Tải bản đầy đủ

BÀI THẢO LUẬN THỨ 5 TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ, VI PHẠM HỢP ĐỒNG

BÀI THẢO LUẬN THỨ NĂM:

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ, VI PHẠM
HỢP ĐỒNG


Vấn đề 1: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG
HỢP ĐỒNG GÂY RA

Câu 1: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
theo pháp luật Việt Nam? Nêu rõ những thay đổi trong BLDS 2015 so với
BLDS 2005 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp
đồng.
- Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng theo pháp luật
Việt Nam:
 Có thiệt hại xảy ra
 Có hành vi vi phạm hợp đồng
 Có quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng với thiệt hại xảy ra trên
thực tế
 Phải có lỗi của bên vi phạm
- Những thay đổi của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về căn cứ phát sinh trách

nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Điều 307 BLDS 2005 đề cập đến trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ. Tuy nhiên, quy định vừa nêu


không đưa ra căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa
vụ mà chỉ đề cập đến hai loại trách nhiệm là trách nhiệm bồi thường thiệt hại về
vật chất và bồi đắp tổn thất về tinh thần. Cuối cùng BLDS 2015 đã bổ sung Đ360
với tiêu đề “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ”1
Câu 2: Tòa án đã buộc Bitexco bồi thường cho bà Bình những khoản thiệt hại
nào? Nêu rõ đoạn của bản án liên quan đến từng khoản thiệt hại được bồi
thường.
- Tòa án đã buộc Bitexco bồi thường cho bà Bình khoản tiền tương đương giá trị
căn hộ theo giá trị của hội đồng định giá và thiệt hại tiền thuê nhà
- Đoạn của bản án liên quan đến từng khoản thiệt hại được bồi thường:
“……bà Bình không vi phạm nghĩa vụ thanh toán, buộc công ty Bitexco phải bồi
thường giá trị căn hộ theo giá của Hội đồng định giá là cũng đảm bảo quyền lợi
của bà Bình nên có căn cứ được chấp nhận.”
“……việc bà Bình đi thuê nhà ở là có thực và đây là thiệt hại thực tế, bà Bình
không có vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên yêu cầu của Bình buộc công ty Bitexco
phải bồi thường khoản tiền mà bà Bình đã thanh toán tiền thuê nhà là 22.000 Đô
la Mỹ tương đương 418.000.000 đồng…..”
1 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015, NXB. Hồng Đức – Hội

luật gia Việt Nam 2016 (xuất bản lần thứ hai)


Câu 3: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án.
Em đồng ý với hướng giải quyết trên của Tòa án vì
 Một là, theo những căn cứ được đưa ra thì bà Bình không vi phạm nghĩa vụ
thanh toán và kèm theo đó là bà cùng Công ty Bitexco và ngân hàng ngoại
thương đã cùng thống nhất hủy hợp đồng. Căn cứ khoản 2 Đ361 BLDS
2015 “Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao
gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục
thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.” nên khoản bồi thường
mà bà Bình được nhận từ Công ty Bitexco là hợp lý
 Hai là, tuy trước khi bà Bình hủy hợp đồng thì đã xuất hiện khoản thiệt hại
vì tiền thuê nhà nhưng giữa chúng có mối quan hệ nhân quả và một trong
những căn cứ để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là có quan hệ
nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng với thiệt hại xảy ra trên thực tế. Do
hợp đồng không được tiếp tục thực hiện nên khoản tiền thuê nhà được xem


là khoản tiền thiệt hại mà bà Bình phải chịu tổn thất nên Công ty Bitexco
phải bồi thường là hợp lý


Câu 4: Đoạn nào cho thấy bà Bình có yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh
thần?
- Đoạn cho thấy bà Bình có yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần là “…….ngoài
những yêu cầu đã xem xét ở trên bà Bình còn có yêu cầu bồi thường thiệt hại về
vật chất…và bồi thường thiệt hại tinh thần do chất lượng căn hộ không đảm bảo
gây ảnh hưởng về tâm lý……”
Câu 5: Tổn thất về tinh thần có tồn tại trong lĩnh vực hợp đồng không? Vì
sao?
- Căn cứ theo khoản 3 Đ316 BLDS 2015 thì tổn thất về tinh thần có tồn tại trong
lĩnh vực hợp đồng
Câu 6: BLDS 2005 và BLDS 2015 có cho phép yêu cầu bồi thường tổn thất về
tinh thần phát sinh do không thực hiện đúng hợp đồng không? Nêu rõ cơ sở
pháp lý khi trả lời.
- BLDS 2005 không có quy định về vấn đề này
- BLDS 2015 đã rất tiến bộ khi có quy định theo hướng cho phép bồi thường tổn
thất về tinh thần trong lĩnh vực hợp đồng với nội dung theo khoản 3 Đ419 “Theo
yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường


thiệt hại về tinh thần cho người có quyền. Mức bồi thường do Tòa án quyết định
căn cứ vào nội dung vụ việc.”

Vấn đề 2: PHẠT VI PHẠM HỢP ĐỒNG


Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về phạt vi phạm hợp
đồng.

BLDS 2005

BLDS 2015

- Mức phạt do các bên thỏa thuận theo

- Mức phạt vi phạm do các bên thỏa

khoản 2 Đ422

thuận, trừ trường hợp luật liên quan
có quy định khác theo khoản 2 Đ418
 Đoạn in nghiêng là quy định được bổ
sung với lý do hiện nay vẫn có quy định
khác về mức phạt như Luật xây dựng,
Luật thương mại có quy định về mức
phạt tối đa (tức các bên không hoàn toàn
tự do thỏa thuận về mức phạt)

- Khoản 3 Đ422 theo hướng các bên có - Khoản 3 Đ418 quy định các bên có thể
thể thoả thuận về việc bên vi phạm thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ
nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không
mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải
vừa phải nộp phạt vi phạm và vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi
bồi thường thiệt hại; nếu không có thoả thường thiệt hại. Trường hợp các bên
thuận trước về mức bồi thường thiệt có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng


hại thì phải bồi thường toàn bộ thiệt không thỏa thuận về việc vừa phải
hại. Trong trường hợp các bên không có chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi
thoả thuận về bồi thường thiệt hại thì thường thiệt hại thì bên vi phạm
bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.
phạt vi phạm.

 Đoạn in nghiêng của quy định cũ
được bỏ vì đây là vấn đề bồi thường
thiệt hại và đã có quy định khác điều
chỉnh

- Cách hành văn chưa mạch lạch nên đã

- Mối quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi

dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau

thường thiệt hại vẫn theo hướng nếu
không có thỏa thuận cụ thể về việc kết
hợp hai chế tài này thì thỏa thuận phạt
vi phạm loại trừ trách nhiệm bồi thường
thiệt hại

Theo Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự
năm 2015, NXB. Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam 2016 (xuất bản lần thứ
hai)


*Đối với vụ việc thứ nhất:
Câu 2: Điểm giống nhau giữa đặt cọc và phạt vi phạm hợp đồng.
- Điểm giống nhau giữa đặt cọc và vi phạm hợp đồng là có sự trao đổi một khoản
tiền giữa hai bên theo thỏa thuận của hai bên
Câu 3: Khoản tiền trả trước 30% được Tòa án xác định là tiền đặt cọc hay là
nội dung của phạt vi phạm hợp đồng?
- Khoản tiền trả trước 30% được Tòa án xác định là tiền đặt cọc “…..trong trường
hợp này, rõ ràng phía bị đơn không từ chối thực hiện hợp đồng, trái lại đã đi vào
thực hiện hợp đồng thông qua việc giao hàng cho nguyên đơn sau khi nhận tiền
cọc…..”
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến
khoản tiền trả trước 30%.
- Hướng giải quyết trên của Tòa án chưa hợp lý và không đồng nhất. Tòa án đã xác
định khoản tiền trả trước 30% là tiền đặt cọc dùng để bảo đảm cho việc thực hiện
hợp đồng, tuy nhiên sau đó lại cho rằng hai bên đương sự đã đi vào thực hiện hợp
đồng cho nên đã bác bỏ kháng cáo của Công ty TNHH Sản xuất thương mại Dịch
vụ Tân Việt yêu cầu Công ty TNHH Tường Long bồi thường khoản tiền trên


*Đối với vụ việc thứ hai:
Câu 5: Trong quyết định của Trọng tài, mức phạt vi phạm hợp đồng được giới
hạn như thế nào?
- Trong quyết định của Trọng tài mức phạt vi phạm hợp đồng là không quá 8% giá
trị hợp đồng theo Đ301 Luật thương mại 2005 “……cụ thể là Luật thương mại quy
định mức phạt hợp đồng không quá 8% giá trị của hợp đồng, do vậy Bị đơn sẽ chỉ
phải thanh toán cho nguyên đơn khoản tiền phạt theo luật là 8% giá trị của hợp
đồng…”
Câu 6: So với văn bản, mức giới hạn phạt vi phạm trong quyết định có thuyết
phục không? Vì sao?
- So với văn bản, mức giới hạn phạt vi phạm theo Luật thương mại trong quyết
định là thuyết phục nếu áp dụng BLDS 2015 căn cứ theo khoản 2 Đ418 “ Mức
phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định
khác.”
Câu 7: Trong pháp luật dân sự và pháp luật thương mại, phạt vi phạm hợp
đồng có được kết hợp với bồi thường thiệt hại không nếu các bên không có
thỏa thuận về vấn đề này? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.


- Trong pháp luật dân sự, theo khoản 3 Đ418 “Các bên có thể thỏa thuận về việc
bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt
hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp
các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa
phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa
vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.”  Không thể kết hợp giữa vi phạm hợp đồng
và bồi thường thiệt hại
- Trong pháp luật thương mại, theo khoản 2 Đ307 Luật thương mại 2005 “Trường
hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả
chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy
định khác.” .”  Có thể kết hợp giữa vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại

Câu 8: Trong quyết định trọng tài, phạt vi phạm có được kết hợp với bồi
thường thiệt hại không? Đoạn nào của quyết định cho câu trả lời?
- Trong quyết định của Trọng tài, phạt vi phạm được kết hợp với bồi thường thiệt
hại
“….. Điều 301 Luật thương mại cũng quy định ngoài mức phạt như trên, bên bị
thiệt hại có quyền đòi bòi thường thiệt hại thực tế…..”


Câu 9: Điểm giống và khác nhau giữa phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường
thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng.
- Điểm giống nhau: đều được xem là chế tài để áp dụng cho các trường hợp vi
phạm hợp đồng nhằm ngăn ngừa sự vi phạm hợp đồng và cơ sở để áp dụng là phải
có hành vi vi phạm hợp đồng trên thực tế
- Điểm khác nhau

Phạt vi phạm hợp đồng

Bồi thường thiệt hại do không thực hiện
đúng hợp đồng

- Áp dụng khi các bên có thỏa thuận
- Có thể áp dụng mà không cần có thiệt hại thực tế
- Mức phạt vi phạm có giới hạn theo Luật thương
mại

- Áp dụng ngay cả khi không có thỏa
thuận
- Chỉ có thể áp dụng khi có thiệt hại thực
tế
- Mức bồi thường không giới hạn


Câu 10: Theo văn bản, khoản tiền do kết hợp phạt vi phạm với bồi thường
thiệt hại có bị giới hạn không? Vì sao?
Theo khoản 2 Đ307 Luật thương mại 2005 “Trường hợp các bên có thỏa thuận
phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc
bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.”  giới hạn mức
phạt bằng mức các bên đã thỏa thuận
Câu 11: Trong quyết định trọng tài, khoản tiền do kết hợp phạt vi phạm và
bồi thường thiệt hại có bị giới hạn không? Suy nghĩ của anh/chị về giải pháp
trong quyết định về vấn đề này.
- Theo quyết định của Trọng tài, khoản tiền do kết hợp phạt vi phạm và bồi thường
thiệt hại bị giới hạn “……Điều 307 Luật thương mại cũng quy định ngoài mức
phạt như trên, bên thiệt hại có quyền đòi bồi thường thiệt hại thực tế. Do các bên
đã có thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại tối đa là 30% tổng giá trị hợp đồng,
nên việc cho phép bồi thường mức cao hơn sẽ tạo ra bất ngờ cho Bị đơn. HĐTT
cho rằng có thể xét bồi thường thiệt hại thực tế cho Nguyên đơn, song tổng mức
bồi thường thiệt hại và khoản phạt vi phạm sẽ không được cao quá 30% giá trị
hợp đồng”
- Em đồng ý với hướng giải quyết của Trọng tài vì phù hợp với các điều khoản
được viện dẫn


Câu 12: Suy nghĩ của anh/chị về khả năng Tòa án được quyền giảm mức phạt
vi phạm hợp đồng trong pháp luật Việt Nam.
- Tòa án đã áp dụng Đ307 Luật thương mại 2005 là hợp lý, vừa bảo đảm được
quyền lợi của bên bị vi phạm vừa bảo đảm được quyền lợi của bên vi phạm

Vấn đề 3: SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG

Câu 1: Những điều kiện để một sự kiện được coi là bất khả kháng? Và cho
biết các bên có thể thỏa thuận với nhau về trường hợp có sự kiện bất khả
kháng không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
- Căn cứ khoản 1 Đ156 BLDS 2015, những điều kiện để một sự kiện được coi là
bất khả kháng là
 Xảy ra một cách khách quan


Không thể lường trước được


 Không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và
khả năng cho phép
- Các bên có thể thỏa thuận với nhau về trường hợp có sự kiện bất khả kháng căn
cứ khoản 2 Đ351 BLDS 2015 “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng
nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”
Câu 2: Những hệ quả pháp lý trong trường hợp hợp đồng không thể thực hiện
được do sự kiện bất khả kháng trong BLDS 2005 và Luật thương mại sửa đổi.
- Căn cứ khoản 2 Đ351 BLDS 2015 “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện
đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự,
trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”
- Căn cứ điểm b khoản 1 Đ294 Luật thương mại 2005 về các trường hợp miễn
trách nhiệm đối với hành vi vi phạm thì “trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng,
bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm”
Câu 3: Số hàng trên có bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng không? Phân tích
các điều kiện hình thành sự kiện hình thành sự kiện bất khả kháng với tình
huống trên.
- Theo em, số hàng trên bị hư hỏng là do sự kiện bất khả kháng


 Xảy ra một cách khách quan: gió là sự kiện khách quan


Không thể lường trước được: bản án không nêu rõ tàu bị gió nhấn chìm có
phải là sự kiện không thể lường trước được hay không

 Không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và
khả năng cho phép: bản án không nêu rõ

Câu 4: Nếu hàng bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng, anh Văn có phải bồi
thường cho anh Bình về việc hàng bị hư hỏng không? Nêu cơ sở pháp lý khi
trả lời.
- Căn cứ vào khoản 2 Đ351 BLDS 2015 “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực
hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân
sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”
 Anh Văn không cần phải bồi thường cho anh Bình về việc hàng bị hư hỏng
Câu 5: Nếu hàng bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng và anh Văn thỏa thuận
bồi thường cho anh Bình giá trị hàng hư hỏng thì anh Văn có được yêu cầu


Công ty bảo hiểm thanh toán khoản tiền này không? Tìm câu trả lời nhìn từ
góc độ văn bản và thực tiễn xét xử.
- BLDS 2015 đã bỏ mục quy định về hợp đồng bảo hiểm nên ta sẽ xét trên góc độ
văn bản của Đ580 BLDS về bảo hiểm trách nhiệm dân sự
1. Trong trường hợp bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba theo thoả
thuận hoặc theo quy định của pháp luật thì bên bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho
bên mua bảo hiểm hoặc cho người thứ ba theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm đối
với thiệt hại mà bên mua bảo hiểm đã gây ra cho người thứ ba theo mức bảo hiểm
đã thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
2. Trong trường hợp bên mua bảo hiểm đã bồi thường thiệt hại cho người thứ ba thì
có quyền yêu cầu bên bảo hiểm phải hoàn trả khoản tiền mà mình đã trả cho người
thứ ba, nhưng không vượt quá mức trả bảo hiểm mà các bên đã thoả thuận hoặc
pháp luật đã quy định.
 Anh Văn được quyền yêu cầu Công ty bảo hiểm thanh toán khoản tiền này

- Nhìn từ góc độ thực tiễn xét xử thì có hai quan điểm


 Tóm tắt Quyết định số 105/GĐT – DS: Ông Khóm nhận chuyển 2600 con
vịt cho ông Điền và ông Trình. Trong quá trình vận chuyển đã có thiệt hại
xảy ra là tàu của ông Khóm va vào chân cầu bị chìm do mưa gió to, nước
chảy mạnh. Tổn thất là 79.100.000 đồng. Vì có thỏa thuận nên ông Khóm đã
bồi thường cho ông Điền và ông Trình số tiền trên. Ông Khóm tham gia bảo
hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu với Bảo Việt An Giang nên nay ông
Khóm yêu cầu Bảo Việc An Giang hoàn trả số tiền trên vì theo phạm vi trách
nhiệm bảo hiểm thì Bảo Việt nhận trách nhiệm bồi thường mất mát, hư hỏng
hàng hóa, tài sản chuyên chở trên tàu. Do đó Tòa án xác định Bảo Việt An
Giang có trách nhiệm phải trả cho ông Khóm số tiền mà ông đã bồi thường
cho ông Điền và ông Trình
 Tóm tắt bản án số 110/2006/DSPT: Anh Khen nhận chở thuê hàng bằng
đường thủy và có mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho việc vận chuyển
bằng tàu. Anh Khen phải bồi thường số tiền là 40.950.000 vì trên đường vận
chuyển tàu bị gió lốc nhấn chìm và gây thiệt hại về hàng hóa cho chủ hàng
anh chở thuê. Tòa án đã xác định, việc tàu anh bị chìm là do sự kiện bất khả
kháng nhưng do anh Khen tự nguyện bồi thường nên anh phải gánh chịu
hậu quả


Vấn đề 4: TÌM KIẾM BẢN ÁN LIÊN QUAN ĐẾN CHẬM THỰC HIỆN
NGHĨA VỤ THANH TOÁN
Tự tìm ít nhất 01 bản án (quyết định) của Tòa án liên quan đến chậm thực
hiện nghĩa vụ thanh toán. Cho biết suy nghĩ về hướng giải quyết của Tòa án
trong bản án (quyết định) liên quan đến chậm thanh toán đã tìm thấy

Tháng 3 năm 1999 ông Đào Xuân Yết và bà Đặng thị Minh Hương có thoả thuận
miệng về việc mua bán phân bón.Từ ngày 23/3/1999 đến ngày 14/5/1999 bà
Hương đã nhận của ông Yết 452 tấn phân bón trị giá 1.059.519.000 cam kết trả số
tiền trên trong khoảng thời gian 10 ngày.(8/6/1999 đến 18/6/1999)
Ngày 8/6/199 ông Yết và bà Hương ký hợp đồng mua bán với nội dung:Bên B
thanh toán cho bên A bằng chuyển khoản hoặc bằng tiền mặt, chậm nhất là 30ngày
kể từ ngày nhận hàng. Nếu bên B nợ quá hạn thì bên A sẽ phải tính lãi xuất
1.5%/tháng.
Để đảm bảo việc trả nợ này bà Hương và Ông NGuyễn Văn Định (chồng bà
Hương) đã ký hợp đồng thế chấp tài sản có xác nhận của UBND huyện Đắc Mil.


tỉnh Đắc Lăk (Đắc Nông)bao gồm: 2480m2 đất thổ cư, 200m2 đất rẫy cà phê trồng
năm 1993, 19.472m2 đất rẫy cà phê trồng năm 1995, 950m2 đất trồng màu.
Số tiền nợ được bà Hương trả dần thành từng đợt như sau:
- Ngày 30/6/1999 trả 84.640.000đồng, ngày 31/7/1999 trả 119.300.000, ngày
31/8/1999 trả them 31.000.000 còn nợ vốn và lãi là: 819.319.000đồng.
- Ngày 8/10/1999 bà Hương làm giấy khất nợ với số nợ là 659.116.000 đồng và
cam kết từ ngày 8/10/1999 đến 20/12/1999 sẽ thanh toán 459.116.000 đồng. số tiền
200triệu còn lại đến ngày 30/12/1999 sẽ thanh toán dứt điểm.
Trong thời gian đó, cuối tháng 2/2000 vợ chông bà Hương đã bán một số tài sản
thế chấp cho ông Yết, cụ thể như sau: Ngày 28/2/2000 sang nhượng cho bà
Nguyễn Thi Phương và ông Trương Hùng Oanh 372m2 diện tích đất thổ cư với giá
33 cây vàng. Ngày 2/6/2000 tiếp tục sang nhượng 310m2 diện tích đất thổ cư với
giá 30 cây vàng cho bà Trương Thị Lý và ông Nguyễnm Văn Sương. Cả hai bên đã
thanh toán đầy đủ cho vợ chồng bà Hương.
Do vợ chồng bà Hương không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết trong giấy
khất nợ ngày 8/10/1999 nên ngày 12/2/2001, ông Yết có đơn kiện yêu cầu Vợ
chồng bà Hương phải thanh toán 456,080,000 đồng tiền gốc và lãi suất theo quy
định của pháp luật.


Tại biên bản hoà giải ngày 5/3/2001 ông Yết và bà Hương thống nhất: Bà Hương
trả cho ông Yết 551.856.800 đồng trong đó tiền gốc là 456.080.000 đồng và tiền lãi
tính từ ngày 1/1/2000 là 95.776.800 đồng. Sau khi bà Hương thanh toán cho ông
Yết 15.000.000 đồng thì ông Yết sẽ tiến hành làn thủ tục tách giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho bà phưong và bà Lý.
Tại quyết định công nhận sự thoả thuận của các bên đương sự số 11/QĐHGT ngày
20/3/2001, TAND huyện Đắc Mil quyết định: công nhận sự thoả thuận của các
đương sự như sau:Vợ chông bà Hương có nghã vụ thanh toán cho ông Yết số tiền
551.027.992 đồng.
Tại quyết định số 417 ngày 9/7/2003, VTVKSND tỉnh Đắc Lăk kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm quyết định số 11/QĐHGT ngày 20/3/2001 của TAND huyện
Đác Mil với nhận định: Nội dung của quyết định trên không đúng với nội dung
biên bản hào giải thành ngày 5/1/2001, ra quyết định số 12/DS ngày 17/12/2003
tuyên bố huỷ toàn bộ quyết định số 11/QĐHGT của TAND huyện Đắc Mil, giao hồ
so vụ án cho Toà Dân sự TAND tỉnh Đắc Lăk giải quyết theo trình tự sơ thẩm.
Trên thực tế sau khi quyết định hoà giải thành ngày 5/3/2001 có hiệu lực, vợ chồng
ông Định đã thanh toán cho ông Yết 201.200.000 đồng tiền vốn và lãi suất chậm
trả theo quy định của pháp luật.


Nay ông Yết kiện ra toà bà Hương yêu cầu được trừ số tiền 201.200.000 đồng vào
nợ gốc 456.080.000 đồng và chấp nhận trả số nợ còn lại cùng lãi xuất theo quy
định của pháp luật nhưng ông Yết không đồng ý. Đồng thời những người có quyền
nghĩa vụ liên quan là vợ chồng bà Phương và bà Lý cũng yêu cầu ông Yết tiến
hành tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như thoả thuận vì ngay khi có quyết
định của TAND huyện Đác Mil bà phương đã đưa cho bà Lý 129.800.000 đồng, bà
Lý đưa 85.000.000 đồng để bà Hương trả cho ông Yết.
Cách giải quyết của Tòa án:
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 1/2004/DSST ngày 9/6/2004 TAND tỉnh Đắc Nông
quyết định: bác yêu cầu của bà Hương, bà Lý và bà Phương. Buộc vợ chồng bà
Hương phải trả cho ông Yết số tiền 325.462.851 đồng, trong đó tiền gốc là
208.279.562 đồng, số tiền lãi là 117.183.283 đồng và bác yêu cầu của bà Lý, bà
Phương. Hai người có thể kiện đòi bà Hương số tiền 214.814.000 đồng.
Ngày 16/6/2004 vợ chồng bà Hương có đơn kháng cáo yêu cầu chỉ tính lãi đến
ngày 5/3/2001.Cùng ngày bà Lý và bà Phương có đơn kháng cáo xin hưởng quyền
lợi theo lời hứa của ông Yết trong biên bản thoả thuận. Ngày 22/6/2004 ông Yết có
đơn kháng cáo với nội dung: yêu cầu với số nợ gốc 424.916.000 đồng phải được
tính lãi từ ngày 14/6/1999 đến 9/6/2004 (ngày xét xử sơ thẩm) với mức lãi xuất 1,5
%/tháng.


Tại bản án dân sự phúc thẩm số 67 ngày 4/11/2004, Toà Phúc thẩm TANDTC tại
Đà Nẵng vẫn giữ nguyên bản án sơ thẩm chỉ khác số tiền lãi ông bà Hương phải trả
cho ông Yết là 44.135.253 đồng.
Sau khi xét cử phúc thẩm ông Yết có đơn khiếu nại với nội dung: yêu cầu toà tính
lãi từ ngày 14/6/1999 (ngày đến hạn thanh toán sau khi đối chiếu công nợ) đến
ngày 9/6/2004 (ngày xét xử sơ thẩm) để đảm bảo quyền lợi cho ông. Tại Quyết
định số 22/KNDS ngày 12/4/2005 Chánh án TANDTC đã quyết định kháng nghị
bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và đề nghị hội đồng thẩm phán TANDTC xét xử
giám đốc thẩm, huỷ bản án dân sự phúc thẩm nêu trên, giao hồ sơ vụ án cho toà
phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng xét xử lại theo quy định của pháp luật. Đây cũng
là ý kiến của đại diện VKSNDTC.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×