hưởng. Xác định ammonia trực tiếp đối với nước uống, nước bề
mặt không ô nhiễm và nước thải có chất lượng cao với nồng độ ammonia thấp. Trong các mẫu khác,
cần có độ chuẩn xác và lọai bỏ các chất gây ảnh hưởng. Công nghệ chưng cất và chuẩn độ được thực
hiện đối với mẫu có nồng độ ammonia cao. Phương pháp nessler hóa là phương pháp so màu cổ điển
cho xác định ammonia, nhưng nó dần được thay thế bằng các phương pháp khác ít bị nhiễu hơn.
4.10.2.1.Phương pháp
Đầu tiên, Ion NH4+ được tách ra khỏi dung dịch bằng cách chưng cất trong môi trường kiềm:
- Khí ammonia được ngưng tụ và dẫn vào trong bình đựng acid boric. Tại đây nó chuyển về lại trạng
thái ion ammonium
Lượng NH3 bay hơi được xác định bằng 3 phương pháp: so màu chỉ thị nessler, so màu bằng
idophenol xanh hay chuẩn độ bằng acid chuẩn

- Phương pháp Nessler:
+ NH3 phản ứng với thuốc thử Nessler’s trong dd có môi trường kiềm mạnh K 2HgI4 tạo thành hệ chất
keo có màu vàng nâu.

+ Cường độ màu này đại diện cho lượng NH 3 có trong mẫu được xác định bằng cách dùng máy đo
quang. Phương pháp dùng để xác định lượng NH 3 dưới 20µg NH3 – N /L và bằng 5mg NH3 – N /L.


Phương pháp sẽ bị ảnh hưởng bởi một số nhóm như amin, cloramin, xeton, aldehyt, rượu. Do chúng
tạo màu với thuốc thử. Phương pháp xanh idolphenol đã được đề cập trong mục 2.5.2
4.10.2.2. Dụng cụ và hóa chất
a/ Chưng cất (distillation)
- Dung dịch đệm borat . Hòa tan 9.5 g Na 2B4O7.10H2O trong nước và pha loãng tới 1L. Rót 500 mL
dung dịch vào bình định mức 1L.Thêm 88 mL NaOH 0.1 N, lau sạch và định mức đến vạch.
- Bình Kjedal 250 mL
- Dd acid boric, chuẩn bị hòa tan 20g acid boric (H3BO3) vào nước và pha loãng tới 1L.
b/ Phương phápNessler:
- Máy đo quang phổ
- Thuốc thử của phương pháp Nessler. Thêm 12g NaOH và 70 mL dd KI bão hòa với HgI 2 (dung môi
này độc. Tránh dính vào da, lau sạch ngay nếu bắn vào da )
- Dd NaOH 6M, hòa tan 120 g NaOH vào trong nước và pha loãng tới 500 mL.
- Một phần dd acid ammonium, 1mg N – NH 3 mL-1 . Sấy khô NH4Cl ở nhiệt độ trên 1050C. Hòa tan
3.819g NH4Cl khô vào trong nước rồi pha loãng tới 1L.
Dd làm việc NH4+, 10µg NH3 – N mL-1 . Dùng pipet rút 1ml dd vào trong bình định mức 100mL, sau
đó lau sạch bình và đánh dấu vào.
Ammonia tự do trong nước. Nước có chất lượng cao từ hệ thống lọc của phòng thí nghiệm (Mili – Q,
NANO pure, ..). Sử dụng nước tinh khiết và không sử dụng nước xung quanh phòng thí nghiệm.
c/ Chuẩn độ:
Hỗn hợp dd chỉ thị. Hòa tan 50mg metyl phenyl đỏ và 100mg bromcrezol xanh trong 100ml ethanol.
Acid HCl 0.01 M, hoặc acid H2SO4 , 0.005 M (1mL =140µg N).
4.10.2.3 Trình tự thí nghiệm
a/ Lưu trữ và bảo quản mẫu (Storage of samples):
Nếu không thích hợp để xác định ngay lượng ammonia có trong mẫu nước cần tiến hành acid hóa
ngay để đưa mẫu nước về pH 1.5 -2 bằng cách thêm vào mẫu 0.8 mL H 2SO4 ứng với 1L mẫu rồi đậy
kín mẫu trong vật chứa bằng thủy tinh và bảo quản ở 4 0C. Trong mẫu nước thải có thể sử dụng một
lượng acid H2SO4 lớn hơn để đưa về pH trên. Những mẫu nước được bảo quản bằng việc acid hóa
nên được trung hòa bằng dd NaOH hoặc KOH ngay lập tức trước khi phân tích. Điều này nhằm mục
đích tránh sự ảnh hưởng của lượng NH3 có trong môi trường và phòng thí nghiệm.


Trước khi tiến hành thí nghiệm cần lau dọn sạch phóng thí nghiệm. Nước tự nhiên, nước uống tinh
khiết, nước thải có độ tinh khiết cao thì độ màu thấp nên có thể xác định trực tiếp mà không cần
chưng cất và dùng phương pháp nessler như bên dưới (hình c) hoặc phương pháp idophenol xanh như
mô tả ở phần 2.5.2
b. Chưng cất (Distillation):
Tất cả những vật dụng bằng thủy tinh nên được rửa sạch bằng dd acid và tráng sơ lại bằng
nước cất. Một phần nước cất nên được chưng cất để loại bỏ ammonia. Bộ dụng cụ chưng cất để loại
bỏ ammonia được minh họa ở hình 4.9. Dùng pipet rút 100mL mẫu cho vào bình Kjeldahl, thêm 5mL
dd đệm borate và chỉnh pH tới 9.5 với dd NaOH nếu cần thiết. Gắn chặt bình Kjeldahl vào hệ thống
và mở nước làm mát. Thêm 10mL dd acid boric vào erlen 250 và đậy nút chặt xuống cho tới khi
chạm dung dịch. Chưng cất chậm. Không được làm cạn khô bình Kjeldahl. Chưng cất cho đến khi
mực nước trong bình Kjeldahl tới 50 – 60 mL. Đem phân tích kết quả chưng cất này bằng phương
pháp nessler như trong phần (c), chuẩn độ trong phần (d) và phương pháp idophenol xanh trong mục
2.5.2.
* Lưu ý:
1. Bình Kjeldahl được nối với phễu nhỏ giọt, van điều chỉnh và bình chưng cất. NaOH sau đó được
đổ vào thông qua phễu, và van ngay lập tức đóng nhằm ngăn không cho hơi NH 3 bị thất thoát. Lượng
NaOH thêm vào không gây ảnh hưởng đáng kể đối với quá trình bay hơi khi pH của mẫu vượt 9.5.
Lượng NaOH yêu cầu được tính toán dựa trên pH của mẫu sau đó ta thêm một lượng NaOH nhiều
hơn so với tính toán vào trong mẫu.


2. Bộ chưng cất hơi nước Semi – micro được dùng trong phương pháp chưng cất N trong một vài
phương pháp xác định N hữu cơ. Bộ dụng cụ này dùng để đun sôi dung dịch mẫu và dùng cho bay
hơi một thể tích mẫu nhỏ.
3. Có thể phân tích sản phẩm chưng cất bằng tổ hợp điện cực nếu có sẵn dụng cụ trong phòng thí
nghiệm. Chuẩn bị một chuỗi các ion NH 4+ chuẩn dựa trên tỉ lệ yêu cầu và chuẩn bị đồ thị xác định
đường kính có khả năng đối chiếu với lượng chất phân tích giống như F - trong phần 4.13. Đọc hàm
lượng NH4+ trong mẫu trên đồ thị. Dựa trên sự nhạy của điện cực và đồng hồ đo pH.
c/ Phân tích bằng phương pháp Nessler (Analysis by nesslerisation):
- Trung hòa lượng chất bay hơi với NaOH và chuyển nó tới bình định mức dung tích 100mL sau đó
lau sạch bình và định mức tới vạch bằng nước cất. Dùng pipet rút 50 mL dd này và cho vào bình định
mức dung tích 50 mL và thêm 1 mL thuốc thử Nessler’s. Trộn đều hỗn hợp này lên đợi trong 10’ để
cho màu phản ứng. Chuẩn bị một loạt các dung dịch chuẩn bằng cách dùng pipet rút lần luột các thể
tích 1, 2, 4, 6, 8 và 10 mL của dd ammonia làm việc nồng độ 10 µg N mL -1 vào các bình định mức có
dung tích 50 mL. Thêm vào mỗi bình 5 mL acid boric để trung hòa lượng NaOH, lau sạch và định
mức tới vạch bằng nước cất và lắc đều, sau đó thêm vào mỗi bình 1 mL thuốc thử Nessler. Trộn đều
và chờ trong 10 phút cho phản ứng màu ổn định. Đo độ hấp thu quang của mẫu và các dd chuẩn tại
bước sóng 410 nm, sử dụng cuvet cỡ 1cm có chứa nước cất làm mẫu trắng. Trừ đi độ hấp thu của
mẫu trắng bằng cách đọc kết quả đo của mẫu và các chất chuẩn. Chuẩn bị 1 đồ thị cố định để đối
chiếu so sánh với đơn vị µg N. Đọc lượng amoinia trong mẫu dựa theo đồ thị. Quy đổi kết quả N
trong mẫu sang mg NL-1 phương trình sau:

V: thể tích của mẫu chất đem phân tích (ở đây V ứng với 50 mL)
Nếu kết quả đo cho độ hấp thu mẫu nằm ngoài khoảng chuẩn thì pha loãng mẫu theo ước của thể tích
50 mL với nước cất.
* Lưu ý:
1. Bạn có thể kiểm tra quá trình thực hiện bằng việc chạy thử chưng cất cho mẫu trắng và chất chuẩn
trước khi tiến hành so màu Nessler trong điều kiện tương tự như đối với mẫu. (Chuẩn bị 100 mL dd
chuẩn và thêm 5 mL dd đệm borate cho mỗi bình, chưng cất xấp xỉ 80 mL trong 10 mL acid boric).
Đường chuẩn tương tự nên phù hợp với chuẩn của mẫu chưng cất hoặc không chưng cất.
2. Có thể dùng phương pháp Nessler để xác định trực tiếp nước cất, nước uống tinh khiết, nước thải
đã xử lý có độ tinh khiết cao với độ màu thấp. Trong trường hợp này thêm 1 mL thuốc thử Nessler


vào trong 50 mL mẫu, trôn đều, chờ màu ổn định và đem đi đo độ hấp thu tương tự như trên. Chuẩn
bị dãy dd chuẩn như trên nhưng không thêm 5 mL acid boric .Sai sót xảy ra khi trong mẫu có chứa
nhiều canxi, magie, sắt, sulfit, sự hiện diện của chúng sẽ hấp màu của thuốc thử Nessler.
3.Nếu lượng ammonia thấp hơn có thể dùng cuvet 5cm thay cho cuvet 1cm để làm tăng mật độ màu.
4. Nếu mẫu còn chứa lượng clo dư, nên cho chất dechlorinate vào thời điểm thu thập mẫu. Ngoài ra
có thể sử dụng Na2SO3 tinh khiết (hòa tan 0.9g Na 2SO3) trong nước và pha loãng đến 1L). Chất này
không ổn định nên phải chuẩn bị hằng ngày. Thay vào đó người sử dụng Na 2S2O3 (hòa tan 3.5 g
Na2S2O3 vào trong nước pha loãng đến 1 L). Chất này ổn định trong một tuần. Thêm 2mL một trong
những chất này để loại bỏ clo trong 1L mẫu.
5. Nếu hàm lượng canxi, magie trong mẫu cao thì thêm 1 giọt EDTA (hòa tan 50g EDTA, 10g NaOH
vào trong nước rồi pha loãng thành 100 mL). Với mẫu không bay hơi thêm 2 mL thuốc thử Nessler.
Làm tương tự với các chất chuẩn.
d/ Phân tích chuẩn độ (Analysis by titration):
- Trước khi chưng cất thêm 5 giọt hỗn hợp chỉ thị và 10 mL acid boric vào trong bình tiếp nhận. Theo
quá trình chưng cất như trên (b) lấy bình tiếp nhận ra đem chuẩn độ với dd HCl 0.01 M (hoặc dd
H2SO4 0.005 M) cho đến khi dd chuyển từ màu xanh sang màu hồng. Tính toán lượng NH3 – N:

Với Vt là thể tích dd HCl dùng cho chuẩn độ (mL) và Vs là thể tích mẫu trước khi chưng cất (mL).
* Lưu ý:
1. Nếu lượng NH3- N có trong mẫu quá cao thì chuẩn độ với dd mẫu đã pha loãng theo ước số của
100 mL.
2. Nếu lượng NH3 – N trong mẫu qua thấp ta chưng cất với một thể tích lớn hơn (200, 500 mL, ...)
khi đó phải sử dụng bình tiếp nhận có thể tích lớn hơn .
3. Nên xác định lại nồng độ của dd chuẩn HCl (hoặc H 2SO4 ) bằng chất chuẩn gốc Na2SO4. Qúa trình
chuẩn độ lại này được chuẩn bị trong lúc acid boric được tiến hành lại của quá trình phân tích.
4.10.3 Nitrate
Sự hiện diện của các ion nitrat trong nước bề mặt không bị ô nhiễm chủ yếu là do các quá trình diễn
ra trong bản thân nước đó, chẳng hạn như quá trình nitrat hóa. Đây là quá trình oxy hóa các ion
amoni thành nitrat nhờ các loài vi khuẩn trong điều kiện hiếu khí. Nitrosomonas vi khuẩn oxy hóa
NH4+ thành nitrit:
NH4+ +OH- +3/2O2 - H+ +NO2- +2H2O


trong khi vi khuẩn Nitrobacter oxy hóa nitrite thành nitrate:
NO2- +1/2 O2 NO3Lắng đọng trong khí quyển là một nguồn quan trọng của các ion nitrat trong nước mặt. Trong không
khí bình thường lắng đọng khoảng 0,9-1,0 mg/ L-1 nhưng ở nhiều nơi trên thế giới các giá trị tăng lên
đến 5-10 mg/L-1 do quá trình phát thải khác nhau. Nước thải công nghiệp, đô thị và nông nghiệp có
chứa hàm lượng NO3- -N cao đến 50-100 mg/L-1 có thể đưa một lượng lớn nitrat vào nước mặt và
nước ngầm, và cuối cùng đến nguồn cung cấp nước. Nông nghiệp là một nguồn chính gây ô nhiễm
nitrat do phân đạm và dòng chảy tràn từ các trại chăn nuôi gia súc. Các nguồn này là rất khó kiểm
soát vì tính khuếch tán. Thậm chí nếu trong nông nghiệp kiểm soát được nhưng do thời gian đáp ứng
trong nước ngầm quá dài để thực hiện kiểm soát hiệu quả. Quá trình oxi hóa- khử và thực vật phù du
hấp thu là các quá trình chính làm giảm lượng nitrat trong nước bề mặt và nước thải. Ion nitrate trong
nước là vấn đề quan tâm chủ yếu vì:
*Nồng độ cao
*Hiện tượng phú dưỡng nâng cao (cùng với phốt pho)
*Ảnh hưởng sức khỏe con người.
Lượng nitrat trong nước uống đang gia tăng ở mức báo động ở các nước phát triển và đang
phát triển vì phần lớn các nước này thiếu hệ thống xử lý nước thải thích hợp bên cạnh đó là việc sử
dụng phân bón quá mức. Ngày nay, phân tích rủi ro nitrat (bao gồm phơi nhiễm, hậu quả và kiểm
soát) được đảm bảo trong khu vực tiếp xúc có nồng độ cao ở Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản, Đông Nam Á
và Mỹ Latinh. Quá trình phân tích sẽ xem xét tổng nitrat tiếp xúc, bao gồm cả nước uống. Đối với
mục đích đánh giá rủi ro, sẽ xây dựng mô hình đầy đủ chính xác để dự đoán tải lượng nitrat và các
dạng của nó trong nước do những thay đổi trong sử dụng đất, xử lý nước thải, vv. Tuy nhiên, ở nhiều
nước đang phát triển, giám sát của N trong vùng nước tự nhiên là không đủ, và thường không tồn tại.
Theo quy định hướng dẫn nước uống của WHO là 50 mg/L NO 3- (hoặc 11 mg /L NO3-), tuy
nhiên, tiêu chuẩn của EU là một nửa giá trị này. Giá trị được xem là không ảnh hưởng tới sức khỏe
con người là <20-30 NO3- NL-1,tuy nhiên lại gây ra bệnh methaemoglobinemia ở trẻ sơ sinh. Nitrate
trong nước uống là một mối quan tâm lớn về sức khỏe vì độc tính của nó đặc biệt là với trẻ nhỏ.
Nồng độ nitrat lớn hơn 10 mg/L NO3- trong nước uống sẽ gây ra methaemoglobinemia ở trẻ sơ sinh,
một căn bệnh đặc trưng bởi các triệu chứng xanh tím với những vệt xanh trên da, được gọi là hội
chứng “blue-baby”. Trẻ sơ sinh ba tháng tuổi đặc biệt dễ bị bệnh này. Thực tế độc tố không phải là
ion Nitrat mà là ion nitrite được hình thành từ nitrat bởi các hành động khử do vi khuẩn đường ruột,


đặc biệt là Escherichitacoli. Ở người lớn, NO 3- được hấp thụ cao hơn trong đường tiêu hóa trước khi
quá trình khử có thể xảy ra. Ở trẻ sơ sinh thì ngược lại, có dạ dày ít acid, E. coli có thể lên cao hơn
đường tiêu hóa và khử nitrat trước khi nó được hấp thụ. Ion nitrite có thể kết hợp với hemoglobin
hình thành phức methaemoglobin. Các liên kết hình thành methaemoglobin lớn hơn so với
oxyhaemoglobin, vì thế ion nitrite gắn lên hemoglobin thay thế cho oxy.Tại giá trị pH thấp đặc trưng
của dạ dày, ion nitrite được chuyển thành acid nitric, có thể phản ứng với các amin thứ cấp trong
đường tiêu hóa để sản xuất N-nitrosamine. N-nitrosamine được biết là chất gây ung thư và chất gây
đột biến. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã không xác nhận sự liên quan giữa nitrat và ung thư dạ dày ở
người. Nitrat được loại bỏ trong nước uống có thể thực hiện bằng quá trình khử của vi khuẩn, trao đổi
ion chọn lọc và điện phân, nhưng tất cả biện pháp trên đều mắc tiền.
Có nhiều các phương pháp trực tiếp và gián tiếp cho việc phân tích nitrat trong nước nhưng
mỗi phương pháp đều có những phần hạn chế của nó. Một trong những cách đơn giản nhất là phương
pháp acid chromotropic. . Phương pháp gián tiếp gồm việc làm giảm sơ bộ nitrat với ammonia (hoặc
nitrit) (xem phần 5.9.4). Các phương pháp khác có thể được sử dụng bao gồm sắc ký ion (xem Phần
2.4.6) và potentiometry sử dụng một điện cực chọn lọc ion.
4.10.3.1 Phương pháp luận
2 mol NO3- phản ứng với 1 mol acid để tạo ra một sản phẩm phản ứng màu vàng. Độ hấp thu của nó
được đo ở 410 nm. Phương pháp này có thể được sử dụng để xác định nồng độ nitrat trong khoảng
0,1-5 mg NO3—N L-1. Cần loại bỏ sự can thiệp của nitrit, clo dư và chất oxy hóa hiện có mà tạo màu
vàng khi chúng phản ứng với acid chromotropic. Sự can thiệp của clo dư và chất oxy hóa có thể bị
loại bỏ bằng cách thêm sulfite. Urê loại bỏ sự can thiệp của nitrit bằng cách chuyển đổi nó thành N 2.
Thêm antimony có thể che khuất đến 2000 mg Cl- L-1.
4.10.3.2 Dữ liệu
 Máy quang phổ
 Buồng làm lạnh
 Dung dịch nitrat gốc, 100 μg NO3- -N mL-1. Chuẩn bị bằng cách pha loãng một dung dịch 1000
mg L -1 thương mại sẵn có. Nếu không thì chuẩn bị như sau. Làm khô natri nitrat (NaN0 3)
trong lò ở 105 °C trong 24 giờ. Hòa tan 0,607 g muối khô trong nước và pha loãng thành 100
ml.
 Dung dịch nitrat làm việc, 10 μg NO 3- -N mL-1. Dùng pipet lấy 50 mL dung dịch gốc vào một
bình thể tích 500mL và định mức bằng nước.


 Thuốc thử sulfite-urê. Hòa tan 5g urê và 4g Na 2SO3 khan trongnước và pha loãng thành 100
ml.
 Thuốc thử antimony. Đun 0,5g antimon kim loại trong 80 ml dung dịch H 2SO4 cho đến khi tất
cả kim loại tan hết. Làm nguội dung dịch và thận trọng thêm vào 20 ml nước đá. Nếu các tinh
thể hình thànhsau khi để qua đêm, hòa tan lại bằng cách nung nóng
 Dung dịch acid chromotropic (0,1%) tinh khiết. Đun sôi 125 ml nước trong một cốc thủy tinh
và dần dần thêm 15 g 4,5-dihydroxy-2,7-naphthalene-disulfonic acid muối dinatri, trong khi
khuấy liên tục. Thêm 5g than hoạt tính tẩy màu và đun sôi hỗn hợp trong 10 phút.Thêm nước
để bù đắp sự mất mát do bay hơi. Lọc dung dịch nóng thông qua len bông. Thêm 5 g than hoạt
tính vào nước lọc và đun sôi trong 10 phút. Loại bỏ hoàn toàn than khỏi dung dịch từbằng
cách lọc, đầu tiên thông qua bông gòn và sau đó thông qua giấy lọc. Để nguội và thêm từ từ 10
ml dung dịch H2SO4 đậm đặc.Đun sôi dung dịch xuống còn 100 ml trong một cốc thủy tinh
và để qua đêm.Chuyển tinh thể acid chromotropic vào một phễu Buchner vàrửa kỹ bằng cồn
etylic 95% cho đến khi tinh thể có màu trắng. Làm khô các tinh thể trong lò ở 80°C. Chuẩn bị
dung dịch 0,1% bằng cách hòa tan 100 mg acid chromotropic tinh khiết trong 100 mL dung
dịch H2SO4 đậm đặc và lưu trữ trong một chai màu nâu. Phương pháp này ổn định trong hai
tuần. Nếu acid sulfuric tách khỏi tạp chất nitrate thì dung dịch sẽ mất màu.
 Acid sulfuric đậm đặc. Độ tinh khiết cao
4.10.3.3 Phương thức thí nghiệm
a) Lưu trữ mẫu.
Kết quả đáng tin cậy nhất khi ion nitrat được xác định trong mẫu sạch. Với thời gian bảo quản ngắn
hạn lên đến 1 ngày, các mẫu có thể được lưu trữ trong tủ lạnh ở 4 ° C. Nếu không thể thực hiện các
phân tích kịp thời, mẫucó thể được bảo quản bằng cách thêm 0,5-1.0 ml H 2SO4 đậm đặc cho mỗi lít
mẫu và bảo quản ở 4°C.
(b) Phân tích.
Chuẩn bị các dung dịch chuẩn nitrat trong khoảng 0,1-5 mg NO 3- -NL-1 bằng cách dùng pipet lấy 1, 5,
10, 20, 40 và 50 ml dung dịch nitrat làm việc vào một loạt các bình thể tích 100 ml và định mức bằng
nước. Lọc mẫu nếu có lượng đáng kể các chất lơ lửng. Lấy pipet 2 ml phần phân ước mẫu, mẫu
chuẩn và mẫu trắng nước vào bình thể tích 10 ml và thêm 1 giọt thuốc thử sulfite-urê cho mỗi bình.
Đặt các bình trong một khay nước lạnh vớinhiệt độ từ 10 đến 20 ° C và thêm 2 ml thuốc thử
antimony. Lắc bình khi thêm thuốc thử. Sau khi bình ở trong bồn khoảng 4 phút, thêm 1 ml thước thử
acid chromotropic. Lắc bình một lần nữa và để yên trong bồn làm lạnh thêm 3 phút. Định mức với


H2SO4 đậm đặc. đậy nắp các bình và trộn bằng cách đảo ngược bốn lần. Để bình yên ở nhiệt độ
phòng trong 45 phút và điều chỉnh lại thể tích đến 10 ml bằng dung dịch H 2SO4 đậm đặc. Cuối cùng,
trộn nhẹ nhàn để tránh bọt khí. Để bình yên ít nhất15 phút trước khi đo độ hấp thụ ở 410 nm bằng
cách sử dụng curvet 1 cm với nước trong các ngăn tham khảo. Lấy độ hấp thu của mẫu và mẫu
chuẩn trừ đi độ hấp thụ của mẫu trắng nước. Chuẩn bị mộtđồ thị hiệu chuẩn của mạng lưới hấp thu
chống lại mg NO3- -NL-1dựa trên các phép đo chuẩn và đọc ra trực tiếp nồng độ NO 3- (biểu thị bằng
NO3- -NL-1 mg ) trong các mẫu.
Ghi chú
1. Nitrat có thể được xác định bằng phương pháp sắc ký ion theo phương thức mô tả trong mục
2.4.6.
2. Có thể xác định nitrat với một điện cực chọn lọc ion nếu có sẵn trong phòng thí nghiệm.
Chuẩn bị một loạt các chuẩn nitrat hiệu chuẩn trên phạm vi yêu cầu và chuẩn bị một đồ thị thế
hiệu chuẩn (mV) chống lại nồng độ như mô tả đối với F - trong mục 4.13. Sau đó chỉ cần đọc ra
nồng độ nitrat trong mẫu từ đồ thị. Thực hiện theo các hướng dẫn đi kèm với các điện cực và
máy đo / thiết bị đo điện thế pH, và sử dụng một điện cực tham khảo phù hợp.
4.10.4 Nitrite
Các nguồn chính của ion nitrite (NO2-) trong nước mặt không bị ô nhiễm là quá trình khoáng hoá chất
hữu cơ và quá trình nitrat hóa của vi khuẩn Nitrosomonas. Một quá trình hình thành nitrite trong
nước không bị ô nhiễm là quá trình khử nitơ:
C6H12O6 + 12NO3- → 12NO2- +6CO2+H2O
Lượng nitrite trong bề mặt không bị ô nhiễm và nước ngầm là rất thấp, thường <0,01-0,02 mg NO2L-1. Nồng độ tương tự thường được tìm thấy trong nước biển không bị ô nhiễm. Nồng độ nitrite cao
hơn có thể gặp phải gần cửa thoát nước thải từ các nhà máy sử dụng muối nitrite khác nhau (thực
phẩm, ngành công nghiệp luyện kim, vv). Nitrite độc hơn ammonia hoặc nitrat. Nitrite là mối quan
tâm của môi trường do độc tính của nó cho các nhà máy nước và hệ sinh vật cũng như sự ảnh hưởng
đến sức khỏe con người đã đề cập trước đó (mục 4.10.3).Giới hạn của EU đối với nước uống là 0,1
mg NO2- L-1.
4.10.4.1 Phương pháp
Phương pháp này được dựa trên sự hản ứng của acid sulfanilic và nitrite trong môi trường acid để tạo
thành muối điazo. Kết quả phản ứng hợp chất diazo với 1-naphthylamine-7-sulfonic acid (acid cleve)
để tạo thành một chất nhuộm màu tím hồng.Hấp thụ được đo bằng cách sử dụng máy quang phổ ở
525nmm.


Tuy nhiên, việc xác định nitrite bị ảnh hưởng bởi: cloramin, clo, thiosulfate, natri polyphosphate và
sắt (III).

4.10.4.2 Vật liệu
• Máy đo quang
• Dung dịch acid Sulfanilic. Hòa tan 0,5g acid sulfanilic trong một hỗn hợp 120 ml nước và 30 ml
acid acetic.Lọc dung dịch và bảo quản trong bóng tối.
• Dung dịch acid 1-Naphthylamine-7-sulfonic (acid cleve). Hòa tan 0.2g acid trong một hỗn hợp 120
ml nước và 12 ml acid acetic. Nhiệt, nếu cần thiết, phân hủy
(a) Mẫu bảo quản. Phân tích nên được thực hiện càng sớm càng tốt sau khi lấy mẫu để ngăn
chặn vi khuẩn chuyển đổi NO2- thành NO3- hay NH3. Acid bảo quản không nên được sử dụng cho các
mẫu được phân tích cho NO 2. Mẫu có thể được lưu trữ trong 1 - 2 ngày bằng cách làm lạnh ở -20ºC
hoặc bằng cách thêm 40 mg HgCl2 L-1 mẫu và lưu trữ trong tủ lạnh ở 4 º C.
(b) Phân tích. Nếu mẫu có chứa chất rắn lơ lửng: lọc qua màng lọc 0,45µm. Đo độ pH của mẫu.
Nếu có tính kiềm, thêm từng giọt HC1 đậm đặc cho đến khi mẫu có tính acid nhẹ. Dùng Pipet rút 40
ml dung dịch mẫu vào bình định mức 50 ml. Thêm 2 ml dung dịch acid sulfanilic, trộn và để yên
trong 20 phút. Thêm 5 ml dung dịch acid Cleve, cho nước cất đến vạch và để yên thêm 20 phút. Đo
độ hấp thụ của dung dịch ở 525 nm bằng cách sử dụng cuvet 1 cm và mẫu trắng. Chuẩn bị các tiêu
chuẩn hiệu chỉnh bằng cách dùng pipet rút lần lượt 1, 2, 3, 4, 6, 8 và 10 ml dd nitrite làm việc vào
một loạt các bìnhđịnh mức dung tích 50 mL. Pha loãng mỗi khoảng 40 ml và tiến hành như đã nêu ở
trên, thêm các thuốc thử tương ứng và để đứng. Trừ độ hấp thụ của mẫu trắng từ các giá trị hấp thụ
đo mẫu và dãy chuẩn. Vẽ đồ thị net giữa độ hấp thu với mg NO2-- N. Đọc số mg NO2 - N trình bày
trong các giải pháp mẫu từ đồ thị hiệu chuẩn, và tính toán nồng độ trong mẫu thử từ:
mg NO2 – NL-1 =µgNO2-/V
V là thể tích mẫu (ml).
Khối lượng mẫu phân tích trong quy trình này là 40 ml, nhưng nó có thể được thay đổi. Nếu mẫu


có chứa nồng độ nitrite cao, dựa theo giới hạn của đường cong dãy chuẩn, sử dụng một lượng mẫu
nhỏ hơn và pha loãng đến khoảng 40 ml trước khi thực hiện phân tích.
*Lưu ý:
1. Nhiễm màu hoặc đục có thể dẫn đến sai sót. Ta có thể loại bỏ nó bằng cách sau. Dùng Pipet rút
40ml dung dịch mẫu vào bình định mức 50 ml và thêm 4 ml dung dịch acid acetic 20% và định mức.
Đo độ hấp thụ ở 525nm và trừ đi kết quả của độ hấp thu của mẫu đã đo theo cách trên, trước khi đọc
khối lượng của N-nitrite từ đồ thị hiệu chuẩn. Nếu bạn đã dùng thể tích mẫu nhỏ hơn 40 mL trong
phân tích gốc thì sau đó phải lấy thể tích mẫu giống vậy và tiến hành theo trình tự chính xác
2. Trở

ngại có thể xảy ra nếu amin hoặc các chất oxy hóa mạnh có mặt trong mẫu.

3. Cuvet với chiều dài hơn (5 hoặc 10 cm) có thể được sử dụng để xác định nồng độ nitrite thấp
hơn.
4.10.5 Nitơ hữu cơ
N hữu cơ gồm có nito tồn tại trong các hợp chất hữu cơ như: ure, amin, amino acid, amid, các hợp
chất nitrơ , nguồn chính của nito hữu cơ trong nước do sự phân hủy sinh học của các sinh vật phù du
và sự bài tiết của các sinh vật sống trong nướcđặc ví dụ, tảo có thể bài tiết lên đến 50% đồng hóa N.
Ngoài ra nguồn N hữu cơ trong nước mặt và nước ngầm là nước thải(công nghiệp, trong nước và
nông nghiệp) và lắng đọng của khí quyển. Nitơ trong nước thải sinh hoạt chủ yếu là các hình thức của
các protein và các sản phẩm của sự phân rã(amino acid và polypeptide). Nitơ trong các hợp chất hữu
cơ trong trạng thái ôxi hóa (III). Hàm lượng của N hữu cơ trong nước mặt không bị ô nhiễm có thể
thay đổi từ 0,3 đến 2 mg N L -1. Trong nước giàu dinh dưỡng, N hữu cơ có thể đạt 7-10 mg N L -1 và
các giá trị cao hơn nhiều (> 20 mg N L-1) được tìm thấy trong vùng nước ô nhiễm và nước thải.
4.10.5.1 Phương pháp
Xác định N hữu cơ bằng phương pháp Kjeldahl. Mẫu đầu tiên được đun sôi để trục xuất ammonia và
sau đó phân hủy mẫu.Điều này liên quan tới sự tạo thành muối amoni của acid sulfuric thông qua sự
oxi hóa:

Chất xúc tác Hg, Cu, Se được sử dụng để tăng tốc độ phản ứng. Acid sulfuric dư sẽ được trung hòa
giúp làm tăng pH của dd vì vậy NH3 có thể được chưng cất một cách dễ dàng:


Phân tích được hoàn thành bởi bất kỳ phương pháp thích hợp cho sự xác định ammonia, chẳng hạn
như thủ tục nesslerisation mô tả trước đó (phần 4.10.2.3). Các thủ tục dưới đây sử dụng Cu là chất
xúc tác.
4.10.5.2 Dụng cụ và hóa chất.
• Bình Kjeldahl, 350 mL.
• Thiết bị làm nóng bình Kjeldahl
• Hệ thống chưng cất. Tương tự như mô tả trong mục 4.10.2.3
• Máy quang phổ. Tương tự như mô tả trong mục 4.10.2.3
• Tất cả các thuốc thử cần thiết cho việc xác định ammonia được liệt kê trong mục 4.10.2.3
• Acid sulfuric đậm đặc
• Kali sulfate
• Đồng sulfate
• Sodium hydroxide natri thiosunfat tinh khiết. Hòa tan 500g NaOH và 2g Na 2S2O3.5H2O trong nước
và pha loãng đến 1 lít.
• NaOH 6 M. Hoà tan 240g của NaOH trong nước và pha loãng đến 1 lít.
• pH mét và các điện cực
4.10.5.3 Tiến trình thí nghiệm.
(a) Bảo quản mẫu.
Sau khi lấy mẫ, ta cần phân tích mẫu ngay để thu được kết quả chính xác. Nếu không thể, bảo
quản mẫu bằng cách acid hóa mẫu xuống pH 1,5-2,0 với H2SO4 đậm đặc và bảo quản ở 4ºC.
(b) Phân tích.
Hệ thống thu mẫu được minh họa trong hình 4.10. Thu mẫu 100 ml dung dịch mẫu trong một bình
Kjeldahl. Nếu thể tích mẫu thấp, pha loãng đến 100 ml. Điều chỉnh độ pH mẫu 9.5 với dung dịch
NaOH và đặt trong một bình Kjeldahl. Thêm một số hạt thủy tinh hoặc chip sôi và đun sôi một nửa
của dung dịch. Điều này loại bỏ bất kỳ ammonia vô cơ có thể can thiệp vào phân tích. Nếu ammonia
đã được xác định bằng phương pháp chưng cất, các dư lượng trong bình chưng cất có thể được sử
dụng để xác định nitơ hữu cơ. Làm nguội dung dịch và cẩn thận thêm 10 ml dung dịch H2S04 đậm
đặc, 5 g K2SO4 và 0.1g CuSO4. Nhiệt trong tủ hút khí giúp loại bỏ khói acid. Đun sôi cho đến khi
giảm xuống còn khoảng 20-50mL và nhiều khói trắng hình thành trong bình.


Hình 4.10 Dụng cụ cấp nhiệt cho sự phân hủy trong bình Kjeldahl
Khói màu trắng cho thấy rằng sự phân hủy đang diễn ra , acid sulfuric đã đạt tới điểm sôi. Tiếp tục
phân hủy. Hỗn hợp chuyển sang màu đen do sự khử nước của acid sulfuric trên các chất hữu cơ. Khi
tất cả các chất hữu cơ đã bị phá hủy các dung dịch sẽ có màu trong suốt hoặc vàng rơm. Tiếp tục phân
hủy hơn 20 phút nữa để đảm bảo phá hủy hoàn toàn tất cả các chất hữu cơ trong mẫu. Sau khi tiêu
hóa, cần làm nguội dung dịch. Thêm 50 ml nước và trộn. Cẩn thận thêm 20 ml dung dịch thuốc thử
Natri hydroxit - thyosulfate. Nối với thiết bị chưng cất mô tả ở trên (phần 4.10.2.3). Chưng cất chính
xác như được mô tả trong phần phân tích ammonia ở trên, thu khoảng 50-60 ml sản phẩm chưng cất
trong bình định mức hình nón dung tích 250 mL có chứa 10 ml dung dịch acid boric. Chuyển các sản
phẩm chưng cất vào bình định mức 100ml và định mức bằng nước. Dùng Pipet rút 50 mL dung dịch
này vào bình định mức 50 ml và thêm 1 ml thuốc thử Nessler. Trộn đều và để yên trong 10 phút cho
màu sắc phát triển. Đo độ hấp thu giống với ammonia (phần 4.10.2.3). Chuẩn bị một đồ thị hiệu
chuẩn bằng cách sử dụng các tiêu chuẩn tương tự như đối với xác định ammonia và tính toán nồng độ
như nhau. Phân hủy 100 ml nước như đã nêu ở trên, thêm các thuốc thử tương tự như trong phân tích
mẫu, chưng cất, thêm thuốc thử Nessler và xác định độ hấp thụ. Sử dụng mẫu trắng này để hiệu chỉnh
kết quả nếu cần thiết. Một phương pháp phân tích khác đó là có thể phân tích các sản phẩm chưng cất
bằng cách sử dụng phương pháp chuẩn độ được mô tả trong mục 4.10.2.3, phương pháp đo màu xanh
indophenol nêu tại mục 2.5.2 hoặc điện cực ion ammonium chọn lọc nếu có.
*Lưu ý:
1. Thủy ngân là chất xúc tác hiệu quả nhất cho sự phân hủy. Tuy nhiên, việc sử dụng nó bị hạn chế
trong nhiều phòng thí nghiệm do độc tính và các vấn đề xử lý chất thải. Một chất xúc tác thay thế là
Se, cũng là rất độc hại. Thí nghiệm ở trên sử dụng Cu thay vì Hg. Bạn có thể bỏ qua chất xúc tác như
nhiều mẫu có thể được hiệu quả phân hủy mà không cần sử dụng một chất xúc tác.
2. Bạn có thể làm tăng độ nhạy của phương pháp phân hủy với thể tích lớn hơn của mẫu lớn hơn
(lên đến 500 mL) chứ không phải là 100mL như trong các tiến trình trên. Sau khi chưng cất, bạn tiến


hành như mô tả trong các thủ tục trên, tức là làm cho các giải pháp lên đến 100 mL, hiệu quả tập
trung các mẫu.
3. Nitrate ở nồng độ> 10 mg L-1 có thể tác động tích cực hay tiêu cực, tùy thuộc vào thành phần
mẫu.
4.10.6 Các câu hỏi và vấn đề.
1. Các hợp chất Nitơ chính trong vùng nước tự nhiên, nước thải và nồng độ điển hình là gì?
2. Mô tả quá trình biến đổi của nitơ trong nước, vai trò của các phản ứng hóa học, sinh học, sinh
hóa và chu trình sinh địa hóa.
3. Thảo luận về các vấn đề ô nhiễm N, cả về ảnh hưởng trên hệ sinh thái và sức khỏe con người.
4. Mô tả các phản ứng hóa học được sử dụng trong các phương pháp đo màu của phân tích
ammonium, nitrite và nitrate.
5. Mô tả các trở ngại có thể có trong việc xác định N dưới các dạng khác nhau khác nhau và đề
nghị cách này có thể được loại bỏ.
6. Những biện pháp bạn có thể đề nghị để giảm hàm lượng nitrate trong nước ô nhiễm?
7. Hằng số cân bằng cho phản ứng: NH4 + ↔ NH3 + H+ là 5,6 x 10-10 mol L-1 ở 25 º C. Tỷ lệ của
NH3 tới NH4+ trong mẫu nước theo các giá trị pH sau đây: (a) 4.5, (b) 6.3, (c) 8.2 và (d) 9,5 ?
4.10.7 Gợi ý cho các dự án (Suggestions for Projects)
1. Thực hiện một cuộc khảo sát hàm lượng nitrat trong nước uống tại địa phương của bạn. Thu
thập từng loại mẫu nước từ nhiều nhà khác nhau trong khu vực của bạn và so sánh với các tiêu chuẩn
nước uống quốc gia. Tính trung bình và độ lệch tiêu chuẩn của nitrate trong nước uống cho địa
phương của bạn trên cơ sở của tất cả các phép đo của bạn.
2.Xác định hàm lượng của nhiều nitơ khác nhau (NH 3, NO3-, NO2-, hữu cơ-N) trong mẫu nước bề
mặt (sông, hồ, ao) ở địa phương của bạn và so sánh với tiêu chuẩn quốc gia cho nước bề mặt. Thực
hiện một phân tích đơn giản, thống kê kết quả của bạn, tức là tính trung bình và độ lệch tiêu chuẩn
đối với từng loài N, và tính toán các hệ số tương quan cho các cặp khác nhau của các dạng (NH 3 so
với NO3-, NO3-so với NO2-, ...). Hãy tham khảo các bảng thống kê (Phụ lục V) để xem liệu các mối
quan hệ có ý nghĩa thống kê.
3.Xác định hàm lượng của nhiều N khác nhau (NH 3, NO3-, NO2-, hữu cơ-N) trong nước thải tại các
nhà máy xử lý nước thải khác nhau. Bạn có thể phân tích cả nước thải chưa qua xử lý và nước thải
được xử lý. Giải thích kết quả của bạn về các công nghệ điều khiển làm việc tại các nhà máy. So sánh
nồng

độ

trong

nước

thải

với

các

tiêu

chuẩn

hiện

có.

4. Xác định hàm lượng của nhiều N khác nhau (NH 3, NO3-, NO2-, hữu cơ-N) tại nơi nước thải hoặc


nước thải được xả ra sông, và tại một số điểm ở hạ nguồn từ các viện (ví dụ 2, 5, 10 km). Cũng xác
định lượng oxy hòa tan (DO) và bất kỳ thông số liên quan khác (ví dụ như BOD, pH) tại cùng một
điểm. Chuẩn bị một bảng kết quả và vẽ đồ thị chúng trên một đồ thị với khoảng cách từ nguồn là trục
x và nồng độ của các dạng là trục y. Giải thích bất kỳ thay đổi nào trong các hình thức N, và các
thông số khác.
 4.10.8 Đọc thêm.
APHA, “Standard Methods for the Examination of Water and Wastewater”,16th edn.,
American Public Health Association, Washington, 1985, pp. 373-412.
 D. F. Boltz (ed.), “Colorimetric Determination of Nonmetals”, Interscience,New York, 1958.
 S. Saull, Nitrates in soil and water, Inside Science, New Sci., 15 September 1990.
 C. N. Sawyer, P. L. McCarty and G. F. Parkin, “Chemistry for Environmental Engineering”,
4th edn., McGraw-Hill, New York, 1994, pp. 552-566.
 E. A. Steward (ed.), “Chemical Analysis of Ecological Materials”, 2nd edn., Blackwell,
Oxford, 1989, 119-135.
 P. W. West and T. P. Ramachandran, Spectrophotometric determination of nitrate using
chromotropic acid, Anal. Chim. Acta, 1966,35, 3 17-324.




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×