Tải bản đầy đủ

THỰC TRẠNG QUẢN lý HOẠT ĐỘNG dạy học tại các TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG HUYỆN cát TIÊN, TỈNH lâm ĐỒNG THEO ĐỊNH HƯỚNG dạy học TÍCH hợp

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG DẠY HỌC TẠI CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG HUYỆN CÁT TIÊN, TỈNH
LÂM ĐỒNG THEO ĐỊNH HƯỚNG
DẠY HỌC TÍCH HỢP


- Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục - đào
tạo của huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng
-Tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội
Huyện Cát Tiên là một huyện vùng sâu vùng xa, nằm ở phía
Tây Nam của tỉnh Lâm Đồng, vùng thượng nguồn sông Đồng Nai.
Huyện Cát Tiên ngày nay là một phần của chiến khu D, là
vùng căn cứ cách mạng của Khu ủy khu VI, là nơi bảo vệ an toàn
đường hành lang chiến lược Bắc – Nam. Nhân dân huyện Cát Tiên
đã có những đóng góp hết sức to lớn về sức người, sức của cho
cuộc chiến chống đế quốc Mỹ của nhân dân ta.
Trước năm 1986, vùng đất Cát Tiên thuộc huyện Đạ Hoai
của tỉnh Lâm Đồng. Ngày 6/6/1986, Hội đồng Bộ trưởng ban
hành quyết định chia huyện Đạ Hoai thành ba huyện: Đạ Hoai, Đạ

Tẻ và Cát Tiên.
Hiện nay Cát Tiên có thị trấn Đồng Nai và 11 xã, với diện
tích tự nhiên là 428,2 km2, phía Đông giáp huyện Bảo Lâm (Lâm
Đồng), phía Nam giáp tỉnh Đồng Nai, phía Bắc và Tây Bắc giáp
tỉnh Bình Phước.


Trải qua hơn 30 năm hình thành và phát triển, Vùng đất
chiến khu D Cát Tiên ngày nay đã có nhiều thay đổi đáng kể, đời
sống nhân dân không ngừng được cải thiện.
Kinh tế huyện Cát Tiên hiện tại vẫn chủ yếu là nông nghiệp
trồng lúa. Để nâng cao thu nhập cho nhân dân, chính quyền địa
phương đã vận động nhân dân thực hiện chuyển dịch cơ cấu trong
nông nghiệp. Đến nay một số ít diện tích đã chuyển sang trồng
cây công nghiệp và cây dược liệu. Với sự quyết tâm đồng lòng
của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và nhân dân, huyện
Cát Tiên đã bước đầu xây dựng thành công sản phẩm nông nghiệp
ứng dụng công nghệ cao gắn với thương hiệu lúa gạo Cát Tiên và
cây diệp hạ châu Cát Tiên.
Ngoài ra Cát Tiên còn chú trọng phát triển các làng nghề
truyền thống của cư dân bản địa như làng dệt thổ cẩm Phù Mỹ,
làng nấu rượu Bù Đạt.
Về cư dân, cư dân bản địa là người dân tộc tại chỗ Mạ,
Xtiêng, Cơ Ho. Qua các đợt tiếp nhận cư dân của các tỉnh phía
Bắc, miền Trung, ... đến nay huyện Cát Tiên có đa dạng các thành
phần dân tộc cùng sinh sống.
Về văn hóa xã hội, huyện Cát Tiên có khu di tích Khu ủy
khu VI và Di tích khảo cổ học Cát Tiên chứa đựng một nền văn
hóa của cư dân cổ Phù Nam dọc sông Đồng Nai. Trong định


hướng phát triển kinh tế đến năm 2020, huyện Cát Tiên tập trung
nguồn lực khai thác thế mạnh kinh tế du lịch dịch vụ gắn với việc
tham quan các di tích trên địa bàn.
Song song với việc phát triển kinh tế, nhân dân huyện Cát
Tiên chú trọng xây dựng một nền văn hóa tiến bộ, phục dựng các
lễ hội văn hóa truyền thống của các dân tộc.
-Tình hình giáo dục và đào tạo
Nhận thức được vai trò to lớn của giáo dục đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương nên ngay từ những ngày mới


thành lập, Huyện Cát Tiên đã chú trọng đến công tác giáo dục.
Đến nay mỗi xã, thị trấn đều có các trường các trường mầm non,
tiểu học, trung học cơ sở. Năm học 2016-2017, toàn huyện có 37
trường. Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có 3 trường THPT và 01
Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên.
Hệ thống mạng lưới trường lớp, công tác phổ cập giáo dục,
công tác xây dựng đội ngũ, huy động các nguồn lực đóng góp cho
giáo dục được các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương quan
tâm. Quy mô giáo dục huyện Cát Tiên tiếp tục được ổn định và
phát triển. Mạng lưới và chất lượng giáo dục các cấp từng bước
được nâng cao đáp ứng nhu cầu chăm sóc và học tập của người
dân trong huyện nhà.


Trong năm học 2016 -2017, ngành giáo dục huyện Cát Tiên
đã chú trọng triển khai thưc hiện các nhiệm vụ trọng tâm, chất
lượng và hiệu quả giáo dục từng bước được nâng lên theo hướng
toàn diện, thực chất. Công tác phát hiện bồi dưỡng HS giỏi và đào
tạo nhân tài đạt nhiều thành tích đáng ghi nhận.
Đối với bậc Mầm non, 100% số xã thị trấn đều có trường
mầm non. Toàn huyện đã tiến hành phổ cập mần non cho trẻ 5
tuổi. Chất lượng căm sóc giáo dục trẻ ngày được nâng cao, số
trường tổ chức bán trú đạt 100%, có 100% trẻ 5 tuổi được học 2
buổi/ngày. Tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giảm còn 2,8%
(toàn tỉnh là 2,9%)
Đối với bậc Tiểu học: Ngành giáo dục tập trung chỉ đạo dạy
học và đánh giá kết quả học tập của HS theo chuẩn kiến thức, kỹ
năng các môn học; thực hiện đánh giá HS tiểu học theo Thông tư
22/2016/TT-BGDĐT ngày 22/09/2016 của Bộ Giáo dục và Đào
tạo, với những nội dung điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung so với Thông
tư 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 của Bộ GDĐT. Tiếp tục
triển khai Đề án “Dạy và học ngoại ngữ”, toàn huyện có 6 trường
tiểu học thực hiện chương trình 4 tiết/tuần, 8 trường triển khai dạy
học tiếng Anh tự chọn 2 - 3 tiết/tuần. Mở các lớp tăng cường tiếng
Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số; tăng quy mô và chất lượng học 2


buổi/ ngày; đẩy mạnh xây dựng trường chuẩn quốc gia; duy trì và
nâng cao chất lượng và kết quả phổ cập giáo dục tiểu học. ....
Đối với giáo dục Trung học cơ sở, đã tăng cường chỉ đạo đổi
mới phương pháp dạy học, áp dụng chọn lọc các mô hình và
phương pháp giảng dạy tiên tiến, hình thức tổ chức dạy học tích
cực phù hợp với đối tượng và điều kiện dạy học giúp HS vận dụng
kiến thức liên môn vào giải quyết các vấn đề thực tiễn; đổi mới
kiểm tra, đánh giá người học; đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn
theo hướng nghiên cứu bài học; thực hiện phân phối chương trình
trên cơ sở bám sát và vận dụng hợp lý chuẩn kiến thức, kỹ năng
các môn học; tăng cường giáo dục đạo đức, lý tưởng, kỹ năng
sống, giáo dục quốc phòng – an ninh và giáo dục thể chất; giáo
dục phòng chống tham nhũng, phòng chống tệ nạn xã hội, bạo lực
học đường; giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật, ... Trong năm
học 2016-2017, cấp Trung học cơ sở có có 308 giải cấp huyện
(tăng 29 giải so với năm học 2015-2016); 69 giải cấp tỉnh (tăng 03
giải so với năm học 2015 - 2016); cấp quốc gia có 04 giải.
Đối với giáo dục nghề nghiệp, Trung tâm giáo dục nghề
nghiệp – giáo dục thường xuyên huyện chiêu sinh và mở các lớp:
nghề phổ thông, bổ túc văn hóa các cấp, tin học và ngoại ngữ trình
độ A, thi giấy phép lái xe mô tô hạng A1 cho cán bộ và nhân dân
trong huyện có nhu cầu theo học, ...


Đối với công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, ngành
giáo dục – đào tạo chỉ đạo các trường xây dựng kế hoạch thực
hiện nhiệm vụ năm học, trong đó có lộ trình xây dựng trường
chuẩn quốc gia; tiến hành kiểm tra rà soát các tiêu chí, tiêu chuẩn
để được công nhận trường đạt chuẩn khi đủ các tiêu chí, điều kiện.
Xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp, nhằm hưởng ứng phong
trào “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực”. Chỉ đạo các
trường sử dụng có hiệu quả các nguồn kinh phí của ngành để chủ
động đầu tư bổ sung đồ dùng dạy học, thiết bị tin học, phương tiện
nghe - nhìn, phòng thí nghiệm - thực hành, phòng học bộ môn,
CSVC cho giáo dục thể chất, ... Kết quả tính đến hết năm học
2016 - 2017 tổng số trường học đạt chuẩn quốc gia toàn ngành
18/37 trường (Mầm non: 06 trường, Tiểu học: 08 trường, Trung
học cơ sở: 04 trường, THPT: 0 trường.
-Giới thiệu tổ chức khảo sát thực trạng
- Mục đích
Tìm hiểu, làm rõ thực trạng hoạt động DHTH và quản lý
hoạt động DHTH tại các trường THPT huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm
Đồng trong ba năm trở lại đây, để có cơ sở đề xuất các biện pháp
quản lý hoạt động dạy học tích hợp góp phần thực hiện thành
công việc phát triển năng lực HS thông qua hoạt động DHTH tại
các trường THPT huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng.


- Nội dung khảo sát
Thực trạng quy mô trường lớp, đội ngũ CBQL, GV.
Thực trạng hoạt động dạy học theo hướng tích hợp tại các
trường THPT huyện Cát Tiên tỉnh Lâm Đồng.
Thực trạng quản lý hoạt động DHTH tại các trường THPT
huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng.
- Phạm vi, đối tượng khảo sát
Phạm vi khảo sát: Tất cả ba trường THPT huyện Cát Tiên
tỉnh Lâm Đồng gồm THPT Cát Tiên, THPT Gia Viễn, THPT
Quang Trung.
Đối tượng khảo sát gồm 8/8 CBQL (gồm HT, phó HT) và 96
GV/tổng số 96 GV của ba trường THPT huyện Cát Tiên, chiếm
100% số lượng GV THPT của huyện để đánh giá thực trạng, đề
xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo định hướng
DHTH.
- Phương pháp khảo sát, cách đánh giá
Phỏng vấn một số CBQL và GV
Trực tiếp nghiên cứu kế hoạch quản lý hoạt động dạy học
theo định hướng tích hợp của nhà trường, của tổ chuyên môn.


Điều tra bằng phiếu hỏi đối với tất cả CBQL và GV ba
trường THPT trong huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng.
Dự một số giờ dạy của GVBM trường THPT Quang Trung.
- Xử lý số liệu
Sau khi thu thập phiếu điều tra, tác giả sử dụng công cụ
Excel để tổng hợp số liệu các phiếu điều tra, sử dụng các phép
toán thống kê để đánh giá mức độ nhận thức, mức độ thực hiện và
quản lý hoạt động dạy học theo định hướng DHTH tại các trường
THPT huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng.
- Thực trạng hoạt động dạy học tại các trường trung học
phổ thông huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng theo định hướng
dạy học tích hợp.
- Thực trạng quy mô trường lớp
Huyện Cát Tiên có 03 trường THPT công lập, được xây
dựng kiên cố, đảm bảo đảm an toàn cho HS, có dãy phòng học và
nhà làm việc của ban giám hiệu, GV, nhân viên riêng biệt, có hệ
thống tường rào đầy đủ, an toàn.
Số lượng quy mô trường, lớp, HS của cấp THPT như sau:


- Quy mô trường lớp, HS THPT huyện Cát Tiên
Số
Năm

Tên

Số

học

trường

lớp

Quang

học

quân/lớ

buổi/ngà

p

y

407

29,1

0

Gia Viễn

11

308

28

0

Cát Tiên

20

645

32,3

0

Tổng

45

1360

30,2

0

13

348

26,7

0

Gia Viễn

11

296

26,9

0

Cát Tiên

19

577

30,3

0

Tổng

43

1221

28,3

0

12

325

27,1

0

12

322

26,8

0

2015

Quang
Trung
20152016

2016-

Quang

2017

Trung
Gia Viễn

lớp

bình

14

Trung
2014-

Số HS

HS Số

hai


Cát Tiên

19

550

28,9

0

Tổng

43

1197

27,8

0

Kết quả ở bảng cho thấy: Từ năm học 2014- 2015 đến năm
học 2016-2017 số trường THPT toàn huyện vẫn giữ ổn định là 03
trường, số lớp học và số lượng HS đều giảm. Nguyên nhân của
tình trạng trên là do nhiều gia đình chuyển đến các địa phương
khác sinh sống; nhân dân địa phương thực hiện tốt chính sách dân
số kế hoạch hóa gia đình, rất ít trường hợp có gia đình sinh con
thứ ba; chính sách phân luồng sau Trung học cơ sở, nhiều HS có
học lực yếu kém đã không tham gia học tiếp bậc THPT. Trong ba
năm học trở lại đây, các trường THPT không thực hiện chương
trình dạy học hai buổi/ngày. Điều đó chúng tỏ việc đầu tư cho
giáo dục của phụ huynh còn hạn chế do địa bàn huyện Cát Tiên là
địa bàn sống chủ yếu dựa vào kinh tế nông nghiệp, đời sống nhân
dân còn nhiều khó khăn. Đa số buổi chiều các trường giành thời
gian tổ chức phụ đạo HS yếu kém, tổ chức các hoạt động ngoài
giờ lên lớp, hướng nghiệp, ... Số HS bình quân/lớp càng ngày
cảng giảm tuy nhiên số lượng giảm không đáng kể.
- Thực trạng về đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên
- Đội ngũ cán bộ quản lý


- Trình độ Chuyên môn, Quản lý nhà nước, Lý luận chính trị,
Tin học, Ngoại ngữ của đội ngũ CBQL
Tu
ổi

Trình
Trình

độ Quản lý độ lý Trình

đời chuyên
Năm

Tổn dư

học

g số ới

môn

nhà

luận

độ Tin

nước

chính

học

trị

Trình
độ
Ngoại
ngữ

40
tuổ
i
20142015
20152016
20162017

T Th Đ

C

CV S

T

S

S

H

V

C

C C

A B C A B C

7

7

0

2

5

2

5

2

5

5 2 0 0 6 1

7

7

0

2

5

1

6

0

7

5 2 0 0 7 1

8

8

0

3

5

0

8

0

8

6 2 0 0 7 1

Kết quả bảng cho thấy:
- Một trường THPT được bổ sung thêm một đồng chí lãnh
đạo trường đảm bảo việc điều hành lãnh đạo của trường thuận lợi
và hiệu quả hơn.


- Đội ngũ CBQL các trường THPT huyện Cát Tiên, tính đến
hết năm học 2016-2017 có 3/8 đồng chí có trình độ Thạc sỹ,
chiếm tỷ lệ 37,5 %. Đây là một tỷ lệ còn khiêm tốn, đòi hỏi đội
ngũ CBQL cần tiếp tục học tập để nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ đáp ứng tốt hơn với yêu cầu quản lý. - Về nghiệp vụ
quản lý, đến hết năm học 2016-2017, tất cả CBQL của các trường
THPT huyện Cát Tiên đều đã được bồi dưỡng ngạch Chuyên viên
chính. Đây là một yếu tố thuận lợi đối với công tác quản lý hoạt
động dạy học nói chung và quản lý hoạt động dạy học theo định
hướng tích hợp nói riêng.
- Về trình độ lý luận chính trị, đến cuối năm 2016 – 2017,
đội ngũ CBQL đều có trình độ Trung cấp đáp ứng tiêu chuẩn chức
danh lãnh đạo, quản lý nhà trường.
- Về trình độ Tin học, Ngoại ngữ đa số ở mức cơ bản, biết
soạn thảo văn bản, biết khai thác Internet và áp dụng công nghệ
thông tin trong quản lý hoạt động dạy học theo định hướng
DHTH.
- Giáo viên
- Chất lượng giáo viên
Năm

Tổn Biê Tuổ Trình độ Trình độ Trình độ
n

i

chuyên

Ngoại


môn

Tin học

ngữ

đời
học

g số chế

dướ
i 40
tuổi

20142015
20152016
20162017

99

99

91

91

100 93

73

73

74

Đạt
chu
ẩn

97

96

97

Trê
n
chu

A B C A B C

ẩn
2

3

3

7
3
7
3
7
5

5 0

5 0

7 0

1

6

5

8

1

6

5

8

1

7

5

1

0

0

0

Qua bảng cho thấy:
- Số lượng GV của ba trường THPT huyện Cát Tiên ổn định
qua các năm. So với số lớp, số lượng GV đủ theo quy định, đáp
ứng yêu cầu nhiệm nhiệm dạy học, không có tình trạng thiếu GV
đứng lớp.
- Số GV biên chế chiếm đa số, vì vậy đội ngũ GV đa phần
yên tâm công tác, phấn đấu và cống hiến cho nghề.


- Số lượng GV đạt trình độ trên chuẩn không nhiều (tỷ lệ
khoảng 3%), số lượng GV trẻ dưới 40 tuổi tương đối cao (chiếm
tỷ lệ tương đương 73%). Đây là số GV được đào tạo chính quy, cơ
bản, nhiệt tình trong giảng dạy, năng động, sáng tạo trong thực
hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, đội ngũ GV trẻ cũng có hạn chế nhất
định, đó là: kinh nghiệm trong giảng dạy còn ít, còn lúng túng
trong xử lý các tình huống giáo dục đạo đức HS.
- Về trình độ tin học ngoại ngữ của đội ngũ GV: Số lượng
GV có chứng chỉ Tin học, ngoại ngữ từ chứng chỉ A trở lên tương
đối lớn (tỷ lệ 83,88%). Điều này thuận lợi cho công tác soạn
giảng, khai thác, ứng dụng công nghệ thông tin trong DHTH.
- Thực trạng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học đảm bảo cho hoạt
động dạy học theo định hướng tích hợp
- Tình hình CSVC, TBDH phục vụ DHTH
Năm

Trườ

Số

học

ng

trườn

ng

g có

học

đạt

mạng
chuẩ
n

inter
net

Phò Bộ Thư Phò Bản Má Má Phò
đồ


bộ

ng



bộ

n

viện

ng

đạt

tin

g

y

y

ng

tươ chi tín

học

chu học

ng



ẩn

tác

ếu

h

gắn
máy



chiế


u
n

(Ti
vi)

20142015
20152016
20162017

0

0

0

3

3

3

9

9

9

9

9

9

1

1

1

6

7

8

2

2

2

18

21

24

13
0
14
5
14
8

18

21

24

Qua bảng thống kê về CSVC, TBDH phục vụ DHTH cho thấy:
Các trường đã chú ý mua sắm thiết bị phương tiện dạy học,
đã trang bị các thiết bị máy móc thiết yếu, phần nào đáp ứng yêu
cầu dạy học, đổi mới phương pháp dạy học, tạo điều kiện cho GV
và HS học tập, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ. Số phòng tin học,
máy chiếu, ti vi, phòng học gắn máy chiếu (Tivi) được đầu tư qua
từng năm (năm sau luôn cao hơn năm trước). Các trường đều lắp
đặt mạng internet phục vụ nhu cầu học tập và khai thác, tìm kiến
kiến thức của HS và GV.
Tuy nhiên, qua bảng thống kê cũng cho thấy: số lượng
TBDH mua sắm mới vẫn chưa đáp ứng, đảm bảo cho nhu cầu học


tập của HS cũng như dạy học theo định hướng tích hợp của GV.
Trong số 3 trường thì mới chỉ có 1 trường có thư viện đạt chuẩn.
Qua tìm hiểu tại thư viện của ba trường, số lượng sách chưa nhiều
chủ yếu vẫn là sách giáo khoa. Sách, tài liệu về DHTH còn quá ít,
thậm chí không có. Phòng học bộ môn, phòng thực hành chỉ đáp
ứng nhu cầu của ba môn học là Vật Lý, Hóa học, Sinh học, các
môn còn lại chưa có phòng học bộ môn. Phòng học có lắp đặt máy
chiếu chưa nhiều: tổng số lớp học của ba trường là 43 lớp nhưng
đến cuối năm học 2016-2017 chỉ mới có 24 phòng học được lắp
máy chiếu, còn lại 19 phòng học chưa được trang bị máy chiếu.
HT các trường THPT huyện Cát Tiên cần xin kinh phí từ Sở, tranh
thủ huy động xã hội hóa đầu tư thêm về phương tiện dạy học
nhằm đáp ứng yêu cầu DHTH, đổi mới phương pháp dạy học,
phát triển năng lực HS.
- Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về
mức độ cần thiết của hoạt động dạy học theo định hướng tích
hợp
Hoạt động dạy học ở trường THPT là hoạt động trung tâm
của nhà trường. Hiệu quả của hoạt động dạy học làm nên thương
hiệu nhà trường. Trong xu thế phát triển xã hội hiện nay, dạy học
cần phát huy khả năng chủ động, sáng tạo, phát triển năng lực của
HS. DHTH là một trong những định hướng quan trọng thúc đẩy


năng lực HS. Muốn DHTH đạt hiệu quả, HT cần nhận thức sâu
sắc, đúng đắn về vị trí, tầm quan trọng của DHTH, từ đó bồi
dưỡng, làm cho đội ngũ GV thấy được tầm quan trọng và mức độ
cần thiết của hoạt động DHTH.
Trong quá trình thưc hiện đề tài, tác giả đã tiến hành khảo sát
nhận thức của CBQL và GV về mức độ cần thiết của hoạt động
dạy học theo định hướng tích hợp. Kết quả thu được như sau:
- Thống kê ý kiến của CBQL và GV về mức độ cần thiết của hoạt
động dạy học theo định hướng DHTH trong trường THPT
Hoàn
Hoàn
toàn cần
Đối tượng thiết

Rất cần Cần

Không

thiết

cần thiết

thiết

toàn
không
cần
thiết

S
L
CBQ 8

2

%
25

S
L
2

%
25

S
L
4

%
50

S
L
0

%
0

S
L
0

%
0

L
GV

96 15 15,6 23 23,9 22 22,9 30 31,2 6
2

5

1

5

6,2
5


Tổng 10 17 16.3 25 24,0 26 25
4

5

4

30 28,8 6
4

5.7
7

Kết quả thu được ở bảng cho thấy có đến 65.39 % ý kiến của
CBQL và GV cho rằng hoạt động dạy học theo định hướng tích
hợp trong trường THPT là cần thiết, rất cần thiết và hoàn toàn cần
thiết.
Tuy nhiên vẫn còn một bộ phân tương đối lớn GV cho rằng
hoạt động dạy học theo định hướng tích hợp trong trường THPT
là không cần thiết và hoàn toàn không cần thiết, chiếm tỷ lệ
34.61%. Điều này chứng tỏ nhận thức của GV về hoạt động dạy
học theo định hướng tích hợp trong trường THPT còn hạn chế,
nhiều GV chưa tích cực tiếp cận với xu hướng DHTH, nguyên
nhân chính là ngại tiếp cận cái mới, ngại học tập kiến thức các
môn khác, trình độ công nghệ thông tin còn hạn chế.
Qua biểu đồ 2.1 cho thấy: có sự khác nhau trong nhận thức
của CBQL và GV về sự cần thiết của hoạt động dạy học theo định
hướng DHTH, có 100% CBQL cho rằng hoạt động dạy học theo
định hướng DHTH là hoàn toàn cần thiết, rất cần thiết và cần
thiết. Trong khi đó có đến 31,25 GV cho rằng hoạt động này là
không cần thiết và 6.25 % cho rằng hoàn toàn không cần thiết.


Thực trạng này là cơ sở để HT các trường THPT huyện Cát Tiên
triển khai thực hiện biện pháp nâng cao nhận thức cho đội ngũ
CBQL và GV về DHTH.
- Thực trạng về hoạt động dạy học theo hướng tích hợp ở các
trường trung học phổ thông huyện Cát Tiên
Thực hiện Chỉ thị của Bộ giáo dục và đào tạo, Chỉ thị của
UBND tỉnh Lâm Đồng và công văn hướng dẫn của Sở giáo dục và
đào tạo Lâm Đồng về thực hiện tích hợp các nội dung vào các
môn học, các trường THPT huyện Cát Tiên đã chỉ đạo TTCM,
GV bộ môn xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng đảm bảo
chuẩn kiến thức kỹ năng được quy định trong chương trình giáo
dục phổ thông, thực hiện nghiêm túc các nội dung tích hợp vào
các môn học theo quy định: tích hợp giáo dục dân số, bảo vệ tài
nguyên môi trường trong môn Địa lý, Sinh học, Hóa học, Vật lý;
tích hợp phòng chống tham nhũng, nội dung tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh trong môn GDCD, Lịch sử; tích hợp sử
dụng năng lượng tiết kiệm trong môn Vật Lý;.......
Ngoài việc tích hợp nội dung vào các môn học, các trường
còn chỉ đạo tổ chuyên môn, GV bộ môn xây dựng kế hoạch, tổ
chức thực hiện các chủ đề DHTH theo phương pháp dạy học dự
án.


Khảo sát 104 người bao gồm 8 CBQL và 96 GV tại ba
trường THPT huyện Cát Tiên thông qua phiếu khảo sát ý kiến cho
kết quả như sau:
- Đánh giá thực trạng hoạt động dạy học tích hợp
Th
ĐT ứ

Mức độ thực hiện

B

bậ
c

T
T

Nội dung

Trun
g
Tốt

Khá

Yếu Ké

bình

(5đ) (4đ)
(

(2đ m
(1đ)
3 )

đ)
S
1

Thực hiện đầy đủ L
nội dung DHTH
%

2

Xây

dựng

kế S

hoạch dạy học bộ L
môn theo hướng

38

36

30

0

0
4.0

36.5 36.

28.8

4

5

23

54
10

% 22.1 9.6

24

8
0

2

0

32

15

23.0 30.

14.

2.9
4

7


2

2

8

77

42

16

35

28

16

9

tích hợp
S
Tích hợp các nội
3

%

theo

kế

hoạch
%
S

Thực hiện đổi
mới

8.6

8

65

2

38

5

21

23

21

6

L

22.1 20.

5.7

3

19

2

19

7

17

18

22

42

5

2

3
%

công nghệ thông
%

Thực hiện nền S
nếp ra vào lớp

2

3.5

31.7 20.

16.3 17.

21.1 40.

4.8

5

31

5

38

1

16

12

25

36

Sử dụng TBDH S
15
và ứng dụng L

tin vào dạy học

7

26.9 15.

phương

pháp dạy học.

6

15.3 33.

Chuẩn bị bài dạy S
33
trước khi lên lớp L

dạy học bộ môn

5

3.3

dung khác vào
bài giảng

4

L

L

2.5

14.4 15.

11.5 24.

34.

2

4

62

58

38
12

33

04
1

0

1

4.2
2

5

4

6

10

1


%
S
8

Quản lý học sinh L
trong giờ dạy
%
Kiểm tra đánh S
giá học sinh theo L

9

55.7 11.5 31.7 0.9
7

4

3

6

33

21

32

18

0
3.6

31.7 20.

30.7 17.

3

19

7

31

3

18

23

46

6

14

hướng tích hợp,
phát huy năng % 2.88
31
lực học sinh.
Tổ chức lấy ý S
kiến, phản hồi L

0

2

22.1 44.

13.

2

23

46

15

78

9

của HS về hoạt
động

dạy

học

theo hướng tích

% 0

1.9

14.4

2

2

75

3

0

2.5
17.

10

0

2

9

2.1

12

2.6

8

8.6
5

hợp.
Chia
11

sẻ

với S

CBQL, GV khác L
về hoạt động dạy
học

theo

định

8

17

% 7.69 16.

23

39

17

22.1 37.

16.

2


hướng tích hợp.
Tham gia cuộc S
thi DHTH liên L

4

35

2

5

35

8

15

46

31
2.1

12 môn do trường,
7.6

Sở giáo dục và % 3.85
9
đào tạo tổ chức.

14.4 44.

29.

2

81

23

2

11

Thực hiện đầy đủ nội dung dạy học tích hợp theo văn bản
quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nội dung giảm tải, đảm bảo
chuẩn kiến thức kỹ năng bộ môn, là một yêu cầu bắt buộc đối với
GV trong quá trình dạy học.
Kết quả khảo sát ở bảng 2.6 cho thấy: đa số GV đã thực hiện
tốt công việc này. Có đến 36.54% CBQL, GV đánh giá nội dung
“thực hiện đầy đủ nội dung dạy học tích hợp” tại các trường
THPT Huyện Cát Tiên thực hiện ở mức độ “Tốt”, không có
CBQL, GV nào đánh giá ở mức độ “Yếu” và “Kém”, nội dung
“thực hiện đầy đủ nội dung dạy học tích hợp” có điểm trung bình
là 4.08, xếp vị thứ 2 trong 12 nội dung dạy học theo định hướng
DHTH.
Xây dựng kế hoạch dạy học bộ môn theo hướng tích hợp là
công việc đòi hỏi GV phải tiến hành ngay từ đầu năm học, trong
đó xác định mục đích yêu cầu, nội dung, phương pháp tích hợp


các nội dung, các chủ đề vào trong việc thực hiện các bài dạy theo
phân phối chương trình. Kết quả khảo sát cho thấy việc “Xây
dựng kế hoạch dạy học bộ môn theo hướng tích hợp” trong đội
ngũ GV các trường THPT huyện Cát Tiên là chưa tốt, có đến
45,19% CBQL, GV đánh giá thực hiện nội dung này là ở mức
“Yếu” và “Kém”, nội dung “Xây dựng kế hoạch dạy học bộ môn
theo hướng tích hợp” có điểm trung bình là 2,94, xếp vị thứ 7
trong 12 nội dung dạy học theo định hướng DHTH
Đối với nội dung “Tích hợp các nội dung khác vào bài
giảng” chỉ có 15.38 % CBQL, GV đánh giá thực hiện ở mức độ
“Tốt”, trong khi đó có đến 24.03% CBQL, GV đánh giá là “Yếu”
và “Kém”, điểm trung bình của nội nội dung này chỉ đạt 3.32, xếp
vị trí 5 trong 12 nội dung thực hiện dạy học theo định hướng
DHTH. Điều này cho thấy, ngoài những quy định nội dung tích
hợp của từng bộ môn thì việc GVBM thực hiện tích hợp các nội
dung khác vào bài giảng là chưa tốt, GV mới chỉ tập trung vào
truyền đạt các kiến thức quy định bắt buộc, chưa chú ý việc tìm
hiểu tích hợp các kiến thức khác vào bài giảng.
Việc chuẩn bị kỹ bài dạy trước khi lên lớp theo kế hoạch dạy
học bộ môn quyết định rất nhiều đến chất lượng giờ dạy. Tuy
nhiên vẫn còn một bộ phận GV chưa chú ý thực hiện tốt nội dung


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×