Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu sự ưa thích nước tăng lực có gaz sting dâu và number 1 dâu trong giới trẻ ở TP HCM

Bài tiểu luận
Nghiên cứu sự ưa thích nước tăng lực có gaz

Sting dâu và Number 1 dâu
trong giới trẻ ở TP.HCM

I.

Lí do chọn đề tài
Nếu bạn là doanh nghiệp thứ n bước vào thị trường, làm sao sản phẩm
của bạn có thể cạnh tranh được với các sản phẩm có tiếng trên thị trường
lúc bấy giờ? Tạo chủng loại mới là một trong những chiến thuật hữu hiệu
và rất nhiều tên tuổi lớn hiện nay đã đi lên từ chiến thuật này.
Thị trường nước giải khát ở nước ta hiện nay vô cùng đa dạng và phong
phú với nhiều chủng loại sản phẩm, đặc biệt là những sản phẩm nước giải
khát không cồn. Do nước ta có khí hậu nóng nên nhu cầu tiêu thụ nước
giải khát của người dân rất lớn. các nhà sản xuất không ngừng tạo ra một
loại sản phẩm mới góp phần làm phong phú thêm cho thị trường nước
giải khát vốn luôn sôi động.
Chỉ riêng về nước tăng lực có gaz mà đặc trưng là hai sản phẩm đã và
đang rất được ưa chuộng mà chúng tôi muốn nghiên cứu: Sting dâu của

Pepsi và Number 1 dâu của Tân Hiệp Phát. Sau một thời gian cạnh tranh
trên thị trường thì sản phẩm nào được người tiêu dùng ưa thích hơn? Tại
sao người tiêu dùng lại ưa thích sản phẩm này hơn sản phẩm kia dù nó
đều cùng là nước tăng lực có gaz hương dâu? Điều khác biệt nổi trội nào


đã giúp cho sản phẩm này thắng thế hơn sản phẩm kia trên thị trường?
Giá cả quyết định như thế nào đối với sự chọn lựa sản phẩm của người
tiêu dùng?....
Để trả lời hàng loạt câu hỏi trên, nhóm chúng tôi đã tiến hành khảo sát,
nghiên cứu thị trường từ đó xác định được đáp án chính xác nhất có thể
cho từng câu hỏi. Bên cạnh đó, nhóm cũng hy vọng tài liệu này có thể
cung cấp thông tin và nâng cao kiến thức cho người đọc tìm hiểu về chiến
lược sản phẩm.

II.

Mục tiêu nghiên cứu
 Thấy được xu hướng tiêu dùng của giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh
đối với mặt hàng nước tăng lực có gaz nói chung và đối với hai
loại sản phẩm Sting dâu và Number 1 dâu nói riêng.
 Tìm hiểu sự đánh giá của giới trẻ về hai sản phẩm này về các mặt
chất lượng, thương hiệu cũng như về mặt marketing.
 Xem xét về các mặt thành công cũng như những mặt còn hạn chế
của hai sản phẩm này để từ đó tìm ra giải pháp nâng cao năng lực
cạnh tranh cho từng sản phẩm trên thương trường cạnh tranh khốc
liệt giữa các mặt hàng giải khát hiện nay.

III. Nhiệm vụ nghiên cứu
 Phân tích thực trạng sử dụng hai sản phẩm này của giới trẻ ở địa
bàn thành phố Hồ Chí Minh
 Phân tích điểm mạnh , điểm yếu của từng loại sản phẩm thông qua
khảo sát.
 Trả lời câu hỏi: hai sản phẩm này đã thực sự đáp ứng được nhu cầu
của phân khúc thị trường giới trẻ chưa?


 Đưa ra giải pháp và kiến nghị để nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh cho hai sản phẩm này.


IV.

Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Nước tăng lực có mặt trên thị trường việt nam khá trễ so với các loại
nước giải khát khác như Coca Cola, Xá xị Chương Dương, Pepsi… nên
hiện nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu khoa học hay luận văn về dòng
sản phẩm này. Trong số ít đó có một đề tài luận văn đã nghiên cứu để đưa
ra giải pháp Number 1 hiện nay.
Theo khảo sát của Công ty Nghiên cứu Thị trường Nielsen, đến giữa năm
2011, Sting dẫn đầu thị trường nước uống tăng lực tại Việt Nam với 52%
thị phần. Number 1 về nhì với 23% thị phần. Các thương hiệu khác chia
nhau 25% thị trường còn lại gồm Samurai, Red Tiger, Rhino, Lipovitan.
Tại sao Number 1 lại để mất thị phần vào tay Sting? Trong nhiều nguyên
nhân như Marketing bị giảm sút, thay vào đó là quảng bá cho các sản
phẩm mới (Dr Thanh, Trà xanh), hệ thống phân phối chưa rộng rãi …còn
có một nguyên nhân khác đó là do chính chất lượng của của Number 1 bị
giảm sút.
Đề tài luận văn trên đã thống kê các lỗi sản phẩm của Number 1 dựa trên
khiếu nại của khách hàng, đưa ra các biện pháp để khắc phục và hạn chế
các lỗi có thể xảy ra trong tương lai đồng thời cải tiến chất lượng sản
phẩm để nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường.
Bên cạnh những mặt có lợi cũng có một số nghiên cứu chỉ ra những mặt
hại do nước tăng lực đem lại. Nước tăng lực chứa nhiều chất kích thích _
đây là kết quả nghiên cứu của Tiến sĩ Steven Lipshultz, chủ tịch Hội nhi
khoa của Đại học trường y khoa Miami trên tạp chí “ Pediatric”, tạp chí y
khoa của Mỹ. Tiến sĩ cùng với nhóm nghiên cứu của mình đã đánh giá


ảnh hưởng của cá loại nước uống tăng lực đối với sức khỏe và cho hay
các loại đồ uống này chứa hàm lượng caffein và chất kích thích khác khá
cao. Những hợp chất này có thể dẫn đến hiện tượng đội quỵ, chứng hoang
tưởng, bệnh tim mạch, tổn thương thận và gan con người. Kết quả của
cuộc nghiên cứu trên đã cho thấy rõ tác hại của việc sử dụng nước tăng
lực quá nhiều, bên cạnh giúp cho con người trở nên minh mẩn, tập trung
cao độ hơn thì việc lạm dụng nước tăng lực sẽ khiến chúng ta có nguy cơ
mắc các bệnh về tim,thận…do đó nên có sự hạn chế trong việc sử dụng
các sản phẩm này.
Trên đây là một vài nghiên cứu về một số khía cạnh của dòng sản phẩm
nước tăng lực bao gồm các yếu tố tiêu cực cũng như tích cực và trong bài
nghiên cứu này nhóm chúng tôi sẽ đề cập đến một khía cạnh khác đó
chính là sự đánh giá của khách hàng ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
trong việc lựa chọn Sting dâu hoặc Number 1 dâu .
Chú thích: đề tài luận văn của Nguyễn Thị Liên, sinh viên đại học Bách
khoa, đề tài LVTN là: “Sử dụng các công cụ quản lý chất lượng để phân tích
các dạng sản phẩm lỗi rồi tìm ra biện pháp khắc phục tốt nhất nhằm nâng
cao chất lượng cho sản phẩm nước tăng lực Number One của Nhà máy sản
xuất Bia và NGK Bến Thành”.

V.

Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện bài nghiên cứu thì nhóm nghiên cứu đã áp dụng lí thuyết
marketing căn bản trong đó chú trọng đến những lí thuyết về chiến lược
marketing hỗn hợp và lí thuyết phân phối.
 Phương pháp thu thập số liệu
 Thu thập số liệu sơ cấp qua hình thức phỏng vấn trực tiếp và
phiếu khảo sát.


 Thu thập số liệu thứ cấp qua các nguồn thông tin được cung
cấp trên Internet
 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu
 Phương pháp suy luận logic
 Phương pháp phân tích – tổng hợp – so sánh
 Phương pháp toán thống kê
Trong quá trình xử lí và phân tích đó thì nhóm nghiên cứu
đã sử dụng các phần mề hỗ trợ như SPSS và Eview

VI. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu
Ngừoi tiêu dùng sản phẩm Number 1 dâu và Sting dâu, ở đây là
giới trẻ với độ tuổi khoảng từ 16 đến 27 tuổi
 Phạm vi nghiên cứu:
 Không gian: địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
 Thời gian: số liệu được nhóm nghiên cứu thu thập từ
18/4/2012 đến 20/4/2012

VII. Kết cấu đề tài
Để giải quyết những mục tiêu nghiên cứu cũng như những câu hỏi nghiên
cứu đặt ra chúng tôi xây dựng kết cấu đề tài gồm những nộ dung và nhiệm
vụ sau:
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
Để xây dựng và thực hiện được đề tài “Nghiên cứu sự ưa thích nước giải khát Sting
dâu và Number 1 dâu-trong giới trẻ ở TP.HCM”, nhóm chúng tôi đã tìm hiểu kỹ
những nội dung cơ bản nhất của Marketing hay nói cách khác là cơ sở lý luận và
thực tiễn cho việc định hướng đề tài.
1. Cơ sở lí luận
Trước hết chúng ta cần phải hiểu thế nào là marketing. Marketing là một quá trình
hoạch định và quản lý thực hiện việc định giá, chiêu thị, và phân phối các ý tưởng,


hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích tạo ra các giao dịch để thỏa mãn những mục tiêu
của cá nhân, của tổ chức và của xã hội.
Trong phạm vi đề tài chúng tôi đề cập đến 7 thành phấn sau:
Thương hiệu
Sản phẩm
Thị trường
Hành vi khách hàng
Đối thủ cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh
Quảng cáo
2. Cơ sở thực tiễn
Đề tài của chúng tôi đã nghiên cứu 2 dòng sản phẩm là đối thủ cạnh tranh của
nhau, đó là: Sting dâu và Number 1 dâu. Đây là 2 sản phẩm của 2 thương hiệu lớn
“Pepsico” và “Tân Hiệp Phát” đã có mặt rất lâu trên thị trường Việt Nam, nhưng hễ
nhắc đến Sting dâu thì ai cũng biết đó là của thương hiệu nào; còn nói đến Number
1 dâu thì phần lớn nhiều người không biết đến hay đã sử dụng nó. Trong chuyến đi
khảo sát vừa rồi, phần lớn những người đánh phiếu khảo sát chỉ biết đến mỗi Sting
dâu hơn là Number 1 dâu. Điều này cho chúng ta nhận thấy rõ một điều, chiến lược
marketing của “Sting dâu” mạnh hơn và rộng khắp hơn rất nhiều, khai thác có
chiều sâu nhóm đối tượng giới trẻ trong độ tuổi từ 10-30 và “Pepsico” đã thành
công với dòng sản phẩm này. Còn “Number 1 dâu” họ đã làm được gì, có lẽ trong
chiến lược phát triển của mình “Tân Hiệp Phát” đã quá chú trọng vào dòng sản
phẩm Dr.Thanh và Trà Xanh 0 độ, họ đã bỏ rơi “Number 1 dâu”, khiến nó dần mất


hút trên thị trường nước giải khát Việt Nam. Ngoài ra, chúng ta còn nhận thấy một
điều, những sản phẩm thuần Việt của doanh nghiệp Việt Nam rất ít được quảng
cáo, tiếp thị đến khách hàng; các công ty đa quốc gia thì lại rất chú trọng đến mảng
hoạt động này, họ quảng cáo sản phẩm ở mọi lúc mọi nơi. “Sting dâu”, nó được
quảng cáo trên tivi, internet, các bảng poster và hệ thống phân phối rộng khắp;
“Number 1 dâu” thì thế nào? Rất ít, nó núp sau cái bóng quảng cáo của Number 1,
“Tân Hiệp Phát” đã sử dụng Number 1 cho nhiều dòng sản phẩm, sản phẩm nào
cũng có logo và chữ Number 1, rõ ràng điều đó làm loãng thương hiệu này trên thị
trường nước tăng lực.
Trong phiếu khảo sát, nhóm chúng tôi đã đưa ra các yếu tố cấu thành một sản
phẩm để so sánh 2 dòng sản phẩm “Sting dâu” và “Number 1 dâu”. Chẳng hạn, về
màu sắc, hương vị, độ gas, hay sự tiện dụng khi dùng sản phẩm,… cả 2 dòng sản
phẩm này đều có những nét đặc trưng tương đối giống nhau ở trên, tuy nhiên là
người tiêu dùng chính họ là người sử dụng, họ cảm nhận những khác biệt bên trong
sản phẩm: hương vị như thế nào? Độ gas như thế là quá cao, quá thấp hay trung
bình? Còn màu sắc trong có bắt mắt hay không? Kiểu dáng, mẫu mã và sự tiện
dụng của bao bì?... thì nó được quan sát, nhìn nhận khách quan từ bên ngoài của
người tiêu dùng. Chính những khác biệt bên trong và bên ngoài đó tạo nên sự ưa
thích lựa chọn sản phẩm của người tiêu dùng.
CHƯƠNG 2. ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG VỀ HAI SẢN PHẨM :
STING DÂU VÀ NUMBER ONE DÂU
Qua điều tra 89 bạn trẻ ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh về mức độ ưa thích đối
với hai loại nước giải khát Sting dâu và Number One dâu thì nhóm nghiên cứu đã
xử lí số liệu và đưa ra một số kết quả sau:
1. Miêu tả mẫu nghiên cứu:


 Đối tượng là các bạn trẻ trong khoảng 16 đến 27 tuổi , đa dạng về
nghề nghiệp như học sinh, sinh viên, người đã đi làm.
 Địa điểm khảo sát: nhà văn hóa thanh niên, công viên , trường đại
học, trường trung học phổ thông.
 Số lượng mẫu quan sát : mẫu là 95 phiếu khảo sát và phiếu khảo sát
phù hợp 89 phiếu.
2. Kết quả qua xử lí số liệu:
a. Sự ưa thích hơn đối với hai sản phẩm
Nhìn chung thì sản phẩm Sting dâu được giới trẻ ưa thích hơn hẳn sản
phẩm Number One dâu. Trong 89 người được khảo sát thì 15 người
trả lời là ưa thích Number One dâu hơn chiếm 17% còn 74 người còn
lại thì ưa thích Sting dâu hơn chiếm 83%.
Qua quan sát ghi nhận lại khi khảo sát thì những nguời đã đi làm và
lớn tuổi hơn thì thích Number One dâu hơn Sting. Còn những đối
tượng tuổi teen như học sinh, sinh viên thì lại ưa thích Sting dâu hơn.

b. mức độ thường xuyên sử dụng hai loại sản phẩm
Để biết được mức độ thường xuyên sử dụng hai loại nước giải khát
này nhóm nghiên cứu đã khảo sát và kết quả có sự khác nhau rõ rệt
như sau:


Sản phẩm Sting được nhiều người trẻ dùng đến hơn là Number One
dâu là điều có thể thấy rõ qua hai biểu đồ trên. Khi điều tra thì có một
số người được phỏng vấn thậm chí còn không biết có loại nước
Number One dâu. Qua 89 bảng khảo sát thì có 8 bảng là ghi nhận
chưa từng sử dụng Number One chiếm 8.998%.

Đặt vấn đề:
Cùng là một loại nước giải khát hương vị dâu nhưng giới trẻ lại có xu
hướng tiêu dùng Sting dâu hơn là Number One dâu.


Câu hỏi đặt ra là tại sao lại có hiện tượng này? Nguyên nhân nào làm
cho Sting dâu thắng thế hơn Number One dâu?
Để trả lời câu hỏi trên thì nhóm nghiên cứu đã đưa ra các yếu tố có thể
tác động đến hành vi tiêu dùng của giới trẻ và tiến hành khảo sát.
Những yếu tố nhóm khảo sát đưa ra gồm:
1) Mức độ thường xuyên sử dụng hai loại sản phẩm này
2) Các yếu tố chất lượng như:
 Hương vị
 Màu sắc
 Kiểu dáng chai
 Độ tiện dụng của chai
 Độ gaz
 Các chương trình quảng bá, quảng cáo đại chúng
3) Yếu tố giá cả
4) Yếu tố thương hiệu
Với sự giúp đỡ của spss thì nhóm nghiên cứu đã đưa ra được mối quan
hệ giữa các yếu tố đối với mưc độ ưa thích sản phẩm thông qua hàm hồi quy
sau:
ĐỘ ƯA THÍCH HƠN CỦA STING DÂU SO VỚI NUMBER ONE
DÂU = 0.153 + 0.032TX.STING – 0.069TX.No1 + 0.29HV.STING –
0.189HV.No1 + 0.02GAZ.STING + 0.23GAZ.No1 – 0.037MS.STING +
0.035MS.No1 + 0.076QB.STING + 0.091QB.No1 + 0.04KD.STING –
0.037KD.No1 - 0.091TD.SING – 0.012TD.No1 – 0.317GIA – 0.0646TH
Hay dễ hiểu hơn:
ĐỘ ƯA THÍCH HƠN CỦA STING DÂU SO VỚI NUMBER ONE
DÂU = 0.153 + 0.032TX.STING+ 0.29HV.STING+ 0.02GAZ.STING –
0.037MS.STING + 0.076QB.STING + 0.04KD.STING - 0.091TD.STING
– 0.069TX.No1 – 0.189HV.No1 + 0.23GAZ.No1 + 0.035MS.No1 +
0.091QB.No1 – 0.037KD.No1 – 0.012TD.No1 – 0.317GIA – 0.0646TH

Giải thích kí hiệu:











STING: sản phẩm Sting dâu
No1: sản phẩm Number One dâu
TX: mức độ thường xuyên uống
MS: màu sắc
HV: hương vị
KD: kiểu dáng chai
GAZ: Độ gaz
QB : mức độ tác động của các chương trình quảng cáo tơi người

tiêu dùng
 TD: độ tiện dụng của chai
 GIA: giá của sản phẩm
 TH: tác động của yếu tố thương hiệu đến tiêu dùng
Giải thích hàm hồi quy:
Trong hàm hồi quy có thể thấy có những yếu tố tác động thuận
chiều và tác động ngược chiều đến sự ưa thích Sting dâu
hơn Number One dâu. Dấu (+) nghĩa là khi tăng các yếu tố
đó lên sẽ làm cho Sting càng được ưa thích hơn, dấu (-)
nghĩa là khi tăng các yếu tố đó lên sẽ làm giảm đi sự ưa
thích Sting dâu. Làm rõ như sau:
-MS.STING: Nếu tăng thêm màu sắc ví dụ làm màu đậm
hơn sẽ tạo tác dụng nghịch vì nếu màu đậm quá sẽ tạo tâm lí
nghi ngờ về phẩm màu không an toàn trong sản phẩm.
-TD.STING: độ tiện dụng của chai là ổn rồi, có thể thay
đổi kiểu chai để tạo sự tiện dụng hơn nhưng không cần thiết vì
người tiêu dùng đã quen với kiểu chai như vậy, độ tiện dụng
như vậy nên thay đổi có thể đem lại tác dụng nghịch.
(-0.069TX.No1– 0.189HV.No1 + 0.23GAZ.No1 +
0.035MS.No1 + 0.091QB.No1– 0.037KD.No10.012TD.No1) : các yếu tố này là của Number One dâu, khi
chất lượng của nó được cải thiện phù hợp hơn với giới trẻ thì sẽ


gây tác động làm cho sự ưa thích Sting bị giảm đi do người tiêu
dùng tìm được nơi Number One dâu một chất lượng tốt hơn.
Trong hàm trên nghĩa là khi mức độ thường xuyên uống
Number 1 dâu tăng lên, hương vị được cải thiện hơn, kiểu dáng
chai phù hợp hơn và độ tiện dụng của chai được nâng cao thì
Number 1 dâu sẽ được người tiêu dùng chọn lựa và dĩ nhiên
mức độ ưa thích sử dụng Sting dâu sẽ giảm xuống.
– 0.317GIA : khi chênh lệch giá giữa hai sản phẩm càng
cao thì làm cho người tiêu dùng e ngại hơn khi sử dụng Sting
( thực tế trên thị trường thì Sting cao giá hơn Number One) và
tất nhiên dộ ưa thích bị giảm đi.
– 0.0646TH: Yếu tố thương hiệu càng mạnh thì sẽ tác
động đến tiêu dùng càng mạnh. Khi thương hiệu Tân Hiệp Phát
càng được nâng cao và phong trào người Việt sử dụng hàng Việt
càng phổ biến thì độ ưa thích Sting sẽ bị giảm xuống
c. Đánh giá chất lượng sản phẩm
trong khảo sát thì nhóm sử dụng thang đo khoảng đối với cảm nhận
của khách hàng về chất lượng sản phẩm qua 6 tiêu chí: màu sắc,
hương vị, kiểu dáng chai, độ tiện dụng của chai và độ gaz, các chương
trình quảng bá sản phẩm.
Với mức độ hài lòng được cho điểm như sau:
1. Rất không hài lòng
2. Không hài lòng
3. Bình thường
4. Hài lòng
5. Rất hài lòng

Sting dâu

Number One
dâu


Màu sắc

347

239

Hương vị
Kiểu dáng chai
Độ tiện dụng của chai
Độ gaz
Chương trình quảng bá

341
331
339
309
307

219
222
224
209
214

sản phẩm

 Sting dâu:
Điểm yếu của Sting dâu hiện nay đó chính là các chương trình quảng bá cho
sản phẩm chưa thật sự gây ấn tượng sâu sắc trong tâm trí người tiêu dùng
đặc biệt là giới trẻ.
Nhưng một đặc điểm mà Sting dâu đã chinh phục được khách hàng mạnh
mẽ nhất đó là màu sắc của nước giải khát. Màu hồng tươi mang đầy chất
năng động của giới trẻ đã tạo nên đặc điểm nhận diện Sting dâu.
 Number one dâu:
Qua điểm chấm chất lượng đã thống kê thì các yếu tố trong sản phẩm
Number One đều kém hơn Sting. Và nhược điểm lớn nhất của Number One
dâu là độ gaz còn ít, chưa thỏa mãn được khẩu vị của giới trẻ. Trong quá


trình khảo sát và phỏng vấn một số bạn trẻ thì họ cho biết Number One quá
ít gaz nên gây cảm giác ngán khi uống và không thật sự giải khát.
Màu sắc của sản phẩm Number One cũng được đánh giá rất cao nhưng vẫn
không thể sánh bằng Number One dâu.
Một nhược điểm nan giải của Tân Hiệp Phát là tập đoàn này sử dụng
Number 1 cho quá nhiều sản phẩm. Hầu như sản phẩm nào của họ cũng có
logo và chữ Number 1, từ nước tăng lực cho tới sữa đậu nành, nước cam ép,
nước tinh khiết. Điều đó đã làm loãng thương hiệu number 1 dâu trên thị
trường nước uống tăng lực. Trong khi đó, Pepsi phân định rõ ràng: Pepsi là
nước ngọt có gas, Aquafina là nước khoáng, Sting là nước tăng lực.
d. Các yếu tố bên ngoài tác động đến hành vi tiêu dùng:
qua câu hỏi bảng khảo sát đề cập đến yếu tố THƯƠNG HIỆU và GIÁ CẢ
tác động đến hành vi tiêu dùng. Kết quả như sau:
 Trong 89 phiếu khảo sát hợp lệ thì có 23 phiếu chiếm 25.842 %
ghi nhận yếu tố giá cả nghĩa là chênh lệch giá giữa hai sẩn phẩm có tác
động đến việc tiêu dùng sản phẩm. Số còn lại (74.258 %) thì cho biết dù
chênh lệch giá nhưng họ vẫn sử dụng Sting vì đã trở thành thói quen tiêu
dùng nên với chênh lệch giá không đáng kể như hiện nay thì không tác động
đến hành vi tiêu dùng.

Cũng vậy trong 89 phiếu có 52 phiếu chiếm 58.32 % ghi nhận thương
hiệu có tác động đến tiêu dùng sản phẩm. Number One của Tân Hiệp Phát
và Sting của Pepsi. Còn số lại( 41.68 %) thì không quan tâm thậm chí là
không biêt thương hiệu công ty sản xuất hai sản phẩm này.
Giá cả không tác động lớn nhưng thương hiệu thì có tác động lớn đến
hành vi tiêu dùng.
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHI


Một thực trạng là Number One đang yếu thế hơn Sting mặc dù là sản phẩm
có lợi thế là nước chủ nhà với sự am hiểu sâu về thị hiếu và khẩu vị Việt.
Nhưng so về tuổi đời lẫn quy mô thương hiệu thì Tân Hiệp Phát không thể
cạnh tranh với Pepsi được. Vì vậy Tân Hiệp Phát phải cố gắng không ngừng
để nâng cao vị thế trên thị trường nước giải khát.
Qua thực tế khảo sát thì cả hai sản phẩm đều có những ưu điểm và nhược
điểm nhất định. Nhóm khảo sát xin đề xuất một số giải pháp để nâng cao
chất lượng cho hai sản phẩm.
1. Sting dâu
Điểm yếu của Sting dâu hiện nay là chất lượng của các chương trình
quảng cáo vẫn chưa tác động mạnh đến hành vi tiêu dùng. Dù đang thắng
thế hiện nay nhưng không có nghĩa là Sting có thể duy trì được vị thế đó
sau này vì vậy cần khẳng định hơn nữa thương hiệu sting trong tâm trí
người tiêu dùng đặc biệt là giới trẻ. Vì vậy cần đẩy mạnh hơn nữa hoạt
động truyền thông qua các kênh thông tin đại chúng, các show game, các
chương trình khuyến mãi…
2. Number One dâu
- So sánh với Sting dâu thì Number One dâu yếu thế về nhiều mặt
nhưng điều cần quan tâm nhất ở đây là độ gaz của Number One
dâu. Giới trẻ cần một cái gì đó mạnh mẽ chứ không phải là một cái
gì đó dịu nhẹ. Nhưng độ gaz như thế nào là phù hợp khẩu vị thì
cần phải có quá trình để Tân Hiệp Phát khảo sát khẩu vị để điều
chỉnh nguyên liệu trong sản phẩm cho phù hợp.
- Thứ hai là các chương trình quảng cáo cho sản phẩm. Tương tự
như Sting dâu, các chương trình quảng cáo tiếp cận nguời tiêu
dùng của Number One vẫn chưa thật sự hiệu quả và chưa gây được
ấn tượng sâu sắc cho giới trẻ. Để cạnh tranh được thì ngoài chất
lượng sản phẩm thì truyền thông chính là vũ khí lợi hại cho việc
định vị thương hiệu trong tâm trí người tiêu dùng. Vì vậy cần tận


dụng truyền thông để đưa các thông điệp mới mẻ tới khách hàng
mục tiêu nhằm tác động đến tâm lí tiêu dùng.
- Thứ ba là hương vị. Hương vị cần có một sự khác biệt để người
tiêu dùng có thể phân biệt sản phẩm của hãng này và hãng khác.
Có vẻ như hương vị của Number One dâu mang tính chất đại trà
chứ chưa tạo được khác biệt. Vì vậy cần có sự đột phá trong việc
nghiên cứu hương vị từ Tân Hiệp Phát để người tiêu dùng mỗi khi
sử dụng chỉ cần qua hương vị là biết ngay đây là sản phẩm Number
One dâu.
- Thứ tư là kiểu dáng chai và độ tiện dụng của chai. Kiểu dáng chai
của Number One dâu về loại chai thủy tinh thì cùng một kiểu dáng
với tất cả các loại nước giải khát của Tân Hiệp Phát chứ không tạo
được sự khác biệt nên không tạo được ấn tượng còn chai nhưạ thì
ra đời sau so với chai nhựa của Sting dâu nên khi có nhu cầu sử
dụng chai nhựa cho tiện lợi thì người tiêu dùng chỉ nghĩ đến Sting.
Vì vậy cần tăng cường phát triển cho thị trường chai nhựa và cần
cải thiện hơn nữa về kiểu dáng chai để Number One dâu có thể trở
thành sản phẩm mang yếu tố khác biệt và đại diện cho Tân Hiệp
Phát.

VIII. Kết luận
Mục đích chính của đề tài là nêu bật lên được thực trạng của việc tiêu
dùng hai sản phẩm nước giải khát Number One dâu và Sting dâu trong
giới trẻ ở thành phố Hồ Chí Minh. Qua thực trạng đó sẽ đưa ra những kiến
nghị, đề xuất dựa trên lí thuyết cạnh tranh và marketing đối với hai tập
đoàn Pepsico và Tân Hiệp Phát. Nội dung đề tài khách quan và và mang
tính cập nhật do những đánh giá, phân tích của nhóm nghiên cứu bất
nguồn từ những khảo sát thực tế và tham khảo những nguồn đáng tin cậy.


Còn những đề xuất kiến nghị thì mang tính ứng dụng thự tiễn cao. Đây
chính là đặc điểm nổi bật của đề tài.

IX. Tài liệu tham khảo
1.

“sting thắng, number 1 không thua”, Lan Ca- Nhipcaudautu

2. http://vht.edu.vn/images/downloads/VHT.Edu.BaoCaoOM4-1.pdf
3.

đề tài luận văn của Nguyễn Thị Liên, sinh viên đại học Bách khoa, đề tài
LVTN là: “Sử dụng các công cụ quản lý chất lượng để phân tích các dạng sản
phẩm lỗi rồi tìm ra biện pháp khắc phục tốt nhất nhằm nâng cao chất lượng
cho sản phẩm nước tăng lực Number One của Nhà máy sản xuất Bia và NGK
Bến Thành”.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×