Tải bản đầy đủ

MỘT số vấn đề lý LUẬN về bồi DƯỠNG THẾ GIỚI QUAN DUY vật BIỆN CHỨNG CHO học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
BỒI DƯỠNG THẾ GIỚI QUAN
DUY VẬT BIỆN CHỨNG CHO
HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG


-Thế giới quan duy vật biện chứng và vai trò của thế
giới quan duy vật biện chứng trong hoạt động nhận thức và
hoạt động thực tiễn
- Thế giới quan
Trong cuộc sống, con người phải luôn cải tạo hoàn cảnh
phù hợp với bản thân để tồn tại và phát triển. Vì vậy con người
phải nỗ lực tìm hiểu giới tự nhiên và tìm hiểu chính mình. Cũng
từ đó, các vấn đề dần xuất hiện giúp con người khái quát thành
những quan niệm rõ nét về thế giới, và con người đứng ở đâu
trong thế giới ấy. Cũng chính là nơi hình thành TGQ của con
người.
Trước đó đã có khái niệm TGQ, nhưng khái niệm khoa
học nàychỉ được nghiên cứu và xuất hiện vào thế kỷ XVIII bởi
nhà triết học cổ điển Đức- Kant. Từ đó các nhà triết học luôn sử

dụng khái niệm TGQ trong các học thuyết của mình. Sau này
Mác và Ăngghen đã kế thừa và phát triển khái niệm thành TGQ
khoa học trên lập trường duy vật biện chứng.
Khái niệm TGQ nay đã được các nhà khoa học tìm hiểu,
nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Trong Từ điển Triết học
Liên Xô, các nhà khoa học đã định nghĩa TGQ là “toàn bộ


những nguyên tắc, quan điểm và niềm tin định hướng hoạt động
và quan hệ của từng người, của tập đoàn xã hội, của một giai
cấp hay xã hội nói chung đối với thực tại”[58,tr.539]. Hay quan
niệm TGQcủa G.Gertx là “một hệ thống nhất định những lời
giải đáp những vấn đề cội nguồn của thế giới và nguồn gốc của
tri thức, về vị trí của con người trong thế giới, về ý nghĩa của
cuộc sống và đặc trưng của tiến bộ xã hội”[25,tr.42]
Từ đó có thể hiểu TGQ theo Trần Thước là “hệ thống
những quan điểm của một chủ thể về thế giới, về những hiện
tượng tự nhiên, xã hội và các quy luật phát triển của chúng, về
bản thân con người, về vị trí, vai trò của con người trước thế
giới. Nói cách khác, TGQ phản ánh tồn tại vật chất và xã hội
của con người”[55,tr.10]
Và như vậy có thể nói TGQ là toàn bộ những quan niệm
của một người hay nhiều người về vai trò và vị trí của mình
trước thế giới. Từ đó họ có nhận thức đúng đắn hơn và TGQ
chọn hướng đi cho họ trong quá trình cải tạo thế giới, hoạt động
hằng ngày cũng dựa vào TGQ mà thực hiện. Quan niệm này
của TGQ hàm chứa cả nhân sinh quan, là tất cả những quan
niệm của con người về tự nhiên, xã hội và chính mình. Đó là
lập trường sống của chủ thể. Nếu có TGQ đúng đắn và khoa


học sẽ giúp chủ thể có bản lĩnh vững vàng trước cuộc sống luôn
biến động, trước tác động của những tư tưởng đối lập hoặc sai
trái.
TGQ theo các quan niệm trên gồm có TGQ cá nhân, TGQ
giai cấp và TGQ xã hội.
TGQ cá nhân là cá nhân tích luỹ những kinh nghiệm thực
tiễn trong cuộc sống, có những tri thức khái quát nhất định về
tự nhiên, xã hội để vững vàng bảo vệ quan điểm riêng. Con
người sẽ có được lý tưởng sống khi tri thức và niềm tin phát


triển. Vậy TGQ cá nhân được hình thành lâu dài do phụ thuộc
nhiều yếu tố và điều kiện khác nhau và có thể thay đổi vì yếu tố
và điều kiện này. Đó là khả năng nhận thức, nơi sinh sống, chế
độ xã hội, điều kiện vật chất và tinh thần đi liền với là yếu tố
giáo dục của cá nhân. Muốn cho một xã hội tiến bộ thì việc giáo
dục TGQ cá nhân khoa học, đúng đắn là cần thiết.
Thế giới quan giai cấp là những quan điểm tạo thành hệ
thống của một giai cấp về con người, về thế giới và về vị trí, vai
trò, lợi ích của giai cấp ấy, phản ảnh sự tiến bộ hay lạc hậu của
giai cấp đó trong lịch sử.
Thế giới quan xã hội gồm những quan điểm về thế giới,
về vị trí con người trong thế giới;trong học thuyết của giai cấp


thống trị thì lợi ích của giai cấp thống trị đại diện cho lợi ích
của xã hội. TGQ xã hội được xây dựng nên từ tư tưởng, lý luận
của các nhà triết học, nó có thể mang tính khoa học hoặc không
phải nhờ vào thực tiễn kiểm nghiệm.
Cấu trúc của TGQ bao gồm những yếu tố sau:
Về tri thức: TGQ cũng như các ý thức xã hội khác là tri
thức về tự nhiên, xã hội, con người nhưng không phải tri thức
nào cũng vềTGQ. Chỉ tri thức có quan điểm chung về tồn tại và
về nhận thức mới là tri thức về TGQ. Đólà những tri thức triết
học đóng vai trò nền tảng.
Về niềm tin: bắt nguồn từ tri thức, là một động lực thúc
đẩy con người nhận thức và cải tạo hiện thực. Niềm tin là trạng
thái tâm lý thường để động viên con người trong mọi hoạt
động. Nếu con người làm việc không có tinh thần, không có
niềm tin thì con người mất đi sự nhiệt tình, hăng say trong công
việc, đặc biệt là những công việc mang lại lợi ích cho xã hội.
Như vậy, niềm tin được xây dựng trên nền tảng của tri thức
khoa học góp phần tạo dựng một xã hội tiến bộ.
Về lý tưởng: là sự kết hợp niềm tin và tri thức. Cá nhân
hay một nhóm người sống có mục đích và khát vọng của


riêng mình, xây dựng riêng cho mình một hình mẫu cao đẹp.
Từ đó luôn tâm niệm thực hiện theo hình mẫu đó.
Như vậy, trong kết cấuTGQ, tri thức là yếu tố bắt nguồn
hình thành nên TGQ nhưng chỉ là TGQ khi đã trở thành niềm
tin và lý tưởng là sự phát triển cao của con người. Trải qua sự
phát triển của xã hội TGQ được thể hiện ở nhiều dạng khác
nhau nhưng chủ yếulà ba dạng TGQ thần thoại, TGQ tôn giáo
và TGQ triết học.
TGQ thần thoại là những quan niệm, cảm xúc ban đầu của
người nguyên thuỷ về thế giới xung quanh mà trong đó điều có
thật và hoang tưởng, hiện thực và hư ảo, lý trí và tín ngưỡng, tư
duy và cảm xúc có sự liên kết gắn bó nhau.
TGQ tôn giáo: là cách nhìn hư ảo thần thánh hoá của con
người. Nó được hình thành ở giai đoạn con người chưa có trình
độ nhận thức và sợ hãi trước tự nhiên và những khổ đau trong
xã hội. Trong hoàn cảnh đó con người sinh ra sự gán ghép thần
thánh siêu nhiên với mỗi sự việc. Có thể nói rằng, TGQ tôn
giáo cóđặc trưng chủ yếu là ở “niềm tin sợ hãi” của con người.
Đồng thời thể hiện mong muốn của con người vươn tới một
tương lai hạnh phúc hơn. Niềm tin này là yếu tố nền tảng của
TGQ tôn giáo.


TGQ triết học: là TGQ ở trình độ cao. Lúc này con người
đã có trình độ nhận thức cao hơn, có khả năng khái quát, trừu
tượng về những vấn đề xung quanh. Các triết gia thường sử
dụng TGQ triết học để củng cố hệ tư tưởng giai cấp. Thông
qua các khái niệm, phạm trù, quy luật TGQ triết học phản ánh
thế giới con người.Nó trình bày và minh chứng theo cơ sở
khoa học để con người nhận biết. Nói đến sự khác biệt TGQ
triết học với các TGQ khác Mác viết:
“Các vị hướng về tình cảm, triết học hướng về lý trí; các
vị nguyền rủa, than vãn, triết học dạy bảo, các vị hứa hẹn thiên
đường và toàn bộ thế giới, triết học không hứa hẹn gì cả ngoài
chân lý; các vị đòi hỏi tin tưởng tín ngưỡng của các vị, triết học
không đòi hỏi tin tưởng vào các kết luận của nó, nó đòi hỏi
kiểm nghiệm những hoài nghi; các vị doạ dẫm, triết học an ủi.
Và, thật thế, triết học biết cuộc sống khá đầy đủ để hiểu rằng
những kết luận của nó không bao dung sự khao khát hưởng lạc
và lòng vị kỷ - của cả thiên giới lẫn thế giới trần tục”[37,tr.159]
Có thể chia TGQ triết học thành TGQ duy vật và TGQ
duy tâm.


TGQ duy tâm cho rằng bản chất của thế giới là tinh thần
và tinh thần có vai trò quyết định toàn bộ đối với tự nhiên, xã
hội và con người.
TGQ duy vật ngược lại xem bản chất thế giới là vật chất,
vật chất có vai trò quyết định toàn bộ đời sống tinh thần trong
xã hội và xác nhận vị trí của con người trong cuộc sống hiện
thực. TGQ duy vật gồm TGQ duy vật thời cổ đại, TGQ siêu
hình và đỉnh cao là TGQDVBC.
Như vậy, TGQ triết học là TGQ có trình độ cao nhất trong
các giai đoạn hình thành của TGQ. Bởi tri thức triết học mang
tính khái quát cao và triết học là hệ thống lý luận những quan
niệm của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người
trong thế giới đó.
- Thế giới quan duy vật biện chứng
TGQDVBC là đỉnh cao của TGQ triết học. Có thể khẳng
định rằng: TGQDVBC là những quan niệm khoa học về tự
nhiên, con người và xã hội, định hướng giá trị hiện thực của
con người trong mối quan hệ vận động và phát triển.
TGQDVBC là TGQ của giai cấp công nhân, đó là TGQ
có sự thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học.


Tính khoa học thể hiện ở chỗ nó không chỉ cắt nghĩa sự
tồn tại, vận động của thế giới từ các yếu tố vật chất, mà còn
thấy sự đa dạng, phong phú của thế giới vật chất và mối quan
hệ của bản thân thế giới đó cũng như sự vận động, biến đổi
không ngừng của nó. Do đó, TGQDVBC nhìn nhận thế giới
khách quan một cách thực sự khoa học nhất. Nó là sự kế thừa
nền tảng tri thức của nhân loại tiến bộ. Tri thức của TGQDVBC
là sự khái quát hoá cao của tri thức khoa học tự nhiên, khoa học
xã hội và khoa học tư duy trong quá trình sự phát triển của tri
thức nhân loại.
Với tính cách mạng, TGQDVBC không thừa nhận bất cứ
một cái gì là tuyệt đích, cuối cùng. Nó thừa nhận sự phát triển
như một nguyên lý phổ biến của thế giới khách quan; chống lại
mọi sự bảo thủ, trì trệ, ngưng đọng từ tư duy cho đến hành
động. Vì vậy nó tạo ra tinh thần cách mạng trong con người, tạo
ra ý thức cải biến thế giới khách quan để phục vụ cuộc sống của
con người. TGQDVBC không thoả hiệp với bất kỳ một tư
tưởng phản khoa học nào. Nó có tính phê phán, tính chiến đấu
cao để cải tiến cái cũ, xây dựng cái mới.


Do đó, TGQDVBC không chỉ giúp con người khám phá
và giải thích thế giới mà còn giúp con người tìm ra cách cải tạo
thế giới.
TGQDVBC gồm ba yếu tố cơ bản quan hệ hữu cơ với
nhau: đó là tri thức khoa học, niềm tin khoa học và lý tưởng
cách mạng.
Những tri thức của TGQDVBC là những tri thức khác
nhau và khái quát các thực tiễnhoạt động của con người. Tri
thức trong TGQDVBC bao gồm chủ nghĩa duy vật, phép biện
chứng, các khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Con người
dựa vào những tri thức đó để cải tạo hiện thực. Trong đó, những
tri thức của Triết học Mác - Lênin đóng vai trò nền tảng, là hạt
nhân lý luận của TGQDVBC. Bởi vì:
Triết học Mác - Lênin giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản
của triết học trên cơ sở thực tiễn. Theo chủ nghĩa duy vật mácxít, vật chất có trước ý thức, quyết định ý thức; mặt khác, ý
thức cũng tác động trở lại đối với vật chất. Ý thức phản ánh
hiện thực không chỉ đơn giản là hiện thực tác động ý thức mà
phản ánh trong quá trình con người cải tạo hiện thực. Đây là
quan hệ tác động hai chiều trên cơ sở thực tiễn. Cái vật chất
muốn được “di chuyển và cải biến trong bộ óc” phải thông qua


hoạt động thực tiễn. Ngược lại, ý thức muốn tác động vào thế
giới vật chất để làm nó biến đổi thì cũng phải thông qua hoạt
động thực tiễn. Những chương trình, kế hoạch của con người
nhờ có hoạt động thực tiễn mới biến thành hiện thực vật chất.
Qua hoạt động thực tiễn con người đãtham gia cải biến sự vật
trong hiện thực và từ đó con người cải biến sự vật trong tư
tưởng. Như vậy, thực tiễn đã trở thành trung gian giữa cái vật
chất và cái tinh thần.
Triết học Mác - Lênin là chủ nghĩa duy vật triệt để. Bởi
thiếu sót lớn nhất của chủ nghĩa duy vật trước Mác là tính chất
duy vật không triệt để, tức là có tính duy vật trong tự nhiên
nhưng lại mang tính duy tâm trong xã hội. Khi nghiên cứu và
phát triển chủ nghĩa duy vật, Mác đã mở rộng học thuyết nhận
thức tự nhiên đến nhận thức xã hội loài người, và ông đã khắc
phục được thiếu sót đó, làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt
để, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử là thành tựu vĩ đại nhất
của tư tưởng khoa học. Với quan niệm duy vật về lịch sử của
Mác, loài người tiến bộ đã có một công cụ vĩ đại trong hoạt
động nhận thức và cải tạo thế giới con người.
Về tri thức khoa học, những thành quả tri thức khoa học
mà loài người có được từ trước đến nay đều chứng tỏ vũ trụ đều


là những quá trình vật chất đang vận động. Vật chất có thể được
biểu hiện qua nhiều hình dạng khác nhau nhưng tựu trung vẫn
là thực tại khách quan, không do ý thức con người quyết định.
Thế giới đượcthống nhất ở tính vật chất của nó. Ý thức thuộc
về một dạng vật chất có tổ chức cao hơn đó là bộ óc con người
và còn là sản phẩm duy nhất. Như vậy,thế giới vật chất luôn
thống nhất và tồn tại duy nhất. Nó vĩnh viễn tồn tại, vô tận, vô
hạn, không tự sinh ra và không bị mất đi. Chứng minh một điều
rằng những tri thức của triết học mác-xít vẫn là hạt nhân của
TGQ khoa học hiện đại - TGQDVBC.
TGQDVBC có yếu tố cơ bản thứ hai là niềm tin khoa học,
đó là niềm tin xuất phát từ những tri thức khoa học và có sự gắn
kết với thực tiễn hoạt động. Niềm tin đó giúp con người đặt sự
tin cậy vào những hành động hướng tới những giá trị chân lý,
xác địnhvươn tới những mục tiêu cao cả.
Lý tưởng cách mạng là yếu tố thứ ba trong cấu trúc
TGQDVBC, là sự gắn kết hai yếu tố tri thức và niềm tin khoa
học tạo nên lý tưởng cao đẹp. Nó được xem là đích đến mà con
người luôn mong muốn tạo động cơ thôi thúc con người hành
động, nếu thiếu lý tưởng sống con người cảm thấy mất niềm tin
và phương hướng, cảm thấy cuộc đời thật vô vị. Lý tưởng chính


là yếu tố khơi dậy toàn bộ các giác quan của con người, giúp
con người có thêm sức mạnh vượt qua mọi khó khăn, gian khổ,
thậm chí cả hi sinh để đạt được mục tiêu của cuộc đời. Trong
hai yếu tố thì tri thức khoa học là quan trọng nhất bởi vì lý
tưởng chỉ có thể trở thành hiện thực khi nó được những tri thức
khoa học đúc kết từ những chân lý, được thực tiễn kiểm nghiệm
. Vì vậy, lý tưởng có tác dụng như kim chỉ nam luôn định
hướng thúc đẩy con người bao giờ cũng hành động một cách tự
nguyện, có cách xử trí thông minh, khoa học nhằm đạt đến lý
tưởng. Cuộc sống sẽ tốt đẹp lên từng ngày nếu mỗi người đều
có lý tưởng của đời mình. Con người sẽ bồi đắp ý nghĩa cuộc
sống của bản thân, giúp con người không ngừng phấn đấu vươn
lên làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân.
- Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng
cho học sinh trung học phổ thông hiện nay
- Vai trò của việc bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện
chứng cho học sinh trung học phổ thông hiện nay
Đào tạo, bồi dưỡng là khâu có ý nghĩa quyết định đến
trình độ, sự hiểu biết của HS. Công việc này gồm nhiều hình
thức khác nhau, nhưng trong đó việc đào tạo, BDTGQDVBC
đóng một vai trò cực kỳ quan trọng. Bởi vì, TGQDVBC cho HS


có phương pháp nhận thức đúng đắn sự vật, hiện tượng xung
quanh và biện pháp thực hiện công việc học tập một cách khoa
học và hiệu quả. Vai trò của TGQDVBC đối với HS được thể
hiện một số mặt cơ bản sau đây:
Thứ nhất: TGQDVBC giúp cho HS nâng cao năng lực
nhận thức; HS có thể hiểu biết, học tập, lý giải các vấn đề tự
nhiên, xã hội, tư duy theo quy luậtkhách quan
TGQDVBC giúp cho HS có phương pháp biện chứng học
tập, lao động và nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng. Nó xác
lập và tạo niềm tin cho lập trường của HS, bác bỏ những quan
điểm sai lầm của TGQ duy tâm và tôn giáo.
TGQDVBC giúp cho HS ngày càng đi sâu vào bản chất
sự vật, nắm bắt được cái phổ biến tất yếu, những mối liên hệ ẩn
giấu đằng sau các sự kiện riêng biệt. Trong nội dung bài 3 sách
giáo khoa GDCD 10- “Sự vận động và phát triển của thế giới
vật chất”. Giải thích khái niệm phát triển là những vận động
theo chiếu hướng tiến lên. Đi sâu phân tích HS sẽ biết được
không phải bất kì sự vận động nào cũng được xem là phát triển.
Còn có vận động thụt lùi và vận động tuần hoàn. Ví dụ cụ thể
Sinh-Lão-Bệnh-Tử chính là vận động thụt lùi. Từ đó giúp HS
thấy được quy luật, nguồn gốc, xu hướng, phương thức vận


động, biến đổi, phát triển của sự vật hiện tượng. Đồng thời,
TGQDVBC cũng tạo cho HS có khả năng phân tích và tổng
hợp, trừu tượng và khái quát. Nhờ vào khả năng phân tích mà
HS có thể thấy được cơ cấu bên trong, tính chất, chức năng của
các bộ phận, yếu tố. Trên cơ sở đó, với phương pháp tổng hợp,
HS biết liên kết, thống nhất lại các bộ phận yếu tố đã phân tích,
vạch ra mối liên hệ của chúng nhằm nhận thức cái toàn thể
trong tính muôn vẻ của sự vật hiện tượng, giúp cho HS nắm bắt
sâu sắc bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng. Năng lực trừu
tượng giúp HS biết gạt bỏ những mặt, yếu tố không cơ bản nào
đó trong tổng thể phong phú của sự vật mà nắm được cái bản
chất có tính quy luật của nó. Năng lực khái quát giúp cho HS
nắm được đặc tính chung từ những vấn đề nhưng việc nắm
vững vấn đề lý luận chung sẽ là tiền đề, phương pháp tốt nhất
để giải quyết những vấn đề cụ thể. Lênin viết:
“Người nào bắt tay vào giải quyết những vấn đề riêng,
trước khi giải quyết những vấn đề chung, thì kẻ đó trên mỗi
bước đi sẽ không sao tránh khỏi “vấp phải” những vấn đề
chung một cách không tự giác mà mù quáng vấp phải những
vấn đề đó trong từng trường hợp riêng, thì có nghĩa là đưa
chính sách của mình đến chỗ có những dao động tồi tệ nhất và
mất tính nguyên tắc” [67, tr.427]


TGQDVBC cũng nâng cao năng lực tư duy lý luận cho
HS. Nếu HS dừng lại ở tư duy kinh nghiệm, tuyệt đối hóa tri
thức kinh nghiệm sẽ rơi vào bệnh kinh nghiệm, như vậy sẽ
không thể không rơi vào TGQ duy vật và phương pháp tư duy
siêu hình, tuyệt đối hóa cái cụ thể, cái đơn nhất đem áp dụng nó
vào cái phổ biến cái đa dạng, cái toàn thể. Chỉ có trên cơ sở
trang bị TGQDVBC, HS mới nâng cao được trình độ, năng lực
tư duy của mình từ kinh nghiệm phát triển lên lý luận khoa học,
mới có đủ điều kiện đảm bảo để khám phá, đi sâu vào bản chất
sự vật, quy luật vận động phát triển của nó.
Đồng thời, nâng cao tư duy lý luận sẽ giúp HS tránh khỏi
lúng túng, bất lực, nắm bắt được tình hình nhanh chóng, ra
được quyết định nhanh chóng và chính xác.
Trong thời đại ngày nay với những diễn biến phức tạp,
khó khăn và thuận lợi đan xen nhau, càng đòi hỏi không ngừng
nâng cao mọi mặt của HS cả về khoa học tự nhiên lẫn khoa học
xã hội. Đồng thời, đòi hỏi HS nhạy bén, linh hoạt, tinh thần
dám nghĩ dám làm, đấu tranh với những lười biếng, thụ động
tạo điều kiện cho cái mới, cái tiến bộ phát triển.


Thứ hai: TGQDVBC giúp cho HS có được niềm tin vào
chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, tin vào đường
lối chính trị của Đảng, tin vào quần chúng nhân dân.
Chủ yếu khi nắm vững về phương pháp luận rút ra từ
nghiên cứu TGQ sẽ giúp HS hiểu rõ hiện thực của đất nước, của
thời đại, của những mối quan hệ giai cấp, dân tộc, những tương
quan lực lượng cụ thể trong thời kỳ lịch sử nhất định. TGQ có
sự thống nhất giữa tri thức và niềm tin, thiếu đi một trong hai
yếu tố đó thì hành động của con người không có kết quả. Niềm
tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống con người.
Niềm tin giúp con người tăng thêm nghị lực, tiếp thêm ý chí
quyết tâm giúp con người vượt qua những khó khăn, thậm chí
sẵn sàng hy sinh vì một niềm tin nào đó. Khi tri thức đã trở
thành niềm tin thì lúc này tri thức mới được coi là tri thức sâu
sắc, bền vững trở thành cơ sở và thôi thúc con người hành
động. Như vậy, phải có tri thức và niềm tin thì hành động của
con người mới đúng và hành động ấy sẽ có tác dụng cải tạo thế
giới.
Việc thấm nhuần sâu sắc TGQDVBC sẽ giúp HS nhận
thức đúng bản chất của chủ nghĩa tư bản, các quy luật vận động


khách quan của lịch sử để có niềm tin vững chắc vào con đường
phát triển của nước ta.
Niềm tin vào chế độ của HS được biểu hiện ở sự tin tưởng
vào đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tính
khoa học và cách mạng của TGQDVBC là cơ sở để hình thành
và luận chứng cho đường lối chính trị của Đảng. Vì vậy, Mác
viết: “Các nhà triết học trước kia chỉ giải thích thế giới bằng
nhiều cách hiểu khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”[34,
tr.258]
Những thành tựu của sự nghiệp đổi mới qua 30 năm ở
nước ta từng bước nâng cao đời sống xã hội, củng cố lòng tin
của nhân dân đối với Đảng, làm cho con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta càng rõ hơn. Một trong những nguyên nhân của
thắng lợi đó là Đảng ta đã biết tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cách
mạng Việt Nam mà linh hồn là phép biện chứng duy vật - một
nhân tố cơ bản của TGQDVBC. Lênin đã viết: “Chỉ Đảng nào
được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm
tròn vai trò chiến sĩ tiên phong”[65, tr.259]
TGQDVBC còn giúp cho HS tin tưởng vào vai trò to lớn
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Họ là lực lượng


quyết định thắng lợi của các cuộc cách mạng xã hội. Với vũ khí
lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, giai cấp công nhân - đại diện
cho lực lượng tiến bộ tập hợp, giác ngộ, phát huy sức mạnh
quần chúng để cải tạo thế giới, thúc đẩy xã hội phát triển.
Với tính cách mạng và tính khoa học, TGQDVBC đã giúp
HS có niềm tin sâu sắc vào chủ nghĩa xã hội, tin vào sự lãnh
đạo của giai cấp công nhân - thông qua đội tiên phong là Đảng
cộng sản, tin tưởng vào sức mạnh của quần chúng nhân dân lao
động. Thông qua nội dung bài giảng, giáo dục, tuyên truyền
trong sách giáo khoa GDCD 11 giúp cho HS nắm được những
chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về các vấn đề
nhận thức góp phần tạo được sự đồng thuận, niềm tin của HS
vào các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước như bài
12 “Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường”, HS hiểu rõ
tình hình tài nguyên, môi trường ở nước ta hiện nay và trách
nhiệm của bản thân trong việc bảo vệ tài nguyên, môi trường.
Bài 13 “Chính sách giáo dục và đào tạo, khoa học và công
nghệ, văn hoá”. HS hiểu được Nhà nước xem nội dung giáo dục
và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, bảo
tồn truyền thống văn hoá là quan trọng và có những chế độ đãi
ngộ như thế nào. Từ đó có sự tin tưởng thực hiện các chính
sách một cách tích cực.Có như vậy thì nước ta mới thực hiện


thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH tạo điều kiện đi lên chủ nghĩa
xã hội.
Thứ ba: TGQDVBC giúp cho HS nâng cao năng lực tổng
kết vấn đề rút ra kinh nghiệm, định hướng cho hoạt động nhận
thức của bản thân.
Tổng kết thực tiễn là những kết luận chung được rút ra
sau khi kết thúc, hoàn thành xong một công việc nào đó. Trong
đó, HS phải biết khách quan, khoa học khi đánh giá vấn đề, tìm
ra những nguyên nhân thành công và thất bại ở mỗi công việc.
Trên cơ sở ấy rút ra được những tri thức, hiểu biết mới tức là tri
thức kinh nghiệm để định hướng cho hoạt động thực tiễn tiếp
theo.
Có thể nói, hoạt động của con người rất cần tri thức kinh
nghiệm. Tri thức kinh nghiệm đã giúp cho chúng ta giải quyết
được nhiều vấn đề. Nhưng chỉ dừng lại ở tri thức kinh nghiệm
thì sẽ lại khó tránh khỏi lúng túng, bất lực thậm chí sai lầm khi
giải quyết những vấn đề phức tạp trước yêu cầu phức tạp của
thời đại ngày nay. Muốn vậy, HS khi giải quyết các vấn đề liên
quan đến học tập, liên quan đến cuộc sống cần kết hợp nhuần
nhuyễn, hợp lý giữa kinh nghiệm với lý luận khoa học, phải
nắm vững nguyên lý, yêu cầu của thế giới khách quan, phải


nắm bắt thực tiễn những vấn đề cần tổng kết, phân tích, tổng
hợp, chắt lọc những thông tin cơ bản, chủ yếu để rút ra bài học
kinh nghiệm kết hợp với tri thức lý luận khoa học nhằm giải
quyết công việc có hiệu quả. Đó là nhiệm vụ thường xuyên mà
HS cần được giáo viên giáo dục và bồi dưỡng. Chỉ trên cơ sở
TGQDVBC học sinh mới có thể rút kinh nghiệm một cách khoa
học, kịp thời phát hiện ra cái mới, cái tiến bộ và phát triển
chúng.
Thứ tư: TGQDVBC giúp cho HS rèn luyện các phẩm chất
đạo đức.
Quá trình nhận thức của con người là quá trình tâm lý của
con người phản ánh lại những hiện thực khách quan, lúc này
bản thân con người thông qua những giác quan và dựa vào
những kinh nghiệm hiểu biết của bản thân. Nhận thức ở mức độ
thấp ban đầu là nhận thức cảm tính và phát triển ở mức độ cao
hơn là nhận thức lý tính. Nhận thức lý tính và nhận thức cảm
tính có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, chi phối
lẫn nhau trong cùng một hoạt động thống nhất của con người.
TGQDVBC hướng con người đến sự nhận thức lý tính.
Việc BDTGQDVBC giúp HS có những nhận thức đúng đắn đối
với các vấn đề xã hội nói chung và bản thân nói riêng. Nhận


thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng
tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc của con người trên cơ
sở thực tiễn. Nếu nhận thức đúng đắn học sinh sẽ có hành động
phù hợp đem lại hiệu quả thiết thực cho bản thân, ngược lại sẽ
gây cho họ sai lầm, mù quáng và kết quả là thất bại. Ví dụ
mạng xã hội hiện nay được xem là những kênh thông tin tuyên
truyền cập nhật nhanh chóng và truyền tải rất nhiều nội dung.
Nhưng nếu HS cập nhật những thông tin ấy mà không có sự
chọn lọc đúng đắn sẽ rất nhanh dẫn đến sai lầm nhận hậu quả
khôn lường.
Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề đạo đức phải đặc biệt
quan tâm, nhất là đối với thanh thiếu niên, đặc biệt là HS.
Chúng ta vui mừng trước những thành tựu đạt được trong công
cuộc đổi mới, tuy nhiên nền kinh tế thị trường, giao lưu mở cửa
với bên ngoài thì mặt trái của nó đang đặt ra những vấn đề đạo
đức bức xúc, cần giải quyết như con cái hỗn láo với ông bà, cha
mẹ, không chăm sóc phụng dưỡng ông bà, cha mẹ, làm ngơ
trước những hoàn cảnh đáng thương cần giúp đỡ,... Nền văn
minh hiện cũng cần đạo đức tương ứng. Đạo đức ấy không tìm
ở đâu khác, mà nền tảng của nó chính là là học tập TGQDVBC
và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân,
bệnh kiêu ngạo, quan liêu, óc địa phương hẹp hòi, tham ô lãng


phí, hiếu danh, chạy theo đồng tiền, bất chấp nhân phẩm con
người... phải có trách nhiệm với nhân dân, với Tổ quốc. Việc
giáo dục, BDTGQDVBC sẽ giúp cho HS tin tưởng vào sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, tin vào sự nghiệp lãnh đạo
của Đảng, của giai cấp công nhân và sức mạnh của toàn dân,
giúp HS nâng cao năng lực nhận thức, hoạt động thực tiễn,
đồng thời cũng hình thành ở HS những phẩm chất đạo đức mới,
nhằm thực hiện thắng lợi giai đoạn cách mạng mới đặt ra.
Muốn vậy, HS phải được giáo dục, bồi dưỡng thường xuyên,
phải học tập, nghiên cứu nguyên tắc, phương pháp luận khoa
học của TGQDVBC.
- Nội dung bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng
qua môn giáo dục công dân
Giáo dục TGQDVBC cho HS THPT hiện nay phải giáo
dục ba thành tố cơ bản cấu thành TGQDVBC.
Thứ nhất, giáo dục hệ thống tri thức khoa học cơ bản,
toàn diện, có tính hiện đại và hình thành phương pháp tư duy
biện chứng.
Hệ thống tri thức khoa học về tự nhiên, xã hội và triết học
- hạt nhân của TGQ.


Tri thức khoa học tự nhiên: đây là nhân tố rất cơ bản để
hình thành TGQDVBC, vì khoa học tự nhiên nghiên cứu những
vấn đề cội nguồn của thế giới, về những quy luật vận động của
tự nhiên. Đó là những chất liệu để khái quát thành TGQDVBC.
Hầu như tất cả các môn khoa học tự nhiên đều là cơ sở để hình
thành TGQ duy vật. Đặc biệt là hoá học nghiên cứu sự chuyển
hoá từ vô cơ đến hữu cơ, từ hữu cơ đến sự sống. Sinh học
nghiên cứu những quá trình biến hoá, quá trình phát triển của
hệ thần kinh, quá trình tiến hoá của các loài, việc xác định
nguồn gốc của loài người từ động vật đã đánh tan tất cả các
quan niệm duy tâm tôn giáo về sự hình thành con người. Chính
vì thế mà từ thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật đã gắn liền với khoa
học tự nhiên. Các nhà triết học phần lớn đều là các nhà khoa
học tự nhiên.
Tri thức khoa học xã hội: Ban đầu các tri thức khoa học
xã hội lý giải về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và tinh
thần trong xã hội. Sau đó là tìm hiểu sâu hơn về toàn bộ vận
động, biến đổi của xã hội thông qua sự phát triển của kinh tế
trong từng giai đoạn lịch sử. Vì vậy TGQ duy vật bắt nguồn từ
những tri thức về xã hội, lịch sử.


Tri thức triết học: Việc hình thành con người có TGQ
đúng đắn thì triết học giữ vai trò chủ yếu với những kinh
nghiệm hàng thế kỷ trong việc tư duy một cách có phê phán về
những vấn đề định hướng cuộc sống của từng người cũng như
của toàn thể loài người. Các nhà triết học dù ở thời đại nào
cũng đều cố gắng làm rõ những vấn đề tồn tại của con người,
đặt ra và giải quyết những câu hỏi như: con người là gì? Nó có
hy vọng và định hướng vào cái gì?... Có thể nói, tri thức triết
học chính là tâm điểm của TGQ. Trong triết học Mác – Lênin,
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử luôn
thống nhất với nhau, nói lên những suy nghĩ của con người về
thế giới, về vai trò, vị trí của con người trước thế giới. Đó chính
là cơ sở đầu tiên để con người có thể nhìn bao quát thế giới
hình thành những tri thức toàn diện về thế giới xung quanh.
Điển hình ở phần này giáo dục HS phương pháp tư duy khoa
học qua câu nói của nhà Triết học Hi Lạp Hê - ra - clit : “Không
ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông” trong sách giáo khoa
GDCD 10[9,tr.8]. Dòng chảy của con sông luôn vận động trôi
đi không ngừng, cho nên chỉ cần ta bước xuống dòng sông lần
thứ hai thì đã không còn là dòng sông của lần thứ nhất. Từ đó
có thể xem xét sự vật hiện tượng luôn vận động và phát triển
không ngừng, tránh sự phiến diện, máy móc trong suy nghĩ.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×